1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài học kỳ môn luật hình sự 1

10 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội phạm được hiểu theo nhĩa khái quát nhất là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách hiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và phải chịu trách nhiệm hình sự về

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều những biện pháp cấp bách nhằm tăng cường bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội và cũng đã thu được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, trên thực tế tình hình tội phạm nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp với mức độ nguy hiểm cao và tinh vi hơn Một trong những tội phạm

có tính chất nguy hiểm là tội hiếp dâm mà tình huống đưa ra là một ví dụ

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại tội phạm đối với tội hiếp dâm.

Tội phạm được hiểu theo nhĩa khái quát nhất là hành vi nguy hiểm cho

xã hội, do người có năng lực trách hiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc

vô ý và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mình đã gây ra

Tội phạm tuy có chung những dấu hiệu trên nhưng những hành vi cụ thể lại có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau Do vậy, khoản 3-Điều 8

Bộ Luật hình sự phân loại tội phạm thành bốn loại như sau:

Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội

phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại

Trang 2

những căn cứ để phân loại tội phạm, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho một hành vi, nhằm định tội danh và xác đinh trách nhiệm hình sự của một tội phạm nhất định

Điều 111 Bộ Luật hình sự quy định tội hiếp dâm là: người nào dùng vũ

lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ Đối với mỗi trường hợp khác nhau thì tính chất, phương pháp, thủ đoạn và hậu quả xảy ra cũng khác nhau Do vậy phải phân loại tội phạm đối với hành

vi hiếp dâm để xác định rõ trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà

họ đã gây ra.

Theo đó tội hiếp dâm được phân loại như sau:

Theo khoản 1 Điều 111: hành vi hiếp dâm ở khoản này thuộc tội phạm nghiên trọng vì hành vi thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 7 năm tù

Theo khoản 2 Điều 111: hành vi hiếp dâm ở khoản này thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng vì hành vi có tính nguy hại rất lớn cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 15 năm tù

Theo khoản 3 Điều 111: hành vi hiếp dâm ở khoản này thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì hành vi có tính nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình

Theo khoản 4 Điều 111: hành vi hiếp dâm ở khoản này thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng vì mức cao nhất của khung hình phạt này lên đến 15 năm tù

2.Xác định khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án.

2.1.Khách thể của tội phạm.

Trang 3

Cũng giống như hoạt động khác của con người, hoạt động phạm tội cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tịa ngoài ý thức và độc lập với ý thức của chủ thể nhưng không phải để cải biến mà gây thiệt hại cho chính những khách thể đó

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và

bị tội phạm xâm hại.

Theo khoản 1 Điều 8 BLHS những quan hệ được coi là khách thể bảo

vệ của luật hình sự là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân…

Dựa vào các căn cứ trên ta thấy khách thể của tội hiếp dâm là quan hệ nhân thân Hành vi hiếp dâm ở mức độ nào đó dã xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm thậm chí có thể cả tính mạng con người

2.2.Đối tượng tác động.

Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đối tượng tác động có thể là con người, vật chất

Trong tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 BLHS thì đối tượng tác động chính là con người Áp dụng vào bài tập này, đối tượng của tội hiếp dâm trong trường hợp này là B do A, N, V, Q cùng thực hiện

Trang 4

3.Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm hình thức.

Để hiểu rõ tội hiếp dâm thuộc loại cấu thành tội phạm nào ta cần hiểu

rõ thế nào là cấu thành tội phạm vật chất, thế nào là cấu thành tội phạm hình thức Cấu thành tội phạm hình thức là nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định Cấu thành tội phạm vật chất là nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa thể hiện được hoặc chưa thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà đòi hỏi có cả hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Từ định nghĩa này có thể nhận thấy tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm

hình thức Vì: Điều 111 quy định : người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực

hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ Đối với mỗi trường hợp khác nhau thì tính chất, phương pháp, thủ đoạn và hậu quả xảy ra cũng khác nhau Do vậy phải phân loại tội phạm đối với hành vi hiếp dâm để xác định

rõ trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra

Như vậy tội hiếp dâm được xác lập khi có hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, tức là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại tới quạn hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ đã xảy ra, hay nói cách khác hậu quả từ hành vi phạm tội đã phát sinh Hậu quả có thể là dức khỏe, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân B Hậu quả của hành vi hiếp dâm chưa thể xảy ra nếu chưa có hành

vi giao cấu xảy ra, và ngược lại khi hành vi giao cấu trái ý muốn được thực hiện thì hậu quả đã phát sinh Dấu hiệu hành vi- hậu quả trong tội hiếp dâm luôn đi kèm với nhau Để có thể thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân thì chủ thể của tội hiếp dâm đã dùng thủ đoạn đó là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân…để

Trang 5

tiến hành hành vi Có tính chất đặc biệt nguy hiểm như vậy nên tội hiếp dâm

có cấu thành tội phạm hình thức

4 A, N, V, Q có phải là đồng phạm hay không? Xác định vai trò của từng người trong vụ án.

4.1 A, N, V, Q là đồng phạm.

Khoản 1 Điều 20 BLHS quy định: 1 Đồng phạm là trường hợp có hai

người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Những dấu hiệu của đồng phạm bao gồm: các dấu hiệu thuộc mặt khách quan, các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan Nếu thiếu một trong hai yếu tố

đó thì không có đòng phạm Theo đề bài ta thấy:

Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan: A, N, V, Q đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đồng thời cả bốn người cùng thảo mãn điều kiện chủ thể đặc biệt của tội hiếp dâm (đều là nam giới)

A, N, V, Q cùng thực hiện việc hiếp dâm B, dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn của B Tất cả những hành vi đó đã được thống nhất với nhau từ trước

Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan: A, B quen nhau trên mạng, A nhận thấy B vẫn còn nhỏ, non nớt nên có ý định không tốt với B, do vậy A đã rủ B

đi chơi A định hiếp dâm B nên đã rủ N, V ,Q cùng thực hiện hành vi Sau khi đưa B đến nơi vắng vẻ cả bốn tên cùng thực hiện hành vi hiếp dâm B nhiều lần Như vậy, về lí trí cả A, N, V, Q cùng nhận thức rõ hành vi hiếp dâm là nguy hiểm cho xã hội, xâm hịa tới quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Cồn về mặt ý chí A, N, V ,Q đã có hành vi rủ rê, lập kế hoạch tức là đã có sự liên kết trong việc thực hiện tội phạm, tức là cả bốn tên đều mong muốn hành

Trang 6

Tất cả những hành vi của A, N, V, Q đều xuất phát từ ý chí của từng người, đều mong muốn hậu quả đối với B xảy ra Đây là dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp

Tổng hợp những điều kiện trên ta thấy A, N, V, Q là đồng phạm

4.2 Vai trò của từng người trong vụ án.

Trong đồng phạm có bốn loại người là: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức Khoản 2 Điều 20 quy định:

2 Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều

là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Tứ định ngĩa trên ta thấy trong tình huống này có hai loại người là người tổ chức và người thực hiện

Người tổ chức là A, vì A là chủ mưu cho hành vi hiếp dâm B Điều đó thể hiện ở việc A chủ động hẹn B đi chơi và có ý định hiếp dâm B Đồng thời

A còn gọi điện cho N, V, Q và rủ ba tên này cùng hiếp dâm B N, V, Q đã đồng ý thực hiện kế hoạch do A lập ra

Trang 7

A, N, V, Q đều giữ vai trò là người thực hiện vì theo tình huống cả bốn tên cùng tham gia hiếp dâm B, tức là cả bốn tên cùng dùng vũ lực để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân, các hành vi này được mô tả trong cấu thành tội phạm

5 Giả thiết Q chỉ có hành vi giữ tay chân B để ba tên A, N,

V thực hiện hành vi giao cấu với nạn nhân Có ý kiến cho rằng

A, N , V là người thực hành còn Q chỉ là người giúp sức, Vậy ý kiến của anh (chị) như thế nào? Giải thích tại sao?

Trong tình huống cả A, N, V đều là người giữ vai trò là người thực hiện Ngoài ra A còn giữ vai trò là người tổ chức vì A là người đã đưa ra kế hoạch của vụ hiếp dâm này

Tình huống đưa ra Q chỉ có hành vi giữu tay chân B mà không tiến hành giao cấu với B nên có ý kiến cho rằng Q chỉ là người giúp sức Tuy nhiên theo em Q không phải là người giúp sức mà đóng vai trò là người thực hiện trong vụ án

Khoản 2 Điều 20 quy định:

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Hành vi tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện tội phạm là hành vi cung cấp các phương tiện, công cụ phạm tội để người thực hiện thực hiện tội phạm

Trang 8

hiện tội phạm Hành vi giúp sức chỉ giúp người khác vốn có ý định phạm tội

có thêm điều kiện để thực hiện tội phạm hoặc yên tân hơn khi thực hiện tội phạm

Áp dụng vào tình huống ta thấy Q không thỏa mãn điều kiện của người giúp sức Hành vi giữ tay chân B của Q là hành vi trực tiếp dùng vũ lực thực hiện tội phạm mà ở người giúp sức không thể có điều này Hành vi của Q tuy không thỏa mãn hết các cấu thành tội phạm hiếp dâm nhưng trong đồng phạm không đòi hỏi mỗi người phải thực hiện trọn vện những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà mỗi người có thể chỉ thực hiện một phần hành vi

đó Q đã tham gia trực tiếp vào việc hiếp dâm B nhưng hình thức tham gia của

Q khác với các thành viên khác Đó là Q chỉ giữ tay chân B để cho A, N, V thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhận Q đã trực tiếp tác đọng đến cơ thể nạn nhân, tức là Q đẫ trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm Do vậy hành vi của Q thỏa mãn các dấu hiệu của người thực hành trong vụ án

KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Tội phạm là vấn đề tiêu điểm đã tồn tại từ lâu và cần phải có những biện pháp xử lí chính xác “đúng người đúng tội” Ngày nay, tội phạm diễn biến rất đa dạng và phức tạp dưới nhiều hình thức, biểu hiện khác nhau nên cần có hệ thống pháp luật chặt chẽ nhằm giữ gìn trật tự, ổn định xã hội Đặc biệt là phải nâng cao ý thức của người dân trong việc tuân thủ, thực hiện pháp luật; truyền bá rộng rãi pháp luật vào đời sống

Trang 9

MỤC LỤC TRANG

ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……….1

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại……… …… 1

2.Xác định khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án……… 2

2.1.Khách thể của tội phạm……….……… 2

2.2.Đối tượng tác động……….……… 3

3.Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm hình thức……… 4

4 A, N, V, Q có phải là đồng phạm hay không? Xác định vai trò của từng người trong vụ án. 4.1 A, N, V, Q là đồng phạm……… 5

4.2 Vai trò của từng người trong vụ án……… ……… 6

5 Giả thiết Q chỉ có hành vi giữ tay chân B……….7

KẾT THÚC VẤN ĐỀ……… 8

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1 Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999

2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập

I, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009

3 Viện khoa học pháp lí – Bộ tư pháp, Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001

4 Nguyễn Ngọc Hoà, Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006

5 Dương Tuyết Miên, Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb CAND, Hà Nội, 2004

Và một số trang web và tài liệu tham khảo khác

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w