1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chầu văn dưới góc độ văn hoá và văn học dân gian

144 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là: sự kết hợp uyển chuyển của lời Văn Chầu- trong tư cách của tác phẩm văn học dân gian- với âm nhạc và các yếu tố nghi lễ làm nên một không gian Chầu văn đặc biệt sống động, độc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THU LOAN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THU LOAN

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Lê Chí Quế

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn: “Nghiên cứu Chầu Văn dưới góc độ văn hoá và văn học dân gian” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới GS TS Lê Chí Quế, nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Hùng Vĩ - người đã tận tình

hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội những người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường.

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp - những người

đã hết lòng ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Thạc sĩ này.

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Loan

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu 5

2.2 Phạm vi nghiên cứu 5

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 9

1.1 Khái luận về Chầu văn Vị trí của Văn chầu trong nghệ thuật Chầu văn 9

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển Chầu văn ở Việt Nam 23

1.2.1 Các thuyết chính về nguồn gốc Chầu văn 23

1.2.2 Lịch sử phát triển và phân bố của không gian Chầu văn 24

1.3 Sự gắn bó của Chầu văn với tục lên đồng và thờ Mẫu, thờ Thánh 25

1.4 Lịch sử nghiên cứu Chầu văn ở Việt Nam 29

1.4.1 Tình hình nghiên cứu Chầu văn ở nước ta 29

1.4.2 Tình hình nghiên cứu Chầu văn dưới góc độ văn hóa - văn học dân gian 33

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ CỦA CÁC BÀI VĂN CHẦU TRONG NGHỆ THUẬT CHẦU VĂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN 37

Trang 6

2.1 Các bài văn chầu là tác phẩm văn học dân gian Bài ca nghi lễ

với các đặc trưng cơ bản về tính nguyên hợp, tính tập thể

và chức năng sinh hoạt thực hành 37

2.2 Các giá trị nổi bật về mặt nội dung 41

2.2.1 Các đề tài chủ yếu của Văn chầu trong hát Chầu văn 42

2.2.2 Các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu trong các bài hát văn 49

2.2.3 Thế giới tinh thần người Việt gửi gắm trong các hình tượng Văn chầu 62

2.2 Tiếp cận một số nét đặc sắc nghệ thuật Văn chầu 69

2.2.1 Thể thơ của Văn chầu 69

2.2.2 Hình ảnh, ngôn ngữ của một tư duy thơ độc đáo 74

Tiểu kết chương 2 83

CHƯƠNG 3: DIỄN XƯỚNG CHẦU VĂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN 84

3.1 Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời văn và các hình thức nghệ thuật khác trong trình diễn chầu văn 84

3.1.1 Đặc điểm âm nhạc hát văn 84

3.1.2 Sự kết hợp tài tình của lời văn với âm nhạc và các hình thức nghệ thuật khác 86

3.2 Chầu văn - một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc thuần Việt 94

3.3 Sức sống của Chầu văn 99

Tiểu kết chương 3 104

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 114

Trang 7

chọn cẩn trọng của người viết Trước hết đề tài này xuất phát chính từ lòng trân trọng một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống thuần Việt độc đáo, nhưng đang bị pha tạp, cần được bảo vệ giữ gìn Bên cạnh đó là mong muốn khám phá được vẻ đẹp của các bài Văn chầu, nhất là khi nó được phối kết cùng âm nhạc, vũ đạo trang phục và các nghi lễ thiêng Chầu văn là mảng đặc sắc riêng biệt nhưng rất đặc trưng cho cái tinh túy của phong vị dân gian, lưu giữ mạch sống của tâm hồn dân tộc, tiềm tàng sức mạnh tinh thần to lớn

và bền bỉ, là bản chất nội sinh của cội nguồn văn hóa cộng đồng, lại có khả năng thích nghi và vươn tới tầm thời đại Người Việt vốn coi trọng tự nhiên Niềm tin thiêng liêng mình là một phần của tự nhiên và quá khứ, tổ tiên và

Trang 8

thần thánh luôn đi bên cạnh thực tại đời sống như một vô thức cố định hình thành nền tảng tâm linh và tinh thần dân tộc Ngày nay hầu hết những người Việt dùng xe hơi, nhà lầu cao đẹp hơn cả phủ Mẫu, nghiên cứu tầu ngầm, tên lửa, máy bay, tham gia chinh phục biển khơi, vũ trụ… Nhưng cũng chính những con người đầy bản lĩnh thời đại ấy vẫn tham gia nhiệt liệt vào các sinh hoạt tín ngưỡng, niệm Phật, cầu siêu, thiền định, xin lộc ấn đức Thánh Trần hay lui tới dự các buổi hầu đồng, thờ Mẫu, nghe ca xướng hát chầu mà chẳng

hề lấy đó làm phẫn nộ, tức cười, phi lí Họ vẫn có thể lễ lạy, cùng đám đông

sì sụp xin ơn thánh ơn Mẫu, dù không mê tín thì cũng xuất phát từ tâm lí cầu

an, cầu phúc, tri ơn tiên tổ, uống nước lặng nghĩ tới nguồn Người ta gọi đó là

“vô thức cộng đồng” tiềm tàng trong các “cổ mẫu”, “cổ tượng”, “linh tượng” tồn tại tiếp biến qua các lễ nghi, khuôn mẫu ứng xử xã hội và nghệ thuật như một ‘di truyền văn hóa”

Theo những khái quát hóa của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh trong

“Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam”: trừu

tượng hóa là con đường để tín ngưỡng phát triển lên thành tôn giáo Tín ngưỡng Việt Nam trên con đường khái quát hóa, lại có xu hướng bổ sung tính sinh động, cụ thể Chầu văn là biểu hiện sinh động và có hệ thống nhất cho sự “cụ thể hóa” của đạo Tam phủ và Tứ phủ, linh thiêng mà “gắn với muôn mặt đời thường và gần gụi với mọi con người bình thường”, đáp ứng được đầy đủ mọi ước vọng của cuộc sống bấp bênh, gian khó Hơn ở đâu hết, Chầu văn với âm nhạc, nghi lễ và lời hát chầu đã “kéo Đạo Mẫu về gần hơn với đời sống.” Điều đó thúc đẩy tính thiết thực cho mọi sự tìm tòi, nghiên cứu Chầu văn và Đạo mẫu để tìm ra được các hằng số tâm linh người Việt Tính cấp thiết của đề tài thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, với khoa học nghiên cứu: Việc sưu tầm và nghiên cứu các

thể loại âm nhạc cổ truyền của người Việt là một đóng góp khoa học quan

Trang 9

trọng vào công việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể của dân tộc Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung Còn nhiều vấn đề về mặt âm nhạc, hệ thống bài bản các khối lượng tư liệu của loại hình Hát văn chưa được chú ý tới để bao giá trị đích thực của tiền nhân để lại cho đời sau phải được giữ gìn Từ góc độ văn hóa- văn học dân gian nghiên cứu sự phong phú và đặc sắc của Chầu văn và các bản Văn chầu với các đặc trưng thi pháp, phong cách và tư duy ngôn ngữ riêng là điều mà các nhà nghiên cứu chưa chú trọng để làm giàu có nền lí luận văn học dân gian dưới sự hỗ trợ đắc lực của bộ phận chuyên biệt là khảo cứu sưu tầm

Thứ hai, về thái độ của công chúng và các nhà quản lí với Chầu văn: Trải qua những mài mòn, gạn lọc và bức chế của lịch sử, ngay cả khi môi trường diễn xướng Chầu văn được trả lại thì với sự lộn xộn, đua đú, bừa bãi của “thị trường sân khấu” hiện nay khiến cho cái vốn liếng vô giá, những giá trị truyền thống lâu đời của Hát văn đang bị tiêu diệt Các nhà quản lí văn hóa đang cực kì lúng túng trong hành xử với thể loại nghệ thuật này để cho

nó chậm mai một trước hiện trạng “mỗi cung văn tài năng cỡ mấy cũng chỉ nắm được một mảnh giá trị Chầu văn” để chờ đợi tàn phai, rơi rụng Sự thẩm định với những chuẩn mực nhà nghề khi các nghệ nhân lão thành cuối cùng

ra đi mà chưa kịp trao truyền lại cho các thế hệ sau thì chẳng bao lâu Chầu văn có thể lại “mồ côi” như hát Xẩm Với giới trẻ- “ông chủ” của nền văn hóa tương lai, không phải tất cả nhưng cũng không phải số ít các bạn trẻ thờ

ơ với truyền thống bởi họ đã có quá nhiều hình thức thư giãn, giải trí; nếu họ không có khả năng tìm thấy ở truyền thống điều gì thiết thân, lí thú thì truyền thống chỉ còn thuần túy là di sản Toàn bộ mạch ý thức dân tộc có thể bị phá

vỡ hoặc cắt đứt nếu những bộ môn nghệ thuật đặc sắc, có khả năng thu hút công chúng trong mục đích hữu ích cho đời sống cá nhân mà vẫn cộng hưởng

Trang 10

được với giá trị của lịch sử, quá khứ của dân tộc, lí tưởng sống của cha ông như Chầu văn không được ghi nhận, khám phá và định hướng đúng

Thứ ba, tính cấp thiết của đề tài được đặt ra từ chính thực tế tồn tại của Chầu văn trong đời sống đương đại Trong vòng hai năm trở lại đây, nhiều tỉnh thành khu vực miền Bắc nước ta đã tổ chức nhiều Hội thảo về Hát Văn và Diễn xướng Hầu đồng nhưng những giá trị nghệ thuật vô cùng độc đáo cùng với ý nghĩa văn hóa, lịch sử của Chầu văn thì chưa được chú ý đúng mức Mới nhìn vào, ai cũng có thể lầm tưởng các hoạt động xã hội rầm rộ đó

là một sự đề xướng và phát triển Chầu văn Nhưng những người đã từng theo sát mọi thăng trầm của nó, thực sự muốn có một sự trường tồn thì hiểu ngay

đó chưa hẳn đã là báo hiệu của ngày mai huy hoàng mà có thể chính là cái bẫy của thời gian khiến Chầu văn phải thu hẹp và suy tàn khi thả cửa và pha loãng nó vào môi trường đầy rẫy những tùy tiện, nông cạn, thiếu khắt khe và trân trọng của xã hội hiện đại Đưa Chầu văn đến với công chúng và phổ biến các giá trị của nó trong xã hội hiện đại là điều đúng đắn Nhưng cái cách mà Chầu văn sẽ tồn tại như thế nào giữa cuộc sống xô bồ và bận rộn này mới là điều đáng bận tâm Tháng 1-2013, “Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định” được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và địa phương này cũng được chọn làm đại diện để lập hồ sơ khoa học đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại đề nghị UNESCO công nhận Điều ấy không chỉ là niềm vui của những người con Mẫu khi người Mẹ tinh thần của

họ tìm được sự tôn vinh xứng đáng, mà còn trực tiếp khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn mà loại hình này mang lại cho sự phong phú và độc đáo có một không hai của diện mạo văn hóa tâm linh dân tộc, khơi động khát vọng vừa quay lại cội nguồn vừa tìm con đường thích ứng với thế giới hiện đại để trường tồn bất diệt

Trang 11

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Các bài Văn chầu trong nghệ thuật Hát văn với tư cách là tác phẩm văn học dân gian hoàn chỉnh và đặc sắc phản chiếu đời sống tâm thức người Việt

2.2.2 Nghiên cứu tác phẩm Văn Chầu trong không gian trình diễn của sân khấu hầu đồng thờ Thánh thờ Mẫu Cụ thể là: sự kết hợp uyển chuyển của lời Văn Chầu- trong tư cách của tác phẩm văn học dân gian- với âm nhạc

và các yếu tố nghi lễ làm nên một không gian Chầu văn đặc biệt sống động, độc đáo

Thứ hai, luận văn nghiên cứu không gian vừa thiêng vừa tục rất đặc sắc trong trình diễn Chầu văn và mối quan hệ mật thiết của lời Văn Chầu với các hình thức nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, trang phục, các qui tắc nghi lễ hầu bóng, hát thờ…

Trang 12

Thứ ba, so sánh sự thu hẹp dần không gian sống của hầu hết các loại hình nghệ thuật dân gian khác như hát xoan, hát ví, ca trù, quan họ, hát xẩm… với sức sống và sự lan tỏa mãnh liệt chứng tỏ khả năng thích nghi và

vị trí quan trọng của Chầu văn trong nhịp sống đương đại

3 Mục đích nghiên cứu

Góp thêm tiếng nói khẳng định bản chất văn hóa và khoa học của nghệ thuật hát văn trong sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân để đi tới nhận định: Chầu văn không phải là một tồn nghi về sự mê tín, hỗn tạp, vụn vặt như những mảnh vụn của văn hóa dân gian, mà là một nghệ thuật độc đáo thuần Việt với những qui tắc, tính hệ thống và vẻ đẹp riêng biệt Khẳng định vị thế của Chầu văn như một loại hình nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc đậm đà bản sắc dân tộc cả ở góc độ văn hóa và văn học dân gian, tôi hướng tới các mục tiêu

cụ thể sau:

- Thứ nhất, luận văn lí giải trên cơ sở khoa học những đặc sắc nghệ thuật Chầu văn từ góc nhìn của văn hóa và văn học dân gian tạo nên sức sống mãnh liệt và bền bỉ của nó trong lịch sử, đặc biệt là khả năng tự tái tạo và mở rộng không gian sống của Chầu Văn

- Thứ hai, luận văn khẳng định vẻ đẹp của các bản văn trong nghệ thuật Chầu văn từ góc độ nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt là hệ thống các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu cũng như sự độc đáo về nghệ thuật ngôn từ

- Thứ ba, luận văn đề cập đến sự trình diễn Chầu văn từ góc độ văn hóa- văn học dân gian để khẳng định đó là một loại hình nghệ thuật dân gian thuần Việt, với sự phối kết nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, lời văn, vũ đạo, trang phục và các nghi lễ trong một không gian vừa thiêng vừa tục, thấm đẫm chất Folklore cần được gìn giữ và bảo tồn

Đạt được những mục tiêu kể trên, đề tài cũng có những đóng góp nhất định, đó là luận văn vừa kế thừa những nhận định, đánh giá của các nhà

Trang 13

nghiên cứu đi trước góp phần khẳng định được bản chất văn hóa và khoa học của Chầu văn, nhất là sự kết hợp của nhiều hình thức nghệ thuật trong diễn xướng Chầu văn, khẳng định vị trí quan trọng xứng đáng của Chầu văn trong bản sắc văn hóa và văn học dân tộc Kết quả của Luận văn ít nhiều góp phần gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu khả năng bảo tồn toàn bộ bản thể con người trong nghệ thuật Chầu văn Thêm nữa, những điểm hạn chế của đề tài, thiết nghĩ, cũng có thể tạo hứng thú cho những ai cùng có mối quan tâm đến vấn đề này

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp cấu trúc- loại hình

- Phương pháp phân tích liên ngành

- Phương pháp văn hóa học

Trong các phương pháp nghiên cứu trên tôi lấy phương pháp điền dã, nghiên cứu, đi thực tế, khảo sát, miêu tả và nhận định làm phương pháp chủ đạo Nguyên lý chủ đạo của phương pháp điền dã đảm bảo tính khách quan

và khoa học khi phân tích lí giải các hiện tượng văn hóa văn học dân gian mà không cần tách nó ra khỏi môi trường sinh hoạt tức là không tước mất đi sự sống linh hồn của nó Thứ nhất tôi chú trọng nghiên cứu cấu trúc thi pháp của các bản Văn chầu trong tư cách một văn bản thuộc về văn học dân gian, chú trọng tinh lọc những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của những văn bản

có giá trị nghệ thuật cao, kể cả những tác phẩm được phóng tác, cải biên bởi những nghệ nhân hát Chầu văn gạo cội Thứ hai, để tìm hiểu diện mạo đời sống đích thực của Văn học dân gian qua Văn chầu người viết phải nghiên cứu sự sử dụng văn bản Văn chầu từ các hình thức hiện tồn của tác phẩm trong cuộc sống, tức là không gian trình diễn Chầu văn để thấy được vẻ đẹp

Trang 14

tự nhiên và những tác dụng thiết thực của nó đối với cuộc sống và văn học Những khoảnh khắc thăng hoa của trình diễn Chầu văn, vai trò cá nhân của các cung văn trong việc thể hiện cái hồn của Văn chầu tạo nên các biến thể sinh động từ đời sống hình thành sức sống cho thể loại này Kết hợp với phương pháp hình thức và văn hóa học, xu hướng nghiên cứu này giúp ta thấy được tầm quan trọng của việc: không được phép tước bỏ yếu tố thiêng liêng trong không gian trình diễn Chầu văn của các bản văn để bắt cho được các đặc trưng thẩm mĩ, bản chất các diễn ngôn văn học dân gian; mặt khác, xác lập được các nguyên tắc, các hệ thống thao tác văn bản hóa tác phẩm một cách chuẩn xác, cũng như hiểu sâu hơn ý nghĩa của việc văn bản hóa tác phẩm một cách khoa học

5 Cấu trúc luận văn

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ CỦA BÀI VĂN CHẦU TRONG NGHỆ THUẬT

CHẦU VĂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN

CHƯƠNG 3: DIỄN XƯỚNG CHẦU VĂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HOÁ

VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Khái luận về Chầu văn Vị trí của Văn chầu trong nghệ thuật Chầu văn

được hiểu là văn tự, bài văn, lời văn, văn chương, nghĩa rộng hơn của từ này

là lễ nghi, văn vẻ, màu mè bởi lẽ ‘Văn” được xem như “cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hoá mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là văn, như văn minh,văn hoá”

Các nhà nghiên cứu khẳng định: Chầu văn còn gọi là Hát văn, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền đặc sắc, sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh gắn với nhiều nghi lễ lễ nhạc cùng các lời văn chau truốt nghiêm trang mang ý nghĩa chầu Thánh Chầu văn ra đời từ đồng bằng Bắc bộ, chủ yếu gồm hát và diễn xướng phục vụ các buổi lên đồng còn gọi là hầu bóng của tín ngưỡng Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần Nhạc sĩ Thao Giang trong bài nghiên cứu “Nghệ thuật hát Chầu văn” phần Vài nét về lịch sử Nghệ thuật hát Chầu đã khá dè dặt về định nghĩa Hát văn: “Hát Chầu văn là loại hình Âm nhạc dân gian gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, có nguồn gốc từ Nam Định và Hà Nội.” Ban đầu Hát văn chỉ lưu hành giới hạn cùng các nghi lễ thờ cúng ở đền miếu, phủ chùa tại miền Bắc, sau cùng với sự phát triển và nhu cầu giao lưu văn hóa mà lan tỏa mạnh mẽ ra khắp đất nước và theo chân người Việt ra cả nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu của sinh hoạt tâm linh Chầu văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là hát thờ, hát thi, hát hầu và hát văn nơi cửa đền Nếu như

Trang 16

Hát thờ được sử dụng chủ yếu vào các ngày lễ tiết, ngày tiệc thánh mừng thánh sinh hoặc hóa hoặc hát trước khi vào các giá văn lên đồng thì hình thức

Vua cha, đức thánh Trần Hưng Đạo và các quan, chầu bà, các cô các cậu Hát văn thờ có lẽ vì mục đích phục vị sinh hoạt tín ngưỡng nên được khẳng định

là ra đời sớm hơn so với các thể loại hát Văn khác Khởi đầu của nó chính là những bản Văn sự tích của những ngôi Đền thờ tứ phủ được lưu truyền qua nhiều thế hệ bởi nhân dân quanh vùng Âm nhạc giúp sự thông quan với thần linh cầu tài lộc, còn các bản văn giúp người dân ghi nhớ về lịch sử ngôi đền cũng như sự tích, chiến công, oai đức của những người anh hùng dân tộc đã hiển Thánh Hát Thi là cuộc đua tài và khẳng định tài năng của các cung văn chuyên nghiệp và lão luyện của các địa phương, và cũng là dịp để thống nhất bài bản cho từng thời kỳ phát triển của nghệ thuật Hát Văn Các cung văn trải qua những mục thi bắt buộc như hát “Văn Công đồng”, khi hát phải kị húy đồng thời kĩ năng chuyển giọng, nối điệu phức tạp hoặc một bản văn được biểu diễn qua nhiều làn điệu đặc biệt được chú ý đánh giá về kĩ năng Rięng

xuân, ngày lễ hội, hát cửa đền phục vụ khách hành hương đi lễ, lời ca tiếng hát được coi như một bài văn khấn nguyện cầu các mong ước của khách hành hương, đổi lại người hát sẽ được nhận tiền công đức của du khách

* Về vị trí của Văn chầu trong nghệ thuật Chầu văn:

Có thể khiên cưỡng mà tách bạch rằng Chầu văn bên cạnh các yếu tố nghi thức cúng lễ, âm nhạc, vũ đạo, trang phục…còn có các bản Văn chầu Văn chầu là phần lời của các bài hát cung thỉnh các thánh Tam phủ, Tứ phủ Các bản Văn chầu có cấu trúc của một tác phẩm văn học dân gian hoàn chỉnh, viết bằng chữ Hán- nôm hay quốc ngữ với số lượng rất lớn do các cung văn lưu truyền trong dân gian hoặc sáng tác sau này bởi các nghệ nhân tài năng

Trang 17

như Phạm Văn Khiêm, Đoàn Đức Giang , Lương Ngọc Tùng…Những bài hát văn có thể khá ổn định trong giai điệu nhưng phong phú về lời văn bởi tính chất dân gian và truyền khẩu Ví như có nhiều bản văn Cô Bé, các bản văn lại

có sự đa dạng trong hình ảnh, ngôn ngữ biểu đạt:

“Chim tung cánh bay lượn trong nắng Hồng trời mùa xuân hoa là hoa thắm tươi Song đăng cô Bé thượng đang múa vui trên quê nhà

Hò là hò ca Vang trước bản đền nghiêm trang

Song đăng cô Bé thượng đang múa vui trên quê nhà

Chim tung cánh bay lượn trong nắng

Bầu trời mây trôi là hoa thắm tươi

Song đăng cô Bé múa là sáng khúc ca núi

Đồi hò là hò ca vang trời cô đẹp đoan trang

Song đăng cô Bé thượng đang múa vui trên quê nhà

Phát rẫy làm nương a cô Bé về đồng phát rẫy làm nương

Phát từ Tam đảo phát ra Thạch Bàn

Lúa vàng cô phát nhanh nhanh

Khéo khôn khôn khéo có ai tài bằng”

(Giá văn hầu “Cô Bé thượng ngàn”)

“Đông Cuông cảnh đẹp hữu tình Thỉnh mời cô bé rừng xanh ngự về Suối rừng đồi núi Đông Cuông Cảnh tiên giá ngự sông Đà,Văn Yên Theo đèo Khau Phạ đi vào

Đông Cuông Tuần Quán biển đề tối linh

Trang 18

Bốn phương sơn thủy hữu tình Nơi cô giá ngự cảnh tiên non bồng Sơn Trang tích cũ lưu truyền Vâng lời Mẫu Thượng quản cai cửa rừng

Giáng về trấn giữ sơn lâm Thần thông hiển ứng xa gần vang danh

Đốn vui nô nức tưng bừng

Sông thao thác đổ cảnh rừng cheo leo Non cao trăng sáng dải vàng Nghe tiên cô bé vào ra sớm chiều

Đông Cuông chíng quán quê nhà

Thiên thai cảnh đẹp 1 tòa Sơn Trang Trước đến suối nhỏ vắt ngang

Đường đèo dẫn tới bản làng đông vui

Vốn dòng đài các trâm oang

Ra tay giáo hoá Cứu người giúp dân Thiên Thai 1 cảnh thần tiên

Đua thuyền rẽ sóng vượt ghềnh dốc cao

Mênh mông thuyền ngược bè xuôi Khi chơi Tuần Lạc lúc qua Thác Bà Ven rừng ven suối ven khe

Đằng vân giá vũ thượng đồng lên chơi

Văn Yên nơi đó quê nhà

Có khi lên núi ngắm trăng hái trà

Củ mài củ sắn củ măng Táo mèo,lúa mạch,măng rừng,nếp hương

Cây cao không ngại gió rung

Trang 19

Có tiên cô bé độ cho thọ trường

Cô về tấu đối Thánh Bà Đông Cuông Lộc tài vượng tiến công danh Lộc cô vô số trên kho thượng ngàn Xin đừng sớm nắng chiều mưa

Đừng như con nhện quên ơn tò vò

Oai linh hiển hách lạ lùng Cưỡi mây cưỡi gió thần thông nhiệm màu

Lúc lên Mẫu Thượng Sapa Khi về Hữu Lũng lại qua Bảo Hà Ngồi trên đỉnh núi ngắm trăng Tay cô gảy khúc cung ngâm dịu dàng

*

* * Lấy gạo nếp Tú Lệ Văn Chấn Nấu thành xôi ngũ sắc dẻo thơm Dùng chè Shan tuyết nước sương Hãm dâng chén ngọc hương thơm dịu dàng

Trang 20

Tiến về Tiên Chúa Thượng Ngàn Dâng lên bệ ngọc toà vàng tối cao Mẫu khen cô bé nhu mì Nết na thùy mị dịu dàng đảm đang

Đền thờ 1 dải trông sang

Gió lùa heo hút mây trôi lững lờ

Cỏ cây điệp điệp trùng trùng Ông hổ gọi bầy gầm thét đêm thâu

Gà rừng điểm mõ tụng kinh Long chầu hổ phục xà tinh khấu đầu Nhất tâm thành kính cúi đầu Tiên cô gia hộ sở cầu tòng tâm

Đông Cuông cảnh đẹp hữu tình

Thỉnh mời cô bé rừng xanh ngự về Suối rừng đồi núi Đông Cuông Cảnh tiên giá ngự sông Đà,Văn Yên Theo đèo Khau Phạ đi vào

Đông Cuông Tuần Quán biển đề tối linh

Bốn phương sơn thủy hữu tình Nơi cô giá ngự cảnh tiên non bồng Sơn Trang tích cũ lưu truyền Vâng lời Mẫu Thượng quản cai cửa rừng

Giáng về trấn giữ sơn lâm Thần thông hiển ứng xa gần vang danh

Đốn vui nô nức tưng bừng

Sông thao thác đổ cảnh rừng cheo leo Non cao trăng sáng dải vàng

Trang 21

Nghe tiên cô bé vào ra sớm chiều

Đông Cuông chíng quán quê nhà

Thiên thai cảnh đẹp 1 tòa Sơn Trang Trước đến suối nhỏ vắt ngang

Đường đèo dẫn tới bản làng đông vui

Vốn dòng đài các trâm oang

Ra tay giáo hoá Cứu người giúp dân Thiên Thai 1 cảnh thần tiên

Đua thuyền rẽ sóng vượt ghềnh dốc cao

Mênh mông thuyền ngược bè xuôi Khi chơi Tuần Lạc lúc qua Thác Bà Ven rừng ven suối ven khe

Đằng vân giá vũ thượng đồng lên chơi

Văn Yên nơi đó quê nhà

Có khi lên núi ngắm trăng hái trà

Củ mài củ sắn củ măng Táo mèo,lúa mạch,măng rừng,nếp hương

Cây cao không ngại gió rung

Có tiên cô bé độ cho thọ trường

Trang 22

Ban tài tiếp lộc cho đồng

Cô về tấu đối Thánh Bà Đông Cuông Lộc tài vượng tiến công danh Lộc cô vô số trên kho thượng ngàn Xin đừng sớm nắng chiều mưa

Đừng như con nhện quên ơn tò vò

Oai linh hiển hách lạ lùng Cưỡi mây cưỡi gió thần thông nhiệm màu

Lúc lên Mẫu Thượng Sapa Khi về Hữu Lũng lại qua Bảo Hà Ngồi trên đỉnh núi ngắm trăng Tay cô gảy khúc cung ngâm dịu dàng

*

**

Lấy gạo nếp Tú Lệ Văn Chấn Nấu thành xôi ngũ sắc dẻo thơm Dùng chè Shan tuyết nước sương Hãm dâng chén ngọc hương thơm dịu dàng Tiến về Tiên Chúa Thượng Ngàn Dâng lên bệ ngọc toà vàng tối cao Mẫu khen cô bé nhu mì Nết na thùy mị dịu dàng đảm đang

Đền thờ 1 dải trông sang

Gió lùa heo hút mây trôi lững lờ

Cỏ cây điệp điệp trùng trùng Ông hổ gọi bầy gầm thét đêm thâu

Gà rừng điểm mõ tụng kinh

Trang 23

Long chầu hổ phục xà tinh khấu đầu Nhất tâm thành kính cúi đầu Tiên cô gia hộ sở cầu tòng tâm

Đông Cuông cảnh đẹp hữu tình

Thỉnh mời cô bé rừng xanh ngự về Suối rừng đồi núi Đông Cuông Cảnh tiên giá ngự sông Đà,Văn Yên Theo đèo Khau Phạ đi vào

Đông Cuông Tuần Quán biển đề tối linh

Bốn phương sơn thủy hữu tình Nơi cô giá ngự cảnh tiên non bồng Sơn Trang tích cũ lưu truyền Vâng lời Mẫu Thượng quản cai cửa rừng

Giáng về trấn giữ sơn lâm Thần thông hiển ứng xa gần vang danh

Đốn vui nô nức tưng bừng

Sông thao thác đổ cảnh rừng cheo leo Non cao trăng sáng dải vàng Nghe tiên cô bé vào ra sớm chiều

Đông Cuông chíng quán quê nhà

Thiên thai cảnh đẹp 1 tòa Sơn Trang Trước đến suối nhỏ vắt ngang

Đường đèo dẫn tới bản làng đông vui

Vốn dòng đài các trâm oang

Ra tay giáo hoá Cứu người giúp dân Thiên Thai 1 cảnh thần tiên

Đua thuyền rẽ sóng vượt ghềnh dốc cao

Trang 24

Mênh mông thuyền ngược bè xuôi Khi chơi Tuần Lạc lúc qua Thác Bà Ven rừng ven suối ven khe

Đằng vân giá vũ thượng đồng lên chơi

Văn Yên nơi đó quê nhà

Có khi lên núi ngắm trăng hái trà

Củ mài củ sắn củ măng Táo mèo,lúa mạch,măng rừng,nếp hương

Cây cao không ngại gió rung

Có tiên cô bé độ cho thọ trường

Cô về tấu đối Thánh Bà Đông Cuông Lộc tài vượng tiến công danh Lộc cô vô số trên kho thượng ngàn Xin đừng sớm nắng chiều mưa

Đừng như con nhện quên ơn tò vò

Oai linh hiển hách lạ lùng Cưỡi mây cưỡi gió thần thông nhiệm màu

Lúc lên Mẫu Thượng Sapa

Trang 25

Khi về Hữu Lũng lại qua Bảo Hà Ngồi trên đỉnh núi ngắm trăng Tay cô gảy khúc cung ngâm dịu dàng

*

**

Lấy gạo nếp Tú Lệ Văn Chấn Nấu thành xôi ngũ sắc dẻo thơm Dùng chè Shan tuyết nước sương Hãm dâng chén ngọc hương thơm dịu dàng Tiến về Tiên Chúa Thượng Ngàn Dâng lên bệ ngọc toà vàng tối cao Mẫu khen cô bé nhu mì Nết na thùy mị dịu dàng đảm đang

Đền thờ 1 dải trông sang

Gió lùa heo hút mây trôi lững lờ

Cỏ cây điệp điệp trùng trùng Ông hổ gọi bầy gầm thét đêm thâu

Gà rừng điểm mõ tụng kinh Long chầu hổ phục xà tinh khấu đầu Nhất tâm thành kính cúi đầu Tiên cô gia hộ sở cầu tòng tâm”

(Giá văn Cô Bé Đông Cuông)

“Ai lên Mạn Ngược Sông Hồng Lắng nghe tiếng hát ấm lòng thượng du

Hát về mảnh đất hoang vu Lăng Khay ,Lăng Khít ,Phố Lu Bảo Hà

Trang 26

Đường mòn vắng bóng người qua Đầu non thác đổ xa xa hổ gầm

Tiếng Khèn vang vọng sơn lâm nhà sàn vách lứa mưa rầm sapa Xuân về đồi núi nở hoa hoa sim tím biếc hoa lan đợi chờ

Sa Pa xứ sở sương mờ

Đỉnh non cao ngất vi vu gió gào

Người Mèo người Thổ người Dao Mây che sườn núi ào ào mưa rơi Gọi chim bay lượn giữa trời Gọi cá dưới nước đua bơi vẫy vùng

Về đồng đếm bước thung dung Măng chua,mắc mật hương hừng lúa ngô Người mèo người Mán, Lô Lô

Rủ nhau trảy hội Bản Hồ,Tả Van Tính cô dà ní dà nàng Tay cô tô thắp hạt vàng cô đeo Sơn lâm như nứoc thủy triều Khi thăng khi giáng khi đầy khi vơi

Đố ai rẽ nước làm đôi

Mặt trăng sẻ nửa, mặt trời chia ba thương đồng không ngại đường xa Mưa rừng sấp chớp phong ba chẳng nề

Tiên cô về đền đây giá ngự thoả nỗi lòng ấp ủ chờ mong Hát lên vang vọng núi rừng

Trang 27

Cho chim về tổ cho đồng bên nhau người đi trước đợi người theo sau

Đừng nên chia rẽ thêm sầu lòng cô

Ai xa xôi đừng gieo thêm sầu nhớ Xuân về rồi đào nở cuối mùa đông

Đêm đen mơ ánh trời hồng

Cây xanh nhớ núi sông sâu nhớ thuyền sông nhớ thuyền đò nghiêng bến ngả cây nhớ rừng cành lá xốn xang

Dù ai ra bắc vào nam

đường xa chẳng quản gian nan ngại gì

Cô ngại gì đường xa cách trở Giáng ngự đồng như hoa nở mùa xuân Lệnh truyền các chúng sơn thần Nghe cô hạ lệnh hộ dân trừ tà Loài bách thú hổ hùm tê giác Nghe lệnh cô truyền quỳ rạp bên non Vượn dâng trái chín quả thơm

Cá vàng cá bạc chầu lên trên ngàn

Động cô ngự phong lan đua nở Đỉnh nhang trầm cô ngự đài sen

Phượng hoàng bách điểu ca vang Rừng thông dìu dặt tiếng đàn tương tư Nghe dìu dặt đàn thông phách trúc

Cô nhẹ nhàng múa lượn cầu mây Thẳng về Cốc Lễu hướng tây Mường Luông họp chợ tháng ngày bán buôn

Trang 28

Bảo Hà Tuần Quán Đông Cuông Danh Cô sáng tỏ bốn phương phụng thờ

Ỷ La xuất nhập Tam cờ Đông cuông Tuần Quán Bảo Hà miếu thiêng

Một bầu phong nguyệt vô biên Nước non sơn cước mọi miền mọi hay

Chiều tà ác lặn non tây Trăng in mặt nước cỏ cây tần ngần Dạo chơi khắp hết xa gần Mường Khương,Bát Xát mọi phần mọi xinh

Dạo chơi nước biếc non xanh Lao Chải,Tà Phìn,Mường Hum ra vào Bắc Hà phiên chợ non cao Rượu ngô Bản Phố,hoa đào SaPa

Đường thẳng lối vào đền Mông Sến

Sang Bảo Hà lên đến Tân An Hôm nay giáng lễ đàn tràng Khuông phù đệ tử an khang thọ trường”

Giá văn Cô Bé Sa pa

Mặt khác các bản Văn chầu cho mỗi giá văn cũng lại kể về những sự tích, lai lịch, ca ngợi với nhiều đức Mẫu, chầu bà, các đức Thánh, ông hoàng, cậu quận, thánh cô khác nhau nên cách ví von, xưng tụng cũng luôn phải biến đổi cho phù hợp với nguồn gốc, chiến tích, địa vị, tính cách, sở thích,… của mỗi vị Bởi sự gắn bó chặt chẽ không thể tách rời hay thay thế với nghi lễ lên đồng nên Chầu văn nói chung là Văn chầu nói riêng đã luôn tồn tại với tư cách của một hình thức diễn xướng dân gian đặc biệt, hướng về các nhu cầu

Trang 29

tâm linh kính ngưỡng các đấng siêu nhiên đang che chở cho con người, đáp ứng khát vọng của con người về cuộc sống bình an, sung túc, may mắn

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển Chầu văn ở Việt Nam

1.2.1 Các thuyết chính về nguồn gốc Chầu văn

Có nhiều giả thiết về sự ra đời của Hát Văn và hiện nay vấn đề này vẫn đang là một cuộc tranh cãi lâu dài Nhạc sĩ Bùi Nhạc sĩ Bùi Đình Thảo đã tập hợp các quan điểm và thống kê về sáu nguồn gốc quan trọng của Chầu văn:

- Từ cách thức giải trí ca nhạc của các vương tôn công tử thời Lý Trần

(Trích: Hát văn- Bùi Đình Thảo [30, tr.8])

Có nhiều ý kiến thiên về vào quan niệm: Hát Văn bắt nguồn từ việc các thủ nhang đồng đền thanh đồng đạo quan, các thầy cúng theo tín ngưỡng

tứ phủ đã chuyển những bản văn cúng sang thể thơ lục bát và sau này trở thành những ca từ trong các làn điệu chầu văn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Dẫu các có nhiều quan niệm về nguồn gốc nhưng Chầu văn lại khá thống nhất trong trình diễn và ý nghĩa phụng thờ, tôn kính thánh thần Vậy nên ta

có thể khẳng định nguồn gốc và ý nghĩa tồn tại của Chầu văn phải gắn liền với tục lên đồng và thờ Thánh, thờ Mẫu Những bài Văn chầu được hát theo làn điệu nhất định trong mỗi cuộc lên đồng kéo dài qua hàng mấy chục giá đồng làm nên những nghi lễ chính, nghi lễ tiêu biểu của tục thờ Thánh mẫu Tam phủ - Tứ phủ Từ gốc gác đó Hát văn- Lên đồng không chỉ thuần túy là

Trang 30

sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh có tính cộng đồng của quần chúng mà còn làm nên diện mạo độc đáo của một bộ môn nghệ thuật văn hóa- văn học dân gian

1.2.2 Lịch sử phát triển và phân bố của không gian chầu văn

Đã có nhiều nhà nghiên cứu suy đoán rằng Chầu văn có xuất xứ sớm là khoảng thế kỷ X, sau khi xuất hiện ghi chép của Lê Quí Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”: “Thời Trần (1225-1400) có lối hát trước mặt đế vương, gọi là Hát chầu” Trong bản Văn công đồng, bản văn thờ cổ nhất còn lưu truyền đến ngày nay câu mở đầu trong bản văn này đã ghi rõ: “Đời Lê Thái Tổ Trung hưng…” khiến ta liên tưởng ngay đến cuốn “Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ có đề cập tới các Cung văn hát trong nghi lễ thờ Thánh Mẫu tại các ngôi đền có từ thời Lê trung Hưng Như vậy sớm là thế kỉ X, muộn nhất là thế kỉ XVI, Chầu văn đã chứng minh sự hiện hữu của nó trong đời sống văn hóa và nghệ thuật dân tộc Trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhưng Chầu văn vẫn giữ được nét hồn Việt thuần nhất, mộc mạc, nhưng cũng rất đa diện, độc đáo, sự phát triển của Chầu văn ắt phải gắn bó chặt chẽ với các bước đi của Đạo Mẫu trong lịch sử, khi thăng khi trầm Cụ Phan Kế Bính do ảnh hưởng đạo đức Nho gia nên khi trình bày về tín ngưỡng lên đồng, không đả động đến Chầu văn, nhưng trong cái cách cụ chê bai đồng bóng thì đã rõ hẳn cái thái độ khinh miệt với tất cả những gì liên quan đến nghi lễ này: "Khốn nạn thay cho các kẻ ngu xuẩn, chỉ tin những sự huyền hoặc, mà không biết trọng cái sự hiển nhiên” “ Than ôi, đạo phù thuỷ cũng là đạo đồng cốt còn thịnh hành ngày nào thì dân trí còn ngu xuẩn ngày ấy Bao giờ trong nước tuyệt hẳn cái mối ấy thì mới có cơ khôn ngoan cả được." Thời kỳ thịnh vượng nhất của Chầu văn được cho là cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX với bằng chứng về nhiều cuộc thi hát để chọn người hát cung văn xuất sắc Từ năm 1954, Chầu văn dần dần mai một, hầu đồng là tội mê tín dị đoan; thậm chí các đền phủ bị tịch thu các dụng cụ hành lễ, các hoạt động Hát văn phải

Trang 31

được thực hiện ngấm ngầm, lén lút Sự tồn tại của Chầu văn khi đó bị coi là

hủ tục mê tín, sản phẩm trụy lạc của xã hội cũ Quả thật, trong suốt một thời gian dài hàng thế kỉ, tận đến đầu những năm 1990 Hát văn mới lại có chút cơ hội nảy nở trở lại Các trung tâm của Hát văn là Hà Nội, Nam Định và một số vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ ra đời trong bao nỗ lực nhọc nhằn, không kém phần cay đắng của các nghệ nhân và những người tâm huyết với nghệ thuật này, để đến hôm nay nó mới có cơ hội đòi được bảo tồn, phát triển, hay vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể thế giới Các trung tâm Chầu văn hiện nay

có thể kể đến là Phủ Giày- Nam Định, Phủ Tây Hồ- Hà Nội, Đền Trần- Nam định, đền Bắc Lệ- Lạng Sơn, đền Sòng- Thanh Hóa, điện Hòn Chén- Huế,… Theo kiểm kê của ngành Văn hóa, Thể Thao và Du lịch, toàn tỉnh Nam Định hiện có 287 di tích gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, thờ Đức Thánh Trần liên quan đến “Nghi lễ Chầu văn” Quần thể di tích văn hóa Phủ Dầy,

xã Kim Thái- trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh thường xuyên diễn ra hoạt động nghi lễ Chầu văn Đối với tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần thì trung tâm của tín ngưỡng tập trung ở Thành phố Nam Định với đền Cố Trạch phường Lộc Vượng và đền Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc Ngoài ra Chầu văn được dùng tế lễ trong các điện thờ gia đình, các đền miếu thờ các vị anh hùng, thành hoàng ở khắp mọi làng quê Việt Nam Sau này, theo chân các đồng bào di cư, Chầu văn lan tỏa ảnh hưởng của nó vào Miền trung, Miền nam và đi theo các Việt kiều đi ra nước ngoài, kết hợp với nhiều tín ngưỡng khác làm nên những bản sắc văn hóa mới

1.3 Sự gắn bó của Chầu văn với tục lên đồng và thờ Mẫu

Hồ Đức Thọ giải thích trong cuốn “Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh

và di sản văn hóa- lễ hội’ về Hầu bóng như sau: “Hầu bóng là lên đồng Chữ đồng có nghĩa là đồng tử, tức là trẻ nhỏ ngây thơ, đang hồn nhiên trong trắng… Xưa phụ đồng thường là trẻ nhỏ, thậm chí trẻ nhỏ ngồi đồng, tuy

Trang 32

ngoài đời chưa biết chữ, mà nhập đồng lại giáng bút bằng thơ chữ Hán… Nói đến đồng phải nói đến cốt Cốt tức là xương cốt bên trong, sự kín đáo bên trong, có nghĩa cốt là Thánh Còn đồng là phần thể hiện bên ngoài để giao tiếp, do vậy con công đệ tử theo đồng, nghe đồng tức là nghe Thánh, nghe Mẫu dạy” [43, tr.123] Hầu đồng bắt nguồn từ tín ngưỡng tứ phủ thờ trời, đất, núi, sông của người Việt đã tồn tại tự thưở ban sơ mở đất khai quốc trở thành tín ngưỡng bản địa có tính cách nguyên thủy Nhu cầu thông linh với thánh thần thông qua ông đồng bà cốt với âm nhạc, ca xướng xưng tụng và các nghi

lễ mang tính huyền thuật là điều kiện hình thành tục hầu đồng và hát văn Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh, các điệu múa thiêng, lại được nhuận sắc bởi các lời văn trau chuốt nghiêm trang, Hát văn mới vinh dự trở thành hình thức ca hát mang ý nghĩa nhập hồn hầu Thánh Hát văn mang tính chất sôi nổi, kích động cộng với trống phách, thanh la rộn ràng làm cho buổi hầu đồng luôn trong không khí náo nhiệt tưng bừng Mở đầu buổi lên đồng, cung văn hát điệu văn thờ tiết tấu nhanh mà trang nghiêm đĩnh đạc, chờ sau khi Thánh đã nhập đồng thì hát văn hầu để ca ngợi công tích hay sự tích các thánh, đột ngột âm nhạc chuyển từ trầm tĩnh sang ồn náo, điệu hát Dọc được sử dụng để kích thích khả năng hưng phấn, thượng đồng dồn dập, tưng bừng và nổ thành cung bực cao nhất khi các con đồng đỡ bóng Thánh để ban tài phát lộc, múa quạt, vung tiền…Đối tượng chầu của Chầu văn cổ truyền là những nhân vật trong tín ngưỡng Tứ phủ gồm có Mẫu Thượng thiên Mẫu Địa, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu thoải, các đức ông, quan hoàng, các cô và các cậu Các đối tượng chầu của Chầu văn cổ truyền là cũng là những nhân vật trong tín ngưỡng Tam phủ là Vua cha - Ngọc Hoàng Thượng Đế mà đức Trần Hưng Đạo cũng thuộc dòng này, các Mẫu mẹ cầm đầu ba cõi là Thượng thiên, Thượng ngàn và Thuỷ phù gọi là Mẫu Trung Thiên, Mẫu Thượng Ngàn

và Mẫu Thoải cùng các vị Chầu Bà, Quan Lớn từ Đệ Ngũ tới Đệ Nhất, mười

Trang 33

ông Hoàng, mười hai Tiên cô, các cậu Quận, các cô Bé, các Cậu Sự thờ phụng các Đức Mẫu và Đức Thánh sẽ thật sự không trang trọng, thành kính

và quá trình nhập đồng hiển thánh sẽ khó thành công nếu không được thực hiện cùng với hình thức nghệ thuật đàn hát và lời Văn chầu Có cảm tưởng như không chỉ các con nhang đệ tử say sưa mà ngay cả các chư vị thánh thần cũng không thể “dứt áo” khi các khúc văn tấu lên kể sự tích lai lịch và ca ngợi công đức vị thánh đang ngự đồng Văn chương và ca nhạc ca tụng các nhân vật này được rất mực cẩn trọng, trau chuốt trong lời lẽ nhưng lại tự nhiên điêu luyện trong thể hiện trình diễn Dù rằng bản văn là sẵn có những bản được chọn phải mẫu mực về văn phong, kị húy và bay bổng, tích văn không được rườm rà Khi văn bản đã được lựa, một cung văn chuyên nghiệp sẽ định ra những cung điệu thích hợp từng đoạn trong bài, kể cả các cao trào, lưu không, phụ họa Việc trình bày các bản văn đó cũng phải phù hợp với từng vị hiển linh giáng đồng để sự tôn vinh đạt đến sự hoàn hảo, đẹp lòng chư thánh Ví như các Ông và các Cô thuộc cõi Thượng Ngàn như Ông Chín Thượng Ngàn,

Cô Bảy Thượng Ngàn về thì cung văn liền giả ngay giọng Thượng, phải hát chầu theo giọng lý thượng - giọng người miền núi Giá văn các đức ông thì khề khà, khoan thai trong khi các giá văn các cô thì điệu đàng, giá văn các cậu thường hay nói ngọng, nói nũng Đặc biệt, từng lời ca, lối hát, sự nhanh chậm của các làn điệu phải thật ăn khớp với các diễn biến đột ngột bên mâm đồng Đôi khi giữa giá chầu, người cung văn hoặc đệ tử phải vỗ tay lớn tiếng khen nịnh: “Lạy cô, cô đẹp quá”, hoặc cũng có khi người bị nhập đồng ngắt lời cung văn, tự đập ghế, quát mắng vài ba người xem chầu thiếu lễ phép để thị uy: “Láo với cậu, cậu tát cho vỡ mồm” Tính cách của từng vị thần thánh cũng phần nào được bộc lộ thêm qua những tình huống ngoài văn bản khiến buổi chầu càng thêm sinh động, bất ngờ dù thời gian hầu đồng không bao giờ ngắn hơn vài ba giờ đồng hồ Khi người hầu đồng ngã vật ra hoặc ra hiệu, các

Trang 34

cung văn phải tấu ngay câu: ‘xe loan thánh giá hồi cung” và rung chuông đưa tiễn trước khi tiếp tục bài chầu đang hát dở đợi chờ giá đồng tiếp theo Kết hợp với âm nhạc và văn chầu, trang phục và màu sắc, dụng cụ phục vụ quá trình minh họa cũng phải thay đổi tùy theo hàng phẩm, giới tính, phong thái từng vị Thánh với bốn loại màu sắc cơ bản: đỏ, xanh, trắng và vàng Với các

vị Thánh hàng võ quan, trang phục còn có thêm cờ lệnh, cung, kiếm thể hiện

sự uy nghi, mạnh mẽ Các chầu miền thượng trang phục là quần áo chàm, đeo túi hoa, tóc cài hoa rừng Người tham dự cảm nhận được ngay không khí hình ảnh của núi rừng, sông bể, chiến trận… ngay trong các giá văn Có thể nói, không có sân khấu hầu đồng thờ thánh Mẫu thì Chầu văn không còn môi trường diễn xướng đúng nghĩa của nó cũng như thiếu Chầu văn thì các giá đồng sẽ mất ngay bản sắc, sức thu hút sẽ kém mà dường như chư vị thánh thần cũng chẳng mấy hài lòng Cung văn phối hợp nhịp nhàng với chân đồng, chân đồng kết hợp ngẫu hứng với đông đảo của người xem tạo lên sự hòa quyện độc đáo giữa âm nhạc, nghệ thuật múa, nghệ thuật sân khấu trong suốt một giá hầu Yếu tố Thiêng của nghi lễ lên đồng và ý nghĩa ca ngợi, cầu xin Thánh, Mẫu làm cho sự nghiêm cẩn của Chầu văn phải được giữ gìn trong khi nghệ thuật đàn hát tạo ra chất dẫn điện khiến không chỉ bà đồng ông cốt nhanh chóng đi vào trạng thái ngây ngất mà có thể tạo ra cái mê mẩn cho cả một đám đông khổng lồ Lời văn chầu nhắc nhở người ta trong cái mê man, vẫn nhớ tưởng đến từng vị thánh đang hiển linh mà biết đường cầu nguyện, van lơn Có thể nói phần Chầu gắn với các nghi lễ hầu bóng đậm tính tín ngưỡng khiến Chầu văn đi sâu vào hướng chuyên nghiệp còn phần Văn và nghệ thuật đàn hát khiến cho loại hình nghệ thuật tổng hợp này đậm chất dân gian, trở nên phổ biến, tạo nên mối dây liên hệ sống động giữa người trình diễn và người tham gia buổi Chầu Thậm chí các nghệ nhân hát văn còn rất tự

do, ngẫu hứng, linh hoạt trong khả năng ứng tác tại chỗ mà vẫn đậm đà tính

Trang 35

tâm linh Nhiều nhà nghiên cứu đặt vấn đề cần tách bạch Hát văn và Hầu đồng tức là họ không hiểu mối quan hệ gắn bó giữa Chầu văn với tục lên đồng và thờ Mẫu Cái sân khấu linh thiêng là các đền, phủ, miếu thờ không thể thay thế bằng những sàn diễn hiện đại, tùy tiện và dễ dãi Sự tách bạch này đồng nghĩa với sự phá nát tổng thể nguyên hợp và hi sinh chức năng sinh hoạt và khả năng hòa điệu của Chầu văn Phạm Thị Trâm trong Luận án “Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại”có khẳng định: “một nguyên tắc trong tín ngưỡng là cái gì có cơ sở hơn thì linh thiêng hơn’ Điều này được khẳng định thêm một lần nữa trong Chầu văn khi mà lòng yêu nước, coi trọng tự nhiên, lối sống nghĩa tình, uống ước nhớ nguồn,

lá lành đùm lá rách ít nhiều đã được tích lũy và tôn thờ như một tín ngưỡng thiêng liêng suốt hàng ngàn năm rồi phản chiếu lại bằng các hình tượng Văn chầu và các hình thức diễn xướng của nó trong sân khấu hầu đồng thờ mẫu

Từ đó nó sẽ chi phối sâu xa tới đời sống và ăn sâu vào tinh thần của người hiện đại để chờ đợi tiếp biến trong sân khấu, nghệ thuật và tâm linh con người tiếp tục vun bồi lý tưởng thẩm mĩ và bản sắc dân tộc

1.4 Lịch sử vấn đề

1.4.1 Tình hình nghiên cứu Chầu văn ở nước ta

Nghệ thuật Hát văn được nhà bác học Lê Quí Đôn đề cập sơ lược trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” như sau: “Thời Trần (1225-1400) có lối hát trước mặt đế vương, gọi là hát chầu” Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và lan tỏa với bao thăng trầm trong chính vận mệnh của nó, Chầu văn dần khẳng định được giá trị tinh hoa của nó và hòa dệt vào vẻ đẹp của văn hóa dân tộc Trong một thời gian dài, Chầu văn bị coi là mê tín dị đoan, cần phải bài trừ nên tình hình nghiên cứu và bảo tồn chầu văn hầu như bị tê liệt Sau Nguyễn Tân Chiêu với : “Sách dạy chầu văn Trần chiểu hiển thánh” năm 1934, có lẽ Bùi Đình Thảo cùng với Ngô Đức Thịnh, Trần Văn Khê, Trần Lâm Biền,

Trang 36

Đặng Văn Lung… là những nhà nghiên cứu có công lao lớn trong việc khơi dòng cho Chầu văn sống lại và trở thành một trong những đối tượng quan trọng đặc biệt của văn hóa và văn học dân gian Từ năm 1992 đến nay có tới ít nhất bốn cuộc hội thảo lớn về tín ngưỡng thờ Mẫu, gần đây nhất là “Liên hoan Nghi lễ Chầu văn” lần đầu diễn ra tại Hà Nội, tọa đàm “Bảo tồn và phát huy giá trị của Nghi lễ Chầu văn trong đời sống xã hội đương đại”, “Liên hoan Nghi lễ Chầu văn” tại Phủ Giầy, hội thảo "Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hát văn tỉnh Bắc Giang" tổ chức trong năm 2013 Các nghệ sĩ cũng dùng chất liệu âm nhạc và ngôn ngữ hát văn trong rất nhiều sáng tạo nghệ thuật như Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết “Mẫu Thượng ngàn”, Nhà hát Chèo Hà Nội với vở diễn khá thành công: “Ba giá đồng”, Nhà hát kịch Tuổi trẻ có vở diễn “Tâm linh Việt”, nghệ sĩ piano Phó An My từng kết hợp piano với nghi lễ hầu đồng của Chầu văn trong tác phẩm “Bóng”…Đương nhiên những giá trị văn hoá, tín ngưỡng trong Đạo Mẫu trong đó có Chầu văn tất nhiên sẽ được chú ý tìm hiểu, phân tích, trình diễn Về tên gọi cho loại hình nghệ thuật này cũng gây chú ý cho dư luận GS Tô Ngọc Thanh trong khuôn khổ Liên hoan Nghi lễ Chầu văn Hà Nội lần thứ nhất, bày tỏ sự phản đối với tên gọi “nghi lễ chầu văn”: “Chầu văn là một tín ngưỡng, một niềm tin vào một vũ trụ Sao lại gọi nghi lễ? Nghi lễ chỉ là một hành động, thắp hương cũng gọi là nghi lễ Tôi đề nghị gọi là "tín ngưỡng thờ Mẫu" Nếu không xin

cứ để Chầu văn” Trong buổi tọa đàm với tên gọi “Bảo tồn và phát huy giá trị của Nghi lễ Chầu văn trong đời sống xã hội đương đại” các tham luận, ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, nhà khoa học, các nghệ nhân Chầu văn tại

Hà Nội và đại diện cơ quan quản lý văn hóa đã diễn ra thật sôi nổi Không có nhiều bàn cãi về nguồn gốc của Chầu văn, mà các tranh luận đối lập chủ yếu xoay quanh vấn đề bảo tồn nó- nên hay không nên tách biệt tính nghệ thuật và tính tín ngưỡng của Chầu văn, sân khấu hóa Chầu văn có phải là sự bảo tồn

Trang 37

nguyên vẹn các giá trị của nó… GS.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng sự tách bạch tính nghệ thuật và tín ngưỡng không ảnh hưởng lớn tới sự phát triển Chầu văn TS Lê Thị Minh Lý, nguyên Cục phó Cục Di sản còn đưa ra quan điểm: hiện nay, việc nghệ thuật hóa các loại hình tín ngưỡng trên sân khấu đã được nhiều nước thực hiện, điển hình là Hàn Quốc Đây có lẽ là bài học mà Việt Nam có thể áp dụng Theo bà việc “Liên hoan Nghi lễ Chầu văn” đưa Chầu văn vào biểu diễn tại rạp Công nhân - Hà Nội mà có rất nhiều người đến xem

đã cho thấy nhu cầu thưởng thức Chầu văn của người dân Vì thế, bà Lê Thị Minh Lý tán thành việc nên rạch ròi thế nào là nghệ thuật, thế nào là tâm linh, được như vậy thì việc đưa Chầu văn lên sân khấu sẽ không gây tranh cãi nữa Luồng ý kiến thứ hai kịch liệt phản đối việc tách biệt đứng đầu là Giáo sư Tô Ngọc Thanh Ông nói “Chầu văn sống được là vì tâm linh, nếu không có cốt tâm linh thì không còn là Chầu văn nữa” “Bảo dẹp tâm linh đi để sân khấu hóa nó, tôi không hiểu Cái cốt của chầu văn là tâm linh, là sự kính trọng tôn sùng, muốn các vị thánh hiển hiện trước chúng ta, thì cái nghệ thuật nó cao siêu lắm Quyền tự do của nghệ sĩ tôi không dám bàn Nhưng đứng ở góc độ nhân dân chứ không phải người nghiên cứu, tôi cũng đã tự lên đồng rồi, thì tôi cho đấy là xúc phạm chúng tôi” Về việc Liên hoan Nghi lễ Chầu văn diễn ra tại rạp Công nhân gây nhiều tranh luận, giáo sư Tô Ngọc Thanh cũng bày tỏ: không thể gọi đó là sân khấu hóa, đó là chuyển không gian điện thờ lên sân khấu bởi thực tế cho thấy có đầy đủ ban thờ và các yếu tố tâm linh Người dân đến xem cũng không coi sân khấu rạp Công nhân là sân khấu biểu diễn,

mà coi đó như một điện thờ, thậm chí đã có nhiều người đứng trong cánh gà chắp tay kính cẩn….Các buổi tọa đàm về Nghi lễ Chầu văn vẫn để lại khá nhiều băn khoăn và câu hỏi lớn cho các nhà khoa học và và cơ quan quản lý văn hóa trong việc thống nhất hình thức diễn xướng của Chầu văn Và tất nhiên, trong tiến trình lập hồ sơ để Chầu văn được Unesco công nhận là Di

Trang 38

sản văn hóa phi vật thể vẫn còn nhiều vấn đề mà các nhà khoa học và quản lý văn hóa sẽ phải dành thêm nhiều thời gian để nghiên cứu

Như vậy, đã có hai luồng ý kiến trái chiều nhau về môi trường tồn tại của Chầu văn trong thế giới đương đại: yếu tố sân khấu hóa xã hội hóa, phổ biến rộng rãi Chầu văn như các loại hình nghệ thuật hiện đại, hoặc nhạc lễ thiêng liêng như Chầu văn không nên phổ quát rộng rãi trong đời sống, vì như thế sẽ làm “tục hóa” sinh hoạt tín ngưỡng này Theo tôi, xu thế sân khấu hóa và xã hội hóa Chầu văn hiện nay chính là xu thế đưa Chầu văn khỏi vị trí Bài ca nghi lễ tế thần trở về với Bài ca nghi lễ sinh hoạt thuần túy Bằng cách đó, toàn bộ yếu tố thiêng của nó bị tước đoạt, và khi bị giải thiêng thì điều tất yếu,

nó sẽ bị tư duy lịch sử hiện đại và khoa học kĩ thuật hiện đại gọt dũa, lắp ghép méo mó, pha tạp rồi bài trừ nhanh chóng, số phận của nó biết đâu chẳng giống như bao loại hình nghệ thuật dân gian khác, sẽ phải tồn tại cộng trú nương nhờ đồng dao hoặc trò chơi của con trẻ Không phải là đề cao kĩ thuật hát văn hay sưu tầm, chỉnh lí bản văn, giải phóng định kiến xã hội, định hướng tư tưởng cho cung văn và hầu đồng… mà giữ gìn yếu tố Thiêng và mục đích Chầu Thánh mới là cái quyết định sự tồn tại đúng nghĩa của nghệ thuật Hát văn Vì vận mạng và ý nghĩa sống còn của nó trong lưu giữ, bảo tồn bản sắc tâm linh, tâm thức dân tộc, Chầu văn đã nhận được sự quan tâm đặc biệt, và ủng hộ nhiệt thành của dư luận, của các học giả và công chúng, vẻ đẹp sống động, màu mè, độc đáo của nó ngày càng được tôn trọng và lí giải bởi giới truyền thông và giới khoa học, thậm chí khẳng định vị thế tồn tại có thể với tư cách là di sản văn hóa nhân loại Ngày 23.11.2013 vừa qua, chương trình

“Chầu văn, âm nhạc Tín ngưỡng trong cuộc sống đương đại” lại được long trọng tổ chức bởi Diễn đàn Hát văn Việt Nam tại đình Kim Ngân- Hàng Bạc-

Hà Nội, với sự tham gia của nhiều tên tuổi nghệ nhân Chầu văn, cung văn, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian cùng các thành viên của Câu Lạc Bộ

Trang 39

Hát Văn và Diễn xướng Hầu đồng Việt Nam, một lần nữa khẳng định vị trí và

ý nghĩa quan trọng của Chầu văn không phải là một tiếng vọng xa xôi của quá khứ mà là một thực thể sống của văn hóa xã hội, nhịp bước cùng dân tộc

1.4.2 Tình hình nghiên cứu Chầu văn từ góc độ văn học và văn hóa dân gian

Các học giả có mối quan tâm sâu sắc và giành nhiều thời gian tâm sức đến sự tồn tại, phát triển và giá trị đích thực của Chầu văn và tục Lên đồng, thờ Mẫu, có thể kể đến: Trần Tần Chiêu, Bùi Đình Thảo, Ngô Đức Thịnh, Trần Văn Khê, Đinh Gia Khánh, Đặng Hoành Loan, Nguyễn Quang Lê, Trần Lâm Biền, Hồ Đức Thọ, Bùi Trọng Hiền Đó đều là các học giả có tên tuổi

và tâm huyết với việc gìn giữ và phát triển Chầu văn với hàng loạt các phát biểu, các bài nghiên cứu phê bình Đáng chú ý trong các bài viết này là cuốn

Thao Giang, cuốn Đạo Mẫu, 100 bài hát văn của Ngô Đức Thịnh”

Nhìn chung chưa có nhiều tác giả chú trọng đi sâu nghiên cứu về Chầu văn và Đạo Mẫu nói chung ở góc độ văn hóa- văn học dân gian Các bản văn

ít nhiều được một vài học giả nhận định chung chung là kết cấu theo kiểu phương thức tự sự nhằm ca ngợi, kể các tích liên quan đến nguồn gốc, chiến công, oai quyền của các vị Thánh Các bài viết và công trình về đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, liệt kê các bản văn được đánh giá là cổ điển và có giá trị được lưu truyền trong dân gian hoặc được các cung văn sáng tác, đặt lời mới Chưa có công trình đáng kể nào đi sâu phân tích bài bản

về thi pháp cũng như bản chất văn hóa và lịch sử của Chầu văn đáp ứng các đặc điểm và chức năng cơ bản của văn học- văn hóa dân gian về mặt văn bản học và về trình diễn đảm bảo tính tổng thể nguyên hợp mang đậm tính folklore của nó.Thậm chí danh từ “Chầu văn” cũng xuất hiện rất hạn chế trong các giáo trình Văn học dân gian Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu

Trang 40

tôi đã đặt vấn đề: Chầu văn là thể loại văn học thể hiện rõ “sự phân vân” của

tác giả dân gian trong lựa chọn phong cách sáng tác dân gian và bác học, chứ

không phải quá trình “nhích dần về phía văn học bác học thành văn” thì một

số nhà nghiên cứu khẳng định ngược lại: Chầu văn là thể loại thành công

nhất trong việc dân gian hóa bản thân nó, thoát thai khỏi hẳn những ràng

buộc của văn học bác học trong khi nó vốn xuất phát từ lối hát đền phủ cung

đình Về cơ bản thì chưa ai chứng minh được điều nào là đúng nhất vì nguồn

gốc Chầu văn cơ bản chưa được xác minh rõ ràng đồng nghĩa với những

công trình nghiên cứu thực sự công phu về các bản Văn chầu và nghệ thuật

Chầu văn với tư cách là những tác phẩm văn hóa văn học dân gian hoàn

chỉnh, với hệ thống cấu trúc thi pháp đặc trưng thì có lẽ còn phải chờ đợi

thêm

Tôi xin sơ lược về một số bài viết nghiên cứu về Chầu văn từ góc độ

văn học và văn hóa dân gian, có thể kể tới các tác giả và các khảo cứu sau:

Trần Tân Chiêu, Sách dạy Chầu văn Trần chiểu hiển thánh, 1934

Nhạc sĩ Thao giang, Nghệ thuật Hát văn

Thanh Hà, Âm nhạc hát văn, 1995

Phan Đăng Nhật, Hát văn, giá trị văn chương

Vũ Ngọc Khánh, Hiện tượng giáng bút ở Việt Nam

Bùi Đình Thảo, Hát Chầu văn

Đặng Văn Lung, Mẫu Liễu đời và đạo

Ngô Đức Thịnh, Hát văn, 1992

Ngô Đức Thịnh, Hát văn và nghi thức hầu đồng là hiện tượng văn hóa

dân gian tổng thể.

Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam

Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu, 100 bài hát văn

Ngô Đức Thịnh, Lên đồng, hành trình của thần linh và thân phận

Ngày đăng: 17/04/2020, 22:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1992), Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí v"ă"n h"ọ
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1992
2. Trần Lâm Biền, Sơ lược về bước đi của Đạo mẫu trong lịch sử Việt Nam, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí v"ă"n h"ọ
3. Trần Lâm Biền (1990), Xung quanh tín ngưỡng dân dã - Mẫu Liễu và điện thờ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (1990), Xung quanh tín ngưỡng dân dã - Mẫu Liễu và điện thờ, "T"ạ"p chí V"ă"n hóa Ngh"ệ" thu"ậ
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1990
4. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Phong trào Văn hoá, Sài Gòn, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi"ệ"t Nam phong t"ụ"c
Nhà XB: NXB Phong trào Văn hoá
5. Nguyễn Tân Chiêu (1934), Sách dạy chầu văn Trần Chiều hiển thánh. H. Impr. Thái Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách d"ạ"y ch"ầ"u v"ă"n Tr"ầ"n Chi"ề"u hi"ể"n thánh
Tác giả: Nguyễn Tân Chiêu
Năm: 1934
6. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp lu"ậ"n nghiên c"ứ"u v"ă"n h"ọ"c
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
7. Chu Xuân Diên (1981), Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian, Tạp chí Văn học, Hà Nội, tr.19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1981
8. Mai Thị Hạnh (2009), Tính trội của yếu tố nữ trong hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam, http://vns.hnue.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính tr"ộ"i c"ủ"a y"ế"u t"ố" n"ữ" trong h"ệ" th"ố"ng tôn giáo, tín ng"ưỡ"ng Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Mai Thị Hạnh
Năm: 2009
9. Nguyễn Thừa Hỉ (2011), Văn hóa Việt Nam truyền thống, một góc nhìn, NBX Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n hóa Vi"ệ"t Nam truy"ề"n th"ố"ng, m"ộ"t góc nhìn
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỉ
Năm: 2011
10. Trịnh Quang Khanh (2001), Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức loài người nói chung, người Việt Nam nói riêng và lễ hội Phủ Giầy, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí V"ă"n hóa Dân gian
Tác giả: Trịnh Quang Khanh
Năm: 2001
11. Đinh Gia Khánh (1992), Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, Tạp chí Văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1992
12. Vũ Ngọc Khánh (1996), Đề tài chúa Liễu quan Floklore xứ Lạng, Tạp chí Văn học số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Năm: 1996
13. Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh (1990), Tứ Bất Tử (Bốn vị thánh bất tử), NXB Văn hóa Dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ứ" B"ấ"t T"ử" (B"ố"n v"ị" thánh b"ấ"t t
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 1990
14. Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà (2002), Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam, NXB Thanh niên, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: N"ữ" th"ầ"n và Thánh M"ẫ"u Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2002
15. Lã Duy Lan (1992), Liễu Hạnh trong Vân Cát thần nữ và Liễu Hạnh trong tâm thức dân gian, Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c
Tác giả: Lã Duy Lan
Năm: 1992
16. Dương Đình Lộc (2013), Những bài hát văn chọn lọc Chầu văn Việt Nam - những bản văn chầu mới nhất - NXB Văn hoá Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng bài hát v"ă"n ch"ọ"n l"ọ"c Ch"ầ"u v"ă"n Vi"ệ"t Nam - nh"ữ"ng b"ả"n v"ă"n ch"ầ"u m"ớ"i nh"ấ"t
Tác giả: Dương Đình Lộc
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2013
17. Đặng Văn Lung (1992), Thử tìm hiểu cách xây dựng hình tượng Mẫu Liễu, Tạp chí Văn học số 5, tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c
Tác giả: Đặng Văn Lung
Năm: 1992
18. Đặng Văn Lung (1995), Mẫu Liễu đời và đạo, NXB Văn hoá Dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ẫ"u Li"ễ"u "đờ"i và "đạ"o
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
Năm: 1995
19. Đặng Văn Lung, (1999), Tam Tòa thánh Mẫu, NXB Văn hóa Dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam Tòa thánh M"ẫ"u
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 1999
20. Đặng Văn Lung (2003), Văn hóa Thánh Mẫu, NXB Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n hóa Thánh M"ẫ"u
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w