Ở Tiền Giang, đa phần mỗi lễ hội truyền thống tại đây thường gắn liền với một nhân vật lịch sử của dân tộc, một đối tượng hành lễ với các nghi thức, sinh hoạt hội hè mang những giá trị v
Trang 1TRỊNH MINH CHÁNH
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TỈNH TIỀN GIANG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
VĂN HÓA DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 60.31.60
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HUỲNH QUỐC THẮNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2Tìm hiểu lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang là việc làm mang tính thực tiễn, nhằm gắn kết lễ hội trong môi trường du lịch hướng đến sự phát triển bền vững Nghiên cứu đề tài này là mong ước của tác giả luận văn khi còn trên giảng đường đại học, đồng thời cũng là chút tâm tình của bản thân gửi đến quê hương Tiền Giang
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy/Cô trong khoa Việt Nam học
đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức hữu ích cho tôi; chính những kiến thức ấy đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình Đặc biệt, xin kính gửi lời tri ân đến Phó Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng - người Thầy nghiêm túc, tận tình, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn
Ngoài ra, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Tiền Giang, Trung tâm Văn hóa thị xã Gò Công, Trung tâm Văn hóa huyện
Gò Công Tây, Trung tâm Văn hóa huyện Gò Công Đông, Công ty Cổ phần Việt Phong Mê Kông, Công ty Cổ phần Du lịch Lữ hành Ngôi Sao, Công ty Cổ phần Du lịch Lữ hành Bầu Trời, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật & Du lịch Sài Gòn, quý Cô/Chú, Anh/Chị trong Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Tiền Giang,… đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp những tài liệu, thông tin quý giá để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc sưu tầm, khảo sát và sử dụng các phương pháp thích hợp để trình bày luận văn một cách ngắn gọn, đầy đủ nhưng chắc rằng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót; chúng tôi mong nhận được sự góp ý của quý Thầy/Cô, các nhà nghiên cứu khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn
TP.HCM, tháng 8 năm 2013
Trịnh Minh Chánh
Trang 3STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm Hữu hạn
2 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
4 KHXH & NV Khoa học Xã hội và Nhân văn
9 VH - TT Văn hóa - Thông tin
Luận văn có sử dụng 27 tấm ảnh, 8 bảng biểu, 10 sơ đồ và 1 bản đồ để làm sáng tỏ những luận điểm đã nêu; trong đó có 1 bảng biểu + bản đồ có nguồn từ Internet, 2 bảng biểu có nguồn từ Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Tiền Giang, phần còn lại là do chính tác giả luận văn thực hiện
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU -8
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN -16 1.1 LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG QUAN HỆ VỚI PHONG TỤC TẬP
QUÁN VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN ………16
1.1.1.1 Đặc điểm, nội dung của lễ hội truyền thống 19
1.1.1.2 Giá trị của lễ hội truyền thống 20
1.1.1.3 Chức năng của lễ hội truyền thống 25
1.1.2 Khái niệm phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian 26
1.1.2.3 Vị trí, mối quan hệ giữa phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian trong sinh hoạt lễ hội truyền thống 28
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ DU LỊCH ……….29
1.2.2 Khái niệm du lịch văn hóa và văn hóa du lịch 35
1.3 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ DU LỊCH … 37
Trang 51.3.1 Tác động của lễ hội truyền thống đối với du lịch 38 1.3.2 Tác động của du lịch đối với lễ hội truyền thống 40 1.4 TỔNG QUAN VỀ TỈNH TIỀN GIANG VÀ VĂN HÓA DU LỊCH Ở TIỀN
GIANG ……….41
1.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 41
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
1.4.1.1 Dân cư, dân tộc 42
1.4.2.2 Kinh tế - xã hội 43
1.4.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch 43
1.4.3.1 Hệ thống giao thông đường bộ 43
1.4.3.2 Hệ thống giao thông đường thủy 43
1.4.3.3 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật 44
1.4.4 Khái quát hoạt động văn hóa du lịch ở Tiền Giang 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH -48
2.1 THỰC TRẠNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH ………48
2.1.1 Thực trạng việc bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống ở Tiền Giang hiện nay 48 2.1.2 Thực trạng việc khai thác du lịch lễ hội truyền thống trong hoạt động văn hóa du lịch ở Tiền Giang 56 2.1.3 Những khó khăn và thử thách của việc khai thác lễ hội truyền thống ở Tiền Giang trong hoạt động văn hóa du lịch 58 2.2 TIỀM NĂNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH TIỀN GIANG TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH 60
2.2.1 Vài nét lịch sử - văn hóa tỉnh Tiền Giang 60
2.2.1.1 Lịch sử 60
2.2.1.2 Văn hóa 62
2.2.2 Tiềm năng tài nguyên du lịch 65
Trang 62.2.2.2 Tài nguyên nhân văn 66
2.2.3 Đặc điểm, vị trí lễ hội truyền thống trong hoạt động văn hóa du lịch ở
2.3 CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU TẠI TỈNH TIỀN GIANG .71 2.3.1 Lễ hội Kỳ yên đình Vĩnh Bình (Gò Công Tây) 72
2.3.3 Lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc Trương Ðịnh 88
.2.3.5 Lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân 98 2.3.6 Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút 100 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH Ở TỈNH TIỀN GIANG 3.1 QUAN ĐIỂM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở
TỈNH TIỀN GIANG ……… 103
3.1.2.3 Bảo tồn để phát huy dựa vào ba thành tố của văn hóa du lịch 108
3.2 ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH Ở TỈNH TIỀN GIANG 112 3.2.1 Định hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với lễ hội truyền thống 114 3.2.2 Định hướng phát triển du lịch bền vững gắn với lễ hội truyền thống 117 3.2.3 Xây dựng hệ thống tuyến, điểm du lịch gắn liền với khai thác, phát huy các
3.3 GIẢI PHÁP PHÁT HUY LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG GÓP PHẦN PHÁT
TRIỂN VĂN HÓA DU LỊCH ……… ……….122 3.3.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với việc bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống trong hoạt động văn hóa du lịch 122
Trang 73.3.2 Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch lễ hội 125 3.3.3 Chính sách huy động vốn đầu tư phát triển du lịch lễ hội 127 3.3.4 Đảm bảo an ninh an toàn sức khỏe du khách và cộng đồng trong hoạt động du
3.3.5 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch lễ hội 129 3.3.6 Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch lễ hội 130 3.3.7 Đẩy mạnh giao lưu văn hóa thông qua hoạt động du lịch lễ hội trong khu vực và
quốc tế 132
KẾT LUẬN -136
TÀI LIỆU THAM KHẢO -140
PHỤ LỤC -
Phụ lục 1 Bản đồ hành chánh và sơ đồ nơi tổ chức lễ hội truyền thống Phụ lục 2 Danh sách đình ở Tiền Giang Phụ lục 3 Trích một số văn bản pháp quy của tỉnh Tiền Giang liên quan đến lễ hội truyền thống và du lịch
Phụ lục 4 Nội dung phỏng vấn, mẫu phiếu khảo sát về lễ hội truyền thống và du lịch ở tỉnh Tiền Giang
Phụ lục 5 Một số hình ảnh liên quan đến các di tích - lễ hội truyền thống ở Tiền Giang
Trang 81 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Một trong những loại hình văn hóa cổ truyền góp phần quan trọng trong đời sống sinh hoạt cộng đồng đó là các lễ hội truyền thống Ở Tiền Giang, đa phần mỗi
lễ hội truyền thống tại đây thường gắn liền với một nhân vật lịch sử của dân tộc, một đối tượng hành lễ với các nghi thức, sinh hoạt hội hè mang những giá trị văn hóa nhất định nên có thể kết hợp du lịch lễ hội với các tuyến điểm du lịch khác nhau (du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh, du lịch miệt vườn v.v…) để tạo thành những sản phẩm du lịch văn hóa đa dạng Tuy nhiên, các hoạt động du lịch tại Tiền Giang liên quan lễ hội truyền thống còn rời rạc, chắp vá và phát triển đơn lẻ, chủ yếu tập trung khai thác du lịch sinh thái; các điểm tham quan tại các di tích còn đơn điệu, một số di tích có phục dựng lễ hội thì chưa được đầu tư đúng mức, theo một định hướng có chiến lược rõ ràng
Đề tài này hướng đến cái nhìn toàn diện trong việc khai thác, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang với mục đích phục vụ hoạt động du lịch, trực tiếp là nhằm tạo sự đa dạng, phong phú, hấp dẫn cho các sản phẩm du lịch hiện có và đánh thức những tiềm năng văn hóa du lịch chưa được đầu tư, khai thác Đồng thời, đề tài cũng nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho lễ hội truyền thống vẫn được duy trì một cách bền vững để các thế hệ mai sau được kế thừa những giá trị vốn có của nó, trong đó, du lịch chính là một trong những phương tiện bảo tồn, phát huy và truyền tải hữu ích nhất
Các lễ hội truyền thống đều là nơi lưu giữ, phản ánh đậm nét các giá trị lịch
sử - văn hóa và truyền thống yêu nước của dân tộc Vì thế, việc tìm hiểu ý nghĩa, diễn trình hoạt động của các lễ hội ấy như là những sản phẩm du lịch hấp dẫn chắc chắn sẽ có tác động sâu sắc trong việc giáo dục thế hệ trẻ về những giá trị văn hóa truyền thống một cách sinh động nhất, trực quan nhất Ngoài ra, thông qua các tua
lễ hội như: lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc Trương Định, Thủ khoa Nguyễn
Trang 9Hữu Huân, Tứ Kiệt… nhất là trong giai đoạn giao lưu hội nhập quốc tế hiện nay, chắc chắn du khách và bạn bè quốc tế sẽ hiểu rõ hơn, có cái nhìn toàn diện và cảm nhận sâu sắc hơn về đất nước, con người Việt Nam, về dân tộc Việt Nam và bản sắc văn hóa Việt Nam Và đây cũng là một hình thức giao lưu văn hóa chủ động, đồng thời có thể giúp cho lễ hội có thêm luồng gió mới trên con đường tồn tại lâu bền cùng dân tộc
Được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Tiền, có thời gian dài công tác trong ngành du lịch với vai trò là hướng dẫn viên và từ kiến thức học tập ở trường lớp, thông qua nhận thức sâu sắc rằng lễ hội truyền thống không chỉ là nguồn tài nguyên nhân văn có tiềm năng phát triển thành sản phẩm du lịch độc đáo cho ngành du lịch,
mà còn là một bộ phận trong các di sản có thể góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế thông qua du lịch, do đó chúng tôi
chọn đề tài “Lễ hội truyền thống tỉnh Tiền Giang nhìn từ góc độ văn hóa du lịch” để
làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp một phần công sức khiêm tốn của mình nhằm mục tiêu phát triển chuyên ngành Việt Nam học trong bối cảnh chung đặc biệt hiện nay
2 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Tính cấp thiết: Thực tế cho thấy, lễ hội nói chung được xem là “sản
phẩm du lịch chất lượng cao” nhất là trong cơ chế thị trường và trong bối cảnh hội nhập hiện nay, trong khi sản phẩm du lịch ở Tiền Giang chưa thật sự phong phú và
đa dạng, trùng lắp với các sản phẩm du lịch ở các tỉnh thành thuộc vùng ĐBSCL Mặt khác, chất lượng dịch vụ du lịch thiếu đầu tư chiều sâu khó tạo ấn tượng và giữ chân du khách dài lâu; vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các sản phẩm du lịch lễ hội ở Tiền Giang là điều cần thiết, nhằm góp phần phát triển văn hóa du lịch ở Tiền Giang
nói riêng và phát triển văn hóa du lịch toàn vùng nói chung
2.2 Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm rõ mối tương quan giữa lễ hội
truyền thống và du lịch, vai trò của lễ hội đối với hoạt động du lịch và vai trò của du lịch đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống ở Tiền Giang
Trang 10Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp phần làm rõ nét văn hóa truyền thống của địa phương, từ đó có thể làm rõ hơn đặc trưng văn hóa vùng ĐBSCL trong tổng thể bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay
mà công nghiệp du lịch là một phương thức hoạt động vừa có ý nghĩa kinh tế lẫn văn hóa sâu sắc vừa có vai trò tác động trực tiếp đối với vấn đề
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho các doanh nghiệp du lịch khi khảo sát, nghiên cứu, đánh giá lễ hội truyền thống với mục đích đưa lễ hội truyền thống thành sản phẩm du lịch lễ hội trong xu thế hội nhập và giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng như hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu trên địa
bàn tỉnh Tiền Giang trong mối quan hệ với hoạt động văn hóa du lịch
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn thời gian từ năm 2000 đến nay, tức từ sau khi Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) ban hành
“Chương trình hành động quốc gia về du lịch” trong đó có chương trình “Du lịch
văn hóa gắn với lễ hội”
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lễ hội truyền thống là đề tài đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ trước đến nay; tuy nhiên, các công trình lễ hội truyền thống gắn liền với du lịch thì còn hạn chế Giới hạn trong việc sưu tầm tư liệu, chúng tôi đã tiếp cận các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn như sau:
Trang 11Công trình của nhiều tác giả có tựa đề Lễ hội cổ truyền (1992) do Lê Trung
Vũ chủ biên, đã ghi nhận lịch sử ra đời của lễ hội của người Việt ở Bắc Bộ Công trình này chủ yếu phân tích cơ cấu và tổ chức lễ hội cổ truyền cũng như việc phân loại lễ hội ở Việt Nam giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, qua nhận xét của chúng tôi thì công trình này chưa nêu bật được ý nghĩa và giá trị của lễ hội trong đời sống xã hội hiện đại, nhất
là trong các hoạt động văn hóa du lịch
Công trình Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (1994) với 33
bài tham luận khoa học của 6 khách mời, 11 đại biểu nước ngoài (đến từ các nước:
Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia…), 25 đại biểu trong nước tại hội thảo quốc tế tổ chức tại Hà Nội từ 8/3 đến 13/3/1993 Công trình này cho thấy sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước đối với việc nghiên cứu lễ hội truyền thống Các bài viết chủ yếu đề cập đến lễ hội truyền thống gắn liền với đời sống xã hội của các dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai Trong đó, một số bài viết của các học giả Phan Đăng Nhật, Trương Thìn, Nguyễn Phương Thảo bước đầu có nhắc đến lễ hội và du lịch trong giai đoạn hiện tại
Công trình Lễ hội dân gian ở Nam Bộ (khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc)
(2005) của Huỳnh Quốc Thắng đã đi từ khái quát đến chi tiết các lễ hội giân gian trong không gian văn hóa Nam Bộ, từ lễ hội thờ cúng thần Thành Hoàng và các nhân vật lịch sử, lễ hội nghề nghiệp đến lễ hội thờ Mẫu, thờ Nữ thần Công trình này phần nào cho thấy xu hướng phát triển lễ hội dân gian của người Việt ở Nam
Bộ qua khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc, giúp người đọc thấy được diện mạo mới của lễ hội dân gian Nam Bộ trong không gian và môi trường địa - văn hóa, sử - văn hóa của vùng đất mới Nội dung của công trình này cũng cho chúng ta nhận thức được lễ hội dân gian Nam Bộ có sự giao lưu và tiếp biến trong môi trường mới mang nhiều nét đặc thù, độc đáo nhưng vẫn giữ được những giá trị cốt lõi khởi phát
từ cái “nôi chung” của lễ hội truyền thống Bắc Bộ, là những gợi mở quan trọng cho
các nội dung định hướng khoa học trong thiết kế cũng như thuyết minh các chương trình sản phẩm du lịch lễ hội Nam Bộ hiện nay
Trang 12Ngoài ra, vào năm 2007, công trình Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần
phát triển du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh do Huỳnh Quốc Thắng chủ biên là
một công trình có đầu tư về chiều sâu, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, mang tính quốc tế và thời sự trong việc khai thác lễ hội (gồm cả lễ hội truyền thống) gắn liền với du lịch Bên cạnh mượn cái riêng “khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh” để nói cái chung của việc khai thác lễ hội
và các sự kiện góp phần phát triển du lịch Việt Nam Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu khai thác lễ hội và các sự kiện gắn với phát triển du lịch tại TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung
Công trình Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ
năm 1945 đến nay (2007) của Bùi Hoài Sơn, đã nhìn nhận những thành tựu và hạn
chế của việc tổ chức, quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong thời gian qua, từ đó áp dụng quan điểm quản lý di sản đối với vấn đề quản lý lễ hội truyền thống hiện nay Việc tìm ra quan điểm mới trong việc quản lý lễ hội truyền thống là mục tiêu không phải chỉ của các nhà nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực văn hóa mà còn là vấn đề lớn trong thực tiễn hoạt động văn hóa lẫn du lịch hiện nay
Nhóm các công trình Văn hóa du lịch và du lịch văn hóa: Giáo trình văn hóa
du lịch (2008) của Lê Thị vân, Văn hóa du lịch (2009) của Trần Diễm Thúy, Văn
hóa du lịch và du lịch văn hóa (2007) của Huỳnh Quốc Thắng, Giáo trình du lịch
văn hóa (2011) của Trần Thúy Anh… thể hiện sự nỗ lực của các học giả trong việc
đề ra các cơ sở lý luận, giải thích thuật ngữ về văn hóa, du lịch, du lịch văn hóa và văn hóa du lịch cũng như việc phân tích mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và du lịch trong đó có đề cập đến khía cạnh lễ hội trong phát triển du lịch và xem lễ hội là một trong các thành tố đặc biệt của văn hóa
Nhóm công trình viết về Tiền Giang: Gò Công cảnh cũ người xưa, Quyển
nhất, nhì (1969) của Việt Cúc, Những trang ghi chép về lịch sử văn hóa Tiền Giang
(1998) của Nguyễn Phúc Nghiệp, Gò Công xưa (2001) của Huỳnh Minh, Tiền
Giang những di tích nổi tiếng (2001) của Lê Ái Siêm, Lễ hội Kỳ yên Gò Công Tây
Trang 13(2002) của Mai Mỹ Duyên, Địa chí Tiền Giang, Tập 1,2 (2005) (2007) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang, Các di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại tỉnh Tiền
Giang (2006) của nhiều tác giả, Gò Công lặng thầm hương sắc (2010), Gò Công vọng tiếng đất lành (2010) của Phan Thành Sắc, Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến 2025 (2011) của Sở Văn hóa, Thể
thao & Du lịch tỉnh Tiền Giang,… đã đề cập tổng thể đến các vấn đề văn hóa (tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống…), kinh tế, địa lý, lịch sử, du lịch của vùng đất Tiền Giang Các công trình này đã tổng hợp nhiều lĩnh vực, nhiều mảng khoa học xã hội theo từng tiêu chí riêng biệt đã giúp cho người đọc hiểu sâu sắc hơn, có cái nhìn toàn diện hơn về bản sắc văn hóa ở Tiền Giang thông qua các lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hóa du lịch ở vùng đất này
Một số bài viết của các nhà nghiên cứu đã được đăng tải trên các website cũng đề cập vấn đề khai thác lễ hội kết hợp với văn hóa du lịch ở ĐBSCL và coi đây là sản phẩm tiềm năng chưa được quan tâm đúng mức cả về việc khai thác lẫn phát huy các giá trị của nó
Nói chung, việc nghiên cứu lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang gắn với hoạt động văn hóa du lịch là vấn đề tuy còn khá mới, nhưng bước đầu đã có sự tích cực quan tâm của các cơ quan chủ quản, các nhà nghiên cứu văn hóa, các chuyên gia du lịch cũng như đã mở ra nhiều triển vọng về sự hợp tác chặt chẽ, đồng bộ của các cơ quan ban ngành khác nhau đối với vấn đề; chính vì thế, việc kế thừa, phát huy những kết quả nghiên cứu đã có, các phương pháp và cách tiếp cận của các công trình đi trước là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học lẫn ý nghĩa thực tiễn thực sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lễ hội truyền thống nhìn từ góc độ văn hóa du lịch là một lĩnh vực nghiên cứu tổng hợp về đất nước, con người Việt Nam trên nhiều bình diện khác nhau Vì thế, trong đề tài này, tác giả luận văn đã áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để làm rõ các vấn đề cần quan tâm dựa trên nền tảng phương pháp
Trang 14chuyên ngành Việt Nam học kết hợp cùng Văn hóa học và Du lịch học, trực tiếp là
các phương pháp cụ thể như sau:
Phương pháp quan sát, tham dự mang tính thực tiễn cao vì giúp chúng tôi có
cái nhìn tổng thể và trực quan về lễ hội truyền thống ở Tiền Giang cũng như thấy được sự vận động và phát triển của nó trong bối cảnh xã hội hiện đại khi du lịch trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của con người
Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng với mục đích tiếp cận các chủ thể
và khách thể liên quan đến lễ hội truyền thống, tìm ra những thuận lợi và hạn chế nhằm định hướng, đề ra chiến lược để khai thác, bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống trong hoạt động văn hóa du lịch
Phương pháp lịch sử cũng được quan tâm trong quá trình nghiên cứu nhằm
làm rõ yếu tố truyền thống của các lễ hội mà luận văn đang hướng tới
Phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh thông qua các thao tác tập
hợp, xử lý các tư liệu đã được thu thập từ nhiều nguồn: sách, báo, các công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến lễ hội truyền thống tỉnh Tiền Giang nói riêng trong mối quan hệ so sánh với lễ hội truyền thống cả nước nói chung, những
đề tài liên quan đến lễ hội, văn hóa du lịch, v.v…
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng Lý thuyết vùng văn hóa (Culture area) của Franz Boas để tìm ra “đặc trưng văn hóa của con người trong quá trình lịch sử và trên một vùng không gian cụ thể” [Nhiều tác giả 2009:108] để làm rõ đối tượng cụ thể mà chúng tôi nhằm hướng tới: nghiên cứu lễ hội truyền thống ở Tiền Giang Dĩ nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng vận dụng những tri thức liên ngành để làm sáng tỏ nội dung luận văn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn được chia ra 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận (32 trang: từ trang 16 đến trang 47) Chương này
được coi là tiền đề để triển khai các chương sau Nội dung của chương 1 là tìm hiểu
Trang 15lễ hội truyền thống trong quan hệ với phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian thông qua một số khái niệm; Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa văn hóa và du lịch; Khái quát về lịch sử hình thành Đất và Người Tiền Giang cũng như văn hóa du lịch ở Tiền Giang
Chương 2: Thực trạng và tiềm năng của lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang trong phát triển văn hóa du lịch (55 trang: từ trang 48 đến trang 102) Nội
dung của chương phân tích những thực trạng đang diễn ra trong quá trình bảo tồn, phát huy, khai thác các giá trị lịch sử - văn hóa vốn có trong một số lễ hội truyền thống ở Tiền Giang; Chọn mẫu một số lễ hội truyền thống điển hình được nhận định
là tiềm năng có triển vọng phát triển thành những sản phẩm du lịch tiêu biểu có thể khai thác phục vụ du lịch lễ hội của địa phương;
Chương 3: Chiến lược bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống góp phần phát triển văn hóa du lịch ở tỉnh Tiền Giang (33 trang: từ trang 103 đến trang
135) Nội dung chương 3 chủ yếu tham khảo một số quan điểm bảo tồn và phát huy
giá trị của lễ hội; Đề ra những định hướng cần thiết và đề xuất một số giải pháp trước mắt nhằm tạo tiền đề cho những định hướng, kế hoạch lâu dài trong việc bảo tồn và phát huylễ hội truyền thống gắn kết với du lịch văn hóa trở thành những sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền
Trang 16Văn hóa và du lịch có mối quan hệ mật thiết và tác động biện chứng lẫn
nhau; trong đó, văn hoá được xem là tài nguyên để hình thành nên hoạt động du lịch
và hoạt động du lịch cũng chính là phương thức hữu hiệu để khai thác các giá trị
văn hóa Văn hóa là một phạm trù lớn và rộng, trong phạm vi của luận văn này,
chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu về văn hóa lễ hội truyền thống trong mối tương
quan với hoạt động du lịch, đặc biệt là văn hóa du lịch
1.1 Lễ hội truyền thống trong mối quan hệ với phong tục tập quán và tín
ngƣỡng dân gian
1.1.1 Khái niệm lễ hội truyền thống
Lễ hội là thuật ngữ với nhiều tên gọi khác nhau Theo quan điểm của học giả
Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương thì gọi là đại hội Các nhà nghiên
cứu khác như: Lê Hồng Lý, Lê Trung Vũ, Đinh Gia Khánh thì coi đó là hội lễ và
xem danh từ hội lễ như một thuật ngữ văn hóa trên cơ sở xác định ý nghĩa của hai
thành tố: Lễ và Hội “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn
kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con
người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt
văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự
tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho
từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự
bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ
“nhân khang, vật thịnh” [Hội đồng quốc gia 2002:674] Lễ và Hội là một thể thống
nhất không thể chia tách Lễ là phần tín ngưỡng, là thế giới tâm linh, là phần đạo;
còn Hội là phần vui chơi, giải trí, là đời sống thường nhật, là phần đời của mỗi con
người Hội gắn liền với Lễ và chịu sự quy định nhất định của Lễ, có Lễ mới có Hội
Theo Dictionary of travel, tourism and hospitality, có thể hiểu “lễ hội là một
sự kiện kỷ niệm được tổ chức tại một không gian chuẩn mực (thiêng) với nội dung
Trang 17thế tục hoặc nội dung liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo riêng biệt đại thể như: nghệ thuật, ẩm thực, âm nhạc… những thứ mà có thể lan tỏa từ địa phương đến toàn quốc gia hoặc vượt ra khỏi phạm vi quốc gia để mang tầm quốc tế, do đó, nó có ý nghĩa quan trọng trong du lịch”(1) [S.Medlik 2003:70] Từ định nghĩa trên cho chúng ta
nhận định rằng lễ hội không còn là yếu tố “tĩnh” tồn tại trong cộng đồng làng xã mà
có thể trở thành yếu tố “động” vượt khỏi phạm vi địa phương, vùng, miền, quốc gia
khi có môi trường thuận lợi
Căn cứ vào hình thức tổ chức và tính chất của lễ hội, có thể tạm chia làm hai loại lễ hội: Lễ hội truyền thống (còn gọi là lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền) và lễ hội hiện đại Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu lễ hội truyền thống và những giá trị của nó đối với phát triển du lịch
Hiểu theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, thì cụm từ “truyền thống”
có nghĩa là quá trình chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác những yếu tố xã hội và văn hóa, những tư tưởng, chuẩn mực xã hội, phong tục, tập quán, lễ nghi và được duy trì trong các tầng lớp xã hội và giai cấp trong một thời gian dài Giá trị của lễ hội được hình thành từ những giá trị lịch sử, giá trị kế thừa tinh hoa của thế
hệ cha ông qua từng giai đoạn của lịch sử Một nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ trên lĩnh vực lễ hội truyền thống cho rằng “lễ hội dân gian có thể tồn tại và duy trì phát triển đến ngày nay ít nhiều có tác động của các xu hướng truyền thống hóa (lễ hội dân gian truyền thống hoặc lễ hội truyền thống)” [Huỳnh Quốc Thắng 2003:41]
Từ việc phân tích và kết hợp với các cách hiểu trên, tác giả thống nhất dùng
cụm từ: lễ hội truyền thống, xem lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa
cộng đồng được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử ở mỗi dân tộc với chức năng cố kết cộng đồng, kết nối giữa quá khứ và hiện tại; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau hiểu được công lao, sự hy sinh của các bậc tiền nhân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
(1) Nguyên văn: A celebratory event normally held at regular interval with particular religious or secular theme, such as art, food or music,… which may range from local to national or international and, therefore, tourism significance
Trang 18Lễ hội được xem là thành tố của văn hóa, là di sản văn hóa, cho nên nghiên cứu lễ hội truyền thống cũng chính là nghiên cứu khía cạnh của văn hóa truyền thống Trong Nghị định số 98/2010/NĐ-CP “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa” có ghi: “Tiếng nói, chữ viết, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian là di sản văn hóa phi vật thể” và vì di sản “là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử, ký ức, báu vật của cộng đồng để thể hiện cho nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện tại” [Bùi Hoài Sơn 2007:8]
Lâu nay có nhiều cách phân loại lễ hội của nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa trên nhiều bình diện và mục đích nghiên cứu khác nhau Nhưng với cách tiếp cận gần gũi về lễ hội của Hoàng Lương, thì lễ hội truyền thống được phân loại như sau:
“Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa như: lễ thức liên quan đến chu
trình sản xuất nông nghiệp, lễ thức cầu đảo với ước vọng cầu mưa thuận gió hòa,
sóng yên biển lặng (cúng Tứ pháp, thờ cá Ông…), lễ thức biểu dương, dâng cúng các thành phẩm nông nghiệp (rước lợn, lễ ăn cơm mới, lễ Ok – Om – Bok…), lễ
rước thờ cúng hồn lúa (phổ biến ở các dân tộc thiểu số), lễ hội trình nghề (liên quan
các tổ sư ngành nghề), lễ hội thi tài và các trò bách hí, lễ thức tín ngưỡng phồn thực,
lễ thức hát giao duyên… Lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao các vị danh
nhân văn hóa, anh hùng lịch sử, các vị thành hoàng và chư vị Thánh, chư vị Phật…” [Hoàng Lương 2002:25]
Xét về không gian văn hóa, “lễ hội của người Việt Nam Bộ cũng rất đa dạng, bao gồm cả bốn loại hình lễ hội chủ yếu ở Việt Nam: lễ hội nông nghiệp – ngư nghiệp; lễ hội tưởng niệm danh nhân – anh hùng dân tộc; lễ hội tín ngưỡng – tôn giáo; và hỗn hợp Tất cả đều mang sắc thái Nam Bộ mặc dù nhiều lễ hội bắt nguồn
Trang 19từ Trung Bộ”(2) Trong phạm vi nghiên cứu lễ hội truyền thống của đề tài, nếu chia theo cách hiểu này, theo chúng tôi, Tiền Giang có các lễ hội sau:
Lễ hội nông nghiệp: lễ hội Kỳ Yên (gắn liền với đình làng)
Lễ hội ngư nghiệp: lễ hội Nghinh Ông (lễ hội ngư nghiệp truyền thống)
Lễ hội tưởng niệm các anh hùng dân tộc: lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc
Trương Định, lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (dân gian thường gọi là Thủ khoa Huân), lễ hội tưởng niệm các anh hùng dân tộc
Tứ Kiệt, lễ hội kỷ niệm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút
1.1.1.1 Đặc điểm, nội dung của lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt văn hóa cổ truyền tổng hợp nhiều loại hình văn hóa khác nhau như: tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghệ thuật truyền thống, ẩm thực, trò chơi dân gian
v.v… Tất cả xoay quanh Lễ và Hội trong đó trung tâm là những yếu tố “thiêng
liêng” gồm có:
+ Đối tượng được tôn thờ
Đối tượng được tôn thờ trong các lễ hội truyền thống của người Việt rất phong phú và đa dạng Họ có thể là nhân thần hay nhiên thần, có hay không có lý lịch – huyền tích – truyền thuyết, có công với làng nước cho đến những vị anh hùng đấu tranh, hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ bờ cõi Việt Nam Nhìn chung, các vị nhân thần, nhiên thần ấy sớm hay muộn đều đã được nhà nước phong kiến Việt Nam thừa nhận
Trang 20http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1238%3Aly-long trọng; có không gian rộng rãi thoáng mát, yên tĩnh cũng như thuận tiện cho nhiều người có thể lui tới tập trung; đồng thời đây cũng là nơi diễn ra các nghi lễ, nghi thức, những cuộc vui chơi dân gian truyền thống của cộng đồng làng xã với mục đích suy tôn đối tượng tôn thờ và nâng cao giá trị cố kết cộng đồng
+ Không gian tôn thờ
Hầu hết các lễ hội truyền thống đều diễn ra ở làng xã nơi mà cộng đồng cư dân hay điều kiện địa văn hóa – sử văn hóa đã sáng tạo ra lễ hội đó Thí dụ như: lễ hội Kỳ yên tổ chức tại các đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, lễ hội Nghinh Ông tổ chức tại các làng chài ven biển, lễ hội Trương Định tổ chức tại nơi ông đã tuẫn tiết và được chôn cất (xã Gia Thuận và TX.Gò Công (Tiền Giang), v.v… Ngoài ra, có những lễ hội được tổ chức với quy mô lớn vượt khỏi quy mô làng xã để trở thành lễ hội ở cấp
độ vùng, miền và trở thành lễ hội truyền thống tiêu biểu cho quốc gia và được thế giới công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới như: lễ hội Đền Hùng, Hội Gióng, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, v.v…
1.1.1.2 Giá trị của lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tính cộng đồng, đồng thời phản ánh nhiều mặt của đời sống lịch sử - kinh tế - văn hóa - xã hội của cộng đồng nơi sản sinh ra lễ hội truyền thống ấy Giá trị của lễ hội truyền thống chính là giá trị văn hóa truyền thống đã được đúc kết trong quá trình cùng cộng cư giữa các tộc người Với tốc độ của sự phát triển của kinh tế - xã hội hiện nay làm cho lễ hội truyền thống hình thành nên các giá trị cơ bản: giá trị cố kết cộng đồng, giá trị tâm linh, giá trị giáo dục và giá trị bảo tồn nền văn hóa dân tộc
+ Giá trị cố kết cộng đồng
Người Việt Nam chủ yếu sống bằng nghề nông với kỹ thuật trồng lúa nước lâu đời Họ định canh định cư và cần có sự hỗ trợ, đùm bọc nhau để thích nghi và biến ứng với môi trường tự nhiên Ước mong sự no ấm bình yên, giúp đỡ nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp là điều kiện tiên quyết để tồn tại Không những đồng lòng trong hoạt động sản xuất, cộng đồng cư dân còn đồng thuận trong việc sáng tạo ra các
Trang 21giá trị tinh thần thông qua lễ hội nhằm suy tôn một vị thần thánh chung của dân tộc với niềm tin chính những vị thần thánh ấy sẽ bảo hộ tính mạng cho cả cộng đồng trước những hiểm nguy và bất trắc “Quả thật, trong cuộc Nam tiến để khai hoang mở đất đầy gian khó, đối diện với thiên tai, dịch họa đe dọa mạng sống của những con người nhỏ bé ở chốn hoang vu này, chính với những niềm tin vào sự chở che của các đấng thần linh mà con người có đầy đủ can đảm, nghị lực vượt qua mọi trở ngại để có ngày hôm nay” [Nguyễn Thị Lệ Hằng 2011:114]
Giá trị cố kết cộng đồng không nằm trong phạm vi một dân tộc, một cộng đồng, một làng xã mà còn vượt khỏi nơi nó được sản sinh ra để đến các dân tộc khác cùng chung sống trên cùng mảnh đất Việt Nam; làm cho các dân tộc gắn kết gần lại, yêu thương, bình đẳng và sẻ chia nhiều hơn thông qua hiện tượng cộng cư và quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi các nhà nghiên cứu văn hóa cũng thừa nhận rằng: “Ở mọi dân tộc, các lễ hội dù mang nội dung nghề nghiệp, tôn giáo, suy tôn các thần linh, các anh hùng dân tộc hay thuần túy chỉ là các nghi thức của vòng đời người, thì các lễ hội ấy bao giờ cũng là của một cộng đồng người, biểu dương những giá trị văn hóa và sức mạnh của cộng đồng, tạo nên tính cố kết cộng đồng Bởi thế, tính cộng đồng và cố kết cộng đồng bao giờ cũng là nét đặc trưng và giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội” [Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh 1994:283,284]
+ Giá trị tâm linh
Cá nhân hay tập thể khi đến với lễ hội đều mang trong người tâm thức tín ngưỡng vào vị thần thánh hay thế lực siêu nhiên mà mỗi cá nhân đã cộng cảm với nhau, để từ đó gửi hết tâm tư, khát vọng của đời sống trần tục đến với đối tượng mà bản thân mình hay cộng đồng tôn thờ mong sao được phò trợ, che chở Yếu tố tâm linh ấy thể hiện trong các nghi lễ trọng thể từ việc chuẩn bị đồ cúng tế, nghi lễ tế, văn
tế, đến các điều cấm kỵ (hèm)… Khi tiếp xúc đến ngưỡng cửa thần linh “tâm thức của người dân có nhu cầu, khát vọng về một cuộc sống bình an, hạnh phúc đã đưa đến việc đặt để vị trí thờ tự trên Khát vọng chính đáng ấy nói lên tư duy sáng tạo,
Trang 22xuất phát từ bối cảnh địa - chính trị, địa - lịch sử và địa - văn hoá của Nam Bộ… lên nhu cầu cần thiết được bảo vệ, được che chở tại một vùng đất phải đối đầu với quá nhiều cuộc chiến tranh xâm lược trực tiếp, cần thiết phải bảo vệ biên cương lãnh thổ” [Trần Hồng Liên 2009]
Có thể nói, trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo, các hình thức tôn thờ có vai trò quan trọng trong tâm linh của mỗi dân tộc, mỗi con người Giá trị tâm linh đó giúp con người lấy lại thăng bằng trong cuộc sống vốn đầy dẫy những bất trắc, tràn ngập rủi ro; hướng con người tích cực làm việc thiện, điều lành Đồng thời, khi tham dự lễ hội, chính tính thiêng của phần lễ đã tác động trực tiếp đến tư duy của con người, giúp họ có thời gian chiêm nghiệm lại bản thân khi đứng trước sự chứng giám, soi xét của đấng siêu nhiên vô hình Vì “tâm linh là niềm tin thiêng liêng cao
cả trong cuộc sống của con người, nó cũng là niềm tin tôn giáo Cái niềm tin thiêng liêng đó được thể hiện qua ý niệm và biểu tượng Trong sinh hoạt tâm linh, con người thể hiện đức tin niềm xác tín về về một đối tượng thiêng liêng bằng cách phải tạo ra một nơi, một chỗ thờ phượng với bài vị, tượng, chân dung của đối tượng đó cùng với nghi thức cầu cúng” [Nguyễn Hữu Hiếu 2003:8]
Bước vào thời kỳ hội nhập văn hóa, thời kỳ của những thành tựu khoa học – công nghệ mang lại cho con người sự tiện dụng về vật chất hiện đại trong sinh hoạt, sản sinh ra nhiều hình thức vui chơi giải trí nhưng các hoạt động ấy không thể thay
thế cho lễ hội, bởi vì nó không thể tạo ra một “không gian thiêng”, một “thời khắc
huyền bí” cùng với sự “cộng cảm” và “cộng mệnh” của cộng đồng như trong lễ
hội Lễ hội “giúp cho con người hòa đồng với tự nhiên, cảm nhận tự nhiên, lắng nghe tự nhiên, mà cuối cùng bảo vệ tự nhiên một cách hữu hiệu hơn” [Ngô Đức Thịnh 2010] Chỉ khi con người trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc, với lễ hội truyền thống để hòa mình vào khí thiêng của lễ hội, để cùng cộng đồng giao cảm với đấng thiêng liêng có nhiều huyền năng, chỉ nơi ấy “con người tự mình phô bày tất cả những gì là tinh túy, đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, đấu sức, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn với ngày thường Tất cả sự linh thiêng, cộng cảm, hoành tráng, đẹp đẽ ấy của lễ hội,
Trang 23đó là trạng thái thăng hoa từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực, gây ấn tượng mạnh…” [Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh 1994:290]
+ Giá trị giáo dục
Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi con người đều có nguồn cội Lễ hội cũng không nằm ngoài quy luật ấy, mỗi lễ hội đều có nguồn gốc lịch sử riêng của nó, dù đối tượng thờ là nhiên thần, nhân thần hay vật linh… thì những đối tượng tôn thời đều được phủ lên những truyền thuyết, huyền thoại và huyền tích bí ẩn do chính cộng đồng đã sáng tạo ra từ trong quá khứ Và dù mang tính chất lịch sử hay hư cấu nhưng những truyền thuyết, huyền thoại và các huyền tích bí ẩn ấy vẫn có giá trị giáo dục nhất định đối với các thế hệ kế thừa
Lễ hội truyền thống còn được xem “như một bảo tàng bách khoa sinh động về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng và tôn giáo, phản ánh những quá trình lao động.” [Trần Mạnh Thường 2005:253], thông qua những hình thức sân khấu hóa trình diễn các điệu thức diễn xướng dân gian, các trò diễn dân gian với mục đích tôn vinh các đấng thiêng liêng, các bậc tiền nhân có công với đất nước Ông cha ta có
câu: “Cây có cội, nước có nguồn” hay là: “Chim có tổ, người có tông” Đạo lý ấy
được con người Việt Nam thể hiện qua việc bảo tồn các lễ hội truyền thống Đến với
lễ hội là hướng về cội nguồn, hướng về những giá trị tinh thần mà tổ tiên đã sáng tạo
ra trong quá khứ Lễ hội truyền thống là nơi dành cho “cái thiêng” ngự trị; vì vậy, khi
đến đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi giao tiếp, ứng xử của mình trước cộng đồng ở chốn tôn nghiêm sao cho phải phép nhất
Lễ hội cũng là dịp để cộng đồng thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với thần
linh đã ban cho “phong điều vũ thuận”, “phong đăng điều cốc”, “quốc thái dân an”; tri ân những anh hùng đã hy sinh vì nước, vì dân tộc “sinh vi tướng, tử vi thần”
trong suốt thời kỳ mở nước, dựng nước và bảo vệ đất nước cho nên lễ hội “một bài học lịch sử không có thầy dạy, không có giáo trình nhưng lại dễ hiểu, thấm thía sâu sắc vào tâm khảm mỗi một người dự hội qua các diễn biến của ngày hội” [Lê Hồng
Trang 24Lý 2011:35] Những giá trị ấy là sợi chỉ vô hình đã kết nối các thế hệ cha ông với thế hệ hôm nay và cả mai sau mà thể hiện rõ nét nhất chính là sự duy trì, bảo tồn lễ hội trước mọi biến động của lịch sử - xã hội, cho dù năm tháng có qua đi nhưng đời sau vẫn theo gót của ông cha đời trước vẫn thành kính, trang nghiêm và cả háo hức, nôn nao chờ đón ngày tổ chức lễ hội sắp tới theo định kỳ đã có sẵn từ xa xưa
+ Giá trị góp phần bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa mang tính phức tạp và đa chức năng, nó tập hợp từ nhiều nhu cầu sinh hoạt của đời sống xã hội của con người: tín ngưỡng, nghi lễ, lễ tục, diễn xướng dân gian, thi tài, ẩm thực,… vì thế
“những cảnh sinh hoạt bình thường của những hoạt động văn hóa, nghệ thuật, hoạt động tôn giáo nhiều thời xa xưa của cha ông ta để lại trong nghi thức và diễn trình của các hội làng” [Lê Trung Vũ 1992:200,201] Nói cách khác, lễ hội là hình thức tái hiện cuộc sống của quá khứ thông qua phần lễ và phần hội Đó là quá trình kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của thế hệ cha ông qua từng giai đoạn phân kỳ của lịch sử khi phải đối mặt với các thế lực của nhiên quyền và nhân quyền
Lễ hội truyền thống được xem là một thành tố của văn hóa hàm chứa những giá trị và đặc trưng văn hóa riêng biệt Nói một cách nôm na, lễ hội truyền thống là món ăn tinh thần của cộng đồng làng xã, của dân tộc; do đó, những hoạt động trong
lễ hội truyền thống góp phần giữ gìn và bảo tồn bản sắc văn hóa vùng miền, văn hóa dân tộc và có khả năng lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế
hệ khác
Lễ hội truyền thống được sản sinh ra từ cộng đồng, là tinh hoa của văn hóa dân gian; vì thế không thể tách lễ hội truyền thống ra khỏi đời sống xã hội của cộng đồng Mặt khác, lễ hội truyền thống có thể xem như là một dạng của văn hóa phi vật thể, nó có tác động trực tiếp vào đời sống văn hóa tinh thần của con người và cũng chính con người sẽ tác động trở lại theo quy luật tương hỗ cho nhau Lễ hội là cái
vô hình nó sẽ bị mất đi và khó có thể khôi phục lại; cho nên bảo tồn và phát huy văn hóa lễ hội truyền thống, đưa các giá trị nhân văn của nó thấm sâu vào đời sống xã
Trang 25hội cộng đồng cũng chính là góp phần bảo tồn nền văn hóa dân tộc Đinh Gia Khánh nhận định: “sự thờ phụng các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa, các
tổ sư bách nghệ (sự thờ phụng làm cốt lõi cho không ít hội lễ dân gian truyền thống) lại có thể giúp vào việc bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của quá khứ” [Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh 1994:28]
Theo nhận định của một nhà nghiên cứu, thì “không hiếm các vị thần linh, vốn
là các thiên thần hay nhiên thần, nhưng lại được người đời nhân thần hóa hay lịch sử hóa, gán cho họ có sự nghiệp, có công trạng với đất nước hay từng địa phương Đây không phải là việc làm tùy tiện hay ngẫu nhiên, mà đều xuất phát từ ý thức lịch sử và ý thức xã hội Đó chính là ý thức hướng về cội nguồn, uống nước nhớ nguồn, tôn vinh những người có công với dân với nước” [Ngô Đức Thịnh 2010]
1.1.1.3 Chức năng của lễ hội truyền thống
Chức năng tín ngưỡng: Đến với lễ hội, con người có thể thể hiện niềm tin
của cá nhân, của cộng đồng đối với đấng thiêng liêng Người tham dự trong lễ hội được tự do thể hiện tín ngưỡng cá nhân, tín ngưỡng chung của cộng đồng nhằm
thỏa mãn đời sống tâm linh của mình với ước vọng sao cho “nhân khang vật thịnh”,
“quốc thái dân an”
Chức năng giải trí: Vì lễ hội truyền thống là một loại hình văn hóa nghệ
thuật dân gian tổng hợp do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau thụ hưởng Lễ hội là dịp mọi người được tự do vui chơi, giải trí sau một chu trình lao động vất vả Hơn nữa, mọi người còn được tự do thưởng thức các giá trị vật chất và tinh thần do lễ hội mang đến Đây cũng là thời gian nhàn rỗi để các thành viên trong cộng đồng giao lưu, tìm hiểu lẫn nhau
Chức năng kinh tế: Lễ hội là nơi thu hút nhiều người đến tham dự từ dân
trong làng đến dân ngoài làng, từ người trong tỉnh đến người ngoài tỉnh, từ người trong nước đến người nước ngoài đến trẩy hội; là cơ hội cho việc trao đổi hàng hóa giữa các địa phương, thành thị với nhau diễn ra thuận lợi Sự biến đổi của nền kinh
Trang 26tế thị trường trong thời hội nhập còn là điều kiện cho nhiều du khách trong và ngoài nước cùng đến tham dự tạo điều kiện cho người dân địa phương thay đổi phương thức kinh tế truyền thống bằng các dịch vụ phục vụ du khách trong lễ hội với mục tiêu kinh tế nhất định
1.1.2 Khái niệm phong tục tập quán và tín ngƣỡng dân gian
Lễ hội cũng là dạng thức tín ngưỡng, là những phong tục tập quán đã được lặp đi lặp lại trong quá khứ mang tính lịch sử và được đúc kết từ cộng đồng Lễ hội
là nơi mà phong tục tập quán, tín ngưỡng được thể hiện dưới nghi thức, nghi lễ, tập tục khi có sự tham gia của cộng đồng trong một thời gian, không gian nhất định Vì thế, việc tìm hiểu các khái niệm về phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian là việc cần thiết góp phần làm rõ thêm những giá trị vốn có của lễ hội truyền thống “Trên vùng đất mới, với nhu cầu văn hóa tâm linh và nhu cầu cộng cảm, nhu cầu gắn kết cộng đồng… người dân Việt ở đây đã tiến hành thực hiện những sinh hoạt tín ngưỡng đơn giản như thờ Phúc thần, thờ Trời, thờ Phật,…” [Nhiều tác giả 2000:132]
1.1.2.1 Phong tục tập quán
Trong quá trình lao động, con người đã tác động vào giới tự nhiên và tác động vào tư duy của chính con người để tạo ra những giá trị mang tính quy luật được chuyển giao từ thế hệ trước cho thế hệ sau và được cộng đồng chấp nhận; cho nên,
“phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng” [Hội đồng quốc gia 2003:482] Thêm vào đó, “tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng” [Hội đồng quốc gia 2005:101]
Do đó, phong tục tập quán chính là một bộ phận hữu cơ gắn liền với lễ hội truyền thống, là thói quen, nếp sống lan truyền, phổ biến trong dân chúng; là tục lệ đã ăn sâu vào đời sống xã hội được mọi người công nhận và làm theo
Trang 271.1.2.2 Tín ngưỡng dân gian
Ở đây xin tạm tách khái niệm tín ngưỡng ra khỏi tôn giáo, xem “tín ngưỡng mang một nội dung, một hình thái tôn thờ, lễ bái nào đó Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cộng đồng, con người ý thức về một dạng thần linh nào đó rồi cộng đồng đó tin theo, tôn thờ, lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, tạo thành một nếp sống
xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [Phan Thị Yến Tuyết 2011:7] Tín ngưỡng là
hệ thống các niềm tin của con người, phản ánh ý thức của con người về việc giải thích thế giới xung quanh, mong muốn mang lại sự bình an cho cá nhân và cho cả cộng đồng cùng cộng cư Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận định cho rằng: “Bất
kỳ một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vững chắc cũng đều tồn tại trong nhân dân rất lâu bền, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều kiện sản sinh ra nó đã thay đổi” [X.A.Tocarev (Lê Thế Thép dịch) 2011:55]
Người ta hiểu rằng hoạt động tín ngưỡng là “hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo 2004] Niềm tin ấy, sự ngưỡng mộ ấy không còn tồn tại trong một cá thể mà nó được lan rộng ra cả một hoặc nhiều cộng đồng, vượt
cả không gian và thời gian để hiện diện đồng thời nhiều nơi, ở mọi thời điểm với những biến thể khác nhau tùy thuộc vào nhận thức của con người, vào xã hội con người mà nó tồn tại Lúc bấy giờ, niềm tin tín ngưỡng được cộng đồng xác định đối tượng để tôn thờ, để tôn kính, để tưởng niệm và niềm tin ấy mang những giá trị biểu trưng, giá trị truyền thống, giá trị nhân sinh biểu trưng cho cái đẹp, nét thuần phong
mỹ tục, cái Chân - Thiện - Mỹ của cộng đồng trong đời sống văn hóa – xã hội
Kinh tế truyền thống của người Việt Nam (và một số cư dân Đông Nam Á nói chung) từ xa xưa là làm nông nghiệp mà cụ thể là trồng lúa nước cho nên có tư duy
“vạn vật hữu linh” Tư duy này được hình thành trong quá trình hoạt động sản xuất
nông nghiệp đã sáng tạo nên hệ thống tín ngưỡng sơ khai như: thờ mặt trăng, mặt
Trang 28trời, thờ tứ pháp, thờ thần núi, thần rừng, thần đất, thần nước: “Đất có thổ công, sông
có hà bá” với mục đích cầu cho sự an lành, ấm no trong hoạt động sản xuất thường
nhật, do đó, “tín ngưỡng dân gian như là hình thức sáng tạo thần linh và một lối ứng
xử đối với thần linh cũng là đối với chính mình của con người hình thành như một mặt của lối sống tâm linh” [Võ Thanh Bằng 2008:12] Như vậy, tín ngưỡng dân gian
là những niềm tin, tập tục được sáng tạo lâu đời trong quá trình lao động sản xuất và được truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng nhiều phương thức: cúng bái, nghi lễ… cho nên “tín ngưỡng dân gian là một bộ phận (một hiện tượng) thuộc đời sống tâm lý xã hội gắn liền với phong tục tập quán
của các cộng đồng người trong xã hội” [Huỳnh Quốc Thắng 2003:292]
Bên cạnh tín ngưỡng dân gian gắn liền với các phong tục tập quán lâu đời của dân tộc, cũng có những cổ tục được xem là một đặc trưng tiêu biểu của giai đoạn lịch sử văn hóa nhất định nhưng bị xem là hủ tục trong giai đoạn lịch sử hiện đại vì nó không được cộng đồng chấp nhận; vì thế, phải có cái nhìn khách quan, tinh tế và đánh giá cẩn trọng về tín ngưỡng dân gian, vì tín ngưỡng đã được sản sinh
ra trong sinh hoạt của cộng đồng, đã bén sâu rễ vào trong đời sống xã hội
1.1.2.3 Vị trí, mối quan hệ giữa phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian trong sinh hoạt lễ hội truyền thống
Xét về bản chất, phong tục tập quán là những thói quen lâu đời và tín ngưỡng dân gian là những sinh hoạt tâm linh hướng đến những đối tượng thiêng liêng mang tính chất lễ tục (một bộ phận của phong tục tập quán) không mang tính chất tôn giáo Và đó cũng là những nét bản chất của lễ hội truyền thống Việt Nam nói chung
và lễ hội truyền thống Tiền Giang nói riêng
Lễ hội truyền thống có lịch sử hình thành lâu đời, trải qua các biến động của lịch sử với sự chi phối của việc thay đổi phương thức sản xuất, từ đó đã có hiện tượng hỗn dung giữa phong tục tập quán cổ truyền kết hợp với việc tiếp nhận những tín ngưỡng dân gian bản địa trên con đường giao lưu tiếp biến văn hóa Chính các yếu tố
hỗn dung đó đã làm cho phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian không thể “vắng
Trang 29bóng” trong sinh hoạt lễ hội truyền thống và cũng chính phong tục tập quán và tín
ngưỡng dân gian đã làm cho lễ hội truyền thống trở nên sinh động và thu hút đông đảo người trẩy hội
Phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian trong lễ hội truyền thống vô cùng
đa dạng và phong phú (yếu tố vùng, miền) thể hiện rõ qua các nghi thức, nghi lễ, cấm kỵ (hèm) như tục cúng bánh chưng bánh dày ở lễ hội Đền Hùng, tục cúng tam sên (có nơi còn gọi là cúng tam sanh) trong các đình làng Nam Bộ… và tín ngưỡng
đa thần (thờ cúng thiên thần, nhiên thần, nhân vật lịch sử…) cũng rất phổ biến trong
tư duy của cư dân vùng ĐBSCL Dù ở thời xa xưa hay thời hiện đại thì những phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian trong lễ hội truyền thống đều hướng đến khát vọng cầu sự bình an, ấm no và hạnh phúc của cộng đồng “Chẳng hạn khi sống trong một xã hội thuần túy với những mùa nắng hạn và lụt bão, bệnh dịch thì người
ta cầu nước, cầu được mùa, cầu khô tạnh và sinh sôi nẩy nở đầy đàn cho cả con người và gia súc Nhưng khi xã hội phát triển như hiện nay, người ta có nguyện vọng khác phù hợp với thời đại họ đang sống” [Lê Hồng Lý 2008:24] Như vậy, những phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian sẽ tồn tại song hành cùng với lễ hội truyền thống qua những chặng đường lịch sử phát triển của nó từ trong quá khứ kéo dài đến hiện tại và tương lai cũng thế
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
1.2.1 Khái niệm văn hóa và du lịch
1.2.1.1 Khái niệm văn hóa
Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa thậm chí trái ngược nhau Có thể nói, có bao nhiêu nhà nghiên cứu về văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa Vì văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó, khái niệm về văn hóa cũng rất đa dạng và tùy thuộc vào góc độ, quan điểm, cách nhìn
của nhà nghiên cứu Với định nghĩa miêu tả, cho rằng: “Văn hóa bao gồm hết thảy
các phương diện sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội” [Đào Duy Anh 1948:8] Còn quan niệm mang tính liệt kê
Trang 30của E.B Taylor, xem văn hóa “gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với
tư cách một thành viên của xã hội” [E.B.Tylor (Huyền Giang dịch) 2001:13]
Khái niệm văn hóa được xây dựng theo nhiều cách hiểu tùy thuộc quan niệm
và hướng tiếp cận của người nghiên cứu, thí dụ để hiểu hết được những giá trị văn hóa một cách toàn diện, gần gũi với đời sống xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Dẫn theo Mạch Quang Thắng 2005:184]
Tất cả các quan niệm trên cho thấy văn hóa là một khái niệm hết sức phức tạp và không hoàn toàn ổn định, vì thế, nếu xét theo hệ giá trị thì “văn hoá là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2007:18] Quan điểm này cho thấy con người chính là chủ thể của văn hóa, con người là thực thể của giới tự nhiên, đã tác động vào
tự nhiên để tạo ra những giá trị văn hóa cho mình và những giá trị ấy được bồi đắp qua từng giai đoạn của lịch sử khi mối quan hệ giữa người với người được thiết lập hoàn chỉnh
Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa được hiểu là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền
của con người cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng
Dù trong thời đại nào, xã hội nào, trong quá khứ, hiện tại hay tương lai thì con người vẫn có nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần để đảm bảo sự tồn tại
Trang 31và phát triển Xét về cấu trúc hai thành phần, văn hóa được chia ra hai loại: Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương,
Với thuật ngữ mới, theo UNESCO có thể hiểu văn hóa bao gồm:
Văn hóa vật thể là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy bằng hoạt động biến đổi tự nhiên, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có thể nhận biết bằng các giác quan, bao gồm những loại giá trị như đồ vật, nhà cửa, đình chùa, đền miếu, lăng mộ, v.v…
Văn hóa phi vật thể là tiểu hệ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy không có biểu hiện vật chất, không thể nhận biết bằng các giác quan, bao gồm những loại giá trị như ngôn ngữ, huyền thoại, văn chương truyền khẩu, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, nghi thức, phong tục, kinh nghiệm y dược cổ truyền, bí quyết nấu ăn, bí quyết nghề thủ công truyền thống, v.v…
Từ đó, chúng ta thấy lễ hội truyền thống chính là một thành tố của văn hóa: văn hóa tinh thần - văn hóa phi vật thể Cho nên tìm hiểu về lễ hội truyền thống chính
là tìm về ký ức văn hóa của dân tộc được lan tỏa trong đời sống mọi tầng lớp cư dân
1.2.1.2 Khái niệm du lịch
Du lịch là thuật ngữ đang còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất do sự tiếp cận của các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Du lịch là một ngành năng động, là ngành liên quan đến nhiều ngành nghề khác trong xã hội, vì thế, khi tìm hiểu về du lịch phải xét trên bình diện tổng thể và mang tính chất liên ngành, ở đây, luận văn chỉ đề cập các khái niệm liên quan đến những đặc trưng cơ bản của du lịch
+ Du lịch là nhu cầu hoạt động của con người: Xét về nghĩa, du lịch đã
mang tính “động” Tính “động” này thể hiện ở việc có sự di chuyển từ nơi này đến
Trang 32nơi khác do nhiều nhu cầu khác nhau của con người mà trong đó nhu cầu du ngoạn không thể thiếu Chính nhu cầu di chuyển buộc con người khi thực hiện du lịch phải rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian đã định trước Như vậy, chúng ta hiểu rằng du lịch là “sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung cấp”[Trần Đức Thanh 1999:14]
Khởi đầu, hoạt động du lịch xuất phát từ nhu cầu đi lại với nhiều mục đích khác nhau (tôn giáo, chiến tranh…) nhằm phục vụ cho sự di chuyển của cá nhân hay của nhóm người Khi xã hội phát triển ngày càng cao, thành tựu khoa học kỹ thuật được vận dụng vào trong đời sống thì du lịch không chỉ là vì mục đích tôn giáo, chiến tranh mà còn là nhu cầu khám phá vùng đất mới để trải nghiệm và hưởng thụ văn hóa Những hoạt động ấy không nằm ngoài mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của con người qua một quá trình lao động sản xuất vất vả “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị
về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [Dẫn theo Dương Thanh Xuân 2011:8]
Theo Điều 4 của Luật Du lịch có ghi: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [Luật Du lịch 2005] Khái niệm này một lần nữa khẳng định du lịch ngoài việc thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ vật chất còn tiềm ẩn thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người
+ Du lịch là một hoạt động kinh tế - xã hội: Có thể nói, sự ra đời của
Thomas Cook đã đánh dấu sự khởi đầu của việc kinh doanh du lịch trên thế giới,
Trang 33việc di chuyển không còn là tự cung tự cấp mà có hệ thống tổ chức phục vụ từ khâu
ăn, uống, ngủ, nghỉ, tham quan cho du khách Điều này chứng minh rằng du lịch cần có sự tham gia của nhiều lực lượng lao động khác trong xã hội để phục vụ khách du lịch nhằm mục đích kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế - chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa 2006:19,20]
Như vậy, du lịch là một hoạt động hết sức phức tạp với sự tham gia của nhiều ngành nghề khác trong xã hội, điều đó đã tạo cho hoạt động du lịch giống như một bức tranh nhiều màu sắc Thực tế, hoạt động du lịch đã mang lại nhiều lợi ích
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Vì vậy, một số nước trong khu vực Đông Nam
Á đã đẩy mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xem chính sách phát triển
du lịch là trọng tâm của đất nước, do đó, “vai trò phát triển của du lịch, sự đóng góp nổi bật của nó vào thu nhập, việc tìm kiếm ngoại tệ và công việc, đôi khi du lịch được nhắc đến rõ nhất trong những chính sách phát triển của nhiều quốc gia”(3) [Richard Sharpley 2006:106]
Khai thác sản phẩm trong du lịch chính là khai thác các loại sản phẩm tài nguyên du lịch Phân loại tài nguyên du lịch với mục đích tìm rõ những tính chất ưu việt, riêng biệt của từng loại tài nguyên để có chính sách, chiến lược khai thác thích hợp tránh làm cạn kiệt, phá hỏng, thất thoát, biến dạng… tài nguyên du lịch quốc gia Trong đó, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác Theo Điều 13 của Luật
Du lịch 2005, tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn được hiểu
Trang 34Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
+ Các loại hình du lịch
Việc phân loại các loại hình du lịch có ý nghĩa quan trọng, góp phần đánh giá tiềm năng du lịch của một đất nước, của một vùng đất, của địa phương một cách cụ thể, từ đó có phương án khai thác đầu tư và phát triển du lịch theo loại hình đã phân loại một cách có hiệu quả và hợp lý
Phân loại dựa vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch
Du lịch quốc tế: Là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau
Du lịch nội địa: Là hình thức đi du lịch mà điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
Phân loại dựa vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch
Trang 351.2.2 Khái niệm du lịch văn hóa và văn hóa du lịch
1.2.2.1 Khái niệm du lịch văn hóa
Hầu hết các tuyến du lịch tại Việt Nam đều dựa vào sản phẩm văn hóa làm nội dung chính của chương trình du lịch Văn hóa là mục tiêu chính để các nhà kinh doanh du lịch lữ hành dựa vào đó tạo ra sản phẩm du lịch đặc sắc; vì thế, “du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” [Điều 4, Luật Du lịch 2005] Với định nghĩa trên, văn hóa là nguồn nguyên liệu, là điều kiện chính để phát triển hoạt động du lịch và du lịch văn hóa là phương tiện truyền tải các giá trị văn hóa của một địa phương, của một quốc gia cho du khách tham quan, thưởng ngoạn, tìm hiểu, học tập… Nhờ vào các giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam, chúng
ta đã sở hữu một quần thể di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO đã công nhận trong những năm vừa qua Chính các di sản văn hóa này là những sản phẩm du lịch văn hóa tiêu biểu của quốc gia góp phần làm cho du khách muốn tìm hiểu thêm về văn hóa Việt Nam, đặc biệt là du khách nước ngoài
Chúng ta được thừa hưởng một nguồn nguyên liệu, nguồn tài sản văn hóa phong phú và đa dạng, là điều kiện tốt để khai thác trở thành sản phẩm phẩm du lịch văn hóa trong hoạt động du lịch Tuy nhiên, giá trị văn hóa do con người tạo ra và cũng chính con người có thể làm mất đi giá trị văn hóa của nó nếu không biết khai thác, giữ gìn và phát huy một cách đúng đắn và hợp lý
+ Phân loại du lịch văn hóa
Du lịch làng nghề truyền thống
Trang 36Du lịch bảo tàng, di tích lịch sử - văn hóa
Du lịch ẩm thực
Du lịch tôn giáo
1.2.2.2 Khái niệm văn hóa du lịch
Trong cách nhìn nhận khái quát nhất: “Văn hóa du lịch là một khoa học nghiên cứu những phương thức khai thác giá trị văn hoá phục vụ du lịch Hay nói một cách khác, văn hoá du lịch nghiên cứu các di tích lịch sử văn hóa, các danh lam thắng cảnh, lễ hội, phong tục tập quán, ẩm thực từ góc độ du lịch và phương thức khai thác những giá trị đó để kinh doanh du lịch” [Lê Thị Vân 2008:28] Từ khái niệm trên, ta dễ nhầm lẫn xem văn hóa du lịch cũng chính là du lịch văn hóa, vì du lịch văn hóa xem văn hóa là các giá trị, nguồn nguyên liệu cần khai thác trong hoạt động du lịch
Tìm hiểu khái niệm văn hóa du lịch trong không gian văn hóa và môi trường
du lịch thì “Văn hóa của du lịch bao gồm: việc gia tăng các sản phẩm văn hóa du lịch, việc xác định lại những trải nghiệm du lịch, việc chuyên tâm đến những tác động văn hóa của du lịch và việc giải quyết sự thay đổi văn hóa trong thời đại công nghệ có sự tồn tại của văn hóa Một hình thái thích hợp của du lịch là việc nhấn
mạnh không gian văn hóa của du lịch, tất cả những điều đề cập ở trên là văn hóa du
lịch”( 4)[Chris Rojek and John Urry 2003:113] Trong khi đó, văn hóa du lịch là việc ứng dụng văn hóa trong môi trường kinh doanh du lịch và môi trường ấy bao gồm tổng hòa ba yếu tố: chủ thể, khách thể và môi giới Như vậy, nội hàm trong văn hóa
du lịch mang ý nghĩa phổ quát, bởi vì trong thực tế, “văn hóa du lịch không phải là phép cộng đơn giản giữa văn hóa và du lịch mà là sự kết hợp giữa du lịch và văn hóa; là kết quả tinh thần và vật chất do tác động tương hỗ lẫn nhau giữa ba loại: nhu
cầu văn hóa và tình cảm tinh thần của chủ thể du lịch (du khách), nội dung và giá trị
(4 ) Nguyên văn: The culture of tourism includes: maximising the culture of tourism products, defining tourist experiences, addressing the cultural impacts of tourism, and dealing with the changing culture of the industry itself A niche form of tourism that emphasises the cultural
Trang 37re-văn hóa của khách thể du lịch (là tài nguyên du lịch có thể thỏa mãn sự hưởng thụ tinh thần và vật chất của người du lịch), ý thức và tố chất văn hóa của người môi
giới phục vụ du lịch (hướng dẫn viên, thuyết minh viên, người thiết kế sản phẩm,
nhân viên phục vụ…) sản sinh ra.”(5)
Điều này cho thấy văn hóa du lịch là không gian của việc ứng dụng các giá trị văn hóa vào hoạt động du lịch, không gian ấy bao gồm chủ thể, khách thể và môi giới nhằm tạo ra một tổng thể hoàn chỉnh, năng động trong hoạt động kinh doanh du lịch Do vậy, nếu chúng ta chủ yếu nhấn mạnh vào khía cạnh năng động của văn hóa du lịch thì có thể khẳng định: “Văn hóa du lịch chính là sản phẩm của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay.”(6)
Tóm lại, văn hóa du lịch là khái niệm rộng mang ý nghĩa bao quát mối quan
hệ giữa văn hóa và du lịch (gồm cả du lịch văn hóa trong đó); và hoạt động văn hóa
du lịch thực chất là một lĩnh vực hoạt động xã hội hướng đến các giá trị văn hóa thông qua các phương thức du lịch
1.3 Mối tương quan giữa lễ hội truyền thống và du lịch
Lễ hội truyền thống là thành tố của văn hóa, còn hoạt động du lịch chính là hoạt động kinh tế nhằm mục đích thu lợi nhuận Xét cho cùng, mối tương quan giữa
lễ hội và du lịch cũng chính là mối tương quan giữa văn hóa và kinh tế Cho nên, văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát triển kinh tế xét trong phạm vi hẹp của mối tương quan ấy
Lễ hội truyền thống là di sản văn hóa phi vật thể, là đối tượng mà các nhà kinh doanh du lịch lữ hành luôn muốn khai thác nhằm đa dạng hóa sản phẩm du
lịch, đưa lễ hội thành tua “du lịch cao cấp” với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế
trong hoạt động du lịch “Lễ hội và sự kiện khai thác trong du lịch đều có chung một mục tiêu duy nhất là: tận dụng tối đa sản phẩm văn hóa từ truyền thống đến
(5)
Dẫn theo Bùi Thanh Thủy http://huc.edu.vn/chi-tiet/1223/.html
(6) Dương Văn Sáu du-lich-san-pham-cua-van-hoa-viet-nam-trong-tien-trinh-hoi-nhap-toan-cau-hoa-hien-nay
Trang 38http://dulichsaigonact.vn/index.php/nghien-cuu/tap-chi-so-4/item/321-van-hoa-hiện đại để quảng bá du lịch đến với du khách trong nước và quốc tế” [Huỳnh Quốc Thắng 2007:21]
Nhìn chung, lễ hội và du lịch đều có mục tiêu riêng của nó, nhưng nếu con người biết kết hợp, khai thác hài hòa, hợp lý thì hai chủ thể này sẽ tương hỗ cho nhau Hoạt động du lịch sẽ làm cho lễ hội phát huy hết giá trị vốn có của nó, du lịch làm tăng thu nhập, tăng nguồn thu cho xã hội, đóng góp hiệu quả vào sự phát triển của
chính bản thân lễ hội Ngược lại, khi lễ hội đã trở thành “sản phẩm văn hóa cao cấp”
trên thị trường cũng là điều kiện để quảng bá du lịch Việt Nam trên trường quốc tế
Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch là mối quan hệ biện chứng, tuy tồn tại độc lập nhưng luôn tác động qua lại lẫn nhau Chính các giá trị tiêu biểu của lễ hội truyền thống có tác động tích cực đến sự phát triển của du lịch; còn các yếu tố tiêu cực sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của du lịch Trái lại, phát triển du lịch sẽ góp phần vào việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống và cũng có thể làm biến đổi lễ hội truyền thống theo chiều hướng tiêu cực, phản văn hóa
1.3.1 Tác động của lễ hội truyền thống đối với du lịch
Tại Việt Nam, khó mà thống kê hết số lượng lễ hội truyền thống của Việt Nam một cách chính xác ngoài những lễ hội có tổ chức quy mô cực lớn như: lễ hội đền Hùng, lễ hội đền Kiếp Bạc, lễ hội Katê, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, lễ hội
Ok - Om - Bok, lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam… Điều này cho thấy, lễ hội truyền thống là nguồn di sản văn hóa phi vật thể, nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch Khai thác lễ hội truyền thống chính là khai thác giá trị văn hóa tâm linh, giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc mà ở các loại hình du lịch khác khó tìm thấy được Lễ hội truyền thống không chỉ tạo ra môi trường, điều kiện cho du lịch phát triển mà còn định hướng quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Khi lễ hội truyền thống phát triển một cách bền vững thì đây là nhân tố kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo nguồn thu cho địa phương và nhà nước từ các hoạt động du lịch lễ hội mang lại qua các dịch vụ phục
vụ lễ hội; tạo ra công ăn việc làm, ổn định kinh tế cho người dân tại nơi diễn ra lễ hội
Trang 39Lễ hội làm phong phú và đa dạng sản phẩm du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch có thể lựa chọn khi mua sản phẩm du lịch Hiện nay, trên con đường quốc tế hóa, những lễ hội truyền thống được tổ chức với quy mô lớn, đặc sắc cũng là phương thức hiệu quả để quảng bá du lịch lễ hội Việt Nam đến với bạn bè quốc tế Nếu như có sự kết hợp du lịch lễ hội với các loại hình du lịch khác một cách hợp lý sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của chương trình du lịch văn hóa cho du khách
Văn hóa tín ngưỡng là cái gốc của lễ hội truyền thống, là đời sống tâm linh của đại đa số tầng lớp nhân dân, là niềm tin của cộng đồng hướng đến đấng siêu nhiên ở thế giới vô hình; do đó, ranh giới giữa niềm tin, tín ngưỡng và mê tín dị đoan khó mà xác định được Khi lễ hội đã trở thành sản phẩm của hoạt động du lịch văn hóa thì các yếu tố tiêu cực như: bói toán, coi tướng, xin xăm, vay tiền,… sẽ ảnh hưởng đến những giá trị văn hóa, giá trị thẩm mỹ của lễ hội truyền thống kể cả việc làm phiền lòng khách du lịch trong và ngoài nước khi tham gia lễ hội
Mặt khác, thời gian và không gian tổ chức lễ hội được ấn định ngày giờ cụ thể nên du khách có thể tăng đột biến vào những ngày chính của lễ hội gây nên những tệ nạn khó có thể kiểm soát và đảm bảo sự an toàn và sức khỏe của du khách khi tham gia lễ hội như: ùn tắt giao thông, chen lấn xô đẩy, xin lộc thánh, ăn xin, móc túi, cướp giật tài sản, dịch vụ phục vụ lễ hội bị chặt chém với giá cắt cổ mà chất lượng thì rất kém, vấn đề vệ sinh công cộng, an toàn thực phẩm bị bỏ qua, dịch
vụ phục vụ du khách bị hạn chế… Thời gian của lễ hội được ấn định không thể thay đổi để đáp ứng nhu cầu linh hoạt và năng động của hoạt động du lịch nên du khách muốn đến lễ hội như mong muốn khó có thể đạt được mục đích nếu không có sự chuẩn bị từ trước, nhất là đối với đối tượng du khách là công chức, đội ngũ nhân viên doanh nghiệp v.v…
Một bộ phận người dân địa phương có chức sắc trong cộng đồng giữ nhiệm
vụ trông coi tại các di tích có liên quan đến lễ hội trong đó có cả những người có chức quyền hoặc là cán bộ của ngành Văn hóa – Du lịch nhưng lại thiếu hiểu biết chuyên môn, cho nên khi tổ chức lễ hội lại thêm vào các yếu tố hiện đại làm giảm
Trang 40“tính thiêng” mà tăng phần “hội” Điều này làm cho lễ hội càng trở nên bát nháo
hơn bao giờ hết (điển hình là tại một số lễ hội truyền thống ngoài phần tổ chức các trò chơi dân gian truyền thống lại có cả chơi lô tô – một hình thức cờ bạc trá hình)
1.3.2 Tác động của du lịch đối với lễ hội truyền thống
Du lịch là môi trường để lễ hội truyền thống phát huy giá trị nội tại của nó trước cộng đồng và khách du lịch Hơn thế, du lịch chính là phương tiện truyền thông hữu hiệu để bảo tồn, phát huy và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội từ thế hệ này sang thế hệ khác theo xu hướng phát triển chung của xã hội
Du lịch là hoạt động kinh tế, nên phát triển lễ hội truyền thống hiện nay theo hướng kinh tế thị trường là tất yếu; hoạt động theo cơ chế bao cấp mang tính tự phát khó có thể phát triển lễ hội nói riêng và văn hóa nói chung Vì “nay tất cả phải từng bước chuyển mình phát triển theo cơ chế thị trường, nguồn bao cấp dần không còn, điều đó đồng nghĩa với việc muốn tổ chức lễ hội, sự kiện du lịch nhất thiết phải tính toán đến hiệu quả kinh tế” [Huỳnh Quốc Thắng 2007:22] để có nguồn tài chính phát triển lễ hội Về lâu dài, không thể dựa vào nhà nước mà phải dựa vào hoạt động du
lịch “lấy nó nuôi nó”
Du lịch cũng là phương tiện khách quan, thiết thực để quảng bá lễ hội đến với các vùng miền địa phương khác, đến với các khu vực và lan tỏa ra thế giới; nâng cao hình ảnh của cộng đồng, của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tăng cường sự hiểu biết, giao lưu văn hóa truyền thống, đoàn kết hữu nghị lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trong quan hệ ngoại giao theo đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước, làm cho “bạn bè gần xa trên thế giới hiểu biết hơn về đất nước con người, về lịch sử văn hóa, văn minh Việt Nam, từ đó, nâng cao vị thế Việt Nam trên chính trường thế giới” [Trần Diễm Thúy 2009:19]
Khách du lịch đến từ nhiều vùng miền, nhiều quốc gia khác nhau với nhiều nền văn hóa khác nhau, mục đích khác nhau nên các dịch vụ phục vụ cũng theo đó
mà có những biến đổi đáng kể nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, làm cho cảnh quan chung của lễ hội, không gian thiêng của lễ hội giảm đi ít nhiều Thực tế cho