Từ góc nhìn văn hóa học, chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn khác về những cải cách của Hồ Quý Ly để thấy rõ hơn những đóng góp mà ông đã làm được trong cuộc đời của mình.. Các nhà chép sử sa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.06.40
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
TRẦN VĂN CƯƠNG
CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY
TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.06.40
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐINH THỊ DUNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3Hồ Quý Ly (1335 - ?)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp này là công trình của tôi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý luận và dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Ngoài những trích dẫn là thành quả nghiên cứu hoặc đã được phát biểu của các nhà khoa học khác Những kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn mang tính trung thực và là nghiên cứu độc lập của chúng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 4 năm 2015
Trần Văn Cương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn tới cô T.S Đinh Thị Dung – người đã giúp tôi thực hiện Luận văn này với tất cả lòng nhiệt tình và sự chu đáo Cô không chỉ truyền đạt cho tôi những kiến thức cần thiết mà còn động viên tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy, quý cô trong Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
đã trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong những năm tôi được học tại đây
Và tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người thân yêu của tôi đã động viên giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 4 năm 2015
Trần Văn Cương
Trang 6MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Lịch sử vấn đề 2
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
7 Bố cục 6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Những khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Văn hóa 8
1.1.2 Góc nhìn văn hóa học 9
1.1.3 Cải cách nhìn từ sử văn hóa 9
1.2 Đặc điểm thời gian văn hóa Đại Việt thời Hồ Quý Ly 11
1.2.1 Đặc điểm bối cảnh khu vực 11
1.2.2 Đặc điểm bối cảnh trong nước 14
1.3 Về nhân vật Hồ Quý Ly 20
1.3.1 Cuộc đời 21
1.3.2 Sự nghiệp chính trị 24
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA TINH THẦN VÀ XÃ HỘI 28
2.1 Trên bình diện tư tưởng 28
2.1.1 Về Nho giáo 28
2.1.2 Về Phật giáo 33
2.1.3 Về Lễ nhạc 37
2.1.4 Về giáo dục 41
2.2 Cải cách về xã hội 44
2.1.1 Chính sách hạn nô 44
2.1.2 Về các chính sách xã hội khác 47
Trang 7Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3: CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA VẬT CHẤT 51
3.1 Cải cách về ruộng đất 51
3.1.1 Chính sách hạn điền 52
3.1.2 Chính sách di dân khai khẩn đất mới 55
3.1.3 Chính sách giao thông thuỷ lợi, đê điều 58
3.2 Cải cách về tài chính 59
3.2.1 Cải cách tiền tệ 59
3.2.2 Cải cách thuế khoá 64
3.3.Cải cách về quân sự 68
3.3.1 Xây dựng các công trình quân sự 68
3.3.2 Chế tạo, cải tiến vũ khí quân sự 70
3.3.3 Củng cố lực lượng quân đội 73
Tiểu kết chương 3 75
II KẾT LUẬN 77
1 Các đánh giá đã có về Hồ Quý Ly 77
2 Những nhận định bước đầu của chúng tôi về cải cách Hồ Quý Ly từ góc nhìn văn hoá 81
III TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Tài liệu sách 85
Bài báo khoa học 89
Tài liệu eBook 89
Tài liệu mạng 90
IV PHỤ LỤC 95
PHỤ LỤC I: Thành Nhà Hồ 95
PHỤ LỤC II: Thơ văn Hồ Quý Ly 96
Trang 8MỤC LỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Hình vẽ chân dung Hồ Quý Ly
Hình 2: Biểu đồ mối quan hệ giữa Hồ Quý Ly và các vua nhà Trần 23
Hình 3: Bảng so sánh sự khác nhau giữa màu sắc trang phục dưới thời nhà Hồ và nhà Lý - Trần 38
Hình 4: Hình ảnh đồng tiền giấy nhà Hồ: 61
Hình 5: Hình ảnh thuyền Cổ Lâu thời nhà Hồ 73
Hình 6: Hình ảnh về thành nhà Hồ 95
Trang 9Ly Chính vì vậy mà chúng tôi mong muốn nghiên cứu nhân vật này từ góc nhìn của văn hóa học Nghiên cứu về Hồ Quý Ly thì từ trước đến nay có khá nhiều công trình, bài viết, tham luận và sách báo Tuy nhiên, theo như nhận xét chủ quan của chúng tôi thì chủ yếu là các tác giả đưa ra những quan điểm lịch sử chứ chưa thật sự nhìn từ góc độ văn hóa học Từ góc nhìn văn hóa học, chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn khác về những cải cách của Hồ Quý Ly để thấy rõ hơn những đóng góp mà ông đã làm được trong cuộc đời của mình Với sự hiểu biết còn hạn chế và trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi thật sự chưa
có những kết quả đột phá, nhưng với sự kế thừa các công trình đã có về Hồ Quý
Ly cùng với sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè, người thân và chính bản thân Chúng tôi hy vọng luận văn sẽ đưa ra được cái nhìn mới dưới góc độ văn hóa về con người và những cải cách của Hồ Quy Ly
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tiếp cận theo hướng liên ngành trong nghiên cứu Đối với đề tài này chủ yếu đó là sự liên ngành giữa sử học và văn hoá học Trên cơ sở những tư liệu lịch sử chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn từ góc
độ văn hóa về những cải cách của Hồ Quý Ly Tác giả luận văn muốn thông qua cách tiếp cận văn hoá học để làm rõ vai trò và những ảnh hưởng của Hồ Quý Ly cho tiến trình phát triển lịch sử văn hoá Việt Nam Những cải cách của Hồ Quý
Ly đã có những đóng góp gì cho lịch sử và lịch sử văn hoá Việt Nam Những thành tựu về văn hoá mà Hồ Quý Ly đã đạt được qua những cải cách của mình trong văn hoá Đại Việt giai đoạn cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV
Trang 102
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là những cải cách của Hồ Quý Ly được tiếp cận từ góc độ văn hóa
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Không gian văn hoá là Đại Việt, thời gian văn hoá là Văn hóa Đại Việt cuối đời Trần đến hết thời nhà Hồ và chủ thể văn hoá là Hồ Quý Ly
4 Lịch sử vấn đề
Hồ Quý Ly là một trong những nhân vật lịch sử nổi tiếng và gây ra nhiều tranh cãi trong nghiên cứu khoa học khi nhìn nhận và đánh giá Kể từ khi vương triều nhà Hồ được thành lập cho đến lúc sụp đổ thì đã có nhiều phê phán khi đánh giá
về Hồ Quý Ly và vương triều nhà Hồ Hầu hết những đánh giá ở giai đoạn này đều thống nhất quan điểm phê phán và lên án những việc làm của Hồ Quý Ly Các nhà chép sử sau này như Ngô Sĩ Liên, Phan Phu Tiên… đều cho rằng Hồ Quý Ly là kẻ loạn thần tặc tử, kẻ cướp ngôi vua, là nguyên nhân dẫn đến sự mất nước… Từ những năm đầu thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu lịch sử - văn hoá Việt Nam cũng đã có những nhận định đánh giá về nhân vật Hồ Quý Ly như
Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam sử lược được in lần thứ nhất của nhà xuất
bản Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1920 Trong công trình này, khi nói về Hồ Quý
Ly, tác giả Trần Trọng Kim đã có cái nhìn mới mẻ hơn tuy nhiên chủ yếu vẫn phê phán những việc làm của Hồ Quý Ly Từ năm 1945, trong giới nghiên cứu khoa học đã có những chuyên khảo riêng về Hồ Quý Ly như tác giả Chu Thiên
đã cho xuất bản công trình Chính trị Hồ Quý Ly, NXB Đại La, Hà Nội vào năm
1945 Trong công trình này, tác giả Chu Thiên đã nhận định cải cách của Hồ Quý
Ly là không hiệu quả: “Cái khung chính trị vẫn trở về nguyên cũ Vả lại, sự tổ
chức của Quý Ly cũng như đắp một con đường trên con đường cũ gần như huỷ diệt, ngoằn ngoèo, lồi lõm Quý Ly vẫn theo nếp ấy, san chỗ lồi, lấp chỗ lõm….vì chưa liền thổ, cái lõm đường cũ lại còn trở lại, có chỗ bị hại hơn trước”[51, tr 122] Đến năm 1952, có thêm một công trình nghiên cứu chuyên khảo về Hồ Quý
Ly nữa đó là công trình Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, nghiên cứu – phê bình của
tác giả Lê Văn Hoè, do nhà xuất bản Quốc học thư xã, Hà Nội ấn hành Trong
Trang 113
công trình này, tác giả Lê Văn Hoè cũng đã nêu ra những đánh giá của mình về
Hồ Quý Ly và những cải cách của ông Hơn nữa, tác giả Lê Văn Hoè còn bước đầu đưa ra những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Hồ Quý Ly trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Những khảo cứu về nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly
đã được một số học giả vào thời cận hiện đại nhắc đến tuy nhiên vẫn còn những quan điểm mang tính chủ quan Năm 1955, tác giả Minh Tranh đã có bài viết:
“Sự phát triển của chế độ phong kiến ở nước ta và vai trò của Hồ Quý Ly cuối thể ky XIV đầu thế kỷ XV” in trên tập san Văn Sử Địa, số 11 đã nêu lại vấn đề Hồ
Quý Ly một cách cụ thể và khách quan hơn Ngoài ra, cũng có một số tham luận
có nhắc đến Hồ Quý Ly cũng in trên tập san Văn Sử Địa như Trần Huy Liệu với bài: “Nguyễn Trãi một nhà đại chính trị đại văn hào Việt Nam” Hồ Tuấn Niêm với bài “Tìm hiểu chế độ công điền công thổ ở Bắc Bộ” Những bài viết này tuy
không đề cập trực tiếp những cũng có những nhận định đánh giá về nhân vật Hồ
Quý Ly Tác giả Đào Duy Anh cũng đã dành một chương mang tên “Cuộc cải
cách của Hồ Quý Ly” trong cuốn Lịch sử Việt Nam để nói về Hồ Quý Ly và
vương triều nhà Hồ Từ những năm thập niên 60 của thế kỷ XX, những nghiên
cứu về Hồ Quý Ly được đăng tải nhiều nhất là trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử Bài viết mở đầu được cho là “Đánh giá lại vấn đề cải cách của Hồ Quý Ly” của
tác giả Trương Hữu Quýnh Sau đó, nhiều tác giả khác như Nguyễn Phan Quang, Trần Văn Khang, Dương Minh, Hồ Hữu Phước, Trần Bá Chi, Phan Huy Lê, Trần Thị Vinh, Nguyễn Danh Phiệt, Phạm Ái Phương, Võ Xuân Đàn, Văn Tạo, Hoàng Phương… cũng đã công bố những bài viết chuyên khảo về Hồ Quý Ly trên tạp
chí Nghiên cứu lịch sử Những bài viết chuyên khảo về Hồ Quý Ly trên tạp chí
Nghiên cứu lịch sử từ năm 1960 cho đến nay đã đươc tạp chí Xưa và Nay cùng
nhà xuất bản Hồng Đức tập hợp và biên soạn lại thành cuốn sách “Họ Hồ và Hồ
Quý Ly trong lịch sử” được in lần đầu vào năm 2008 và mới tái bản lần thứ 2
năm 2014 Các bài viết của các tác giả nêu trên đã đưa ra được rất nhiều tài liệu mới, nhiều quan điểm mới trong đó có những đánh giá nhận định khách quan hơn
về con người và sự nghiệp cải cách của Hồ Quy Ly Tuy nhiên, các tác giả cũng
có nhiều luồng ý kiến khác nhau Ngoài những công trình kể trên, đến nay còn có
Trang 124
một số công trình sau: tác giả Quốc Ấn với công trình Hồ Quý Ly, nhân vật lỗi
lạc nhất thời đại từ Đông sang Tây, tác giả xuất bản, Nam Cường tổng phát
hành, Sài Gòn, 1974 Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa với công trình Cải cách
Hồ Quý Ly, NXB Chính trị quốc gia, 1996 Nguyễn Danh Phiệt với Hồ Quý Ly,
Viện sử học và NXB Văn hoá Thông tin, 1997 Trương Thị Hoà với Thể chế
chính trị, hành chính và pháp quyền trong cả cách Hồ Quý Ly, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997 Võ Xuân Đàn với Hồ Quý Ly - nhà cải cách, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 1998 Những công trình nghiên cứu nêu trên đây đã đề cập đến những cải cách của Hồ Quý Ly cũng như đánh giá trên nhiều phương diện về ông Bên cạnh đó, trong các tư liệu, tài liệu về lịch sử Việt Nam của các nhà nghiên cứu trong nước cũng có ít nhiều đề cập đến nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly Ngoài những công trình của các tác giả trong nước thì ở nước ngoài cũng có một
số công trình như: cuốn Vietnam, Ho Quy Ly and the Minh (1371 - 1421)(Việt
Nam, Hồ Quý Ly và nhà Minh) của học giả, K.Whitnore, Yale Southeast Asia
Studies, 1985 Hai học giả người Nga là T.M Maslov với cuốn Việt Nam phong
kiến thế kỷ XIV đầu VI, 1989 và A.P Pôliacốp với cuốn Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X đến thế kỷ XIV (Vũ Minh Giang dịch, NXB Chính trị Quốc gia,
1996) Tất cả những tài liệu đó đều là những cơ sở để chúng tôi kế thừa và tiếp tục nghiên cứu về Hồ Quý Ly và vương triều nhà Hồ dưới góc nhìn văn hóa Qua những công trình nghiên cứu về Hồ Quý Ly mà chúng tôi tiếp cận thì cũng thấy được vấn đề Hồ Quy Ly là một vấn đề không mới Những đóng góp của các tác giả đi trước khi nghiên cứu về Hồ Quý Ly là những bước tiến có tính khoa học rất cao và sẽ là những tài liệu rất cần thiết cho chúng tôi Chúng tôi mong muốn kế thừa những nghiên cứu đã có trước đây để tiếp tục nghiên cứu về nhân vật lịch sử Hồ Quy Ly từ cách tiếp cận Văn hóa học để mang đến một góc nhìn mới về con người và sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly
Trang 135
Phương pháp phân tích: Trong quá trình nghiên đề tài tác giả sẽ dựa
vào những cứ liệu lịch sử và những đánh giá của các nhà nghiên cứu trước đây để phân tích và đưa ra những nhận xét dưới góc nhìn của văn hóa học
Phương pháp so sánh đối chiếu: là cách thức để tìm ra sự khác biệt
mang tính chất đặc trưng Đề tài này tác giả có sự so sánh ảnh hưởng giữa những cải cách của Hồ Quý Ly và những nhà cải cách khác trước đó Ví dụ so sánh những cải cách của Hồ Quý Ly với Vương An Thạch …
Ngoài những phương pháp nghiên cứu chính nêu trên, tác giả luận văn
còn chú ý đến những hướng nghiên cứu sau:
Hướng nghiên cứu liên ngành: Chúng tôi tiếp cận đề tài theo hướng
liên ngành giữa lịch sử học, nhân học, xã hội học, kinh tế học… theo hướng tiếp cận từ ngành chính là văn hoá học Đối với đề tài nghiên cứu này, hướng nghiên cứu chủ yếu là sử văn hóa của văn hóa học Cụ thể là từ những cứ liệu lịch sử chúng tôi sẽ khảo sát theo chiều lịch sử, đặt những việc làm và cải cách của Hồ Quý Ly trong đặc điểm thời gian lịch sử và đưa ra quan điểm dựa trên góc nhìn của văn hoá học
Hướng nghiên cứu hệ thống: Để nghiên cứu những cải cách của Hồ
Quý Ly tiếp cận từ góc độ văn hoá học Chúng tôi sẽ nghiên cứu những cải cách của Hồ Quý Ly trong một hệ thống với các thành tố văn hoá tinh thần, văn hoá
xã hội và văn hoá vật chất
Nguồn tài liệu được sử dụng: Bao gồm sách báo, các tài liệu mạng, tài
liệu video chuyên khảo về nhân vật Hồ Quý Ly Các sách báo, bài viết về lịch sử Việt Nam thời Đại Việt và các tài liệu liên quan về lịch sử Nho giáo, Phật giáo, kinh tế, xã hội …
Nguồn tư liệu: Tư liệu chủ yếu là các ghi chép về lịch sử thời Hồ Quy
Ly trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và Khâm định Việt sử thông
giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn
Trang 146
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Qua luận văn về cải cách của Hồ Quý Ly từ góc độ
văn hóa học, chúng tôi sẽ đưa ra được những ý kiến nhận định của mình, thông qua việc phân tích, lý giải những cải cách của nhân vật Hồ Quý Ly từ hướng tiếp cận văn hóa học Cuối cùng qua nghiên cứu chúng tôi bổ sung và góp phần nêu bật những giá trị về lịch sử văn hóa của cải cách Hồ Quý Ly cũng như những thành tựu mà cuộc cải cách đạt được trong lịch sử văn hóa Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài sau khi khi bảo vệ sẽ đóng góp một phần nhỏ
của mình vào những tài liệu nghiên cứu về Hồ Quý Ly sau này Đề tài cũng có thể là một nguồn tư liệu tham khảo khi tìm hiểu về lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung và thời Hồ nói riêng
7 Bố cục
Bố cục của luận văn, ngoài phần dẫn nhập và kết luận là phần nội dung chính được chia làm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Đây là chương chúng tôi trình bày những vấn đề lý luận về văn hoá, văn hoá học,
sử văn hoá để làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở chương 2 và chương 3 Bên cạnh
đó, ở chương 1 chúng tôi cũng sẽ khái quát đặc điểm bối cảnh lịch sử khu vực và trong nước thời Hồ Quý Ly cũng như về nhân vật Hồ Quý Ly để có cái nhìn cụ thể, khách quan hơn khi tiếp xúc với đề tài
Chương 2: Cải cách của Hồ Quý Ly trên lĩnh vực văn hóa tinh thần và xã hội
Ở chương 2 và chương 3 chúng tôi phân chia những cải cách của Hồ Quý Ly thành 3 thành tố văn hoá đó là vật chất, tinh thần và xã hội Thực tế cách phân chia này là để phù hợp với đề tài và cách tiếp cận từ góc độ văn hoá nên chỉ mang tính tương đối Ở chương 2, chúng tôi nghiên cứu về những cải cách của
Hồ Quý Ly trên lĩnh vực văn hoá tinh thần và xã hội Đó là những vấn đề cải cách trên bình diện tư tưởng như Nho giáo, Phật giáo, Lễ nhạc, giáo dục và các vấn đề về xã hội trong đó có chính sách hạn nô và các chính sách về y tế, dân sinh…
Trang 157
Chương 3: Cải cách của Hồ Quý Ly trên lĩnh vực văn hóa vật chất
Trong chương 3 là những cải cách của Hồ Quý Ly trên lĩnh vực văn hoá vật chất Bao gồm những cải cách trên lĩnh vực ruộng đất, tài chính và quân sự… Phần cuối của luận văn là phần kết luận Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có thêm phần phụ lục 1 là giới thiệu khái quát về thành nhà Hồ - một di sản văn hoá vật thể của thế giới Phụ lục 2 là giới thiệu về những bài thơ còn lại của Hồ Quý Ly
Trang 168
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trước khi đi vào những nội dung chính của bản luận văn, chúng tôi muốn nêu lên một số khái niệm cũng như khái quát đặc điểm bối cảnh lịch sử khu vực và trong nước thời Hồ Quý Ly cũng như về nhân vật Hồ Quý Ly để có cái nhìn cụ thể, khách quan hơn khi tiếp xúc với đề tài
1.1.1 Văn hóa
Thuật ngữ "Văn Hoá" (文化) là để chỉ một điều gì đó tốt đẹp và có ích Nghĩa
gốc là từ tổ hợp từ “Văn Trị Giáo Hóa” (文治教化) Từ văn hóa hiện nay chúng
ta dùng là từ của người Nhật để dịch từ Culture trong ngôn ngữ phương Tây, sau
đó truyền sang Trung Quốc rồi qua Việt Nam Culture có nghĩa gốc là việc trồng
trọt ở ngoài đồng và cũng dùng để chỉ nghĩa bóng là trồng trọt tình cảm hay nói cho thuần việt là giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người Nguồn gốc và nghĩa của
từ là vậy nhưng trong thực tiễn sử dụng, từ văn hóa được hiểu với nhiều nghĩa
khác nhau nên khi nghiên cứu về văn hóa người ta lại đưa ra nhiều khái niệm văn hóa khác nhau
Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học, văn hóa thường được hiểu theo nghĩa rộng và trở thành đối tượng nghiên cứu của văn hóa học Kể từ khi ra đời định nghĩa được coi là định nghĩa khoa học đầu tiên về văn hóa là của E B Tylor thì
từ đó tới nay, thế giới đã thống kê được rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, số lượng có thể lên đến cả 1000 định nghĩa văn hoá
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa tuỳ theo quan điểm riêng của mỗi người Văn hoá là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp nên việc đưa ra định nghĩa văn hoá cũng chỉ mang tính tương đối Trong khuôn khổ của luận văn, để phù hợp và thuận lợi cho vấn
đề mình đang tiếp cận, chúng tôi dựa theo định nghĩa văn hoá của Chu Xuân Diên Trong cuốn cơ sở văn hoá Việt Nam, Chu Xuân Diên đã nêu ra những định
nghĩa của các nhà khoa học và rút ra bốn nét nghĩa chủ yếu của văn hoá là: “1/
Văn hoá là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có 2/ Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần 3/ Thành tựu của những hoạt động sáng tạo
Trang 179
đó là các giá trị văn hoá; các giá trị văn hoá được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác bằng còn được giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng) 4/ Văn hoá của mỗi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác” [12,tr.8,9] Dựa vào định nghĩa
mà Chu Xuân Diên nêu trên, chúng tôi sẽ tiếp cận những cải cách của Hồ Quý Ly dưới góc nhìn của văn hoá học
“Mấy vấn đề trong nghiên cứu văn hóa học” đăng trên Học Báo “Đại Học Sự phạm Hoa Trung” Số 6 năm 1987, cũng cho rằng: “Ba hệ thống thành tố cơ bản
cấu thành của nó (Văn hóa) bao gồm văn hóa vật chất, văn hóa chế độ, và văn hóa tinh thần” [12, tr.47 – 58] Ở đây văn hóa chế độ được hiểu như là văn hóa
xã hội Việc phân định những thành tố văn hóa để nghiên cứu chỉ mang tính tương đối vì có những vấn đề chúng ta không thể phân định rạch ròi là vật chất, tinh thần hay xã hội Ví dụ như cuốn sách vốn là vật chất nhưng giá trị nó mang lại là tinh thần Tuy nhiên khi khảo sát chúng ta phải nhìn một cách toàn diện và đặt trong một chỉnh thể nhất định Vậy nên khi nghiên cứu những cải cách của
Hồ Quý Ly tiếp cận từ góc độ văn hoá học, chúng tôi dựa trên tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá Việt Nam Những cải cách của Hồ Quý Ly đã có những ảnh hưởng gì đến tiến trình lịch sử văn hoá Việt Nam Bên cạnh đó là đặt những cải cách của ông trong bối cảnh thời gian, không gian của văn hoá Đại Việt và chủ thể người Việt
1.1.3 Cải cách nhìn từ sử văn hóa
Cải cách
Trang 1810
Theo từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh, “Cải” (改) là sửa đổi, thay thế, biến đổi, sửa chữa…1 “Cách” (格) là tiêu chuẩn, cách thức, quy cách, làm cho
ngay thẳng, đúng đắn, làm cho người khác cảm phục…2 Theo từ điển Hoàng
Phê, “Cải cách” là sửa đổi căn bản về từng phần từng mặt của đời sống xã hội
theo hướng tiến bộ3
Chúng tôi hiểu “Cải cách” là thay đổi những phương thức hành động, những gì
đã sai hay không đạt yêu cầu để cho nó được hoàn thiện và tốt đẹp hơn Từ cải cách thường được phân biệt với từ cách mạng Cách mạng có nghĩa là thay đổi một cách cơ bản, triệt để còn cải cách chỉ là thay đổi những vấn đề cần thiết chứ chưa thay đổi cơ bản hệ thống Cách mạng mang tính toàn thể còn cải cách mang tính cụ thể
Sử văn hoá
Văn hóa học là một khoa học nghiên cứu liên ngành, văn hóa học có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học khác Một trong những hướng quan trọng của văn hóa học là nghiên cứu văn hóa từ góc độ thời gian4 Việc nghiên cứu văn hóa từ góc
độ thời gian chính là Sử văn hóa Việc nghiên cứu lịch sử dưới góc nhìn của văn hóa học giúp chúng ta nghiên cứu những đặc điểm có tính quy luật của quá trình hình thành và phát triển dân tộc (theo nghĩa hẹp) và của nhân loại (theo nghĩa rộng) theo chiều thời gian Văn hóa học trong quá trình hình thành và phát triển
để trở thành một khoa học độc lập, nó đã không ngừng tiếp thu và bao quát những kết quả và phương pháp nghiên cứu của sử học và ngược lại, văn hóa học cũng có những đóng góp quan trọng đối với sử học về góc nhìn, quan điểm và phương pháp nghiên cứu Sử học coi lịch sử là một dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và lấy toàn bộ sinh hoạt của xã hội loài người trong quá trình phát triển của nó làm đối tượng nghiên cứu Văn hóa học lại tiếp tục xem xét một cách
Trang 1911
bao quát hơn với những hệ thống giá trị Mỗi thời kỳ dân tộc đều mang đậm dấu tích văn hóa, không am hiểu lịch sử sẽ khó có thể am hiểu truyền thống văn hóa của một dân tộc Ngược lại không xuất phát từ hệ giá trị sẽ khó nắm bắt và lý giải các hiện tượng lịch sử cũng như quy luật vận động và phát triển của tiến trình lịch sử Văn hóa học có thể nghiên cứu văn hóa từ cách tiếp cận của sử học, góp phần làm sáng tỏ các hiện tượng văn hóa, những quy luật chung của tiến trình lịch sử của nhân loại5 Nói tóm lại, sử văn hóa chính là một hướng tiếp cận văn hoá theo chiều thời gian
Cải cách nhìn từ sử văn hóa là nghiên cứu những cải cách trong lịch sử qua hướng tiếp cận của người nghiên cứu văn hóa Cụ thể trong luận văn là chúng tôi tiếp cận những cải cách của Hồ Quý Ly trong lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn của văn hóa học
1.2.1 Đặc điểm bối cảnh khu vực
Qua lịch sử dựng nước và giữ nước, lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã đi qua biết bao nhiêu thăng trầm Thời gian Đại Việt vào đầu thế kỷ XIV, lãnh thổ Đại Việt
đã kéo dài tới vùng đèo Hải Vân ngày nay Đến khoảng giữa thế kỷ XIV trong khi nhà Trần (Đại Việt) lâm vào khủng hoảng và đất nước có dấu hiệu suy thoái thì các nước xung quanh lại dần đi vào thế ổn định và phát triển
Phía Bắc Đại Việt: Chu Nguyên Chương thành lập nhà Minh
Chu Nguyên Chương sau khi đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Nguyên đã lập ra nhà Minh và được coi là một triều đại có tổ chức xã hội ổn định nhất trong lịch sử phong kiến của nhân loại Sau khi thống nhất Trung Hoa, Minh Thái Tổ
đã tạo ra một xã hội tự cung tự cấp cho cộng đồng, cho xây dựng lại các cơ sở về nông nghiệp và cũng cố hệ thống giao thương buôn bán Hơn nữa, Minh Thái Tổ còn xây dựng một đội quân hùng mạnh được tổ chức chặt chẽ Tuy nhiên, sau khi Nguyên Chương mất, triều đình nhà Minh có một phen chao đảo với cuộc nội chiến đẫm máu giữa 2 chú cháu là Yên vương Chu Lệ và Chu Doãn Văn Sau khi Chu Lệ lật đổ được Doãn Văn lại tiếp tục cho sửa đổi một số chính sách của vua
5
[67, Tr 107 – 109]
Trang 2012
cha, xây dựng quân đội hùng mạnh Minh Thành Tổ là một trong những vị vua kiệt xuất của triều đại Minh cũng như của lịch sử phong kiến Trung Hoa Ông là một người văn võ song toàn, vũ dũng đa mưu nhưng cũng là vị vua tàn bạo và nghiêm khắc, đặc biệt là có tham vọng bành trướng Chính Chu Thành Tổ đã đem quân xâm lược nước ta khiến Hồ Quý Ly mất nước và Đại Việt phải lâm vào cảnh lầm than lệ thuộc trong vòng hơn 20 năm Đến khi khởi nghĩa Lam Sơn
do Lê Lợi lãnh đạo đã đánh đuổi được quân Minh ra khỏi đất nước (1428), lúc đó Đại Việt mới lấy lại được nền độc lập của mình
Phía Tây Đại Việt: Phà Ngừm thành lập quốc gia Lạng Xạng
Ở phía Tây Đại Việt là bộ tộc người Môn – Khmer, sử cũ thường chép là Lão Qua - là vùng nước Lào ngày nay Trước thế kỷ XIV, vùng đất này nằm dưới sự thống trị của quốc gia Nam Chiếu, một quốc gia của người Di, người Thái, thời gian từ cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, vùng đất này đang trong tình trạng xáo động vì sự di cư của người Thái Giữa đầu thế kỷ XIV, sự xuất hiện của một nhân vật kiệt hiệt là Phà Ngừm (1316 -1393) đã làm cho vùng đất này trở nên ổn định hơn Phà Ngừm đã nổi lên chiến đấu với các thế lực khác để thống nhất và lập nên một quốc gia mới mang tên Lạng Xạng vào năm 1354 Phà Ngừm đã tấn công tới vùng Viêng Chăn và dọc sông MêKông tới Nakhon Phanom - Thái Lan, Ông cũng đã từng tiến quân chinh phạt và quấy nhiễu biên giới phía Tây của Đại Việt Phà Ngừm cai trị đất nước của mình bằng hệ thống chính trị trung ương tập quyền mà ông đã tiếp thu từ Đế quốc Angkor Năm 1374 Phà Ngừm bị các quý tộc nổi dậy phế truất và bị đày đi lưu vong ở Muang Nan (Thái Lan) Người kế vị Phà Ngừm là con trai Samsenethai Samsenethai kế vị cha mình suốt từ năm
1374 đến năm 1416 Samsenethai kế thừa những thành quả của cha mình gây dựng và tiếp tục đưa đất nước Lạng Xạng đi vào ổn định phát triển thêm Tuy nhiên, trong thời gian này quan hệ giữa quốc gia Lạng Xạng và Đại Việt cũng không có vấn đề gì đặc biệt Nếu có chỉ là xảy ra những cuộc cướp bóc ở biên giới phía Tây nhưng sớm bị quan địa phương đánh đuổi
Trang 2113
Phía Nam Đại Việt: Chế Bồng Nga phát triển Chiêm Thành
Ở phía Nam, nước Chăm pa – Chiêm Thành là một quốc gia tồn tại trên mảnh đất hẹp ven biển miền Trung và nam Trung Bộ ngày nay Lịch sử quan hệ giao bang Chiêm Thành với Đại Việt cũng có nhiều lúc thăng trầm, lúc thì hòa bình, lúc thì chiến tranh Dưới thời Nhà Trần đã có nhiều cuộc chinh phạt và dẹp Chiêm thắng lợi, góp phần vào việc mở mang bờ cõi và ghi lại dấu ấn hào hùng cho hào khí Đông A Văn hóa ứng xử của Đại Việt đối với Chiêm Thành luôn mang tính chất hòa hiếu Từ thời Lý, chúng ta đã đặt mối quan hệ hữu hảo với Chiêm Thành Tuy nhiều lúc cũng xảy ra những biến cố nhưng nhìn chung vẫn yên ổn Dưới thời nhà Trần, người Đại Việt và Chiêm Thành đã hỗ trợ nhau chiến đấu để đánh đuổi quân Nguyên Tuy nhiều lúc cũng có những cuộc xung đột xảy ra nhưng với cách ứng xử khéo léo của quan quân nhà Trần, người Chiêm vẫn phục tùng và thường xuyên cống nộp cho Đại Việt Vua Trần đã có công mở rộng bờ cõi phía Nam một cách rất hòa hiếu bằng việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân để đổi lấy 2 Châu Ô Lý (vùng đất ngày nay là nam Quảng Trị, Thừa Thiên
và Bắc Quảng Nam)
Trong thời kỳ Hồ Quý Ly thì mối quan hệ giữa Đại Việt với Chiêm Thành cũng
đã diễn ra với nhiều sự kiện Sau khi vua Chiêm là Chế A Nan qua đời (1342) Đất nước Chiêm lâm vào cảnh tranh giành ngôi báu giữa con trai là Chế Mỗ và con rể là Trà Hoa Bố Đề Tuy nhiên, với sự ủng hộ của dân chúng, Trà Hoa Bố
Đề đã giành lợi thế, Chế Mỗ cầu viện Đại Việt nhưng thời kỳ này Đại Việt cũng
đã bắt đầu suy thoái, dù muốn giúp Chế Mỗ cũng đành bất lực Từ đây, quân Chiêm đã tỏ ra khinh thường thế lực của Đại Việt và thường quấy phá biên giới nước ta Đặc biệt, sự xuất hiện một nhân vật kiệt hiệt ở phía Nam nước ta là Chế Bồng Nga Sau Khi Bồng Nga lên kế vị thay cho Bố Đề (1360) đã tổ chức lại quân đội thành một đội hùng binh, sẵn sàng tấn công Đại Việt Trong 30 năm làm vua Chiêm (1360-1390), Bồng Nga đã 4 lần đánh chiếm kinh thành Thăng Long và nhiều lần cướp bóc, quấy rối, các vùng biên giới phía Nam đến cả vùng Thanh Hóa, Nghệ An… Chế Bồng Nga cũng chính là nhân vật xuất hiện song song với Hồ Quý Ly và trong các cuộc chiến đấu, cả 2 nhân vật này cũng đã
Trang 2214
chạm trán nhau nhiều lần Vào thời gian này, Đại Việt chủ yếu phải đối chọi với thế lực Chiêm Thành là chính Mãi tới năm 1390, khi Chế Bồng Nga một lần nữa đem quân đánh chiếm vào Đại Việt thì đã thảm bại và bị rơi đầu trong tay Trần Khát Chân Kể từ khi vua Bồng Nga chết trận, đất nước Chiêm Thành lại rơi vào
bế tắc Năm 1394, nhà Trần đã thu hồi lại đất châu Hóa Năm 1402, chúa Chiêm
Ba Đích lại dâng đất Chiêm Động (các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên, tỉnh Quảng - Nam Đà Nẵng ngày nay) cho nhà Hồ, Quý Ly bắt dâng
cả động Cổ Lũy (các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi ngày nay)6
Nói tóm lại, trong giai đoạn xuất hiện Hồ Quý Ly, tình hình các nước có biên giới với Đại Việt đã xảy ra nhiều biến động và để lại những dấu ấn lịch sử ở đất nước họ Sự xuất hiện của Hồ Quý Ly cùng thời với sự xuất hiện của 3 nhân vật khác ở 3 quốc gia láng giềng là Chu Nguyên Chương ở phía Bắc, Phà Ngừm ở phía Tây và Chế Bồng Nga ở phía Nam Chu Nguyên Chương đã trở thành vua khai quốc nhà Minh, Phà Ngừm đã thống nhất vùng đất của người Di, người Thái lập ra nước Lạng Xạng, Chế Bồng Nga đã phát triển Chiêm Thành ngày càng hùng mạnh Có thể nói, vào thời Hồ Quý Ly, bối cảnh khu vực đã bắt đầu đi vào thế ổn định Trong khi đó, ở trong nước, nhà Trần đã đi vào suy thoái, xã hội rối ren và sự xuất hiện của Hồ Quý Ly cũng là một sự kiện của lịch sử Đại Việt
1.2.2 Đặc điểm bối cảnh trong nước
Một trong những thời kỳ rực rỡ nhất của văn hóa Đại Việt là thời Lý - Trần Nhà
Lý với những minh quân như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông… nhà Trần với Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… đã làm cho Đại Việt trở nên hùng mạnh về chính trị, ổn định về xã hội, phát triển về kinh tế và đặc biệt tạo dựng cho Đại Việt một giai đoạn rực rỡ về văn hóa
Nhà Trần thay thế nhà Lý một cách hòa bình và tiếp tục có những bước tiến phát triển cao cho văn hóa Đại Việt Nhưng đến cuối đời Trần, cụ thể là từ thời Trần
Dụ Tông (1241- 1369), nhà Trần đã dần suy và Hồ Quý Ly xuất hiện vào thời
6
[29, tr 254]
Trang 2315
gian này Vào cuối nhà Trần, tầng lớp cầm quyền dần dần suy thoái, lôi kéo bè đảng, lộng quyền, bóc lột Nhân dân thì đói khổ, giặc trong giặc ngoài, cướp phá, quấy nhiễu khắp nơi, bên cạnh đó còn gặp nhiều thiên tai, địch họa… Nói tóm lại, vào cuối nhà Trần xã hội Đại Việt đã đi đến một cuộc khủng hoảng toàn diện
Tình hình giai cấp phong kiến cuối thời Trần
Cuộc khủng hoảng toàn diện cuối nhà Trần được bắt đầu từ sự khủng hoảng của tầng lớp cấp quyền với những ông vua thiếu sáng suốt và sự suy thoái, phân hóa của tầng lớp quý tộc, triều thần Thực tế, nhà Trần đã bắt đầu có mầm mống khủng hoảng từ thời vua Trần Minh Tông, dưới thời Minh Tông, nhà Trần đã bước qua giai đoạn hưng thịnh và có những mầm mống suy vi Minh Tông cũng
là một minh quân, nhưng cũng có những sai lầm Bên cạnh đó, việc tranh quyền ngôi báu của các vương tôn thì hầu như đời nào cũng có, kéo theo là các phe cánh để tranh giành quyền lực khiến triều chính có nhiều lúc rối ren, nhân tâm nghiêng ngã
Đến đời vua Dụ Tông, thì nhà Trần đã bắt đầu bộc lộ nhiều yếu kém Dụ Tông là ông vua sa đọa, truy lạc, rượu chè, cờ bạc, cho xây cung điện, đào hồ chơi, đắp núi giả… biến kinh thành thành một nơi ăn chơi, yến tiệc thường xuyên Sử ký
chép rõ: “ Từ năm Đại Trị về sau, (Dụ Tông) chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà
Trần suy yếu từ đó”7 Triều thần thì người liêm chính ít, kẻ siểm nịnh nhiều Vua lại không lo việc triều chính chỉ lo chơi bời, thông dâm với cả chị gái, nuông chiều những kẻ bất tài nên đất nước càng ngày càng trở nên hỗn loạn Vua chỉ theo trò dâm dật của Trâu Canh, theo lối ăn chơi của Bùi Khoan mà thưởng chức tước lại không theo những lời can gián của bậc trung thần như Chu Văn An nên
cơ đồ nhà Trần càng ngày càng lâm vào cảnh bi đát Sau khi Dụ Tông mất, nhà Trần suýt mất ngôi vì loạn phường chèo Dương Nhật Lễ Loạn Dương Nhật Lễ
được dẹp nhưng Nghệ Tông lại nhu nhược và yếu kém Nghệ Tông “…cung kính
kiệm ước có thừa mà cương nghị, quyết đoán lại không đủ, bên ngoài thì quân giặc xâm phạm kinh kỳ, bên trong thì gian thần ngấp nghé ngôi báu Xã tắc suy
7
[29, tr 160]
Trang 2416
mòn, rồi đến diệt vong”8 Nghệ Tông lên ngôi đồng thời với sự xuất hiện của nhân vật Hồ Quý Ly Nghệ Tông làm vua và cực kỳ tin tưởng Quý Ly nên mọi điều đều nghe theo lời Quý Ly hết và kể từ đây Hồ Quý Ly đã có vai trò quyết định mọi chính sự của triều Trần Những ông vua sau đó như Duệ Tông, Đế Hiện, Thuận Tông cũng không làm thay đổi được tình hình rồi ren của nhà Trần Những ông vua bù nhìn như Đế Hiện, Thuận Tông chỉ ngồi ngai vàng trên danh nghĩa thực chất quyền hành nắm trong tay Hồ Quý Ly nên mọi việc lớn nhỏ đều
do họ Hồ quyết định Càng về sau, quyền lực của họ Hồ càng được khuếch trương lớn mạnh
Nhà Trần cai trị nước ta suốt 174 năm (từ năm 1226 đến năm 1400) Trong đó
115 năm đầu có sáu đời vua, từ Thái Tông cho tới Hiến Tông được coi là giai đoạn thịnh trị của nhà Trần Giai đoạn này, nhà Trần đã 3 lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, góp phân xây dựng văn hóa Đại Việt đến đỉnh cao, làm rực rỡ cho lịch sử văn hóa dân tộc Tuy nhiên vào giai đoạn sau từ đời Trần Dụ Tông thì nhà Trần đã đi vào thoái trào Từ khi Dụ Tông mất, đến cuối đời Trần chỉ có 30 năm (1370 - 1400) mà ngôi vua thay đổi tới 5 lần (Nghệ Tông, Duệ Tông, Đế Hiện, Thuận Tông và Thiếu Đế) và một năm trước đó thì suýt bị mất ngôi về tay
họ Dương bởi Nhật Lễ Sự xuất hiện của Hồ Quý Ly đã làm cho vương triều Trần càng trở nên phức tạp và rối ren, sự chia phe, kết bè kéo cánh đã xảy ra giữa Quý Ly và tôn thất nhà Trần Những cuộc thanh trừng đã diễn ra liên miên làm cho lòng dân vô cùng xao động Nhà Trần chính thức bị lật đổ bởi họ Hồ vào
năm 1400 và Đại Việt đổi tên thành Đại Ngu(Chữ “Ngu” (虞) ở đây có nghĩa là
"sự yên vui, hòa bình", chứ không phải chữ “Ngu” (愚) có nghĩa là "ngu si")
Tình hình xã hội
Nhà Trần rút kinh nghiệm từ thời Lý để tránh loạn ngoại thích, nên chủ trương hôn nhân cùng họ Bên cạnh đó tôn thất nhà Trần thường được phong tước Vương, cấp đất theo vùng cho tự quản lý Đặc biệt vào tháng 10 năm Bính Dần (1266), với mục đích củng cố quyền lực cho họ Trần Thánh Tông đã xuống
8
[29, tr 185]
Trang 2517
chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không
có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang, lập thành điền trang Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy9 Việc làm này của vua Trần tuy ổn định được kinh tế nhưng lại mang đến hệ lụy về việc phân hóa các tầng lớp trong xã hội Sự
mở rộng và phát triển chế độ điền trang thái ấp sẽ kéo theo là sự phân hóa giàu nghèo, quyền lực kinh tế và thế lực chính trị của giai cấp cầm quyền thì được củng cố thêm, còn tầng lớp bần nông thì càng ngày càng bị áp bức bóc lột Vào đến cuối thời Trần tình hình phân hóa này càng trở nên nghiêm trọng Bởi lẽ, lúc này giai cấp cầm quyền không còn sáng suốt, anh minh như trước mà chỉ lo ăn chơi sa đọa, ức hiếp và bóc lột kẻ dưới, còn cuộc sống của nhân dân thì càng khó khăn, nạn đói cứ liên tục xảy ra, bần nông phải bán đất đai (nếu có), nhà cửa của mình để tồn tại Tầng lớp bị coi là thấp kém và bị bạc đãi nhất trong xã hội cuối Trần đó là nô tỳ Nô tỳ vào giai đoạn này nhiều vô số kể, giá trị của nô tỳ rẻ mạt,
có lúc một người chỉ đổi lấy được 1 quan tiền Nguồn gốc của những nô tỳ này cũng có nhiều, số thì vốn là dân lương thiện bị sa cơ lỡ vận, số thì do bị phạm tội,
tù binh bị bắt và những người nghèo tự bán thân mình hoặc người thân để làm nô
tỳ, con nô tỳ cũng trở thành nô tỳ Nô tỳ và con cháu cũng không được đi thi nghĩa là họ đã bị cắt đứt hy vọng để tiến thân Họ còn bị thích chữ để phân biệt nữa (đời Trần Dụ Tông) Nói chung xã hội vào cuối nhà Trần đã có sự phân hóa
rõ rệt giữa hai tầng lớp: Một là tầng lớp quý tộc, hào hữu, địa chủ nắm quyền lực kinh tế và thế lực chính trị, một là tầng lớp bần nông, nô tỳ bị bóc lột sức lao động và mất hết quyền tự chủ Đây cũng chính là nguyên dẫn đến sự xáo trộn trong xã hội và khắp nước diễn ra các cuộc khởi nghĩa, nỗi loạn để chống lại sự bất công đó
Phan Phu Tiên đã mô tả lại cảnh hỗn loạn của giặc giã cướp bóc vào cuối đời
Trần như sau: “Nhà Trần từ khi Dụ Tông hoang dâm, phóng túng lại thêm Chiêm
Thành xâm lược, quấy rối thì giặc cướp rất nhiều Chúng cướp của, bắt người giữa ban ngày, pháp luật không thể ngăn cấm được”10 Các cuộc nổi dậy của dân
9 [29, tr 44]
10
[29, tr 230]
Trang 2618
nghèo, gia nô, giặc giã, thổ phỉ được diễn ra thường xuyên và khắp nơi như Ngô
Bệ ở Yên Phụ (1344), tên Tề ở Lạng Giang, Nam Sách (1354) Nguyễn Bồ ở Bắc Giang (1379), Hồ Thuật ở Diễn Châu (1381), Nguyễn Thanh ở Lương Giang, Thanh Hoá (1389)… Đặc biệt là cuộc nổi dậy của Phạm Sư Ôn vào năm Kỷ Tỵ
1389 đã làm cho triều đình một trận khuynh đảo Phạm Sư Ôn vốn là một nhà sư
ở lộ Quốc Oai, ông được nhân dân hưởng ứng đông đảo Đội quân của ông đã vào tới kinh thành khiến Thuận Tông và Nghệ Hoàng phải bỏ kinh sư mà chạy về Bắc Giang Sự nổi dậy của nông dân, nô tỳ vào cuối đời Trần đã cho thấy sự cùng cực của nhân dân Họ nổi dậy tuy không mang lại kết quả nhưng đã nói lên được nổi thống khổ và sự bất mãn của mình với triều đình đến mức tột độ Trước tình hình đó, cần thiết phải có một sự thay đổi để nhân dân có thể sống hòa bình Khủng hoảng chính trị ở giai cấp cầm quyền chính là mầm mống cho sự hưng vong của một chế độ, cho sự tiến lùi của một đất nước và cho cả sự ấm no hay nghèo khổ của nhân dân Trong lúc giai cấp thống trị nhà nước đang bị suy thoái, vua thì bê tha, quan thì bỏ mặc vậy nên đời sống nhân dân thời Trần mạt đã phải chịu nhiều khổ sở Dưới các triều đại quân chủ phong kiến, thuế chính là nguồn thu chính để làm công quỹ cho quốc gia Ở nước ta, vốn là đất nước nông nghiệp cho nên thuế má chủ yếu là thuế nông nghiệp trong đó có hai sắc thuế cơ bản là thuế đinh và thuế điền Ruộng và người chính là hai nguồn tài nguyên để giai cấp thống trị dùng để cung cấp vào công quỹ Trước đây, theo như lệ cũ nhà Lý, nhà Trần vẫn thu thuế theo số ruộng được sở hữu của mỗi người, người nhiều ruộng thì thu nhiều, ít ruộng thì thu ít Nhưng vào thời Trần mạt, đặc biệt là thời Dụ Tông, những cuộc ăn chơi tác tráng của quan quân nhà Trần, những cuộc cướp bóc của thù trong giặc ngoài khiến ngân khố trống rỗng Nên năm 1378 Đỗ Tử Bình đã đề nghị áp dụng cách đánh thuế dung của nhà Đường, mỗi đinh nam mỗi năm phải nộp 3 quan tiền không phân biệt là có ruộng hay không Vậy là trong lúc cuộc sống nhân dân đang đói khổ, vừa phải chống chọi thiên tai, vừa phải chống chọi lại sự cướp bóc, đốt phá của cường hào, thổ phỉ và cả ngoại bang thì lại gánh thêm các khoản thuế Khiến tình hình trong nước càng trở nên rối loạn, nhân dân càng oán thán với triều đình và phải chịu nhiều cảnh lầm than
Trang 2719
Cảnh lầm than của nhân dân gây ra một phần ở chế độ và một phần còn do thiên nhiên Cuối thời Trần, đất nước còn phải chịu nhiều thiên tai như bão lụt, hán hạn gây ra mất mùa, bệnh dịch Đất nước lâm vào cảnh bão lụt xảy ra vào các năm Mậu Tý(1348), Tân Mão(1351), Nhâm Thìn(1352), Ất Mùi (1355), Kỷ Hợi (1359), Canh Tý (1360), Kỷ Dậu (1369), Mậu Ngọ(1378), Nhâm Tuất (1382), Canh Ngọ (1390), Quý Dậu (1393)… hạn hán xảy ra vào các năm Quý Mùi(1343), Giáp Thân(1344), Ất Dậu(1345), Mậu Tý(1348), Ất Mùi(1355), Mậu Tuất(1358), Nhâm Dần(1362), Giáp Dần(1374), Kỷ Mùi(1379), Quý Dậu(1393)11… Ngoài ra còn bị động đất, núi lở và sâu rầy dịch bệnh phá hoại mùa màng Việc để xảy ra thiên tai làm cho cuộc sống của nhân dân thêm khốn khó còn do triều chính hỗn loạn, không có thời gian và trách nhiệm lo cho dân chúng Chính vì vậy mà cuối thời Trần, nhân dân càng ngày càng có ác cảm với triều đình Thời Dụ Tông đã cho xây cung điện, đào ao hồ, đắp giả sơn đã tiêu tốn bao nhiêu là ngân khố và công sức của nhân dân Các vua khác thì cũng chỉ biết trốn chạy khi có giặc giã như Nghệ Tông hay cũng không màng đến thế sự như Thuận Tông thì nhân dân còn biết trông cậy vào ai? Khi họ Hồ lên cũng dời
đô, xây dựng cung điện mới, ở vùng cao hẻo lánh làm cho dân tình càng khốn khó, lòng dân ly tán và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cuộc chiến chống quân Minh của triều Hồ nhanh chóng thất bại
Quan hệ của Đại Việt với các nước làng giềng
Bên cạnh sự suy thoái trong giai cấp thống trị và cảnh lầm than của nhân dân thì bối cảnh Đại Việt giai đoạn này còn chịu sự uy hiếp từ lân bang Giai đoạn này nhìn chung các nước láng giềng của chúng ta đều đi vào thế ổn định và phát triển trong khi Đại Việt đang lâm vào thoái trào, thời hào hùng đã đi qua còn thời mạt vận thì đã tới Trong khi đó lân bang lại xuất hiện những anh hùng kiệt hiệt khiến đất nước họ trở nên hùng mạnh và uy hiếp Đại Việt Trong giai đoạn Trần mạt, Phà Ngừm đã thống nhất và lập nên đất nước Lạng Xạng (1354), tuy nhiên quốc gia Lạng Xạng không ảnh hưởng nhiều đến an ninh Đại Việt Vì thế, Đại Việt chủ yếu phải đối chọi với Trung Hoa và Chiêm Thành Về phía Trung Hoa, vào
11
[46, tr 30-31]
Trang 2820
giữa thế kỷ XIV xảy ra cuộc nội chiến giữa quân Nguyên Mông và người Hán nên không còn để ý đến chúng ta Nhưng sau khi đánh bại quân đội Nguyên Mông, năm 1368, Minh Thành Tổ Chu Nguyên Chương đã nắm được toàn cõi Trung Hoa thì cũng bắt đầu dóm ngó đất nước ta Tuy nhiên vào cuối đời Trần, việc giao thiệp với nhà Minh vẫn diễn ra tương đối hòa bình Nhà Minh thường cho sứ qua lại và yêu cầu cống phẩm nhưng cũng muốn dóm ngó tình hình để thực hiện ý đồ xâm lăng Sau này, khi Hồ đã thay Trần, Minh Thành Tổ lấy cớ
“Phù Trần diệt Hồ” mà xâm lược nước ta
Nước láng giềng có quan hệ nổi bật với Đại Việt trong giai đoạn Trần mạt chính
là Chiêm Thành Chiêm Thành sau khi Chế Bồng Nga lên ngôi (1360) thì Chiêm Thành trở nên hùng mạnh và táo bạo Cuộc chiến đấu giữa nhà Trần với Chế Bồng Nga kéo dài cho đến năm 1390 sau khi Chế Bồng Nga bị Trần Khát Chân tiêu diệt Trong 30 năm lãnh đạo Chiêm Thành, Chế Bồng Nga đã 4 lần vào cướp phá tận kinh đô Thăng Long và nhiều lần cướp phá, đốt nhà cửa, giết nam giới, bắt hiếp phụ nữ ở các vùng biên giới Sau khi Duệ Tông thua trận, bỏ xác tại đất Chiêm năm 1377 thì người Chiêm càng được thế và càng lấn át quan quân nhà Trần Trong khi đó, mỗi lần quân Chiêm vào cướp phá, đánh chiếm Thăng Long thì quan quân nhà Trần lại tới Đông Ngàn trốn vào hang núi khiến vua Chiêm lại càng kiêu căng ngạo mạn Đến trận cuối cùng người Chiêm muốn thôn tính Đại Việt bị Trần Khát Chân đánh bại và từ kể từ đó Chiêm Thành mới không còn là mối lo ngại của Đại Việt nữa
Tình hình Đại Việt trong giai đoạn này đang ở vào tình thế khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng từ nội chính đến đối ngoại, từ sự bế tắc của tầng lớp thống trị cho đến sự hỗn loạn trong đời sống nhân dân Dù sau đó, Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách rất nhiều nhưng cũng không thay đổi căn bản được tình thế
Như chúng ta đều biết, đặc biệt là chính sử đều coi Hồ Quý Ly là kẻ “loạn thần
tặc tử” kẻ cướp ngôi vua, còn triều Hồ do ông gây dựng chỉ là “Nhuận triều”
không được chép thành chính sử Triều Hồ tồn tại không lâu, lại bị mất nước vào tay nhà Minh, sau đó đất nước ta lại bị Minh thuộc 20 năm trời Tài liệu về họ Hồ
Trang 29133612 Còn năm mất của Hồ Quý Ly thì không thể phỏng đoán được vì năm
1407 Hồ Quy Ly cùng con cháu bị bắt và giải về Yên Kinh thì không còn tài liệu nào ghi chép lại nữa Nay chúng ta chỉ biết Hồ Quy Ly sống đến năm 1407 còn sau đó còn sống hay không thì chưa có tài liệu nào xác minh chính xác Theo sử
cũ thì Hồ Quý Ly có nguồn gốc dòng dõi vua Ngu Thuấn bên Trung Quốc, có viễn tổ là Hồ Hưng Dật là người Chiết Giang đời Hậu Hán và sang làm thái thú ở Diễn Châu Theo nhiều khảo cứu của các nhà nghiên cứu, trong đó có bài viết
“Nguồn gốc Hồ Quý Ly & Dòng họ Hồ” 13 của Trần Bá Chi thì Hồ Hưng Dật sang làm thái thú ở nước ta vào thời Hậu Ngô Vương, sau đó do loạn 12 sứ quân nên đã tìm nơi lánh nạn Nhưng rất tiếc là trong gia phả họ Hồ không ghi chép được từ đây cho đến năm 1325 Chỉ biết họ Hồ này đến đời Trần có 2 bộ phận lớn, một bộ phận giữ nguyên đất khởi nghiệp ở Diễn Châu (Nghệ An) Một bộ phận nữa dời ra đất Đại Lại ở Thanh Hóa và vị thủy tổ chính là Hồ Liêm và Hồ Quý Ly là đời thứ 4 của dòng này
Về thân thích của Hồ Quý Ly cũng không có tài liệu ghi rõ ràng, song thân là ai cũng không rõ (theo như tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, cha Hồ Quý Lý là
Lê Quốc Kỳ), còn mẹ là họ Phạm14 Chị em ruột thì chỉ biết chắc chắn có 1 người
12 Về năm sinh của Hồ Quý Ly chỉ có một chi tiết trong ĐVSKTT ghi là “Quý Ly thấy mình tuổi đã 70,
ban cho phụ lão các lộ từ 70 tuổi trở lên mỗi người hưởng tước 1 tư, đàn bà thì ban tiền…” Trang 264,
sđd, (ghi năm 1405) Có một chi tiết khác là bài thơ của Duệ Tông, khi Nghệ Tông nằm mộng có câu:
“Trung gian duy hữu xích chuỷ hầu, Ân cần tiếm thượng bạch kê lâu” Từ câu này có nhiều người cho
rằng, Quý Ly cầm tinh con khỉ, tuổi Thân Tuy nhiên nếu tuổi Thân thì phải là năm Nhâm Thân 1332
13
Trần Bá Chi, “Nguồn gốc Hồ Quý Ly và dòng họ Hồ” in trong Họ Hồ và Hồ Quý Ly trong lịch
sử, NXB Hồng Đức – Tạp chí Xưa và Nay, 2014.
14 Theo Đại việt sử ký toàn thư, sđd trang 251 Nhưng theo “Nam ông mộng lục” của Hồ Nguyên Trừng
thì ông ngoại của Hồ Quý Ly là Nguyễn Thánh Huấn vậy mẹ phải là họ Nguyễn (Thiên 28 Thi triệu dư khương)
Trang 3022
em tên Hồ Quý Tỳ, 1 người chị gái theo truyền miệng là tu luyện ở chùa Trần gần Vườn Hồ, nay thuộc làng Kim Liên, xã Hà Ngọc, Huyện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hóa15 Về vợ con của Hồ Quý Ly cũng không rõ là ông có bao nhiêu vợ
bao nhiêu con Theo Trần Bá Chi trong bài “Nguồn gốc Hồ Quý Ly và dòng họ
Hồ” thì con Hồ Quý Ly gồm: Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương, Hồ Triệt, Hồ
Uông, Thánh Ngâu16 , 2 con gái với bà Nguyễn Thị Dầm và có nhận con nuôi là Trần Đỗ Vốn là một quan đại thần, nắm trong tay nhiều quyền hành, rồi làm vua, làm thượng hoàng, chuyện nhiều thê thiếp là bình thường, không muốn nói
là đương nhiên của giai cấp quy tộc vua chúa phong kiến Nhưng theo ghi chép còn lại chúng ta có thể biết được ông có 4 bà vợ Người thứ nhất chính là nữ nhi
họ Phạm, mẹ của Hồ Nguyên Trừng Bà thứ 2, được nhắc đến nhiều nhất trong chính sử là công chúa Huy Ninh, em gái của vua Trần Nghệ Tông, sinh ra công chúa Thánh Ngâu và Hồ Hán Thương Người vợ thứ 3 của Hồ Quý Ly cũng được
chính sử chép lại đó là vợ của Thượng vị hầu Tung, mẹ của Trần Đỗ Khâm định
Việt sử thông giám cương mục chép: “Trần Đỗ là con của Thượng vị hầu Tung,
mẹ Đỗ cải giá lấy Quý Ly… về sau, Đỗ đổi theo họ Hồ” [40, tr652] Người vợ
thứ tư của Hồ Quý Ly được truyền giai thoại trong dân gian đó là bà Nguyễn Thị Dầm sinh được hai người con gái Bà này được phong là Bảo Long thánh mẫu và hoàng hậu đệ tam trinh tiết
15 [31, tr 61 – 62]
16 [31, tr 40]
Trang 3123
Hình 1: Biểu đồ mối quan hệ giữa Hồ Quý Ly và các vua nhà Trần: Tham khảo Phan
Đăng Thanh – Trương Thị Hoà trong công trình “Cải cách Hồ Quý Ly”, NXB Tổng hợp
TpHCM trang 62 -63
Trang 3224
Khi đề cập đến thân thế của Hồ Quy Ly, phải nhắc đến mối quan hệ của ông với các vua triều Trần Ông đã ở trong chính trường triều Trần với vị thế của kẻ ngoại thích Đây cũng chính là một mắt xích quan trọng ảnh hưởng đến con đường hoan lộ trong cuộc đời của ông Từ khi nhà Trần còn hưng thịnh, 2 người
cô của Quý Ly đã trở thành phi tử của Trần Minh Tông Sau khi được đưa vào triều đình, mối quan hệ của ông với các vị vua cuối thời Trần càng khăng khít khi Hiến Tông cũng là con của Minh Từ hoàng phi nên Hồ Quý Ly trở thành em bà con cô cậu của vua Với vua Nghệ Tông cũng từ mối quan hệ em bà cô con cậu rồi trở thành em rễ và sau đó là thông gia Đối với vua Duệ Tông, cũng từ mối quan hệ là em bà con cô cậu của vua, cũng là em rễ của vua, lại cũng là anh họ của vua vì Gia Từ Hoàng Hậu là em họ của Quý Ly Đối với vua Phế Đế, Quý Ly
là cậu họ, Còn đối với 2 vua cuối nhà trần là Thuận Tông thì Quý Ly là cha vợ của vua, còn Thiếu Đế thì là ông ngoại của vua bên cạnh đó còn với tư cách là Phụ Chính nên dần dần Hồ Quý Ly đã nắm trong tay quyền sinh sát và đó là điều kiện thuận lợi để chuyên quyền rồi giành lấy ngôi vua
Vì điều kiện tư liệu còn sót lại về đời tư của Hồ Qúy Ly không nhiều nên thông tin cũng không được cụ thể Tuy nhiên, với những gì thu thập được, chúng ta có thể thấy Hồ Quý Ly có một nguồn gốc lai lịch cũng thuộc dòng dõi trí thức Cộng với tư cách là quý tộc ngoại thích ông đã bước lên vũ đài chính trị một cách rất thuận lợi Đặc biệt, Quý Ly được nhiều người nhận xét là nhạy bén, táo bạo, khôn khéo Chính vì vậy, Hồ Quý Ly từ một người bình thường đã trở thành người nắm quyền lực cao nhất nước
1.3.2 Sự nghiệp chính trị
Với thân thế là cháu của 2 người cô được vua Minh Tông sủng ái, cộng thêm tài
ăn nói khôn khéo Hồ Quy Ly đã đặt chân vào triều Trần một cách khá dễ dàng Đặc biệt, từ khi Nghệ Tông lên ngôi, vua càng ngày càng tin dùng Quý Ly nên đã cho họ Hồ một sự nghiệp vẻ vang Trong bước đường hoan lộ, Quý Ly chỉ có thăng tiến chứ không có thụt lùi, mặc dù nhiều lần đã phạm sai lầm, mắc lỗi, như đánh giặc thua trận, trốn về giữa chừng, sự nghiệp của Hồ Quý Ly vẫn thăng tiến như diều gặp gió Hồ Quý Ly bắt đầu sự nghiệp từ năm 1370 với chức Chi hậu tứ
Trang 3325
cục Chánh chưởng17, sau đó lên làm Khu mật đại sứ18
Chỉ 5 tháng sau khi được làm Khu mật viện đại sứ, còn được gia phong tước Trung Tuyên Quốc thượng hầu19 Tháng giêng năm Ất Mão (1375), Quý Ly được cử kiêm chức Tham mưu Quân sự Vậy là từ đó, với vai trò này, Hồ Quý Ly có toàn quyền quyết đinh việc quân, sắp xếp các thứ vị võ quan và chỉ huy từ các tôn thất trở xuống Tháng 2 năm Kỷ Mùi (1379)20, Quý Ly được gia phong làm Tiểu Tư không kiêm chức Xu mật đại sứ Một năm sau lại chuyên lãnh chức Nguyên nhung hành Hải Tây21 đô thống chế Tháng 3 năm Đinh Mão (1387), Quý Ly được cử làm Đồng binh chương sự, tương đương với Tể Tướng Vị thế của Quý Ly càng ngày càng được nâng cao, có tai mắt mọi nơi để nắm rõ tình thế và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu lật đổ mình của bất cứ thế lực nào Tháng 4 năm Ất Hợi (1395), Quý Ly được phong làm Nhập nội phụ chính thái sư bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên Trung vệ quốc đại vương, đeo lân phù vàng Xuống chiếu cho Quý Ly được ở bên hà hữu sảnh Quý Ly còn ban lệnh ra xưng là Phụ chính cai giáo Hoàng Đế, bắt vua Thuận Tông dời cả kinh đô về Thanh Hoá Tới đây sự nghiệp của Hồ Quý Ly coi như chỉ dưới một người trên danh nghĩa nhưng thực tế thì mọi quyền hành trong nước đã nằm gọn trong tay Hồ Quý Ly rồi Ngày 15 tháng
3 năm Mậu Dần (1398), Hồ Quý Ly bức Thuận Tông nhường ngôi cho Hoàng Thái tử An sau đó không lâu giết chết Thái tử An lên ngôi, Quý Ly tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương, bản văn thì để Trung thư thượng thư sảnh phụng nhiếp chính cai giáo hoàng đế thánh chỉ Một năm sau, giết Trần Hãng, Trần Khát Chân và hơn 370 người trong cuộc họp thề ở Đốn Sơn
17
Chức quan chỉ huy 4 chi hậu, một thứ quân cấm vệ (Chức này Theo Nguyễn Danh Phiệt, “Hồ Quý Ly
trong 30 năm cuối thế kỷ XIV”, in trong: Họ Hồ và Hồ Quý Ly trong lịch sử, trang 124 Phan Đăng Thanh
- Trương Thi Hòa trong Cải cách Hồ Quý Ly trang 56 Còn trong chính sử ĐVSKTT và KĐVSTGCM
không ghi)
18 Chức quan quan lãnh cấm quân cho Khu mật viện, được tham dự việc triều chính
19 Tước Hầu coi như trở thành giai cấp quý tộc cao cấp của triều đình, chỉ đứng sau cấp Vương
20 Khâm Định Việt sử thông giám cương mục ghi tháng giêng
21 Hải Tây: là vùng đất chạy dài từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa
Trang 3426
Tháng 6 năm năm Kỷ Mão (1399), Quý Ly tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng, mặc áo màu bồ hoàng, ở cung nhân thọ, ra vào theo lệ Thái tử, dùng 12 chiếc lọng vàng Cho con trai là Hán Thương làm nhiếp thái Phó, Nguyên Trừng làm
tư đồ Bản văn thì để Phụng Nhiếp Chính Quốc Tổ Chương Hoàng
Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400) Hồ Quý Ly bức vua nhường ngôi nhưng buộc người tôn thất và các quan ba lần dâng biểu khuyên lên ngôi mới chịu Quý
Ly làm vua, đặt niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu và chính thức đổi thành họ Hồ, lập nên nhà Hồ Chưa được một năm, theo cách nhà Trần, Hồ Quý
Ly nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương, làm Thái Thượng hoàng nhưng vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc
Năm 1406, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ", nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh
mang 20 vạn quân sang đánh Đại Ngu Quân nhà Hồ đáp trả yếu ớt và thất bại nhanh chóng Đầu năm 1407, sau một vài trận phản công thất bại, Hồ Quý Ly và
Hồ Hán Thương đem theo các thuộc hạ chạy ra biển nhưng sau đó Quân Minh tiếp tục đuổi theo đến vùng Hà Tĩnh ngày nay Đến ngày 11 tháng 5 cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt và dẫn về Yên Kinh Có thuyết nói ông bị nhà Minh sát hại khi sang Trung Quốc, có giả thuyết lại nói ông bị đày làm lính ở Quảng Tây và mất sau đó vài năm
Sự nghiệp của Hồ Quý Ly ngoài là một võ tướng đạt được quyền cao chức trọng thì ông còn là một văn nhân Sau khi xin thôi không giữ binh quyền (năm Kỷ Tị, 1389), Hồ Quý Ly đã viết nhiều tài liệu văn chương Tuy hiện nay, sự nghiệp thơ văn của ông chỉ còn lại mấy bài thơ nhưng qua sử cũ chúng ta thấy được sự nghiệp thơ văn của ông cũng khá đồ sộ Đương nhiên, nếu như những tác phẩm còn thì thật tốt biết bao cho giới nghiên cứu, vì đó chính là tư liệu quý để nghiên cứu sâu hơn, chính xác hơn về con người họ Hồ Tác phẩm của Hồ Quý Ly gồm
14 thiên Minh Đạo, nói về đạo Nho, viết sách phê bình về Luận Ngữ, dịch thiên
Vô Dật ra chữ Quốc ngữ để dạy vua và một số bài thơ Tuy nhiên, nhắc đến sự
nghiệp của Hồ Quý Ly thì không thể không nhắc đến sự nghiệp cải cách của Ông Chính điều này đã làm nên nhân vật Hồ Quý Ly trong lịch sử Việt Nam
Trang 3527
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn như đã trình bày, với hướng tiếp cận vấn đề nhìn
từ sử văn hoá Đồng thời nêu lên những đặc điểm bối cảnh lịch sử khu vực và Đại Việt thời Hồ Quý Ly và thân thế sự nghiệp của nhân vật lịch sử văn hoá này
sẽ giúp chúng tôi có những nhận định khách quan hơn về những quan điểm và của cách của ông trong thời gian văn hoá Đại Việt Trên nền tảng đó, chúng tôi bắt đầu khảo sát những cải cách của Hồ Quý Ly trên các bình diện văn hoá tinh thần - xã hội và văn hoá vật chất
Trang 3628
CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA
TINH THẦN VÀ XÃ HỘI
Dựa trên những cải cách của Hồ Quý Ly trong lịch sử, chúng tôi phân chia thành
3 thành tố cơ bản dưới góc tiếp cận của văn hoá học là văn hoá tinh thần, văn hoá vật chất và văn hoá xã hội Xin nói thêm để phù hợp với hướng tiếp cận thực hiện
đề tài nên chúng tôi phân chia những cải cách của Hồ Quý Ly dựa trên câu trúc này và muốn nhấn mạnh rằng đây chỉ là một sự phân chia có tính tương đối Ở chương 2 này, để luận văn có sự cân chỉnh về hình thức chúng tôi gộp văn hoá tinh thần và xã hội thành một chương Cụ thể chúng tôi sẽ đi sâu phân tích những cải cách của Hồ Quý Ly trên bình diện tư tưởng và xã hội
2.1.1 Về Nho giáo
Nhìn lại tiến trình lịch sử phát triển của Nho giáo Việt Nam, chúng ta thấy rằng Nho giáo đã có sự chuyển biến rất lớn vào đầu thế kỷ XV Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo từ Trung Quốc qua hai giai đoạn đó là bị cưỡng bức bởi vó ngựa xâm lăng từ thời Bắc thuộc và tự nguyện tiếp nhận từ thời văn hoá Đại Việt Thời nhà Lý năm 1076, cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám để thờ Chu Công, Khổng Tử, đánh dấu một bước ngoặt cho sự tiếp nhận một cách tự nguyện của Nho giáo vào Việt Nam Mặc dù đã được người Việt tiếp nhận một cách tự nguyện, nhưng khoảng thời gian từ Lý tới Trần, Nho Giáo vẫn chưa phải là một tôn giáo chính thống để cai trị và tổ chức xã hội Nho giáo chỉ được lưu hành ở tầng lớp cầm quyền và quan lại, còn trong nhân dân thì người dân vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Từ thế kỷ XV, Nhà Lê mới bắt đầu tôn Nho giáo lên làm quốc giáo và dùng Nho giáo để cai trị đất nước, giáo hoá xã hội Hồ Quý Ly xuất hiện vào giai đoạn chuyển giao bước ngoặt này vậy nên ít nhiều ông cũng có những ảnh hưởng tới Nho giáo Việt Nam Hồ Quý Ly là một trong những nhà Nho Việt Nam có những ý kiến thảo luận sớm nhất về Nho giáo kể từ sau độc lập22 Quan điểm của ông cũng khác với các Nho sĩ đương thời Việc nghiên cứu
22
[112]
Trang 3729
về tư tưởng Nho giáo của Hồ Quý Ly gặp khó khăn vì nguồn tư liệu ít ỏi, hầu hết những tác phẩm nói lên tư tưởng về Nho gia của ông đã bị thất truyền như sách
Minh Đạo, sách Quốc Nghĩa thi tập, bài dịch thiên Vô Dật và cả thơ văn của ông
nữa… Những ghi chép còn lại hiện nay là từ chính sử như Đại Việt Sử Ký toàn
thư hay Khâm định Việt sử thông giám cương mục Tuy nhiên, với vài dòng trong
những tư liệu này, chúng ta vẫn có thể hình dung về tư tưởng Nho gia của Hồ Quý Ly Đặc biệt là những điểm mới mẻ và khác biệt của ông khi đưa ra quan điểm về Nho giáo Ông coi Nho giáo là một thành tố trong tư tưởng cải cách và hơn thế nữa lại là một tư tưởng tiền đề để thực hiện những cải cách của mình Ngoài ra, đây cũng là cách Hồ Quý Ly đề cao tinh thần độc lập tự chủ và đề cao
văn hóa dân tộc qua thể hiện qua việc làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa 23 và dịch
thiên Vô Dật ra chữ Nôm Trước hết, Hồ Quý Ly đã bất tuân truyền thống khi chê bai Khổng Tử và các tiên Nho Quý Ly “Cho Chu Công 24 là tiên thánh, Khổng tử 25 là tiên sư, …Cho Hàn Dũ 26 là đạo nho, cho bọn Chu Mậu Thúc 27 , Trình Di 28 , Dương Thì 29
, La Trọng Tố 30 , Lý Diên Bình 31 , Chu Tử 32 , tuy học rộng
23 Quốc ngữ Thi nghĩa: là giải thích Kinh Thi bằng quốc ngữ, là dịch Kinh Thi ra chữ Nôm
24 Chu Công: tức Chu Công Đán, con Văn Vương, người định ra quan chế, lễ nhạc và giúp Vũ Thành
Vương xây dựng nhà Chu hùng mạnh
25
Khổng Tử: tên là Khâu, tự Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu, được coi là ông tổ của Nho gia
26 Hàn Dũ: tên tự là Thoái Chi, tên khác là Hàn Xương Lê, người Nam Dương, là một danh nho đời
Đường
27 Chu Mậu Thúc: tên tự là Chu Đôn Di, đời Tống, hiệu Liên Khê tiên sinh, soạn Thái cực đồ và sách
Thông thư, được coi là ông tổ của phái Lý học
28 Trình Di: hiệu là Chính Thúc, có anh trai là Trình Hiệu, 2 anh em đều là học trò của Chu Đôn Di, san
định lại sách Tính lý và thuyết Thái cực đồ, làm truyện cho kinh Dịch và kinh Xuân Thu
29 Dương Thì: tên tự là Trung Lập, hiệu là Quy Sơn tiên sinh, học trò của Trình Di
30 La Trọng Tố: tên khác là La Tùng Ngạn, hiệu là Dự Chương tiên sinh, học trò của Dương Thì
31 Lý Diên Bình: tên khác là Lý Đồng, hiệu là Diên Bình tiên sinh, là học trò của Lý Diên Bình
32 Chu Tử: tức là Chu Hy, là học trò của Lý Diên Bình, tên tự là Nguyên Hối, sau là Trọng Hối, là người
có công tập đại thành của phái Lý học đời Tống
Trang 3830
nhưng ít tài, không sát với sự việc, chỉ thạo cóp nhặt…”33
Suy cho cùng những lời lẽ này là do các nhà Nho đương thời ghi chép lại và không thể không có chút cảm tính của người ghi Việc làm này của Hồ Quý Ly đã đi ngược lại với quan điểm của các Nho sĩ đương thời và trở thành một việc làm nói như Ngô Sĩ Liên
là “…không biết lượng sức mình”34, hay như Ngô Thì Sĩ là “…người mù chê mặt
trời, mặt trăng không có ánh sáng” 35 Tuy nhiên, Hồ Quý Ly nói vậy không phải
không có lý Khi nói về việc làm này của Hồ Quý Ly trong Khâm định Việt sử
thông giám cương mục có lời phê rằng: “Chưa phải đã hoàn toàn sai”36 Thực ra xét về mục đích của việc làm này, rõ ràng chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy, mục đích lớn nhất của Hồ Quý Ly đó chính là mục đích chính trị Ví như việc đưa Chu Công lên làm tiên thánh là để ví mình với Chu Công, coi trọng Chu Công, coi trọng người sáng lập nên những cái mới Chu Công là người có công dựng nên cơ nghiệp nhà Chu và đặc biệt là hết lòng phò Tá Chu Thành Vương xây dựng nhà Chu ngày càng hưng thịnh mà không hề màng đến danh lợi địa vị chí tôn Đặc biệt, Chu Công là người đã tạo ra những trật tự và lễ nghi cho vương
triều nhà Chu được thịnh trị Việc dịch thiên Vô Dật của Hồ Quý Ly cũng nhằm
ý học theo Chu Công Ông ngầm cho rằng các công việc cải cách, sắp đặt lại điển chương chế độ của mình đang làm là noi theo việc chế lễ tác nhạc của Chu Công vậy Việc nâng cao Chu Công cũng chính là nâng cao vị thế chính bản thân mình của Hồ Quý Ly
So sánh với Vương Mãng37 đời Hán thì việc làm Hồ Quý Ly cũng khá tương đồng Khi Vương Mãng tiếm ngôi đã lập tức đề cao cổ văn, bài xích kim văn và cho rằng Chu Công mới là tác giả chân chính của kinh điển, là người chế ra lễ
37 Vương Mãng: Sinh năm 45 TCN, mất năm 23 SCN Là vị hoàng đế duy nhất của nhà Tân trong lịch sử
Trung Quốc, Từ vai trò ngoại thích trong triều nhà Hán, Vương Mãng đã dần dần thao túng triều chính và cướp ngôi nhà Hán (năm thứ 8 SCN)
Trang 3931
nhạc chân chính Việc đưa ra những lời chê bai những bậc Nho gia nổi tiếng là những kẻ học rộng nhưng ít tài, không sát sự việc, chỉ giỏi việc cóp nhặt Hồ Quý Ly muốn nâng cao sự sáng tạo, sự khác biệt, sự hơn người của chính bản thân, ông đề cao thực tiễn hành động hơn là lý thuyết suông Ông dám phá bỏ những nguyên tắc truyền thống để thể hiện những mục đích táo bạo trên vũ đài chính trị Quan điểm này cũng có những tương đồng với tư tưởng của Vương An Thạch (1021-1086) đời Tống,Trung Hoa Vương An Thạch trước đó đã từng bài xích lối học huấn hỗ và chú sở của tiên Nho Ông cũng là một nhà cải cách nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, muốn thay đổi những cách nhìn cũ kỹ, không sát với thực tiễn, phản kháng lại những giá trị mà ông cho là đã lỗi thời, mong muốn xây dựng một xã hội mới phát triển hơn
Tư tưởng và việc làm của Hồ Quý Ly tạo nên một bước ngoặt trong sự phát triển
và biến chuyển của Nho giáo Việt Nam Khi đã có ý định thay đổi cải tổ thì trước hết phải xuất phát từ thay đổi tư tưởng Hồ Quý Ly đã làm như vậy Ông đã chỉ
ra những điều không phù hợp trong cả một hệ thống tư tưởng vốn là khuôn vàng thước ngọc của tiền nhân Việc thay đổi này là nhằm để tạo tiền đề cho những cải
tổ về tất cả mọi mặt để đạt được mục đích chính trị cuối cùng của Hồ Quý Ly Việc đưa ra tư tưởng mới này dù với mục đích gì, được tán thành hay phản đối,
dù thành công hay thất bại thì nhìn trên phương diện lịch sử văn hoá, Hồ Quý
Ly“… bước đầu đã xây dựng được mô hình Nho giáo Đại Việt”38 Trong tư tưởng Nho giáo của Hồ Quý Ly, chúng ta thấy được ý thức văn hoá về tư tưởng độc lập tự chủ của ông Hồ Quý Ly học theo Nho giáo nhưng ông đã không học theo một cách máy móc Qua Nho giáo ông thể hiện ý thực độc lập tự chủ của mình như việc ông dịch những cuốn sách kinh điển của Nho gia như dịch giải
nghĩa Kinh Thi và thiên Vô Dật sang chữ Nôm để dạy học cho vua chúa quý tộc
phong kiến Việc làm của Hồ Quý Ly đã tạo thêm màu sắc cho bức tranh Nho giáo Việt Nam Hồ Quý Ly trở thành người tiên phong cho một luồng tư tưởng mới dưới những ảnh hưởng trực tiếp của Nho giáo Điều này có thể đã là một cống hiến của ông cho đời sau Thực tế thì chúng ta phải công nhận một điều, Hồ
38
[100]
Trang 4032
Quý Ly là một Nho sĩ, mà không chỉ là một Nho sĩ bình thường mà là một bậc danh Nho Ông học, hiểu, biết nhiều về Nho giáo và bàn luận về Nho Ngoài ra, ông cũng có sự sắc sảo nhạy bén mới đưa ra những quan điểm khác biệt như vậy Cuối thời nhà Trần, nhiều Nho sĩ cũng đã bàn về Nho giáo nhưng Hồ Quý Ly là nhân vật mở đầu cho một bước ngoặt của Nho giáo Việt Nam Mục đích của Hồ Quý Ly chưa hẳn là bài bác Nho giáo, đặc biệt là Tống Nho vì ông vốn là nhà
Nho, học và làm theo Nho Tuy nhiên, dù là một Nho sỹ, nhưng ông không hề đi
theo khuôn mẫu của Nho gia, đặc biệt là không tôn sùng Tống Nho một cách mù
quáng Như đánh giá của tác giả Bùi Duy Tân: “Tuy học theo Nho gia, nhưng
cũng như Chu An, ông không thúc mình trong khuôn khổ của Nho gia qua sách
vở Tống Nho Chính vì một tinh thần hoài nghi, một đầu óc tìm tòi sáng tạo táo bạo đó của ông đã làm cho nhiều thế hệ nhà Nho phải sửng sốt bàng hoàng” 39
Có thể mục đích mà Hồ Quý Ly làm như vậy là để thể hiện tài năng chính trị trong thời cuộc rối ren và dùng tư tưởng đó để thực hiện những cải cách của mình Chúng ta phải thực tế nhận ra rằng, Hồ Quý Ly đã tìm cách để giải thích đạo Nho theo tư tưởng riêng, cũng như phê phán bài bác các tiên Nho một cách
“trắng trợn” Nhưng mặt khác ông cũng tích cực vận dụng những cách thức, quy
tắc của Nho gia để cai trị đất nước Hồ Quý Ly trước và sau khi lên ngôi vua vẫn lựa chọn Nho giáo để bồi dưỡng nhân tài bằng các khoa thi Danh Nho Nguyễn Trãi chính là một trong những người xuất hiện dưới thời nhà Hồ Tư tưởng đổi mới Nho giáo của Hồ Quý Ly không chỉ nhằm mục đích cải cách mà còn là thể hiện sự lòng tự tôn dân tộc Nếu như những tác phẩm mà Hồ Quý Ly viết ra không bị thất truyền thì có lẽ chúng ta đã có thêm cơ sở để nhận định một cách
cụ thể và khách quan hơn về những tư tưởng Nho giáo của Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly đã có vai trò trong việc cố gắng xây dựng một mô hình Nho giáo Đại Việt và có ảnh hưởng đến đời sau Nho giáo Việt Nam đã trải một quá trình du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc cho đến khi chúng ta chủ động tiếp nhận Đó
là cả một quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá linh hoạt Thời kỳ đất nước độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, trải qua hai triều đại Lý - Trần, Nho giáo đã có
39
[71]