Đề cập đến sự trình diễn chầu văn từ góc độ văn học và văn hoá dân gian để khẳng định đó là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc thuần Việt, với sự phối kết nhuần nhuyễn giữa âm nhạ
Trang 1Nghiên cứu Chầu văn dưới góc độ văn hoá và
văn học dân gian Phạm Thị Thu Loan
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn ThS Chuyên ngành: Văn học dân gian; Mã số 60 22 01 25
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Chí Quế
Năm bảo vệ: 2013
Abstract Lí giải trên cơ sở khoa học những đặc sắc nghệ thuật Chầu văn từ góc nhìn
của văn hoá và văn học dân gian tạo nên sức sống mãnh liệt và bền bỉ của nó trong lịch sử, đặc biệt là khả năng tự tái tạo và mở rộng không gian sống của Chầu Văn Khẳng định vẻ đẹp của các bản văn trong nghệ thuật Chầu văn từ góc độ nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt là hệ thống các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu cũng như sự độc đáo về nghệ thuật ngôn từ Đề cập đến sự trình diễn chầu văn từ góc độ văn học
và văn hoá dân gian để khẳng định đó là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc thuần Việt, với sự phối kết nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, lời văn, vũ đạo, trang phục và các nghi lễ trong một không gian vừa thiêng vừa tục, thấm đẫm chất Folklore cần được gìn giữ và bảo tồn Kế thừa những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước góp phần khẳng định được bản chất văn hoá và khoa học của Chầu văn, nhất là
sự kết hợp của nhiều hình thức nghệ thuật trong trình diễn Chầu văn, khẳng định vị trí quan trọng xứng đáng của Chầu văn trong bản sắc văn hoá và văn học dân tộc Góp phần gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu khả năng bảo tồn toàn bộ bản thể con người
trong nghệ thuật chầu văn, mối liên hệ của Chầu văn và văn học Hậu hiện đại
Keywords Văn học dân gian; Văn hóa dân gian; Hát chầu văn
Content
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học dân gian cần được coi là một chuyên ngành đặc biệt quan trọng không chỉ riêng bởi vấn đề hiện nay văn học dân gian Việt Nam chưa có nhiều thành tựu trong sưu tầm nghiên cứu và giải mã các hiện tượng văn hóa và văn học mà còn bởi sợi tơ muôn màu của
nó vẫn lan tỏa đầy ám ảnh trong đời sống tâm thức người Việt hôm nay, chi phối đời sống thực tại vừa như một ẩn ức tập thể của quá khứ xa xưa vừa như cái nôi cho mỗi tâm hồn khao khát quay về tắm táp và tiếp nối vào linh mạch dân tộc Từ bao đời nay, Hát Văn – một tồn tại nguyên vẹn của vốn quí dân gian người Việt từ khởi thủy, cùng với rất nhiều thể loại nghệ thuật dân dã đã trầm tích vào phong hóa đất nước, ngày càng được đánh giá như một loại hình văn hóa – sinh hoạt tâm linh đặc sắc, có ảnh hưởng sâu đậm tới diện mạo của văn hóa
và văn học dân tộc cùng sức sống tiềm ẩn và khả năng thích nghi tuyệt vời để không chỉ hội nhập với tinh thần hiện đại mà còn góp phần gìn giữ vẻ đẹp và không gian văn hóa truyền
thống, khơi gợi và định hình các mảng sắc màu văn hóa “Nghiên cứu Chầu văn dưới góc
độ văn hóa và văn học dân gian” là sự lựa chọn cẩn trọng của người viết Trước hết đề tài
này xuất phát chính từ lòng trân trọng một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống thuần Việt độc đáo, nhưng đang bị pha tạp, cần được bảo vệ giữ gìn Bên cạnh đó là mong muốn khám phá được vẻ đẹp của các bài Văn chầu, nhất là khi nó được phối kết cùng âm nhạc, vũ đạo trang phục và các nghi lễ thiêng Chầu văn là mảng đặc sắc riêng biệt nhưng rất đặc trưng cho cái tinh túy của phong vị dân gian, lưu giữ mạch sống của tâm hồn dân tộc, tiềm tàng sức mạnh tinh thần to lớn và bền bỉ, là bản chất nội sinh của cội nguồn văn hóa cộng đồng, lại có khả năng thích nghi và vươn tới tầm thời đại Người Việt vốn coi trọng tự nhiên Niềm tin thiêng liêng mình là một phần của tự nhiên và quá khứ, tổ tiên và thần thánh luôn đi bên cạnh thực tại đời sống như một vô thức cố định hình thành nền tảng tâm linh và tinh thần dân tộc Ngày nay hầu hết những người Việt dùng xe hơi, nhà lầu cao đẹp hơn cả phủ Mẫu, nghiên cứu tầu ngầm, tên lửa, máy bay, tham gia chinh phục biển khơi, vũ trụ… Nhưng cũng chính những con người đầy bản lĩnh thời đại ấy vẫn tham gia nhiệt liệt vào các sinh hoạt tín ngưỡng, niệm Phật, cầu siêu, thiền định, xin lộc ấn đức Thánh Trần hay lui tới dự các buổi hầu đồng, thờ Mẫu, nghe ca xướng hát chầu mà chẳng hề lấy đó làm phẫn nộ, tức cười, phi lí
Họ vẫn có thể lễ lạy, cùng đám đông sì sụp xin ơn thánh ơn Mẫu, dù không mê tín thì cũng xuất phát từ tâm lí cầu an, cầu phúc, tri ơn tiên tổ, uống nước lặng nghĩ tới nguồn Người ta gọi đó là “vô thức cộng đồng” tiềm tàng trong các “cổ mẫu”, “cổ tượng”, “linh tượng” tồn tại
Trang 3tiếp biến qua các lễ nghi, khuôn mẫu ứng xử xã hội và nghệ thuật như một „di truyền văn hóa”
Theo những khái quát hóa của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh trong “Tục thờ Mẫu
và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam”: trừu tượng hóa là con đường để tín
ngưỡng phát triển lên thành tôn giáo Tín ngưỡng Việt Nam trên con đường khái quát hóa, lại
có xu hướng bổ sung tính sinh động, cụ thể Chầu văn là biểu hiện sinh động và có hệ thống nhất cho sự “cụ thể hóa” của đạo Tam phủ và Tứ phủ, linh thiêng mà “gắn với muôn mặt đời thường và gần gụi với mọi con người bình thường”, đáp ứng được đầy đủ mọi ước vọng của cuộc sống bấp bênh, gian khó Hơn ở đâu hết, Chầu văn với âm nhạc, nghi lễ và lời hát chầu
đã “kéo Đạo Mẫu về gần hơn với đời sống.” Điều đó thúc đẩy tính thiết thực cho mọi sự tìm tòi, nghiên cứu Chầu văn và Đạo mẫu để tìm ra được các hằng số tâm linh người Việt Tính cấp thiết của đề tài thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, với khoa học nghiên cứu: Việc sưu tầm và nghiên cứu các thể loại âm nhạc
cổ truyền của người Việt là một đóng góp khoa học quan trọng vào công việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể của dân tộc Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung Còn nhiều vấn đề về mặt âm nhạc, hệ thống bài bản các khối lượng tư liệu của loại hình Hát văn chưa được chú ý tới để bao giá trị đích thực của tiền nhân để lại cho đời sau phải được giữ gìn Từ góc độ văn hóa- văn học dân gian nghiên cứu sự phong phú và đặc sắc của Chầu văn và các bản Văn chầu với các đặc trưng thi pháp, phong cách và tư duy ngôn ngữ riêng là điều mà các nhà nghiên cứu chưa chú trọng để làm giàu có nền lí luận văn học dân gian dưới
sự hỗ trợ đắc lực của bộ phận chuyên biệt là khảo cứu sưu tầm
Thứ hai, về thái độ của công chúng và các nhà quản lí với Chầu văn: Trải qua những mài mòn, gạn lọc và bức chế của lịch sử, ngay cả khi môi trường diễn xướng Chầu văn được trả lại thì với sự lộn xộn, đua đú, bừa bãi của “thị trường sân khấu” hiện nay khiến cho cái vốn liếng vô giá, những giá trị truyền thống lâu đời của Hát văn đang bị tiêu diệt Các nhà quản lí văn hóa đang cực kì lúng túng trong hành xử với thể loại nghệ thuật này để cho nó chậm mai một trước hiện trạng “mỗi cung văn tài năng cỡ mấy cũng chỉ nắm được một mảnh giá trị Chầu văn” để chờ đợi tàn phai, rơi rụng Sự thẩm định với những chuẩn mực nhà nghề khi các nghệ nhân lão thành cuối cùng ra đi mà chưa kịp trao truyền lại cho các thế hệ sau thì chẳng bao lâu Chầu văn có thể lại “mồ côi” như hát Xẩm Với giới trẻ- “ông chủ” của nền văn hóa tương lai, không phải tất cả nhưng cũng không phải số ít các bạn trẻ thờ ơ với truyền thống bởi họ đã có quá nhiều hình thức thư giãn, giải trí; nếu họ không có khả năng tìm thấy
ở truyền thống điều gì thiết thân, lí thú thì truyền thống chỉ còn thuần túy là di sản Toàn bộ
Trang 4mạch ý thức dân tộc có thể bị phá vỡ hoặc cắt đứt nếu những bộ môn nghệ thuật đặc sắc, có khả năng thu hút công chúng trong mục đích hữu ích cho đời sống cá nhân mà vẫn cộng hưởng được với giá trị của lịch sử, quá khứ của dân tộc, lí tưởng sống của cha ông như Chầu văn không được ghi nhận, khám phá và định hướng đúng
Thứ ba, tính cấp thiết của đề tài được đặt ra từ chính thực tế tồn tại của Chầu văn trong đời sống đương đại Trong vòng hai năm trở lại đây, nhiều tỉnh thành khu vực miền Bắc nước ta đã tổ chức nhiều Hội thảo về Hát Văn và Diễn xướng Hầu đồng nhưng những giá trị nghệ thuật vô cùng độc đáo cùng với ý nghĩa văn hóa, lịch sử của Chầu văn thì chưa được chú ý đúng mức Mới nhìn vào, ai cũng có thể lầm tưởng các hoạt động xã hội rầm rộ
đó là một sự đề xướng và phát triển Chầu văn Nhưng những người đã từng theo sát mọi thăng trầm của nó, thực sự muốn có một sự trường tồn thì hiểu ngay đó chưa hẳn đã là báo hiệu của ngày mai huy hoàng mà có thể chính là cái bẫy của thời gian khiến Chầu văn phải thu hẹp và suy tàn khi thả cửa và pha loãng nó vào môi trường đầy rẫy những tùy tiện, nông cạn, thiếu khắt khe và trân trọng của xã hội hiện đại Đưa Chầu văn đến với công chúng và phổ biến các giá trị của nó trong xã hội hiện đại là điều đúng đắn Nhưng cái cách mà Chầu văn sẽ tồn tại như thế nào giữa cuộc sống xô bồ và bận rộn này mới là điều đáng bận tâm Tháng 1-2013, “Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định” được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và địa phương này cũng được chọn làm đại diện để lập hồ sơ khoa học đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại đề nghị UNESCO công nhận Điều ấy không chỉ là niềm vui của những người con Mẫu khi người Mẹ tinh thần của họ tìm được sự tôn vinh xứng đáng, mà còn trực tiếp khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn mà loại hình này mang lại cho sự phong phú và độc đáo có một không hai của diện mạo văn hóa tâm linh dân tộc, khơi động khát vọng vừa quay lại cội nguồn vừa tìm con đường thích ứng với thế giới hiện đại để trường tồn bất diệt
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các bài Văn chầu trong nghệ thuật Hát văn với tư cách là tác phẩm văn học dân gian hoàn chỉnh và đặc sắc phản chiếu đời sống tâm thức người Việt
2.2.2 Nghiên cứu tác phẩm Văn Chầu trong không gian trình diễn của sân khấu hầu đồng thờ Thánh thờ Mẫu Cụ thể là: sự kết hợp uyển chuyển của lời Văn Chầu- trong tư cách
Trang 5của tác phẩm văn học dân gian- với âm nhạc và các yếu tố nghi lễ làm nên một không gian Chầu văn đặc biệt sống động, độc đáo
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu các bản văn gắn liền với âm nhạc Chầu văn dùng trong các giá văn, gắn liền với tục lên đồng thờ tứ phủ đã khai sinh và tồn tại lâu đời ở đồng bằng Bắc bộ Đó là những bản văn có giá trị do các nhà nghiên cứu dân gian sưu tầm, chỉnh lí hoặc
do các nghệ nhân, cung văn còn lưu giữ và diễn xướng Các bản Văn chầu trên tách biệt hoàn toàn với các bản văn và âm nhạc được sử dụng trong các nghi lễ Hầu đồng ở Miền Trung và Miền Nam- vốn là hiện tượng giao thoa và cộng hưởng văn hóa, tín ngưỡng; các truyện thơ
và các truyền thuyết về các thánh như: “Liễu Hạnh công chúa diễn âm‟ của Nguyễn Công trứ, “Tiên phả dịch lục” dài 776 câu của Kiều Oánh Mậu, “Vân cát thần nữ cổ lục‟ 732 câu của tác giả khuyết danh hay các bản giáng bút đề thơ của các Thánh Mẫu khuyên răn, dạy bảo người đời
Thứ hai, luận văn nghiên cứu không gian vừa thiêng vừa tục rất đặc sắc trong trình diễn Chầu văn và mối quan hệ mật thiết của lời Văn Chầu với các hình thức nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, trang phục, các qui tắc nghi lễ hầu bóng, hát thờ…
Thứ ba, so sánh sự thu hẹp dần không gian sống của hầu hết các loại hình nghệ thuật dân gian khác như hát xoan, hát ví, ca trù, quan họ, hát xẩm… với sức sống và sự lan tỏa mãnh liệt chứng tỏ khả năng thích nghi và vị trí quan trọng của Chầu văn trong nhịp sống đương đại
3 Mục đích nghiên cứu
Góp thêm tiếng nói khẳng định bản chất văn hóa và khoa học của nghệ thuật hát văn trong sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân để đi tới nhận định: Chầu văn không phải là một tồn nghi về sự mê tín, hỗn tạp, vụn vặt như những mảnh vụn của văn hóa dân gian, mà là một nghệ thuật độc đáo thuần Việt với những qui tắc, tính hệ thống và vẻ đẹp riêng biệt Khẳng định vị thế của Chầu văn như một loại hình nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc đậm đà bản sắc dân tộc cả ở góc độ văn hóa và văn học dân gian, tôi hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
- Thứ nhất, luận văn lí giải trên cơ sở khoa học những đặc sắc nghệ thuật Chầu văn từ góc nhìn của văn hóa và văn học dân gian tạo nên sức sống mãnh liệt và bền bỉ của nó trong lịch sử, đặc biệt là khả năng tự tái tạo và mở rộng không gian sống của Chầu Văn
Trang 6- Thứ hai, luận văn khẳng định vẻ đẹp của các bản văn trong nghệ thuật Chầu văn từ góc độ nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt là hệ thống các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu cũng như sự độc đáo về nghệ thuật ngôn từ
- Thứ ba, luận văn đề cập đến sự trình diễn Chầu văn từ góc độ văn hóa- văn học dân gian để khẳng định đó là một loại hình nghệ thuật dân gian thuần Việt, với sự phối kết nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, lời văn, vũ đạo, trang phục và các nghi lễ trong một không gian vừa thiêng vừa tục, thấm đẫm chất Folklore cần được gìn giữ và bảo tồn
Đạt được những mục tiêu kể trên, đề tài cũng có những đóng góp nhất định, đó là luận văn vừa kế thừa những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước góp phần khẳng định được bản chất văn hóa và khoa học của Chầu văn, nhất là sự kết hợp của nhiều hình thức nghệ thuật trong diễn xướng Chầu văn, khẳng định vị trí quan trọng xứng đáng của Chầu văn trong bản sắc văn hóa và văn học dân tộc Kết quả của Luận văn ít nhiều góp phần gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu khả năng bảo tồn toàn bộ bản thể con người trong nghệ thuật Chầu văn Thêm nữa, những điểm hạn chế của đề tài, thiết nghĩ, cũng có thể tạo hứng thú cho những ai cùng có mối quan tâm đến vấn đề này
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp cấu trúc- loại hình
- Phương pháp phân tích liên ngành
- Phương pháp văn hóa học
Trong các phương pháp nghiên cứu trên tôi lấy phương pháp điền dã, nghiên cứu, đi thực tế, khảo sát, miêu tả và nhận định làm phương pháp chủ đạo Nguyên lý chủ đạo của phương pháp điền dã đảm bảo tính khách quan và khoa học khi phân tích lí giải các hiện tượng văn hóa văn học dân gian mà không cần tách nó ra khỏi môi trường sinh hoạt tức là không tước mất đi sự sống linh hồn của nó Thứ nhất tôi chú trọng nghiên cứu cấu trúc thi pháp của các bản Văn chầu trong tư cách một văn bản thuộc về văn học dân gian, chú trọng tinh lọc những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của những văn bản có giá trị nghệ thuật cao, kể cả những tác phẩm được phóng tác, cải biên bởi những nghệ nhân hát Chầu văn gạo cội Thứ hai, để tìm hiểu diện mạo đời sống đích thực của Văn học dân gian qua Văn chầu
Trang 7người viết phải nghiên cứu sự sử dụng văn bản Văn chầu từ các hình thức hiện tồn của tác phẩm trong cuộc sống, tức là không gian trình diễn Chầu văn để thấy được vẻ đẹp tự nhiên
và những tác dụng thiết thực của nó đối với cuộc sống và văn học Những khoảnh khắc thăng hoa của trình diễn Chầu văn, vai trò cá nhân của các cung văn trong việc thể hiện cái hồn của Văn chầu tạo nên các biến thể sinh động từ đời sống hình thành sức sống cho thể loại này Kết hợp với phương pháp hình thức và văn hóa học, xu hướng nghiên cứu này giúp ta thấy được tầm quan trọng của việc: không được phép tước bỏ yếu tố thiêng liêng trong không gian trình diễn Chầu văn của các bản văn để bắt cho được các đặc trưng thẩm mĩ, bản chất các diễn ngôn văn học dân gian; mặt khác, xác lập được các nguyên tắc, các hệ thống thao tác văn bản hóa tác phẩm một cách chuẩn xác, cũng như hiểu sâu hơn ý nghĩa của việc văn bản hóa tác phẩm một cách khoa học
5 Cấu trúc luận văn
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ CỦA BÀI VĂN CHẦU TRONG NGHỆ THUẬT CHẦU VĂN
DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
CHƯƠNG 3: DIỄN XƯỚNG CHẦU VĂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC
DÂN GIAN
Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thị An (1992), Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện về Liễu
Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm, Tạp chí văn học
2 Trần Lâm Biền, Sơ lược về bước đi của Đạo mẫu trong lịch sử Việt Nam, Tạp chí văn
học
3 Trần Lâm Biền (1990), Xung quanh tín ngưỡng dân dã - Mẫu Liễu và điện thờ, Tạp
chí Văn hóa Nghệ thuật
4 Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Phong trào Văn hoá, Sài Gòn, 1974
5 Nguyễn Tân Chiêu (1934), Sách dạy chầu văn Trần Chiều hiển thánh H Impr Thái
Sơn
Trang 86 Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã
hội
7 Chu Xuân Diên (1981), Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian, Tạp chí Văn
học, Hà Nội, tr.19-26
8 Mai Thị Hạnh (2009), Tính trội của yếu tố nữ trong hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng Việt
Nam, http://vns.hnue.edu.vn
9 Nguyễn Thừa Hỉ (2011), Văn hóa Việt Nam truyền thống, một góc nhìn, NBX Thông
tin và Truyền thông
10 Trịnh Quang Khanh (2001), Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức loài người nói chung,
người Việt Nam nói riêng và lễ hội Phủ Giầy, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4
11 Đinh Gia Khánh (1992), Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt
Nam, Tạp chí Văn học số 5
12 Vũ Ngọc Khánh (1996), Đề tài chúa Liễu quan Floklore xứ Lạng, Tạp chí Văn học số
11
13 Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh (1990), Tứ Bất Tử (Bốn vị thánh bất tử), NXB Văn
hóa Dân tộc, H
14 Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà (2002), Nữ thần và Thánh Mẫu Việt
Nam, NXB Thanh niên, H
15 Lã Duy Lan (1992), Liễu Hạnh trong Vân Cát thần nữ và Liễu Hạnh trong tâm thức
dân gian, Tạp chí Văn học, số 5
16 Dương Đình Lộc (2013), Những bài hát văn chọn lọc Chầu văn Việt Nam - những bản
văn chầu mới nhất - NXB Văn hoá Thông tin, H
17 Đặng Văn Lung (1992), Thử tìm hiểu cách xây dựng hình tượng Mẫu Liễu, Tạp chí
Văn học số 5, tr.24
18 Đặng Văn Lung (1995), Mẫu Liễu đời và đạo, NXB Văn hoá Dân tộc, H
19 Đặng Văn Lung, (1999), Tam Tòa thánh Mẫu, NXB Văn hóa Dân tộc, H
20 Đặng Văn Lung (2003), Văn hóa Thánh Mẫu, NXB Văn hóa Dân tộc
21 Đinh Gia Khánh (1987), Văn hóa: truyền thống và cách tân, Tạp chí Văn hóa dân
gian, Hà Nội
22 Đinh Gia Khánh (1994), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội
23 Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh (1990), Tứ bất tử, NXB Văn hóa
24 Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo (1997), Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam,
NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
Trang 925 Phạm Quỳnh Phương (2011), Theo bước chân của Vân Cát Thần nữ, Tạp chí Văn hóa
dân gian, Số 4, tr 44-52
26 Lê Chí Quế (2001), Văn hóa dân gian - Khảo sát và nghiên cứu, NXB ĐHQG Hà Nội,
H
27 Nguyễn Minh San (1993), Bước đầu tìm hiểu đặc trưng của điện thờ Mẫu, Tạp chí
Văn hóa Nghệ thuật, số 3
28 Tô Ngọc Thanh (1979), Mấy ý kiến về đặc trưng nguyên hợp trong nghiên cứu
Folklore, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, Hà nội, tr 19-24
29 Tô Ngọc Thanh (1983), Vài nét về vấn đề Folklore trên thế giới ngày nay, Tạp chí Văn
hóa Dân gian, Hà Nội, tr 53- 55
30 Bùi Đình Thảo (1996), Hát chầu văn, NXB Âm nhạc
31 Nguyễn Phương Thảo (1994), Văn hóa dân gian Nam Bộ - Những phác thảo, NXB
Giáo dục, H
32 Trần Ngọc Thêm (2006), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh
33 Ngô Đức Thịnh (1992), Hát văn, NXB Văn hóa dân tộc
34 Ngô Đức Thịnh (1991), Hát văn và nghi thức hầu bóng là hiện tượng văn hóa dân gian
tổng thể, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 3+4
35 Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật, Phạm Văn Ty, Tô Đông Hải (1992), Hát văn, Nxb
Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
36 Ngô Đức Thịnh (1992), Tục thờ mẫu Liễu Hạnh- một sinh hoạt tín ngưỡng- văn hóa
cộng đồng, Tạp chí Văn học, số 5
37 Ngô Đức Thịnh (1999), Đạo Mẫu- từ nhận thực đến thực tiễn, Tạp chí Văn hóa Nghệ
thuật, số 1
38 Ngô Đức Thịnh (2001),Nhận thức về đạo Mẫu và một số hình thức Shaman của các
dân tộc nước ta, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4
39 Ngô Đức Thịnh (2001), Đạo Mẫu: Một trăm bài hát văn NXB Khoa học xã hội
40 Ngô Đức Thịnh (2000), Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận, NXB Thế
giới
41 Ngô Đức Thịnh (2000), Đạo Mẫu ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội
42 Ngô Đức Thịnh- Prochaschan đồng chủ biên (2005), Văn hóa dân gian- những công
trình cơ bản, NXB Khoa học Xã hội
43 Hồ Đức Thọ , 2001, Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa- lễ hội, NXB
Thế giới
Trang 1044 Nguyễn Hữu Thông (2011), Tín ngƣỡng thờ mẫu ở miền trung Việt Nam, Phân viện
Nghiên cứu tại Thành phố Huế, NXB Thuận Hóa
45 Phạm Trọng Toàn ( 2002), Bước đầu tìm hiểu về văn hóa hát văn, Tạp chí Văn hóa
Nghệ thuật, số 12
46 Phạm Thị Trâm ( 2002), Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của một số nhà
văn hiện đại, Luận án Tiến sĩ, Đại học KHXH và NV Hà Nội
47 Chu Quang Trứ (1997), Lễ hội và tâm linh người Việt, Tạp chí Văn hóa Dân gian
48 Nguyễn Hùng Vĩ (1994), “Bản sắc dân tộc như là sự vận động”, Tạp chí Văn học, Hà
Nội
49 Trần Quốc Vượng (1986), Lễ hội, một cái nhìn tổng thể, Tạp chí Văn hóa Dân gian,
Hà Nội
50 Trần Quốc Vượng, Nguyễn Chí Bền, Tô Ngọc Thanh (2000), Cơ sở văn hóa Việt
Nam, NXB Giáo dục
51 Nguyễn Văn Xuyên (2001), Lễ hội Phủ Giầy và việc quản lí lễ hội trên địa bàn tỉnh
Nam định, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 4
52 Daomauvietnam.com.vn