Trong đó, các học giả tập trung nghiên cứu chủ yếu về diễn biến lịch sử của các phong trào đấu tranh theo từng mốc lịch sử, những cuộc cải cách trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-o -
BÙI THỊ TƠ
PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN QUYỀN
Ở TRUNG QUỐC CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU XX
TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-o -
BÙI THỊ TƠ
PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN QUYỀN
Ở TRUNG QUỐC CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU XX
TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
Chuyên ngành: CHÂU Á HỌC
Mã số: 15.08.25
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS HOÀNG VĂN VIỆT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
1.1 Ý nghĩa khoa học 8
1.2 Ý nghĩa thực tiễn 9
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 11
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của luận văn 13
6 Bố cục 13
Chương I: VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC 16
I Khái niệm văn hóa chính trị 16
1 Một số cách định nghĩa phạm trù “văn hóa chính trị” ở phương Tây 16
2 Một số cách định nghĩa phạm trù “văn hóa chính trị” ở phương Đông 23
II Đặc điểm và chức năng của văn hóa chính trị 25
1 Đặc điểm văn hóa chính trị 25
2 Chức năng văn hóa chính trị 26
III Văn hóa chính trị Trung Quốc 27
1 Văn hóa chính trị truyền thống 27
1.1 Nội dung nổi bật của Văn hóa chính trị truyền thống Trung Quốc là sự sùng bái cá nhân, thần thánh hóa các lãnh tụ chính trị 28
1.2 Chủ nghĩa gia trưởng, gia đình trị đã ngự trị lâu đời trong lịch sử chính trị Trung Quốc 30
Trang 41.3 Mối quan hệ đẳng cấp "Bầu chủ và Người phụ thuộc" (Patron –
Client) đã bao trùm mọi quan hệ trong xã hội một thời gian dài 32
1.4 Chủ nghĩa quốc gia dân tộc cực đoan: thời kỳ đại Hán bành trướng 32 2 Văn hóa chính trị hiện đại 33
2.1 Dân chủ 33
2.2 Dân quyền 36
3 Cơ sở hình thành 38
3.1 Điều kiện địa lý tự nhiên và dân cư 38
3.2 Tôn giáo và các tín ngưỡng dân gian 41
3.2.1 Tín ngưỡng dân gian 41
3.2.2 Tư tưởng và tôn giáo 44
3.2.2.1 Nho giáo 44
3.2.2.2 Phật giáo 49
3.2.2.3 Hồi giáo – Thanh Chân giáo 55
4 Tiểu kết 57
Chương II: NHÂN TỐ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN QUYỀN Ở TRUNG QUỐC CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 59
I Nhân tố bên ngoài 59
1 Tình hình thế giới 59
2 Các cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc của chủ nghĩa đế quốc 62
2.1 Chiến tranh Trung – Anh (từ 1840 – 1842) - “Chiến tranh thuốc phiện” 62
2.2 Chiến tranh Trung – Pháp (1885) 67
2.3 Chiến tranh Trung – Nhật (1894) – “Chiến tranh Giáp Ngọ” 68
Trang 53 Tiểu kết 69
II Nhân tố bên trong 70
1 Tình hình chính trị 70
2 Tình hình kinh tế - xã hội 71
2.1 Thương nghiệp trong nước 71
2.2 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản – công trường thủ công 72
2.2 Sự xâm nhập và nô dịch Trung Quốc của tư bản nước ngoài 75
3 Tiểu kết 77
Chương III: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG PHONG TRÀO DÂN CHỦ DÂN QUYỀN 79
I Xuất hiện tư tưởng dân chủ trong xã hội Trung Quốc thời kì cận đại 79
1 Sự tiếp thu tư tưởng dân chủ phương Tây của người Trung Quốc thời kỳ cận đại 79 2 Từ nhận thức đến sự lựa chọn của người Trung Quốc đối với học thuyết dân chủ phương Tây 80
II Lực lượng tham gia 89
1 Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của quần chúng nông dân trong các phong trào đấu tranh chống phong kiến và đế quốc 89
2 Sự phát triển đi lên của lực lượng tư sản dân tộc từ phong trào Duy tân Mậu Tuất đến cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 91
2.1 Giai cấp tư sản dân tộc trong phong trào Duy tân Mậu Tuất 91
2.2 Tôn Trung Sơn và cuộc cách mạng dân chủ tư sản năm 1911 100
2.2.1 Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Tam dân 100
2.2.2 Cách mạng Tân Hợi 1911 103
3 Tiểu kết 106
Trang 6III Tổ chức hoạt động phong trào 108
1 Chính sách về một xã hội không tưởng và sự phân hóa trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào khởi nghĩa nông dân 108
2 Chủ trương cải cách tiến bộ của các nhà Duy Tân Trung Quốc cuối thế kỷ XIX 110 3 Sai lầm về đường lối chính trị của lãnh đạo cách mạng Tân Hợi 113
4 Tiểu kết 116
IV Các hoạt động chính trị đều núp dưới vỏ bọc tôn giáo 117
V Ảnh hưởng của phong trào dân chủ dân quyền 119
1 Tác động của nó đối với ý thức dân chủ, dân quyền của nhân dân 119
2 Ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế, văn hóa - giáo dục 121
2.1 Chính trị 121
2.2 Kinh tế 122
2.3 Văn hóa – giáo dục 122
3 Hạn chế 123
4 Tiểu kết 123
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
A Tài liệu bằng tiếng Việt 129
B Tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Pháp 132
C Tài liệu bằng tiếng Trung (dịch hoặc phiên âm sang tiếng Việt) 132
D Một số trang Web tham khảo 136
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phong trào dân chủ dân quyền ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX mang tính tất yếu trong quá trình vận động lịch sử và trở thành cao trào chung của thế giới, do có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản (CNTB) thông qua các cuộc phát kiến địa lý, thám hiểm vào thế kỷ XVI, bằng con đường truyền đạo hay chinh phục vũ trang của các nước đế quốc tư bản phương Tây đối với các nước châu Á vào cuối thế kỷ XIX nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm và nguồn nguyên vật liệu, sức lao động, xuất khẩu tư bản và đầu tư khai thác thuộc địa luôn đem lại siêu lợi nhuận cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn Vì vậy, phương Đông chính là điểm đến đầy tiềm năng và hứa hẹn đối với các nước tư bản Âu, Mĩ Điều đó có tác động rất lớn và làm thay đổi toàn diện xã hội phương Đông về mọi mặt trong đời sống xã hội
Trung Quốc là một đất nước lớn, sự khủng hoảng của triều đình Mãn Thanh và sự xâm lược của CNTB đã làm giấy lên phong trào dân chủ dân quyền vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XX ở đất nước này Lãnh đạo phong trào là những trí thức, nhà Nho yêu nước đại diện cho tầng lớp trung lưu, tiểu tư sản trong xã hội chứ không phải đại diện cho một xã hội cần lao, nên khi thất bại, phong trào dễ bị sụp đổ, tan rã Mặc dù các phong trào nổ ra đều thất bại do lực lượng phong trào còn non yếu, đường lối, chủ trương lãnh đạo chưa đúng đắn, chưa có khả tập hợp sức mạnh đại đoàn kết của cả dân tộc và quá đề cao, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân Tuy nhiên, mỗi cuộc đấu tranh cách mạng qua đi, nó đều đánh dấu một nấc thang cao hơn trong lịch sử và cuộc cách mạng Tân Hợi không thắng thế, nhưng đã giáng một đòn chí mạng vào xã hội phong kiến Trung Quốc, vĩnh viễn xoá bỏ chế độ quân chủ phong kiến, mở đầu một giai đoạn lịch sử Trung Hoa dân quốc, và "thức tỉnh" về ý thức dân chủ, dân tộc của nhân dân Trung Quốc Điều đó có ý nghĩa to lớn trong tiến trình lịch sử phát
Trang 8triển đi lên của Trung Quốc và có ảnh hưởng quan trọng tới phong trào cách mạng ở các nước châu Á sau này
Cho đến nay, việc nghiên cứu về các phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã đạt được những thành tựu to lớn Trong đó, các học giả tập trung nghiên cứu chủ yếu về diễn biến lịch sử của các phong trào đấu tranh theo từng mốc lịch sử, những cuộc cải cách trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, quân đội,… Vấn đề tự do dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc cũng xuất hiện trong quá trình cải cách, nhưng xét từ khía cạnh văn hoá chính trị cho đến nay chưa thấy đề cập đến Trong một số giáo trình "Lịch sử cận đại thế giới", "Lịch sử cận đại Trung Quốc", "Nghiên cứu Trung Quốc",… các học giả có đề cập đến các phong trào dân chủ, dân quyền nhưng chưa sâu sắc cụ thể Các nhà nghiên cứu còn chưa mấy lưu tâm đến cách tiếp cận từ những lý luận về văn hoá chính trị, tư do dân chủ, dân quyền,… mà chỉ đi vào miêu tả phong trào dân chủ, dân quyền và đánh giá sức ảnh hưởng của phong trào dân chủ, dân quyền lên xã hội Trung Quốc cận đại
Vì thế, trong khi nghiên cứu về các phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc mà không xét từ khía cạnh văn hoá chính trị sẽ là một thiếu sót rất lớn Đây cũng chính là lý do tại sao tôi đã quyết định lựa chọn vấn đề này làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mong muốn làm sáng tỏ những kiến thức còn thiếu hụt trong tiến trình lịch sử Trung Quốc
1.1 Ý nghĩa khoa học
Tìm hiểu vấn đề dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc thông qua quá trình cải cách của các phong trào cách mạng xét từ góc độ văn hoá chính trị cho thấy tính hợp quy luật của mối quan hệ kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng Đây vừa là vấn đề lý luận, vừa là vấn đề lịch sử của tiến trình vận động, phát triển đi lên của lịch sử xã hội Trung Quốc Trong xã hội phong kiến thời Mãn Thanh, đã chứng kiến sự phát triển của nền kinh tế tư bản, trong khi kiến trúc thượng tầng vẫn duy trì theo nền hành chính phong kiến lạc hậu Do đó, nhu cầu bức thiết lúc này là phải thay đổi kiến trúc thượng tầng sao cho phù hợp với cơ sở hạ tầng
Trang 9Tức là, phải xoá bỏ vĩnh viễn chế độ quân chủ phong kiến Trung Quốc đã tồn tại
hàng mấy nghìn năm và thay vào đó là chế độ chính trị công bằng, dân chủ hơn
Do vậy, đề tài có ý nghĩa khoa học nhất định trong việc chứng minh và khẳng định tính chất quy luật của quá trình vận động, phát triển đi lên của xã hội Nó cho thấy những nhân tố phù hợp với sự vận động của thời đại và yêu cầu của lịch sử sẽ tồn tại và phát triển phổ biến rộng rãi Ngược lại, những nhân tố lạc hậu, lỗi thời sẽ bị thời đại vượt qua Việc xoá bỏ vĩnh viễn chế độ quân chủ phong kiến và mở đầu một giai đoạn lịch sử Trung Hoa dân quốc, mang tính dân chủ, cởi mở hơn là yêu cầu hợp quy luật, nằm trong chuỗi tiến hoá của thời đại
Nó khẳng định thêm tính đúng đắn của học thuyết Marx – Lênin khi đưa ra lý luận về sự phù hợp giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Phong trào dân chủ dân quyền ở Trung Quốc thất bại Tuy nhiên, nó là động lực căn bản thúc đẩy sự phá sản nhanh chóng của chế độ quân chủ phong kiến, mở đầu giai đoạn lịch sử Trung Hoa Trung Hoa dân quốc Đó là ý nghĩa thời đại của cách mạng Tân Hợi
Vì sao phong trào dân chủ, dân quyền ấy lại thất bại, bởi những căn nguyên sâu xa của nó và chúng ta phải xét từ góc độ văn hoá chính trị, lấy văn hoá chính trị để soi rọi mới thấy hết được và lý giải được điều này Đó chính là cái hay, cái thú vị và hấp dẫn của đề tài này
1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong quá trình lịch sử tiến hoá của con người và xã hội loài người luôn mang khát vọng hướng tới ánh sáng của sự hiểu biết, của sự tự do dân chủ, dân quyền, có nhân quyền thực sự Vì vậy phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc không phải là một ngoại lệ
Trước sự bóc lột tàn bạo của bọn quan lại triều đình Mãn Thanh, sự xâm lược bành trướng của phương Tây đã đẩy cuộc sống của nhân dân Trung Quốc vào cảnh cơ hàn, triều đình bạc nhược, đạo đức của con người trong xã hội bị tha hoá, suy đồi nghiêm trọng Trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử ấy đã thức tỉnh nhân dân đứng lên đấu tranh vì sự độc lập dân tộc dân chủ tự cường Các
Trang 10phong trào nổ ra rồi lại thất bại, điều đó chứng tỏ sự cố kết giữa triều đình Mãn Thanh và các thế lực bên ngoài khá mạnh mẽ Thế lực và đường lối lãnh đạo các phong trào còn non kém Tuy nhiên, mỗi phong trào đi qua đều đánh dấu một mốc son trong lịch sử quá trình phát triển đi lên ngày càng mạnh mẽ của các phong trào Nó tác động, thúc đẩy sự tan rã nhanh chóng của kiến trúc thượng tầng phong kiến trong xã hội, từng bước xác lập một diện mạo chính trị mới mẻ hơn Vì vậy, phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc có ý nghĩa thực tiễn trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, hợp quy luật của thời đại
Ngoài ra, trên cơ sở bổ sung những mảng kiến thức còn chưa được làm sáng tỏ của các phong trào từ khía cạnh văn hoá chính trị, nên tác giả hy vọng luận văn sẽ là nguồn tài liệu bổ ích và cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy
và học tập môn lịch sử và văn hoá chính trị Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ lịch sử lâu đời, thông qua việc tìm hiểu vấn đề lịch sử chính trị quan trọng đất nước xã hội Trung Hoa Tài liệu này sẽ góp phần hiểu thêm về lịch sử của đất nước Trung Hoa, là cầu nối cho dân tộc hai nước thêm gần nhau hơn, hiểu nhau nhiều hơn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX là một vấn đề không mới và đã được các nhà khoa học Trung Quốc cũng như các nhà nghiên cứu Trung Quốc quan tâm nghiên cứu từ lâu Điều này được thể hiện qua nguồn tài liệu phong phú bằng tiếng Hán đã được các dịch giả Việt Nam dịch ra bằng tiếng Việt, hay các nhà nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc viết
rất nhiều Chẳng hạn, một số cuốn sách như: “Lịch sử Trung Quốc” do Nguyễn Gia Phu – Nguyễn Huy Quý chủ biên, xuất bản năm 2009; “Lịch sử Trung
Quốc”, Võ Mai Bạch Tuyết chủ biên, xuất bản năm 2006; “Lịch sử thế giới cận đại”, Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng chủ biên, xuất bản năm 1998;
“Nghiên cứu Trung Quốc”, Nguyễn Huy Quý chủ biên, xuất bản năm 2008;
“Lịch sử cận đại Trung Quốc”, Nguyễn Huy Quý chủ biên, xuất bản năm
2004,… đều có chung một điểm giống nhau, các tác giả chỉ mới dừng lại ở việc
Trang 11miêu tả quá trình lịch sử của các phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc
Từ đó, rút ra những nhận định, đánh giá dưới góc độ lịch sử Hay trong cuốn
sách “Sự khủng hoảng của tố chất quốc dân Trung Quốc” do Giải Tư Trung chủ biên - Dịch giả: Trần Ngọc Thái, xuất bản năm 2007; cuốn sách “Người Trung
Quốc và những căn bệnh trong nhân cách”do Hà Tông Tư - Dịch giả: Phạm Bá,
xuất bản năm 2007, các tác giả đề cập đến tố chất của con người Trung Quốc,
tính cách của họ “Nhật Bản và Thế giới phương Đông” – Kỷ yếu Hội thảo Quốc
tế Đông phương học Việt Nam lần thứ tư của Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2009, có đề cập đến quá trình nhận thức và sự trăn trở của người Trung Quốc, tiêu biểu là tầng lớp giai cấp tư sản dân tộc trong việc lựa chọn các học thuyết dân chủ của phương Tây, để từ tìm ra con đường giải phóng đất nước khỏi chế độ phong kiến thối nát và các thế lực ngoại xâm của cuối thế kỷ XIX
nhằm đưa Trung Quốc tiến đến nền dân chủ, độc lập “Trung Quốc cận đại nhân
vật luận tùng” xuất bản năm 1965 tại Bắc Kinh có đề cập đến nỗi lòng yêu nước
thương dân và sự trăn trở để tìm ra con đường cứu nước của Khang Hữu Vi; hay
“Một số chuyên đề lịch sử thế giới” do Vũ Dương Ninh chủ biên, xuất bản năm
2001, trong đó có chuyên đề “Phong trào Duy tân Mậu Tuất Trung Quốc 1898” của PGS Nguyễn Văn Hồng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, có một cách nhìn tổng quan, sâu sắc về phong trào Duy tân Mậu Tuất Trung Quốc Ông đánh giá cao về tư tưởng tiến bộ của các nhà lãnh đạo phong trào trong việc cải cách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trung Quốc hợp với xu hướng thời đại, áp dụng chế độ tư bản phương Tây và Nhật Bản để cải tạo chế độ phong kiến truyền thống Trung Quốc Điều này cũng được giới nghiên cứu lịch sử Trung Quốc đánh giá cao trong Hội thảo quốc tế được tổ chức tại Quảng Châu,
Trung Quốc với chuyên đề “Nhìn lại lịch sử cải cách Mậu Tuất, Mậu Tuất Duy
tân vận động nghiên cứu luận văn tập”, Tuy nhiên, xét dưới góc độ văn hóa
chính trị chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu: Phong trào dân chủ dân quyền ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX từ góc độ văn hóa chính trị Theo đó, tác giả sẽ tiến hành xác định nội dung văn hóa chính trị Trung Quốc, các nhân tố hình thành phong trào dân chủ, dân quyền và các hoạt động của phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, so sánh đối chiếu với các phong trào dân chủ, dân quyền phương châu Á, châu Âu vào cùng thời điểm này
Mục đích của luận văn này là kế tục những thành quả nghiên cứu đi trước,
bổ sung thêm những dữ liệu còn chưa được lịch sử nghiên cứu, những dữ liệu còn rời rạc về vấn đề, liên kết, sắp xếp chúng theo một trật tự khoa học, vận dụng kiến thức đã học được, kết hợp tư duy của bản thân để đưa ra một số nhận định, đánh giá mới mẻ về phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX từ góc độ văn hóa chính trị
Phạm vi nghiên cứu: ở Trung Quốc, so sánh đối chiếu với các quốc gia phương Đông, phương Tây khác
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong luận văn này gồm phương pháp tổng hợp, lịch sử, lôgíc học,… kết luận những thống kê với sự vận dụng lý luận
Phương pháp tổng hợp tư liệu tiến hành thu thập những tài liệu liên quan đến đề tài qua 2 nguồn chủ yếu: sách và thông tin trên các website, tác giả đã tiến hành phân tích và lấy ra những dữ liệu cần thiết cho luận văn Sau đó, tác giả vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic dựa trên nền tảng chủ nghĩa Marx – Lênin
Phương pháp lịch sử để trình bày một cách có chọn lọc các sự kiện diễn ra theo đúng trình tự của nó Tác giả sử dụng phương pháp này để dựng lại bức tranh lịch sử thời kỳ cận đại Trung Quốc để hiểu thấu đáo các phong trào đấu tranh thời kỳ đó Từ đó, làm sống lại cả thời đại đặc biệt trong tiến trình lịch sử Trung Quốc Thông qua đó, chúng ta hiểu một cách đầy đủ và toàn diện hơn về đất nước Trung Quốc xưa và nay
Trang 13Ngoài ra, dựa trên những cứ liệu của lịch sử, do việc trình bày mô tả chi tiết có được từ việc vận dụng phương pháp lịch sử, tác giả đi sâu vào nội dung bản chất của đề tài, xét từ góc độ văn hóa chính trị để giải mã vấn đề và đưa ra những khái quát, nhận định, rút ra ý nghĩa và những kinh nghiệm thực tiễn,…trong cuộc đấu tranh đó Vì vậy, tác giả đã vận dụng phương pháp lôgíc nhằm phản ánh quá trình vận động, đấu tranh vì tự do dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc được chính xác, nhất quán về mặt lý luận Từ đó, tái hiện Trung Quốc với đúng bản chất của nó Phương pháp lôgic giúp chuyển tải được những nhận định, những vấn đề thiên về mặt lý luận của tác giả được thông suốt hơn
Vì vậy, kết hợp hai phương pháp này, trên cơ sở lý luận Marx – Lênin để làm sáng tỏ hơn nội dung, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung cơ bản của văn hóa
chính trị và văn hóa chính trị Trung Quốc Đây là cơ sở lý luận nền tảng giúp ta hiểu rõ hơn về những nét văn hóa chính trị truyền thống và hiện đại nổi bật của Trung Quốc Nó có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng đến tố chất con người, đến
ý chí và hành vi của con người khi tham gia các hoạt động xã hội
Thứ hai, luận văn sẽ giúp ta hình dung một đất nước Trung Quốc toàn
cảnh giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và làm sáng tỏ hơn về yếu tố ngoại cảnh bên ngoài tác động vào cũng như các nhân tố bên trong thúc đẩy sự hình thành các phong trào dân chủ dân quyền ở Trung Quốc
Thứ ba, luận văn góp phần làm sáng tỏ những nét đặc trưng của văn hóa
chính trị trong phong trào dân chủ dân quyền ở Trung Quốc, đặc biệt cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) đã chấm dứt một thời kỳ đen tối trong xã hội Trung Quốc
và mở sang một trang sử mới và sự ảnh hưởng của phong trào đến ý thức dân chủ, dân quyền của người dân Trung Quốc, cũng như trong mọi mặt của đời sống xã hội
6 Bố cục
Trang 14Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày theo 4 chương chính:
Chương I: Văn hóa chính trị và văn hóa chính trị Trung Quốc
Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ cơ sở lý luận thông qua việc cung cấp một số cách định nghĩa về phạm trù “văn hóa chính trị” của phương Tây và phương Đông, nêu lên một số đặc điểm và chức năng của văn hóa chính trị nói chung Đồng thời, tác giả cũng sẽ trình bày một số nét văn hóa chính trị truyền thống và hiện đại của Trung Quốc, cơ sở hình thành nên những nét đặc trưng văn hóa chính trị ấy
Chương II: Nhân tố hình thành và phát triển các phong trào dân chủ, dân quyền ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày nhân tố bên ngoài liên quan đến sự biến động của tình hình chính trị trên thế giới khi CNTB đang từng bước nắm
quyền chi phối trong đời sống quốc tế thông qua việc thiết lập trật tự một “trật
tự thế giới” và sự xâm chiếm các nước thuộc địa nhằm tranh giành quyền lực và
phân chia lại thị trường trên thế giới Đồng thời các nước đế quốc Anh, Pháp, Nhật tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính Trung Quốc để thỏa mãn mục đích nêu trên
Nhân tố bên trong liên quan đến tình hình chính trị trong nước và sự phát triển nội thương, những công trường thủ công tư bản chủ nghĩa đã đánh dấu sự tan rã của chế độ phong kiến Trung Quốc như một quy luật tất yếu
Chương III: Đặc trưng văn hóa chính trị trong phong trào dân chủ dân quyền
Đây là một chương rất thú vị, sẽ được tác giả trình bày về sự xuất hiện tư tưởng dân chủ trong xã hội Trung Quốc thời kỳ cận đại, thời kỳ mà các nhà lãnh đạo đang cân nhắc lựa chọn sẽ mô phỏng Trung Quốc theo mô hình dân chủ nào của phương Tây cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của Trung
Trang 15Quốc thời kỳ bấy giờ Đồng thời, từ những chủ trương ấy, họ đã dẫn dắt các phong trào cách mạng dân chủ phát triển theo hướng đi riêng của mình
Chương IV: Ảnh hưởng của phong trào dân chủ dân quyền
Sẽ được tác giả làm rõ sự ảnh hưởng của phong trào tới ý thức dân chủ dân quyền của người dân Trung Quốc và tác động của nó tới các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa – giáo dục như thế nào?
-o - Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc tìm kiếm các nguồn tư liệu, tiếp cận và xử lý, bổ sung, phân tích, đánh giá tư liệu từ những góc độ và mức
độ khác nhau, nhưng chắc chắn luận văn này vẫn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, tác giả luận văn rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà nghiên cứu, thầy cô và đồng nghiệp, bạn bè gần xa để luận văn được đầy đủ, hoàn hiện hơn và có ý nghĩa thiết thực hơn
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Việt – Cán bộ hướng dẫn khoa học, người đã chỉ bảo tận tình, đóng góp ý kiến, sửa chữa trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 9 năm 2011
Trang 16
Chương I VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
TRUNG QUỐC
I Khái niệm văn hóa chính trị
1 Một số cách định nghĩa phạm trù “văn hóa chính trị” ở phương Tây
"Văn hóa chính trị" là một khái niệm của ngành khoa học chính trị Thuật ngữ này còn khá mới mẻ và chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây Cách tiếp cận về định nghĩa, các yếu tố cấu thành, nội dung và chức năng của văn hóa chính trị còn rất khác nhau, chưa đi đến sự thống nhất giữa các nhà khoa học
G Almond, nhà khoa học chính trị Phương Tây đầu tiên cho rằng "Văn
hóa chính trị là một dạng đặc biệt của định hướng chính trị, phản ảnh đặc thù của mỗi hệ thống chính trị"(1)
Một số trường phái khoa học chính trị ở Cộng hòa Liên bang Đức chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi hệ thống lý luận và cách tiếp cận của Marx Weber (1864 – 1920) và Sigmund Freud (1856 – 1939) Bên cạnh đó, từ khoảng cuối thập kỷ thứ 5, đầu thập kỷ thứ 6 của thế kỷ XX trở về sau, khoa học xã hội ở Đức nói chung và ngành khoa học chính trị nói riêng còn chịu ảnh hưởng ngày càng sâu sắc bởi các lý thuyết và cách tiếp cận của giời khoa học chính trị Mỹ
Vì vậy, những cách định nghĩa và tiếp cận văn hóa chính trị ở Đức hiện nay, một mặt vừa tiếp nối truyền thống Đức cổ điển, vừa phản ánh những ảnh hưởng của khoa học chính trị Mỹ hiện đại
Theo Werner J Patzelt, một nhà khoa học chính trị thuộc trường phái Đại
học Tổng hợp Passau của Đức, "Văn hóa chính trị là những giá trị và tri thức,
những quan điểm và thái độ của nhân dân; là những dạng thức của hành vi và
sự tham dự chính trị; là những quy tắc công khai hoặc được mặc nhiên thừa
1
Chính trị học – Từ điển Bách khoa NXB Đại học Kinh Doanh Moscow, Moscow, 1993, tr.14
Trang 17nhận của quá trình chính trị; là những cơ sở thường nhật của hệ thống chính trị
và là tập hợp của tất cả những gì thuộc về văn hóa và tập tục của xã hội hiện tồn"(2) Cũng trong công trình này, ở một chỗ khác Patzelt nêu định nghĩa đơn
giản, rõ ràng hơn về văn hóa chính trị: "Văn hóa chính trị là một khái niệm tập
hợp (Sammelbezeichnung) dùng để chỉ những giá trị chính trị quan trọng, tri thức, quan niệm và thái độ trong một xã hội; những dạng thức được bộc lộ ra thông qua hoạt động chính trị và tham dự chính trị; những quy tắc công khai hoặc mặc nhiên được thừa nhận của quá trình chính trị; và những cơ sở thường nhật của các hệ thống chính trị(3)
Để hiểu các định nghĩa này, trước hết phải phân tích được cách định nghĩa khái niệm của Patzelt Như cấu trúc của hai định nghĩa trên cho thấy Patzelt đã
sử dụng phương pháp diễn dịch và liệt kê để làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm
“văn hóa chính trị” Cách định nghĩa này có ưu điểm giúp cho người sử dụng khái niệm với tính cách là công cụ để nhận thức, tư duy và phân tích dễ dàng nhận diện những yếu tố thuộc ngoại diên của khái niệm Tuy nhiên, nhược điểm
cố hữu của loại khái niệm này luôn luôn có độ dung sai rất lớn vì không thể liệt
kê hết các yếu tố hay đặc điểm trong nội hàm khái niệm để bao phủ hết ngoại diên của khái niệm – vốn luôn thay đổi do tính chất thực tiễn của nó
Cấu trúc của định nghĩa trên gồm hai phần chính Thứ nhất, "Văn hóa
chính trị là những giá trị và tri thức, những quan điểm và thái độ của nhân dân" Phần này, về căn bản, giống hệt với định nghĩa khái niệm văn hóa chính
trị của học giả Mỹ chịu ảnh hưởng của học phái “The Civic Culture”, nhằm chỉ
ra ba khía cạnh (dimension) quan trọng nhất của văn hóa chính trị là tri nhận, đánh giá và bày tỏ thái độ Theo đó, văn hóa chính trị trước hết là các giá trị
chính trị, tri thức chính trị và thái độ chính trị của nhân nhân Thứ hai, “là những dạng thức của hành vi và sự tham dự chính trị; là những quy tắc công khai hoặc được mặc nhiên thừa nhận của quá trình chính trị; là những cơ sở thường nhật của hệ thống chính trị và là tập hợp của tất cả những gì thuộc về
2
Werner J Patzelt, 1992 Giáo trình Nhập môn khoa học chính trị (Einfuehrung in die Politikwissenschaft)
Grundriss des Faches und studiumbegleitende Orientierung, Wissenschaftverlag Richard Rothe, Passau, p 143 –144
3
Werner J Patzelt, 1992 Sđd, p 322
Trang 18văn hóa và tập tục của xã hội hiện tồn” Đây là phần điển hình của cách định
nghĩa theo kiểu diễn giải - liệt kê Tuy vậy, định nghĩa này cũng chỉ ra được những yếu tố căn bản nhất cần đặc biệt quan tâm khi nhà khoa học muốn khám phá văn hóa chính trị của một xã hội, một dân tộc hay một cộng đồng người nào
đó, gồm: các hình thức hoạt động chính trị và phương thức tham dự chính trị; các quy tắc của quá trình chính trị, yếu tố văn hóa, những tập tục và thói quen tạo nên cơ sở thường nhật của hệ thống chính trị
Giá trị nổi bật của định nghĩa mà Patzelt và học phái Passau nêu ra là ở
tính thao tác luận (funtionalist) của nó Nhưng cũng chính do tính thao tác luận
của nó mà định nghĩa này luôn tỏ ra bất cập khi được vận dụng trong nghiên cứu những nền văn hóa chính trị cụ thể, đặc biệt ở châu Á, với những đặc trưng riêng biệt về lịch sử, xã hội, tôn giáo, tộc người, hệ thống chính trị,…
Một định nghĩa khác về văn hóa chính trị của giới học giả Đức cũng có ảnh hưởng khá rộng rãi là cách định nghĩa của trường phái học thuật Heidelberg
được công bố trong cuốn Từ điển chính trị (Lexikon der Politik) xuất bản vào năm 2007 Khái niệm văn hóa chính trị được định nghĩa như sau: “Là khái niệm
dùng để chỉ chiều cạnh chủ quan (Subjektive Dimesion) của những cơ sở xã hội của các hệ thống chính trị Văn hóa chính trị liên quan tới những bộ phận khác nhau của ý thức chính trị, những “phong thái”, những lối nghĩ và ứng xử “điển hình” của những nhóm xã hội hoặc của toàn xã hội Văn hóa chính trị bao gồm tất cả những đặc tính chính trị cá nhân của từng cá thể, tiềm ẩn trong những thái độ và các giá trị, bắt rễ trong những động cơ bẩm sinh (Praedispositionen) của hành vi chính trị, và cả những hình thức bộc lộ có tính chất biểu tượng và những ứng xử chính trị cụ thể”
Định nghĩa của trường phái Heidelberg cũng là một định nghĩa được xây dựng theo cách diễn giải - liệt kê Xét về cấu trúc nội dung cũng bao gồm hai
phần chính Thứ nhất, “Văn hóa chính trị là khái niệm dùng để chỉ chiều cạnh
chủ quan (Subjektive Dimesion) của những cơ sở xã hội của các hệ thống chính
Trang 19trị” Đây là một quan điểm rất quan trọng, gợi mở những khía cạnh có tính
phương pháp luận trong nghiên cứu về văn hóa chính trị
Trường phái Heidelberg, giống như trường phái Berkeley ở Mỹ, nhấn
mạnh rằng văn hóa chính trị chỉ là “những chiều cạnh chủ quan” của những cơ
sở xã hội của các hệ thống chính trị mà thôi Điều đó có nghĩa là chỉ những yếu
tố nào (vật thể hoặc phi vật thể, hữu hình hoặc vô hình, truyền thống hay hiện đại,…) trong cơ sở xã hội của các hệ thống chính trị được chấp nhận và hiện thực hóa thông qua hành vi chính trị của con người hoặc nhóm người trong mối người trong mối tương tác với các hệ thống chính trị mới được xem là thuộc về phạm trù văn hóa chính trị Còn những yếu tố khác không được lựa chọn và không được thực hiện hóa thông qua hành vi chính trị của con người/nhóm người đặt trong mối tương tác với các hệ thống chính trị thì không thuộc về phạm trù văn hóa chính trị Những yếu tố này hợp thành những chiều cạnh khách quan của môi trường chính trị
VD: một số biểu tượng hoặc một quy tắc đạo đức nào đó tuy đang tồn tại hiển nhiên, nhưng không có tác động gì tới nhận thức và hành vi chính trị cộng đồng người xác định nào đó thì không thể coi là yếu tố của văn hóa chính trị của cộng đồng đó Chẳng hạn, những năm 70 của thế kỷ XX, một vài ngôi đình vẫn tồn tại ở làng xóm Bắc Bộ, trước cửa đình vẫn còn đó tấm biển đá với hai chữ
“hạ mã” Thế nhưng lúc đó chẳng ai quan tâm đến ngôi đình đó với tính cách là ngôi đình làng và chẳng ai chịu “hạ mã” khi đi qua nó Ngôi đình này không còn
ý nghĩa gì trong văn hóa chính trị của cộng đồng dân cư làng xã đó nữa Đến thời đổi mới, lễ hội và các chế định văn hóa làng xã lại có cơ hội phục hồi, và thế là ngôi đình bỗng sống lại, trở thành biểu tượng trung tâm của đời sống cộng đồng Tấm biển “hạ mã” cho dù không buộc được tất cả mọi người dừng xe, tắt máy dẫn bộ, nhưng nó cũng không còn hoàn toàn bị coi như những vật vô ý nghĩa nữa
Như vậy, việc phân biệt giữa các “chiều cạnh chủ quan” và các “chiều cạnh khách quan” là công việc vô cùng nan giải, luôn cần được xác thực qua kết
Trang 20quả của những khảo sát thực tiễn và những khách quan có tính kinh nghiệm chủ
nghĩa (empirical observation) Không hiếm khi các “chiều cạnh chủ quan” và
các “chiều cạnh khách quan” đổi chỗ cho nhau trong những điều kiện xác định như trường hợp ngôi đình và tấm biển “hạ mã” nêu trên
Tương tự như cách định nghĩa văn hóa chính trị của trường phái Passau, phần hai của định nghĩa do trường phái Heidelberg nêu ra cũng chủ yếu là liệt kê
có tính thao tác luận những dấu hiệu căn bản để nhận biệt văn hóa chính trị Văn
hóa chính trị liên quan tới những bộ phận khác nhau của ý thức chính trị, những
“phong thái”, những lối nghĩ và ứng xử “điển hình” của những nhóm xã hội hoặc của toàn xã hội Văn hóa chính trị bao gồm tất cả những đặc tính chính trị
cá nhân của từng cá thể, tiềm ẩn trong những thái độ và các giá trị, bắt rễ trong những động cơ bẩm sinh (Praedispositionen) của hành vi chính trị, và cả những hình thức bộc lộ có tính chất biểu tượng và những ứng xử chính trị cụ thể”
Điểm đáng lưu ý ở chỗ, trong khi liệt kê một loạt các dấu hiệu, đặc trưng của văn hóa chính trị, định nghĩa này đã gợi mở một số cách tiếp cận quan trọng
Thứ nhất, định nghĩa này đã quan tâm tới và chỉ ra những cấp độ của văn
hóa chính trị: đó có thể là văn hóa chính trị “của những nhóm xã hội” hoặc “của toàn bộ xã hội” Điều gợi mở này rất hữu ích cho việc nghiên cứu văn hóa chính trị ở những xã hội không thuần nhất với những đa dạng phức hợp cao
(diversities) về phân tầng xã hội, đan xen bởi những dị biệt về tôn giáo, chính trị
nó sẽ đưa ra những khảo sát thực tiễn đến chỗ bế tắc về phương pháp Tuy
Trang 21nhiên, dù muốn hay không người ta cũng phải thừa nhận hai thực tế Thứ nhất là những hành vi chính trị, dù được coi là “hoạt động tập thể” chăng nữa, thì cũng luôn được hiện thực hóa thông qua hành vi và sự tham dự của cá nhân Trong quá trình đó, mỗi cá nhân đều không hòa tan các đặc tính cá nhân của mình vào hoạt động tập thể, mà ngược lại, tính tập thể của hành vi luôn luôn được hiện thực hóa thông qua hành động của từng cá nhân theo những quy tắc chung nào
đó Mặt khác, không phải tất cả các cá nhân đều có vai trò và vị trí giống nhau trong hoạt động chính trị Hiển nhiên là có một số cá nhân, do đứng ở vị trí lãnh đạo, hay nắm giữ những vị trí then chốt trong hệ thống nào đó (dựa vào uy tín cá nhân hay quyền uy mà họ được ủy thác theo cách nào đó), sẽ bộc lộ vai trò và ý nghĩa quan trọng hơn, hoặc chính họ là những phần tử tiêu biểu hơn cho định hướng giá trị của cả nhóm và cộng đồng
Vì vậy, việc thừa nhận bình diện cá nhân không có nghĩa là buộc nhà nghiên cứu phải khám phá đặc tính chính trị của tất cả các cá nhân, sa vào tình trạng “thấy cây mà không thấy rừng”, mà chính là điều kiện để nhà nghiên cứu hiểu xác thực hơn những đặc điểm văn hóa của cả nhóm/cộng đồng Đặc biệt, nó chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu những cá nhân nổi bật, tiêu biểu theo cách
tiếp cận “top – down”, trong khi không phủ nhận những nghiên cứu theo cách tiếp cận “bottom – up” để có những lý giải cân bằng, thực chứng
Cách định nghĩa về phạm trù “văn hóa chính trị” của trường phái Passau
và trường phái Heidelberg nêu trên có ảnh hưởng khá rộng rãi ở Đức Tuy nhiên, các cách định nghĩa và khám phá phạm trù này ở Mỹ là những học phái có ảnh hưởng lớn nhất trong khoa học xã hội phương Tây
Trong Đề cương bài giảng văn hóa chính trị của Trường đại học Tổng hợp California ở Berkely năm 2006: “Văn hóa chính trị được tạo thành bởi
những tri thức, những giá trị và những bộc lộ cảm tình mà dân chúng của một
Trang 22cộng đồng/tập thể nào đó mang lại cho một quá trình mà tại đó những giá trị chân xác sẽ được định vị” (4)
Với cách định nghĩa diễn giải nhưng không liệt kê, trường phái học thuật
này đã chỉ ra ba bộ phận hợp thành (element) của văn hóa chính trị Thứ nhất, đó
là những tri nhận (Cognitions), tức là những niềm tin có tính kinh nghiệm của con người (empirical beliefs) nhằm phán đoán về tình trạng, tính chất của sự vật, quá trình,… Thứ hai, đó là những giá trị (Values), tức là những niềm tin có tính quy chuẩn (normative beliefs) nhằm phán đoán theo kiểu nhận định, rằng sự vật hay quá trình nhất thiết phải là như thế này hay thế khác Thứ ba, đó là những
biểu lộ tình cảm (Emotional Commitments) nhằm bày tỏ tình cảm, thái độ tích
cực hay tiêu cực về các đối tượng chính trị
Quan trọng hơn, theo trường phái Berkely, cả ba bộ phận hợp thành văn hóa chính trị nói tới trên đây chỉ được xem xét, phân tích khi đặt trong mối quan
hệ với hệ thống chính trị và đặc biệt là trong quá trình chính trị, nơi mà những
bộ phận này được “định vị” (allocated) Nghĩa là, tương tự như trong cách tiếp
cận và định nghĩa khái niệm của hai trường phái khoa học chính trị Đức nêu
trên, các chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và quá trình chính trị được
xem như hệ quy chiếu gốc của môn nghiên cứu văn hóa chính trị
Bên cạnh định nghĩa được các trường phái Passau, Heidelberg và Berkeley nêu ra như đã phân tích ở trên, trong các công trình nghiên cứu khác ở phương Tây, phạm trù “văn hóa chính trị” cũng được định nghĩa một cách ngắn
ngọn theo hướng nhấn mạnh chiều cạnh chủ quan của quá trình chính trị và hệ
thống chính trị Chẳng hạn, một nhà khoa học chính trị ở Đại học Trier (Đức)
nêu định nghĩa: “Phạm trù văn hóa chính trị được hiểu là những mã số giá trị và
những tư tưởng được diễn ngôn hay không được diễn ngôn quy định các hành vi chính trị của các thành viên của xã hội” (5)
4
Polisci.berkely.edu/courses/coursepages/Fall2005/ps2/POLITICAL%20CULTURE.ppt Nguyên văn tiếng
Anh của định nghĩa ngày như sau: “Political Culture is constituted by the cognitions, values, and emotional
commitments that the population of a collectivity brings to the process whereby scarce value are allocated”
5
PGS.TS Phạm Hồng Tung, 2008 Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị NXB Chính trị
Quốc gia, tr 30
Trang 23Một trường phái khoa học chính trị ở Anh nêu định nghĩa: “Văn hóa
chính trị là hệ giá trị (set of values) mà trong đó một hệ thống chính trị được
khoa học chính trị ở Canađa như sau: “Văn hóa chính trị dùng để chỉ những ý
kiến, thái độ và những giá trị chung của các cá nhân đối với quá trình chính trị” (7)
Trong chính trị học – Từ điển bách khoa của Nga có viết: “Văn hóa chính
trị là kinh nghiệm lịch sử, kí ức cộng đồng xã hội và nhóm người trong lĩnh vực chính trị, là phong tục tập quán, thói quen và các xu hướng ảnh hưởng đến hành
vi cá nhân, nhóm cá nhân trong hoạt động chính trị” (8)
Sở dĩ phần lớn các cách định nghĩa phạm trù “văn hóa chính trị” của các nhà khoa học chính trị phương Tây đều có điểm chung nhất là nhấn mạnh các chiều cạnh chủ quan của quá trình chính trị là do cách tiếp cận của họ đều bắt nguồn từ một cơ sở lý thuyết khoa học về văn hóa chính trị do hai nhà khoa học chính trị Mỹ Gabriel A Almond và Sidney Verba đề xuất từ năm 1963 trong tác
phẩm nổi tiếng The Civic Culture (Văn hóa công dân) Đây là một tác phẩm đặc
biệt quan trọng cho giới tư bản phương Tây, lý thuyết khoa học được các nhà khoa học chính trị dựa trên lập trường chính trị dưới góc nhìn của các nhà tư bản
để xác lập Cách định nghĩa của các nhà khoa học chính trị Nga ngắn ngọn, dễ hiểu và rõ nghĩa hơn, gần gũi với nét “văn hóa chính trị” ở phương Đông
2 Một số cách định nghĩa phạm trù “văn hóa chính trị” ở phương Đông
Khác với các nhà khoa học chính trị phương Tây, các nhà khoa học chính trị phương Đông có cách nhìn thực tế, phù hợp với môi trường văn hóa chính trị
6 Nguyên văn định nghĩa này bằng tiếng Anh như sau: “Political culture is the set of values within which a
political system operates”
www.igshistoryonline.co.uk/Politics,%20resourses/What%20is%20political%20culture%20(version%202).ppt
7
Nguyên văn định nghĩa này bằng tiếng Anh như sau: “Political culture refers to the collective opinions,
attitudes and values of individuals about politics.,
http://www.thecanadadianencyclopedia.com/index.cfm?PgNm=TCE&Params=ÁARTA0006369
8
Hoàng Văn Việt, 2007 Các quan hệ chính trị ở phương Đông – Lịch sử và hiện tại NXB ĐHQG Tp Hồ Chí
Minh, tr 9
Trang 24của xã hội chủ nghĩa ở phương Đông Vì vậy, cách định nghĩa của các nhà khoa học tuy chưa có sự thống nhất, nhưng có phần dung dị, dễ hiểu và xác thực hơn
GS.TS nhân học chính trị Toh Goda (Nhật Bản) nhìn nhận: "Văn hóa
chính trị là một hệ thống hoàn chỉnh các tổ chức, giá trị, diễn ngôn, hành vi và
hệ thống tín ngưỡng về quyền lực”
Trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cũng xuất hiện những các hiểu khác nhau về văn hóa chính trị Theo nhóm nghiên cứu Đặng Xuân Kỳ, Vũ
Khiêu, Hoàng Chí Bảo thì “văn hóa chính trị không phải là bản thân chính trị,
mà là chính trị có văn hóa, chính trị tác động vào con người và xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh không chỉ dựa vào quyền lực mà phải dựa vào sự cảm hóa con người, thức tỉnh lương tri, lay động tâm tư, tình cảm con người, thuyết phục, chinh phục, thu phục con người”(9) Định nghĩa này không nghiêng
về học thuật kiểu Tây phương mà muốn nhấn mạnh văn hóa chính trị không chỉ
ở trong tư tưởng chính trị mà còn ở trong hoạt động chính trị thực tiễn, trong cách ứng xử đối với các đối tượng khác nhau…
Theo quan điểm của PGS.TS Hoàng Văn Việt: "văn hóa chính trị là một
dạng đặc thù của xã hội con người; là thuộc tính của sản phẩm văn hóa tinh thần" (10)
Bản thân tôi nhận thấy, dù các nhà nghiên cứu có định nghĩa theo cách này hay cách khác, thì bản chất của định nghĩa mà họ đưa ra đều hàm chứa yếu
tố chính trị Và yếu tố chính trị chỉ xuất hiện ở trong một xã hội có giai cấp, có nhà nước Từ đó, nó sẽ nảy sinh ra quyền lực nhà nước, các hoạt động quản lý
nhà nước và văn hóa chính trị xuất hiện "dưới biểu hiện của hoạt động văn hóa
con người trong lĩnh vực chính trị"
Như vậy, văn hóa chính trị là tổng hợp những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành trong thực tiễn chính trị Nó là cái góp phần chi phối hoạt động của các cá nhân, của các nhà chính trị, góp phần định hướng hoạt động của họ
9
GS Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên), 2005 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển con người NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr 248
10
Các quan hệ chính trị ở phương Đông – Lịch sử và hiện tại Sđd, tr.9
Trang 25trong việc tham gia vào đời sống chính trị để phục vụ lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định
Văn hóa chính trị góp phần định hướng mục tiêu hoạt động cho các tổ chức chính trị, đặc biệt là Đảng và Nhà nước, cho các phong trào chính trị trong một xã hội nhất định
II Đặc điểm và chức năng của văn hóa chính trị
1 Đặc điểm văn hóa chính trị
Từ sự phân tích một số cách định nghĩa nêu trên, ta rút ra được một số đặc điểm của văn hóa chính trị trong chủ nghĩa xã hội như sau:
Thứ nhất, văn hóa chính trị mang đậm tính giai cấp Nó bị chi phối bởi thế
giới quan, bởi hệ tư tưởng và những quan điểm chính trị của mỗi giai cấp nhất định
Trong khi khẳng định tính giai cấp, chúng ta cần nhấn mạnh thêm rằng, văn hóa chính trị cũng có cái chung, cái phổ biến của toàn dân tộc và nhân loại Đối với giai cấp công nhân, việc phát hiện và kế thừa những giá trị chung trong văn hóa là điều kiện quan trọng để phát triển văn hóa và văn hóa chính trị vô sản Về điều đó, Lênin đã từng lưu ý rằng, người cộng sản chỉ có thể làm giàu tri thức của mình bằng việc tiếp thu tất cả những giá trị văn hóa của nhân loại F.Ăngghen cũng từng nhấn mạnh rằng, chỉ có giai cấp công nhân mới là người
kế thừa thật sự những giá trị phổ biến về văn hóa
Thứ hai, văn hóa chính trị bao giờ cũng mang tính lịch sử Trình độ chuẩn
mực văn hóa chính trị của mỗi người, mỗi giai cấp không có sự cố định hoàn toàn mà luôn có sự thay đổi Bởi vì, văn hóa chính trị bị quy định từ một loạt các nhân tố khách quan và chủ quan thường xuyên vận động biến đổi
Ở các nền chính trị khác nhau, văn hóa chính trị của giai cấp nắm quyền
lực nhà nước bao giờ cũng là đặc trưng cho nền chính trị đó Bản thân sự tồn tại của mỗi nền chính trị nhất định luôn luôn biến đổi, thay thế nối tiếp nhau trong lịch sử Sự thay thế nhau đó dẫn đến sự thay đổi các loại hình văn hóa chính trị
Trang 26cũng như về trình độ của nó Với ý nghĩa ấy, lịch sử chính trị của loài người đã
và đang trải qua các loại hình văn hóa chính trị của giai cấp chủ nô quý tộc, giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
Thứ ba, trong xã hội có giai cấp khác nhau, văn hóa chính trị luôn có tính
đa dạng Trong cấu trúc của văn hóa chính trị có nhân tố cốt lõi là hệ tư tưởng
Hệ tư tưởng của các giai cấp không đồng nhất với nhau nên văn hóa chính trị của mỗi giai cấp bị chi phối bởi các góc độ khác nhau tạo thành tính đặc thù sâu sắc Từ đó, trong mỗi nền chính trị nhất định, văn hóa chính trị cũng không thuần nhất mà có sự đa dạng, phong phú của các loại hình văn hóa chính trị tương ứng với từng giai cấp, từng giai tầng xã hội khác nhau Nói cách khác, bên cạnh văn hóa chính trị của giai cấp nắm quyền lực nhà nước còn có văn hóa chính trị của các giai cấp, giai tầng khác nữa
Văn hóa chính trị trong chủ nghĩa xã hội, ngoài các đặc điểm trên còn bao hàm một số đặc điểm khác Đó là nó vừa là nội dung, là động lực và vừa là biểu hiện chất lượng của nền dân chủ; là nhân tố thúc đẩy cho việc đạt mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và là phương thức làm cho nhân dân lao động trở thành chủ thể của quyền lực chính trị
2 Chức năng văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị có chức năng rất quan trọng trong việc định hướng hoạt động của từng giai cấp, từng cá nhân và của nhân dân nói chung, góp phần:
Thứ nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội – chính trị Với ảnh hưởng của
văn hóa chính trị, giới cầm quyền có thể kịp thời phát hiện ra những mâu thuẫn trong các quan hệ xã hội – chính trị, đưa ra được những biện pháp hữu hiệu nhằm chủ động “tháo ngòi nổ” làm dịu bớt những xung đột trong xã hội Ngược lại, do thiếu trình độ văn hóa chính trị, người ta có thể làm cho những quan hệ
xã hội – chính trị vốn bình thường lại trở nên căng thẳng, những quan hệ vốn ít căng thẳng lại trở nên nóng bỏng hơn, thậm chí dẫn đến sự đối đầu gay gắt có ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định chính trị
Trang 27Thứ hai, định hướng phẩm hạnh của con người vào các giá trị lý tưởng đã
lựa chọn Với trình độ văn hóa chính trị cao, cộng với niềm tin sâu sắc trên cơ sở khoa học vào lý tưởng chính trị đã lựa chọn, người ta sẽ không ngần ngại vượt qua mọi khó khăn và thử thách để vươn tới lý tưởng chính trị cao đẹp
Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa về chính trị, làm cho mọi công dân tham gia
tích cực vào đời sống chính trị
Trong một xã hội có văn hóa chính trị cao, một mặt, mỗi cá nhân công dân đều ý thức rõ vị trí của mình trong hệ thống quyền lực chính trị của xã hội; mặt khác, xã hội cũng hình thành và hoàn thiện cơ chế để mỗi cá nhân công dân tham gia một cách tích cực và tự giác vào công việc nhà nước và xã hội Nhờ đó, hoạt động chính trị trở thành công việc hàng ngày của mỗi người – dấu thiệu đặc trưng của xã hội hóa về chính trị trong một xã hội nhất định
Thứ tư, nâng cao con người đến sự sáng tạo trong chính trị, nhạy bén với
cái mới trong chính trị, tăng cường sự phát triển xã hội nói chung, đối với việc hình thành các chủ thể chính trị tích cực Trong thời đại ngày nay, văn hóa chính trị là một lực lượng to lớn trong sự phát triển của xã hội
III Văn hóa chính trị Trung Quốc
Khi nói đến văn hóa chính trị là nói đến văn hóa chính trị truyền thống và văn hóa chính trị hiện đại của cộng đồng xã hội và nhóm người trong lĩnh vực chính trị và ảnh hưởng của nó trong hoạt động chính trị Văn hóa chính trị là một động thái, luôn phát triển, thường xuyên được làm phong phú thêm bằng lịch sử
và hoạt động của con người về cả nội dung lẫn hình thức
Các nước phương Đông nói chung và ở Trung Quốc nói riêng, các thành
tố của văn hóa chính trị trở thành các nguyên tắc đạo đức – luân lí và chuẩn mức pháp lý xã hội, biểu hiện qua các luật tục, các nguyên tắc quan hệ chính trị của
xã hội; qua các phương thức sản xuất vật chất, các hình thái tổ chức nhà nước và các cách thức, biện pháp, phương pháp quản lý xã hội của các cộng đồng dân cư
1 Văn hóa chính trị truyền thống
Trang 28Văn hóa chính trị truyền thống có nhiều cách hiểu khác nhau Nhưng có
lẽ, “truyền thống là những cái “vốn có”, “tự có” và “tại chỗ” được kế thừa từ
đời này sang đời khác”(11)
Dưới góc độ chính trị, phần lớn các nhà chính trị học cho rằng, chủ nghĩa gia trưởng, gia đình trị; sự sùng bái nhà nước, sùng bái cá nhân; các mối quan hệ
“bạn bè” (cronies), phân biệt đẳng cấp “bầu chủ - người phụ thuộc” (patron – clien) và thỏa hiệp (consensus) là nội dung của văn hóa chính trị phương Đông,
đã giữ vai trò quan trọng (thậm chí chi phối quyết định trong một số trường hợp) đến các hoạt động xã hội và chính trị
Một số nội dung văn hóa chính trị cơ bản của Trung Quốc dưới đây phần nào sẽ minh chứng cụ thể về điều này
1.1 Nội dung nổi bật của Văn hóa chính trị truyền thống Trung Quốc
là sự sùng bái cá nhân, thần thánh hóa các lãnh tụ chính trị
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao nó lại là nét văn hóa chính trị nổi bật nhất ở Trung Quốc? và điều kiện nào đã chi phối nó tạo nên nét đặc trưng như vậy?
Như đã biết, nền văn hóa, văn minh Trung Quốc nói riêng và các nước phương Đông nói chung đều xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước Chính đặc điểm này nó đã ngấm sâu, tan chảy vào trong mỗi cá nhân và tạo nên tính cách đặc thù của con người trong toàn xã hội mà dư âm cũng như dấu ấn của nó vẫn còn tồn tại đến nay
Do thời tiết, khí hậu thiên nhiên phù hợp với điều kiện canh tác nông nghiệp, con người sống dựa dẫm chủ yếu vào thiên nhiên nên họ đã rất thần tượng, sùng bái tự nhiên Hiện tượng thiên nhiên được con người sùng bái, tôn thờ nhất đó là Thần Mặt trời và Vua được ví như Thiên tử Vì vậy, Vua là bậc anh minh, tối cao nhất, vừa cao siêu, vừa xa vời đến mức được thần thánh hóa
Rõ ràng, ngay từ thời tiền sử, trong tâm thức con người đã tồn tại nét văn hóa đặc trưng này
11
Các quan hệ chính trị ở phương Đông – Lịch sử và hiện tại Sđd, tr.11
Trang 29Những nhân vật anh hùng, những tấm gương sáng cũng được tôn vinh, kính trọng Tiêu biểu trong lịch sử cổ đại Trung Quốc gồm các nhân vật nổi tiếng như: Khổng Tử một nhà tư tưởng, nhà văn hóa, nhà giáo dục nỗi lạc Tư tưởng chính trị của ông là đức trị (làm cho dân cư đông đúc, kinh tế phát triển và dân được học hành) có sức ảnh hưởng rộng rãi thời bấy giờ Mặc Tử gắn liền với thuyết “kiêm ái” hay Hàn Phi gắn với pháp trị được Tần Thủy Hoàng áp dụng một cách triệt để gây dựng lên một triều Tần cường thịnh dù chỉ trong vòng 15 năm, nhưng đó là bước đột phá đưa lịch sử bước sang một trang mới
Tần Thủy Hoàng là một vị vua tài ba và được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử Trung Quốc, ông là người đầu tiên có công thống nhất đất nước và quy Trung Quốc về một mối Ông cũng là một ông vua nổi tiếng hà khắc, tàn bạo cai trị một cách cứng rắn, mọi việc đều dùng pháp luật để quyết định, không dùng nhân đức, ân nghĩa Nói chung, nhà Tần chú ý gay gắt đặt nặng về pháp luật, trong một thời gian dài không tha tội cho ai chứ không để ý đến giáo hóa hoặc tuyên truyền cho dân thấu hiểu Đó cũng là lý do triều Tần tồn tại trong thời gian không lâu thì bị sụp đổ
Ngoài ra, còn rất nhiều nhân vật khác được nhân dân Trung Quốc nhắc đến trong lịch sử, những người tài giỏi như Nghiêu, Thuấn, Hán Võ Đế, Võ Tắc Thiên, Hốt Tất Liệt, Chu Nguyên Chương, những học thuyết có giá trị thời đại như Tuân Tử, Mạnh Tử, Thương Ưởng,… Những người nổi tiếng gian ác, tà dâm như Đát Kỷ,…
Thời hiện đại, Mao Trạch Đông được ví như một vị “cha già” dân tộc Trung Quốc, ông được nhân dân Trung Quốc tôn vinh và thần thánh hóa là
người có bốn cái "vĩ đại": Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại,
Người cầm lái vĩ đại (伟大导师,伟大领袖,伟大统帅,伟大舵手 vĩ đại đạo
sư, vĩ đại lãnh tụ, vĩ đại thống soái, vĩ đại đà thủ)
Tất cả các cá nhân, thủ lĩnh chính trị đã sử dụng quyền lực và tài năng của mình tập hợp xung quanh họ các khối dân cư đông đúc và gây được sự thiện
Trang 30cảm cũng như lòng mến mộ lớn lao trong lòng dân Điều đó có ý nghĩa chính trị rất lớn trong việc tập hợp và tổng động viên các lực lượng chính trị dưới ngọn
cờ thống nhất, nhằm giải quyết các nhiệm vụ cấp bách trong từng thời đại, giai đoạn lịch sử nhất định Điều đó chứng tỏ vai trò cá nhân luôn được đề cao rất nhiều thông qua sự phục tùng tuyệt đối người chỉ huy của người dân và mang lại hiệu quả hữu hiệu khi cá nhân, thủ lĩnh đó biết phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc Hiện nay, Trung Quốc theo chế độ cộng hòa đại nghị và tồn tại dưới dạng hai hình thái nhà nước Đó là nhà nước dân chủ vô sản và nhà nước dân chủ tư sản (ở Hồng Kông) Nhưng điều hành, lãnh đạo đất nước do Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm chính quyền Trung Quốc hiện nay đang ngày càng phát triển và cường thịnh, điều đó chứng tỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc đang lãnh đạo đất nước đi đúng hướng trên con đường phát triển
Rõ ràng, truyền thống súng bái cá nhân, lãnh tụ không chỉ riêng ở Trung Quốc, hay ở các quốc gia phương Đông, phương Tây nói chung, mà ngay cả Việt Nam ta cũng tồn tại truyền thống ấy từ ngàn đời Hình ảnh Bác Hồ luôn để trong lòng muôn dân Việt Nam một tình cảm thật trìu mến, thân thương và Người được tôn vinh như một vị “cha già” thân thương của toàn dân tộc Bởi một lẽ Bác đã khơi dậy được sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân, Người đã
từng nói: “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”
Có lẽ, chính vì tư tưởng luôn lấy dân làm gốc, mà Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh tan bất kỳ quân xâm lược nào để thống nhất đất nước, lập lại hòa bình cho dân tộc
1.2 Chủ nghĩa gia trưởng, gia đình trị đã ngự trị lâu đời trong lịch sử chính trị Trung Quốc
Chủ nghĩa gia trưởng thể hiện rất rõ trong xã hội Trung Quốc không phải chỉ ở thời tiền sử mà cho đến ngày nay tư tưởng ấy vẫn còn tồn tại, thể hiện qua quan điểm trọng nam khinh nữ, tôn trọng người già hơn người trẻ Và lời nói của người đứng đầu trong một dòng tộc, một bộ tộc luôn mang tính quyết định
Trang 31Có lẽ, cũng chính từ quan niệm này, mà xã hội Trung Quốc từ thời xa xưa
đã nảy sinh vấn đề về "bất bình đẳng" giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ hình thành, độc đoán và hệ quả liên đới của nó vẫn còn tổn thất nặng nề cho tới ngày nay Đó là quan điểm, phụ nữ phải sinh bằng được con trai để nối dõi tông đường, và nếu sinh con gái hoặc siêu âm phát hiện cái thai là con gái sẽ bị bóp chết hoặc phá thai sớm, gây ra sự phản cảm, bất bình cho toàn xã hội Nó phản ánh sự thiếu tính nhân văn của con người và sự mất cân bằng về giới tính trong
xã hội, tỉ lệ nam nhiều hơn nữ, dẫn đến trường hợp nhiều người đàn ông không lấy được vợ, hoặc phải "nhập cảnh cô dâu" từ các nước khác về làm vợ Từ đó làm nảy sinh nhiều vấn nạn khác, tội phạm gia tăng, bọn buôn người lợi dụng việc buôn bán người trái phép để trục lợi, các công ty môi giới tranh thủ làm giàu thông qua dịch vụ giới thiệu, môi giới,… Nhiều cô gái Việt Nam bị bọn buôn người bắt cóc sang Trung Quốc để bán lấy tiền, có những trường hợp chán chồng hoặc bị chồng chê, bỏ sang Trung Quốc với ước mong được xuất ngoại, làm giàu để báo hiếu mẹ cha, nhưng họ có biết đâu lại phải chịu đựng một cuộc sống ê chề, đau khổ và đầy bất hạnh khi phải làm vợ cho cả cha và các con của ông ta, là những minh chứng rất cụ thể cho hệ quả trên Tuy nhiên, cũng có một
số trường hợp có số phận may mắn, nên cũng được sống hiển vinh, phát tài và cuộc đời êm đẹp
Hay, sức nặng trong lời nói của người đứng đầu dòng tộc, bộ tộc mang tính quyết định, quan niệm trọng già, khinh trẻ cũng để lại những hệ quả mang tính tiêu cực của nó Đó là sự độc đoán cá nhân, thiếu tính khách quan đôi khi gây ra những hậu quả nặng nề trong xã hội
Quan niệm “cha truyền con nối” được ví như hình ảnh trong câu thơ:
“Con vua thì lại làm vua Con sãi ở chùa thì quét lá đa Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa”
Trang 32Các đời vua xưa thường theo truyền thống cha truyền ngôi cho con cái, hoặc người trong dòng tộc Trong các gia đình, hay bộ tộc cũng thể hiện truyền thống ấy, người đứng đầu trong dòng tộc, bộ tộc sẽ truyền lại chức vụ trưởng tộc của mình cho người con trai cả Tuy không ghi vào trong bộ luật của nhà nước, nhưng đó là “luật bất thành văn” mà ai cũng phải biết
1.3 Mối quan hệ đẳng cấp "Bầu chủ và Người phụ thuộc" (Patron – Client) đã bao trùm mọi quan hệ trong xã hội một thời gian dài
Thời kỳ chiếm hữu nô lệ, mối quan hệ đẳng cấp này thể hiện thông qua mối quan hệ bóc lột của bọn chủ nô đối với nông nô Khổng Tử thời Xuân Thu
đã chia xã hội thành hai loại: quân tử và tiểu nhân Quân tử là người thuộc tầng lớp quý tộc, quan liêu, trí thức (kẻ sĩ) thuộc giai cấp thống trị Tiểu nhân là người lao động chân tay, là nô lệ, nông nô thuộc giai cấp bị trị Thời kỳ phong kiến, mối quan hệ này thể hiện thông qua mối quan hệ bóc lột tàn bạo của giới quan lại, địa chủ, tiểu quý tộc đối với người nông dân thông qua bạo lực về chính trị Vì vậy, dù muốn hay không các client vẫn phải chịu sự khuất phục trước các patron Nhưng sức chịu đựng của con người chẳng bao giờ là vô hạn
cả Do vậy, người dân đã vùng lên chống lại bọn tham quan, ô lại ấy cho dù cuộc đấu tranh là trường kỳ và vô cùng gian nan, vất vả
1.4 Chủ nghĩa quốc gia dân tộc cực đoan: thời kỳ đại Hán bành trướng
Trong lịch sử, Trung Quốc được coi là một thế lực ham chiến trận, chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, thể hiện trong các hoạt động quân sự và các chính sách ngoại giao, là một nỗi lo ngại đáng kể của các nước lân cận
Triều đại đầu tiên là nhà Tần đã thống nhất Trung Quốc từ việc đánh tan
và hợp nhất 6 quốc gia khác của thời Chiến Quốc cũng như các lãnh thổ sinh sống bởi những dân tộc không nói tiếng Trung, chẳng hạn như các bộ tộc Bách Việt Từ vùng thung lũng sông Hoàng Hà, cùng với sự mở rộng lãnh thổ Trung Quốc, nền văn minh Trung Hoa đã lan ra khắp các hướng, đặc biệt là về phía Nam Trong lịch sử Trung Quốc, lãnh thổ của quốc gia này mở rộng hay thu hẹp
Trang 33là tùy theo sức mạnh của triều đại đương thời Đỉnh cao là thời nhà Đường, khi lãnh thổ Trung Quốc phía Nam kéo tới nơi ngày nay là miền Bắc Việt Nam, phía Tây lan tới vùng Trung Á
Trong thời hiện đại, Trung Quốc sáp nhập Tây Tạng vào lãnh thổ của mình và tiếp tục có các cuộc chiến tranh biên giới với các nước láng giềng như Nga, Ấn Độ, Việt Nam,
Một trong những phát triển nguy hiểm nhất trong thời kỳ hậu chiến tranh
lạnh là việc khái niệm haiyang guotu guan (biển là lãnh thổ quốc gia) được
quảng bá rộng rãi trong quần chúng Các nhà chiến lược Trung Quốc hiện đang
bàn về nhu cầu "không gian sống" (shengcun kongjian, Lebensraum) và các biên
giới chiến lược mở rộng tới Ấn Độ Dương, Biển Đông và Biển Nhật Bản Tại Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ vùng biển cùng các quần đảo trong đó, một khu vực cách đất liền của Trung Quốc hàng nghìn hải lý
và có diện tích bằng khoảng 1/3 diện tích của nước này, chỉ chừa khoảng vài chục hải lý dọc theo bờ biển của các nước ven biển là Việt Nam, Malaysia, Philippines
2 Văn hóa chính trị hiện đại
Biểu hiện của văn hóa chính trị hiện đại trong quá trình chính trị là sự tồn tại và hoạt động của chế độ dân chủ tự do và dân chủ vô sản Tuy nhiên, trong bài viết chỉ xét đến khía cạnh "dân chủ tự do"
Để hiểu rõ được khía cạnh này, chúng ta phải làm sáng tỏ được khái niệm dân chủ và dân quyền
2.1 Dân chủ
Dân chủ trước hết là “một hình thức, hình thái nhà nước, trong đó nhân
dân được coi là người chủ của quyền lực” (12) Trong Từ điển Bách khoa toàn
thư Việt Nam định nghĩa dân chủ là “hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã
hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận
12
Nguyễn Văn Vĩnh (2005) Triết học chính trị về quyền con người NXB Chính trị quốc gia, tr 41
Trang 34nguyên tắc bình đẳng và tự do”(13) Từ điển Luật học định nghĩa dân chủ là “chế
độ chính trị trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân do nhân dân thực thi,
tự bản thân thực thi hoặc thông qua các đại biểu mà mình bầu ra Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của hình thức quản lý của chế độ dân chủ là thiết lập và duy trì nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do chính kiến và bình đẳng về giới tính, về dân tộc, về chính trị xã hội của công dân” (14)
Xét về nguồn gốc thì từ “dân chủ” xuất phát từ tiếng Hy Lạp là
“demokratia” Nó là sự kết hợp của hai từ “demos” nghĩa là nhân dân và
“kratos” là quyền lực, tức là quyền lực của nhân dân Dân chủ là phát minh
chính trị của của người Hy Lạp trong khoảng từ năm 500 đến 300 TCN
Democritus cho rằng “dân chủ là nhà nước vì quyền lợi chung của các công dân
và hoạt động của nhà nước phải đảm bảo sự bình đẳng và nhất trí của mọi công dân Đồng thời, nhân dân phải làm tròn bổn phận của mình và hành động theo pháp luật”(15) Còn Aristotle thì cho rằng “dân chủ là chế độ do một giai
cấp thấp kém thống trị vì quyền lợi của giai cấp đó và dân chủ khuyến khích người nghèo tham gia chính quyền đến độ phải trả tiền cho họ để họ đi họp” (16)
Montesquieu cho rằng “chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hay
một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao Trong chính thể này, dân chúng vừa như vua mà cũng vừa là thần dân Dân là vua bởi họ được thể hiện ý chí của mình bằng phổ thông đầu phiếu Dân bầu ra những những người đại diện cho họ để nắm quyền quản lý đất nước”(17) Nhà Khai sáng Jean Jacques cho
rằng “chính phủ dân chủ là cơ quan quyền lực tối cao có thể phó thác việc quản
lý chính phủ cho toàn dân hoặc cho đại bộ phận dân chúng”̣(18)
Trang 35Tổng thống Mỹ Lincoln cũng phát biểu về dân chủ là “chính quyền của
dân, do dân và vì dân” (19) Ở Pháp, tư tưởng này cũng được ghi nhận thành
nguyên tắc trong Hiến pháp Dễ dàng nhận thấy giữa Lincoln và Aristotle có quan điểm giống nhau về dân chủ là đều do nhân dân làm chủ nhưng không phải
là đa số thống trị vì cả hai ông đều là những người bảo vệ cho giai cấp thống trị, giai cấp chỉ chiếm thiểu số trong xã hội
Các nhà khoa học Marxist cũng có những nhận định khác nhau về dân
chủ Marx cho rằng, “trong chế độ dân chủ thì bản thân nhà nước hiện ra là một
trong những quy định, cụ thể là sự tự quy của nhân dân Chế độ dân chủ ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới nhân dân hiện thực và được xác định
là sự nghiệp của bản thân nhân dân”(20) Lenin đã tiếp thu và kế thừa quan điểm
của Marx một cách xuất sắc khi cho rằng “chế độ dân chủ có nghĩa là chính
thức thừa nhận cho mọi người được thừa nhận quyền bình đẳng giữa những người công dân, thừa nhận cho mọi người được quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước”(21)
Như vậy, dân chủ cận đại không phải là một khái niệm rộng, được ra đời
và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp hóa tư sản phương Tây Học thuyết dân chủ của giai cấp tư sản phương Tây bao gồm các nội dung chủ yếu
như “nhân quyền thiên phú”, các “khế ước xã hội”, “tam quyền phân lập” và “tự
do, bình đẳng, bác ái”,…
Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, dưới hình thức quản lý chuyên chế người dân không có khái niệm dân chủ Tư tưởng dân chủ thời kỳ cận đại được
du nhập từ phương Tây vào Trung Quốc sau cuộc chiến tranh thuốc phiện năm
1840 Cách mạng tư sản thắng lợi đã làm cho tư tưởng dân chủ càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ trở lại vào thế kỷ XVII – XVIII Cuộc cách mạng tư sản
đã biến tư tưởng dân chủ thành hiện thực, gắn nguyên tắc dân chủ với xã hội công dân và nhà nước pháp quyền, đảm bảo quyền sống, quyền tự do và quyền
Trang 36sở hữu của con người Dân chủ thể hiện ra nhiều mặt của đời sống: dân chủ kinh
tế, dân chủ chính trị, dân chủ trong văn hóa, khoa học,…
Tóm lại, dân chủ nghĩa là quyền làm chủ thuộc về nhân dân Vì dân chủ mang tính giai cấp nên có dân chủ tư sản phục vụ quyền lợi chủ yếu cho giai cấp
tư sản và dân chủ vô sản phục vụ quyền lợi cho giai cấp vô sản
2.2 Dân quyền
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam đã định nghĩa dân quyền là
“quyền của công dân”(22) Còn từ điển Luật học đã định nghĩa dân quyền “quyền
lợi chính trị của nhân dân như tự do, bình đẳng”(23)
Marx, một nhà tư tưởng lỗi lạc trên thế giới từng nói “dân quyền không
phải là bẩm sinh mà là được sản sinh ra trong lịch sử”(24) Chính trong quá trình vận động của lịch sử loài người đã sinh ra khái niệm này Dân quyền có thể coi
là khái niệm song sinh với khái niệm dân chủ Nó được hình thành với tư cách là khái niệm chính trị học từ các học thuyết chính trị của các nhà tư tưởng tư sản cách mạng Nó có nội dung căn bản là quyền tự do chính trị của công dân Marx
cho rằng “dân quyền là các quyền cơ bản và quyền tự do bao gồm các quyền
dân sự và chính trị, quyền sống, tự do ngôn luận và bình đẳng trước pháp luật Mọi người sinh ra đều có được tự do và bình đẳng trong phẩm giá và quyền”(25)
Tư tưởng dân quyền luôn đi đôi với việc thực hiện quốc quyền, tức là quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Dân quyền là cái cốt lõi, là cái cơ sở, then chốt của quốc quyền, quyền lực của nhà nước phải là quyền lực của nhân dân Thể chế cộng hòa chỉ có được khi người dân là người chủ tối thượng của nhà nước Chính phủ trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhân dân để cho dân quyền được tôn trọng và không bị thoái hóa, biến chất trở thành quyền lực độc đoán của một số cá nhân Quyền lực nhà nước phải tập trung thì nhà nước và chính phủ, tức là cả cơ quan lập pháp và hành pháp mới thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với dân; còn dân phải có nghĩa vụ kiểm tra nhà
Trang 37nước, giám sát chính phủ Chỉ có thực hiện được những nghĩa vụ đó thì quốc quyền và dân quyền mới được đảm bảo Bởi vì, xét về thực chất, dân quyền là
cơ sở, nền tảng của quốc quyền, còn nhà nước không có quyền mà chỉ thực hiện
sự ủy quyền của dân
Theo cách hiểu của cụ Phan Bội Châu về dân quyền là quyền của người dân, người dân có quyền đó là lẽ tất yếu, đã là con người dù nam hay nữ đều có quyền làm người và đó cũng chính là giá trị của con người Do đó, không có dân quyền, hay nói cách khác, không có quyền làm người thì con người mất hết giá trị của một con người Sự phân biệt nam quyền hay nữ quyền là không cần thiết,
vì đã là con người tất nhiên phải có quyền, người dân phải có quyền, tất cả mọi
người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật Phan Bội Châu cho rằng “mọi
thứ dân quyền đều được bình đẳng”, chứ đâu phải chỉ có vua, cha, chồng mới có
quyền, còn những người khác thì không có quyền Quan điểm này chẳng những khác hẳn quan điểm của Nho giáo về tam cương vốn đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người, mà còn tác động thức tỉnh nhân dân ta đứng lên xóa bỏ dấu ấn đó, đứng lên đấu tranh phá bỏ sự áp chế vô lý đương thời để giành lại quyền làm người của mình
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân quyền cũng được người tiếp thu từ
Tuyên ngôn của Mỹ, “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Như vậy, theo
Hồ Chí Minh dân quyền ở đây không chỉ là quyền công dân của từng con người
cụ thể mà Người đã nâng lên thành quyền của cả một dân tộc Quan niệm của Người luôn được chú trọng đề cao và tiếp tục là ngọn đuốc soi đường cho đất nước ta tiến hành xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân trong bối
cảnh có nhiều thế lực thù địch muốn chống phá, xuyên tạc nước ta
Trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn lần đầu tiên được nêu ra
vào mùa thu năm Ất Tỵ (1905) đề cập rất rõ đến vấn đề “dân quyền” Theo như
nguyên lý của Tôn Trung Sơn, dân quyền là nhân dân phải có 4 quyền cơ bản là quyền tuyển cử, quyền bãi miễn, quyền sáng chế và quyền phúc quyết Tư tưởng
Trang 38dân quyền của Tôn Trung Sơn đã buộc giai cấp thống trị phải nghĩ tới những sách lược bảo vệ quyền tự do cá nhân, đảm bảo công bằng trong xã hội Đây là một tư tưởng tiến bộ nhất của ông thời kỳ này
Như vậy, xét về bản chất thì hai khái niệm này giống nhau, đều nói đến quyền lực thuộc về nhân dân Nhưng, điểm khác biệt là trong khi dân chủ được xem như là cái chung, cái phổ biến thì dân quyền được xem như là cái riêng, cái đặc thù Thứ hai, xét về góc độ thời gian thì khái niệm dân chủ xuất hiện sớm hơn khái niệm dân quyền Ngay từ thời chiếm hữu nô lệ khái niệm dân chủ đã xuất hiện ở Hy Lạp, trong khi đó khái niệm dân quyền chỉ sinh ra trong xã hội tư bản Thứ ba, dân chủ được xem như là một chế độ chính trị trong khi đó dân quyền không được xem như là một chế độ chính trị mà nó chỉ được xem là tiêu chí đánh giá cơ bản quyền làm chủ của người dân
Rõ ràng, tư tưởng dân chủ, dân quyền là thành quả tư tưởng của nhân loại
Nó là kết quả đấu tranh của con người, vừa mang một giá trị nhân văn sâu sắc, vừa là tiêu chí để xác định bản chất của chế độ nhà nước Chính nhờ có tư tưởng này mà đã đảm bảo được ba quyền cơ bản của con người, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu
Các nhà tư tưởng Trung Quốc đã tích cực tiếp thu tư tưởng của châu Âu thời Khai sáng, tư tưởng cách mạng Pháp và chiến tranh giành độc lập ở Bắc
Mỹ, tư tưởng thời kỳ Minh trị Duy tân ở Nhật Bản và truyền bá tư tưởng dân chủ tự do vào xã hội Trung Quốc góp phần nâng cao ý thức của người dân, đặc biệt là tầng lớp sĩ tộc, canh tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo phong trào dân chủ dân quyền Trung Quốc chưa tiếp thu được tư tưởng của chủ nghĩa Marx, mặc dù tư tưởng này đã ra đời vào năm 1848, nên tư tưởng dân chủ dân quyền của họ chỉ dừng lại ở tư tưởng
tự do dân quyền tư sản mà thôi
3 Cơ sở hình thành
3.1 Điều kiện địa lý tự nhiên và dân cư
Trang 39Lãnh thổ Trung Quốc mênh mông nên địa hình cũng rất đa dạng, phức tạp Phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía Đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, các sông lớn đều chảy ra Thái Bình Dương tạo nên khí hậu ôn hòa Trong số 5.000 dòng sông của nước này thì Hoàng Hà và Dương Tử là hai con sông lớn nhất Tuy thường xuyên gây ra lũ lụt, nhưng Hoàng Hà và Dương Tử đã mang đến nguồn phù sa bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, mang lại giá trị kinh
tế cao Từ xa xưa, những con sông này là những tuyến giao thông huyết mạch nối liền các vùng trong lãnh thổ Trung Quốc,…
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, thích hợp với việc sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước nên ngay ở thời kỳ này, kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã đóng một vai trò chủ đạo Bên cạnh nghề trồng trọt, người dân còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, một số khác làm các nghề thủ công như sản xuất nông cụ, dệt vải, làm đồ gốm, Nhưng, nghề thủ công chỉ có tính chất bổ trợ cho nền kinh tế khép kín của làng xã, không phát triển thành kinh tế hàng hoá thị trường
Về mặt chủng tộc, cư dân ở lưu vực Hoàng Hà thuộc giống Mông Cổ, đến thời Xuân Thu được gọi là Hoa Hạ Đó là tiền thân của Hán tộc sau này Còn cư dân ở phía Nam Trường Giang thì khác hẳn cư dân vùng Hoàng Hà về ngôn ngữ
và phong tục tập quán, tục cắt tóc, xăm mình, đi chân đất Đến thời Xuân Thu, các tộc này cũng bị Hoa Hạ đồng hóa
Do tính chất nông nghiệp chi phối, tạo nên tính cách người Trung Quốc mang đậm tính Á Đông Nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp với tính tự trị làng xã buộc mỗi cá nhân, mỗi gia đình phải tự làm ăn, tự lo liệu cuộc sống của mình Bên cạnh đó, khoa học kĩ thuật còn chưa phát triển, sản xuất phụ thuộc
vào thiên nhiên nên người dân thường chỉ đủ ăn, đủ mặc Đó là cơ sở tạo ra tính
tư hữu, tính ích kỉ, gắn với nó là tâm lí sợ người khác hơn mình Họ dễ bì tị, đố
kị với những người giàu có, với những người có cuộc sống dư dả hơn mình Hơn
nữa, tính cộng đồng làng xã lại có mặt trái là dễ tạo ra thứ chủ nghĩa tập thể
Trang 40bình quân, lối sống ỷ lại, dựa dẫm, cam phận trong cái tôi nhỏ bé của mình, làm
cản trở tính sáng tạo của mỗi cá nhân Chính vì lối sống ấy mà ý thức cá nhân trong mỗi con người không phát huy mạnh mẽ để trở thành ý thức sáng tạo Người ta không nghĩ hay không dám hướng đến một cung cách làm ăn khác hơn
để cải tiến cuộc sống đơn sơ, thiếu thốn của mình, sống cam chịu, chấp nhận nó như một điều tất yếu Họ bằng lòng với cuộc sống theo cách thức sản xuất mà ông cha để lại, không dám đi xa, mạo hiểm vì cả đời chỉ quen với làng xã và mảnh ruộng cỏn con của mình Thêm nữa lối sống nông nghiệp còn tạo ra cho
người nông dân tính cách lề mề, tuỳ tiện và sự yếu kém về tính tổ chức Nền sản
xuất nông nghiệp vốn ít có những đòi hỏi khắt khe về thời gian, người ta không phải lo cạnh tranh gay gắt, không bị ai thúc ép Vì thế nên khi bước vào xã hội hiện đại với yêu cầu phát triển công nghiệp thì tính cách tuỳ tiện, thiếu kỉ luật,
thiếu tính tổ chức mới bộc lộ tất cả những yếu kém của nó Tư tưởng cục bộ địa
phương cũng là một hạn chế của con người nông nghiệp quen sống trong cộng
đồng làng xã mình mà ít mở rộng hiểu biết, giao tiếp ở phạm vi rộng hơn, xa hơn Tâm lí “người cùng làng” trong phạm vi cộng đồng có thể dễ đố kị nhau nhưng khi ra ngoài làng thì họ lại bênh vực cho những người cùng làng xã mình, hay có thể từ một việc va chạm nhỏ nhưng nếu động đến làng thì cả làng sẵn sàng kéo nhau ra bảo vệ làng mình một cách cực đoan bất kể tốt, xấu, phải, trái
Như đã phân tích ở trên, xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn
cô lập, tách biệt, cộng với những xiềng xích nô lệ của các quy tắc hà khắc cổ
truyền “đã làm hạn chế lí trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp và trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín Những công xã này chủ yếu làm cho
con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy”
Xã hội Trung Quốc, vì vậy, mang tính chất thụ động, quân bình, ít thay
đổi Lối tư duy thiên về trực giác, ít óc duy lí, phân tích, mổ, tình trạng tĩnh tại,
trì trệ của xã hội Trung Quốc kéo dài đến tận mươi năm đầu của thế kỉ XIX Và
đó chính là cơ sở để chế độ chuyên chế Trung Quốc tồn tại quá dai dẳng, làm cản trở sự phát triển của xã hội