1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tai lieu tap huan dong vat

153 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 38,08 MB
File đính kèm Động vật hoang dã VQG Bái Tử Long.rar (3 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I GIỜI THIỆU CHUNG TÀI NGUYÊN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ VIỆT NAM VÀMỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG NHẬN BIẾT ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 1.1.. Sự đa dạng về nguồn tài nguyên động vật V

Trang 1

DỰ ÁN LỒNG GHÉP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG CẢNH

QUAN TRUNG TRƯỜNG SƠN VIỆT NAM (BCC – GEF)

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ GIÁM SÁT ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

Thừa Thiên Huế, tháng 5 năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

PHẦN I GIỜI THIỆU CHUNG TÀI NGUYÊN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ VIỆT NAM VÀ

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THƯỜNG SỬ DỤNG TRONG NHẬN BIẾT ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

1.1 Tài nguyên động vật hoang dã Việt Nam

1.1.1 Sự đa dạng về nguồn tài nguyên động vật

Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến và kinh tuyến, khíhậu nhiệt đới ẩm, địa hình phức tạp, nhiều núi cao và cao nguyên đã tạo nên sự đa dạngsinh học cao về các loài động thực vật

Trước năm 1945, Việt Nam được coi là thiên đường của nghề săn bắn Các vùngĐông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên là những nơi có tài nguyên động vật rừng phong phú.Vào những năm đó, Tây Nguyên còn được coi là cái rốn của túi thú Đông Dương Trongnhững năm 1960 – 1975, trên các quần đảo núi đá vùng Đông Bắc, chiều chiều vẫn còngặp các đàn Khỉ vàng, Sơn dương ra các bãi biển đùa nghịch hay hóng mát trên các mỏmnúi cao Cũng trong những năm đó, đi rừng Tây Nguyên còn gặp những đàn Bò tót, Bòrừng, Voi khoan thai gặm cỏ; Nai về gần lán kiếm muối ăn Vậy mà chỉ từ 1986 đến nay,nạn săn bắn, nạn phá rừng đã gây nên nhiều thảm họa cho nguồn tài nguyên động vật rừngcủa đất nước (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998) Một số loài thú quý hiếm: Tê giác haisừng, Tê giác một sừng, Bò xám, Heo vòi đã bị loại khỏi danh lục động vật rừng nước ta.Hiện số lượng voi trong cả nước không quá 100 cá thể, Hổ chỉ còn 5 – 30 cá thể…Nhữngđối tượng săn bắn chủ yếu như Nai, Hoẵng, Sơn dương, Lợn rừng, Khỉ, Gà rừng và một sốloài chim nước cũng trở nên hiếm Hiện trong Sách đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê 418loài động vật đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau

Theo tài liệu cập nhật, hiện cả nước có khoảng 3000 loài động vật có xương sốngnhư bảng 1.1

Bảng 1.1: Sự đa dạng về các taxon động vật có xương sống của Việt Nam

và Nguyễn Thanh Vân(2011)

76

Thu Cúc và NguyễnQuảng Trường (2009)

40

nước mặn) Số lượng cácloài động vật khôngxương sống là 105 loài

Ghi chú: Theo Nguyễn Quảng Trường, số bò sát hiện tại là 420 loài và số lưỡng cư là 240 loài.

Trang 4

Số lượng các loài côn trùng ở nước ta vô cùng đa dạng và ước tính có trên 700.000loài và trên 121 họ Ngoài yếu tố đa dạng, Việt Nam cũng là quốc gia có nhiều loài độngvật đặc hữu.

1.1.2 Các nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên động vật

Hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy thoái tài nguyên rừng Việt Nam nói chung

và tài nguyên động vật nói riêng là: mất và suy thoái sinh cảnh sống; suy giảm quần thể

1.1.2.1 Mất và suy thoái sinh cảnh sống

Trong thời kỳ đầu của lịch sử, người Việt Nam tập trung sinh sống ở châu thổ sôngHồng, sau đó phát triển đến các vùng khác ở phía Đông và vào châu thổ sông Mê Kông.Vào thời gian đó, rừng Việt Nam còn bao phủ hầu khắp đất nước Trong thời kỳ Pháp đô

hộ, nhiều vùng ở miền Nam đã bị khai phá để trồng Cao su, Cà phê, Chè và một số câynông nghiệp khác Tuy rừng đã bị khai phá nhưng độ che phủ của rừng Việt Nam năm

1943 vẫn còn khoảng 14,29 triệu ha, chiếm 43,8% diện tích cả nước Ba mươi năm chiếntranh tiếp theo, diện tích rừng Việt Nam đã bị tàn phá nghiêm trọng: 72 triệu lít chất diệt

cỏ, 13 triệu tấn bom đạn với khoảng 25 triệu hố bom lớn nhỏ, bom cháy và xe ủi đất khổng

lồ đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới (Võ Quý, 1995) Ảnh hưởng gián tiếp của chiếntranh cũng rất to lớn Để nuôi sống dân và quân đội, trong lúc đồng ruộng và mùa màng bịbom đạn phá hoại, nhân dân Việt Nam đã phải khai phá một diện tích rừng khá lớn để sảnxuất nông nghiệp mà bình thường họ chưa cần đến như vậy

Sau chiến tranh (1975), diện tích rừng Việt Nam còn khoảng 9,5 triệu ha (bằng29,1% diện tích cả nước) Trong những năm gần đây, do dân số phát triển nhanh, do khaithác không hợp lý và do sự yếu kém trong công tác quản lý, rừng Việt Nam vẫn tiếp tục bịphá hoại Diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam năm 1989 là 8,63 triệu ha (26,5% diện tích

cả nước) và năm 1995 là 8,25 triệu ha (25,3%) Rừng tự nhiên của Việt Nam đã bị mất hơn

6 triệu ha sau hơn 50 năm

Một trong những hoạt động có ảnh hưởng mạnh là khai thác gỗ, mặc dù chỉ tiêukhai thác, chủng loại gỗ và địa điểm khai thác được hạn chế rất nhiều Khai thác tự phát,khai thác gỗ trộm là những mối lo nhất ở các địa phương Tuy Bộ Lâm nghiệp (nay là BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã có qui trình khai thác, qui trình phục hồi rừng saukhai thác nhưng các qui trình này không được thực hiện nghiêm túc và các cơ quan chứctrách không kiểm soát được Nạn chặt phá rừng làm nương rẫy hàng năm vẫn lớn Chỉ tínhriêng 6 tháng đầu năm 1999, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 3.260 vụ chặt cây

và phá rừng làm nương rẫy

Tỉ lệ mất rừng trong những năm qua là 70.000 – 110.000 ha/năm Diện tích rừng tựnhiên của Việt Nam đã rất ít lại còn bị chia cắt thành các vùng nhỏ Mất rừng và rừng bịchia cắt đã kéo theo sự mất loài, rừng không còn đủ khả năng hỗ trợ và tạo điều kiện thuận

Trang 5

lợi cho quần thể các loài sinh trưởng và phát triển Nhiều loài thực vật rừng quí hiếm bị tổnthương và giảm nhanh số lượng Hàng trăm loài động vật rừng không còn chỗ trú ngụ, phải

di cư hoặc phải co cụm lại và sống trong tình trạng khốn quẫn về thức ăn nơi ở Cuối cùngcác loài động vật này hoặc bị chết vì đói, hoặc bị chết do bị săn bắn Mất rừng và rừng bịchia cắt còn làm cho đất rừng bị xói mòn, hàng nghìn loài sinh vật đất bị đe dọa

Ngoài ra, Cháy rừng cũng đã là suy giảm diện tích rừng ở Việt Nam Có khoảng56% diện tích rừng dễ bị cháy trong số diện tích rừng còn lại của Việt Nam Hàng năm,nước ta bị cháy từ 20.000 đến 30.000 ha rừng (có năm cháy tới 100.000 ha) Chỉ tính 6tháng đầu năm 1999, Việt Nam đã có tới 342 vụ cháy rừng làm thiệt hại 1981 ha (ĐỗQuang Huy và các cộng sự, 2009)

Nhìn chung, diện tích và chất lượng rừng Việt nam ngày càng bị suy giảm nghiêmtrọng Các loài cây gỗ quý hiếm như: Trắc, Cẩm lai, Đinh, Lim, Sến, Táu, Giổi, GiángHương,…bị khai thác với mục đích thương mại với số lượng lớn Các khu vực vốn là khuvực phân bố của các loài cây gỗ quý hiện chỉ còn các cây gỗ nhỏ, cây tái sinh hoặc thậmchí bị tuyệt chủng cục bộ Tình trạng này diễn ra tại tất cả các khu rừng đặc dụng trong cảnước Kết quả kiểm kê rừng toàn quốc từ năm 2012 – 2016 cho thấy, rất nhiều diện tíchrừng đã bị khai thác và hiện chỉ còn các cây ưa sáng, các rừng tre nứa hoặc chuyển đổisang các rừng cây sản xuất, nương rẫy Sự mất mát và suy thoái diện tích và chất lượngrừng đã làm mất hoặc thu hẹp sinh cảnh sống của nhiều loài động vật, đặc biệt là nhữngloài có sinh cảnh sống đặc trưng

1.1.2.2 Suy giảm quần thể

Sự suy giảm quần thể các loài động vật chủ yếu do hoạt động săn bắt quá mức và sửdụng không hợp lý Tài nguyên động vật rừng đã bị khai thác quá mức trong suốt một thờigian dài qua Các loài động vật cỡ lớn (Bò tót, Bò rừng, Bò xám, Hổ, ) đã bị khai thác dẫnđến tình trạng cạn kiệt, khả năng phục hồi số lượng là rất khó khăn Nai, Hoẵng, Lợn rừng

là những loài có số lượng lớn ở hầu hết các địa phương miền núi trong những năm trước

1970 nay cũng đã trở nên hiếm Thậm chí Nai đã bị tuyệt chủng ở các tỉnh vùng Đông Bắc,hiếm ở vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Sao La mới được phát hiện năm 1992 nhưng đếnnay đã trở nên rất hiếm ở khu vực Trung Bộ

Nạn đánh bắt cá quá mức là một ví dụ dễ thấy ở hầu khắp mọi nơi Cá nước ngọt ởcác vùng bị cạn kiệt, thậm chí không còn gặp trên các ruộng lúa nước Con người đã đánhbắt cá với mọi phương tiện, mọi hình thức, thậm chí các hình thức và phương tiện đánh bắtmang tính diệt chủng như nổ mìn, dùng chất độc, rà điện

Hoạt động khai thác san hô hiện là mối đe doạ đối với các rạn san hô ít ỏi của ViệtNam Khai thác san hô đang diễn ra mạnh mẽ ở vùng ven biển từ Đã Nẵng đến Thuận Hải

Trang 6

Khoảng từ năm 1990 đến nay, việc buôn bán, xuất khẩu thực vật và động vật pháttriển rất nhanh Thị trường Việt Nam mở cửa dẫn đến hàng trăm loài động thực vật bị khaithác trái phép và bán qua biên giới Tuy chúng ta cũng chỉ mới bắt giữ được một phần nhỏ

số vụ buôn bán song số lượng động vật thu được cũng cho thấy hoạt động này đang diễn rakinh khủng Ví dụ năm 1995, tỉnh Sông Bé cũ bắt giữ 12.650 cá thể động vật rừng; Hà Nộinăm 1995 cũng thu giữ được 1.892 cá thể, 10 tháng đầu năm 1996 bắt 8.078 cá thể, năm

1997 bắt 4.044 cá thể, năm 2012 có gần 1 tấn động vật hoang dã bị tịch thu Vì không có

kế hoạch khai thác tài nguyên rừng hợp lý, không kiểm soát được chủng loại và số lượngxuất khẩu, không kiểm tra được phương tiện cũng như quy trình khai thác nên tài nguyênđộng vật, thực vật rừng, tài nguyên sinh vật biển, tài nguyên sinh vật ở các sông hồ trongnhững năm qua giảm sút nhanh chóng Tốc độ suy giảm diễn ra ngày càng tăng nhanh hơn(Đỗ Quang Huy và các cộng sự, 2009)

tê, vảy tê tê, rùa, chân tay gấu, sừng tê giác… được nhập lậu về tiêu thụ tại Việt Nam, hoặctrung chuyển sang nước thứ ba Từ đầu năm đến nay, các cơ quan chức năng tiếp tục pháthiện hàng chục vụ buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ ĐVHD trái phép Điển hình mới đây,Công an tỉnh Hà Tĩnh đã bắt giữ ba đối tượng về hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép

12 cá thể voọc đã chết có tổng trọng lượng 71 kg đang được vận chuyển đến nơi tiêu thụ…

Các chuyên gia nhận định: một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến

tỷ lệ mất ĐDSH của Việt Nam là tình trạng săn bắt, buôn bán, tiêu thụ ĐVHD tiếp tục giatăng thời gian qua, nhất là một số loài được quảng bá có các tính năng như bồi bổ sứckhỏe, tăng cường sinh lực, chữa bệnh nan y (dù có rất ít bằng chứng khoa học chứngminh), cho nên đã trở thành đối tượng bị săn lùng, khai thác tận diệt Trong khi đó, do lựclượng mỏng, trang thiết bị, phương tiện còn hạn chế, các đơn vị chuyên trách chưa theo kịpthủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp của các đối tượng vận chuyển, buôn bán trái phép cácĐVHD nguy cấp, quý, hiếm (Báo Nhân dân điện tử, 2017)

Năm 2000, Cục Kiểm lâm và tổ chức TRAFFIC Southeast Asia đã thống nhất hợptác sản xuất cuốn sách “Nhận dạng động vật hoang dã bị buôn bán” Trong cuốn tài liệunày đã mô tả đặc điểm nhận dạng của 01 loài lưỡng cư, 28 loài bò sát, 14 loài chim, 41 loàithú đang bị buôn bán hiện nay

Trang 7

1.2 Một số đặc điểm hình thái thường sử dụng nhận biết động vật hoang dã

1.2.1 Đối với các loài lưỡng cư

Các chỉ tiêu hình thái như sau: Dài thân (SVL); Dài đầu (HL); Rộng đầu (HW);Khoảng cách từ mút mõm đến mũi (SL); Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều dọc(ED); Đường kính lớn nhất của màng nhĩ (TD); Khoảng cách bờ trước mũi đến mõm (NS);Khoảng cách từ mép trước của mắt đến mép sau của mũi (EN); Đường kính củ cạnh trong(IML); Rộng mí mắt trên (UEW) Chiều dài ống chân (TIB); Chiều dài đùi (FEM); Chiềudài tay (HND); Chiều dài bàn chân (FTL); Gian mũi (IN); Chiều dài ngón thứ 3 (ML);Chiều dài ngón thứ 4 (PL)

(Banikov et al., 1977; Hoàng xuân Quang, 2012)

Hình 1.1: Các đặc điểm hình thái dùng trong phân loại lưỡng cư không đuôi

1 Lỗ mũi; 2 Mắt; 3 Màng nhĩ, 4 Dài mũi; 5 Mí mắt trên; 6 Rộng mí mắt trên; 7 Gian

mí mắt; 8 Gian mũi; 9 Khoảng cách giữa hai dải mũi; 10 Khoảng cách từ mõm đến mũi;1l Dài mõm; 12 Đường kính mắt; 13 Dài màng nhĩ; 14 Dài thân; 15 Rộng đầu; 16 Lỗhuyệt; 17 Dài đùi; 18 Dài ống chân; 19 Đùi; 20 Ống chân; 21 Cổ chân: 22 Dài củ bàntrong; 23 Dài bàn chân; 24 Rộng đĩa ngón chân

Trang 8

Hình 1.2: Cách tính công thức màng bơi (Ohler và Delorme, 2006)

Công thức màng bơi tính như sau:

Nếu bắt đầu từ mút ngón chân (ngay ở gốc đĩa bám) thì là 0 (hoàn toàn), ½ thì lànửa của đốt; đốt 1 là đốt ngoài cùng (tính từ ngoài về phía gốc ngón)

1.2.2 Đối với các loài bò sát

Lỗ đùi (nếu có); Số bản mỏng dưới ngón: đếm số bản mỏng dưới ngón I chi trước (FIS),ngón IV chi trước (FIVS) và ngón I chi sau (TIS), ngón IV chi sau (TIVS)

Trang 9

(Manthey and Grossman, 1997)

Hình 1.4: Các tấm khiên ở đầu thằn lằn

Trán; 2 Trước trán; 3.Trán – mũi; 4 Mũi; 5 Trên mũi; 6 Mõm; 7 Má; 8 Sau mũi; 9 Trên

ổ mắt; 10 Trán đỉnh; 11 Gian đỉnh; 12 Ðỉnh; 13 Gáy; 14 Trước ổ mắt; 15 Trên mi; 16.Mép trên; 17 Cằm; 18 Sau cằm; 19 Mép dưới; 20 Thái dương; 21 Họng; 22 Màng nhĩ

Hình 1.5: Đầu và các tấm đầu thằn lằn

a Gekko gecko (bản mỏng không chia); b Hemidactylus frenatus (bản mỏng chia);

c Eutropis longicaudata; d Takydromus sexlineatus

(Bourret, 1943)

Hình 1.6: Mặt dưới bàn chân thằn lằn

Trang 10

a Mặt trên; b Mặt dưới; c Mặt bên

(Manthey and Grossmann, 1997)

Hình 1.7: Vảy và tấm đầu của rắn

F Vảy trán; P Vảy đỉnh; Pf Vảy trước trán; In.Vảy gian mũi; M Vảy cằm; R Vảy mõm;SL; Vảy mép trên; IL Vảy mép dưới; MA Vảy sau cằm trước; MP Vảy sau cằm sau; G.Vảy họng; V Vảy bụng; N Vảy mũi; L Vảy má; Pro.Vảy trước mắt; Pto.Vảy sau mắt;Subo Vảy dưới mắt; T Vảy thái dương

Trang 11

a Ðến xiên; b Ðếm theo hình chữ V; c Ðếm so le

Hình 1.8: Cách đếm số hàng vảy thân

(Manthey and Grossmann, 1997)

Hình 1.9: Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm huyệt

(Manthey and Grossmann, 1997)

Vảy bụng (V) có hoặc không có khuyết ở bên, vảy dưới đuôi (SC) nguyên (xếp 1 hàng)hoặc kép (2 hàng), tấm huyệt (A) có thể nguyên hay chia

Hình 1.10: Đầu rắn độc (Rắn lục)

Trang 12

+ Chi: hình dạng, số lượng chi, ngón, màng da, dạng vuốt, giác bám.

+ Mai, yếm (rùa, ba ba): hình dạng, kích thước, số lượng tấm.

Hình 1.12: Tấm mai và tấm yếm của rùa

Trang 13

Đo kích thước các phần cơ thể (đơn vị tính mm): Lca Dài mai (từ bờ trước tấm gáyđến mép sau tấm trên đuôi); Hca Cao mai (từ yếm đến chỗ cao nhất của mai); Wca Rộngmai (bề rộng lớn nhất của mai); LP Dài yếm; WP Rộng yếm; TailL Dài đuôi (từ méptrước khe huyệt đến mút đuôi).

(Hoàng Xuân Quang et al., 2012)

Hình 1.13: Ðo các phần cơ thể rùa

Lca Dài mai; Wca Rộng mai; Hca Cao mai; TailL Dài đuôi

1.2.3 Đối với các loài chim

Hình thái ngoài của các loài chim rất khác nhau, một số đặc điểm về hình dáng, màusắc và tập tính của chúng có thể giúp cho người quan sát nhanh chóng nhận biết được loài

- Hình dạng

Kích thước cơ thể: chim cỡ lớn (có trọng lượng cơ thể từ 1kg trở lên) như các loàithuộc nhóm chim ăn thịt thường bay lợn trên cao hay sà xuống thấp để bắt mồi (Đại bàng,Diều hâu, …), các loài thuộc họ Trĩ (Công, Trĩ sao, Gà lôi trắng), các loài Hồng hoàng,Cao cát Các loài chim sống ở môi trường nước cỡ lớn (Ngỗng trời, Sếu, Bồ nông, …) Cácloài chim có kích thước trung bình khá phổ biến Nhiều nhất là các loài chim nhỏ (trọng l-ượng cơ thể từ vài trăm gam đến vài gam) và chủ yếu là các loài thuộc bộ Sẻ (bộ Sẻ có sốloài chiếm hơn một nữa tổng số loài chim của Việt Nam hiện nay)

- Đặc điểm hình thái ngoài

Nhiều đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài có thể giúp chúng ta nhận biết dễ dàng cácloài chim như: chiều dài cổ, mỏ, chân, cánh và đuôi; mào lông ở đầu; sự sai khác về hìnhdạng mỏ, dạng cánh, dạng đuôi và màu sắc các phần trên cơ thể

Trang 14

Hình 1.14a: Mô tả hình thái và cấu tạo cơ thể chim

Trang 15

Hình 1.114b: Mô tả hình thái và cấu tạo cơ thể chim (tiếp)

4 Bao tai 16 Bao trên đuôi 27 Lông (cánh) sơ cấp

Trang 16

10 Sườn 22 Lông cánh tam cấp 33 Ngón giữa

11 Đùi 23 Lông cánh thứ cấp 34 Vảy gốc cánh trên

12 Lưng trên 24 Cánh con

35 Vảy gốc cánh dưới 57 Vằn/vạch gò má 62 Khía/mép lông

36 Vảy gốc cánh phụ 58 Điểm khớp (cánh, 63 Phiến (lông) trong

37 Con ngươi/động tử (mắt) tương đơng khớp cổ tay) 64 Phiến ngoài

38 Mống mắt 59 Bao cánh sơ cấp nhỏ 65 Khuyết

39 Vòng quanh mắt 51 Dải bên đỉnh đầu 67 Lông bao lớn dưới cánh sơ cấp

40 Vùng/điểm trước mắt 52 Lông mày 68.Lông bao nhỡ dưới cánh sơ cấp

42 Mỏ (trên) 53 Vành mắt 69.Lông bao nhỏ dưới cánh sơ

43 Mép mỏ 54 Vạch ngang mắt 70 Bao dưới cánh nhỏ

44 Hàm dưới 55 Vạch gốc mỏ 71 Bao dưới cánh trung bình

45 Vảy hàm dưới 56 Vạch dưới gốc mỏ 72 Bao dưới cánh lớn

46 Hàm dưới 57 Vằn / Vạch gò má 73 Lông nách

47 Mườu gò má 58 Điểm khớp (cánh, cổ tay) 74 Ngón trong

48 Họng 59 Bao cánh sơ cấp nhỏ 75 Lông cánh thứ cấp

49 Gốc (mép) mỏ 60 Bao cánh sơ cấp TB 76 Lông cánh sơ cấp

50 Dải giữa đỉnh đầu 61 Bao cánh sơ cấp lớn

1.2.4 Đối với các loài thú

Có nhiều yếu tố giúp người điều tra có thể nhận nhanh loài ngoài thực địa Để thíchnghi với môi trường sống khác nhau, các loài thú có những cấu tạo hình thái khác nhau

- Điển hình và phổ biến là dạng thú sống trên mặt đất với cơ thể được cấu tạo từđầu, thân, các chi và đuôi rõ ràng Tuy nhiên những loài sống trên cây thường có đuôi dài(Cầy mực, Cầy vòi mốc, các loài sóc, ); các loài sống nơi trống trải thường có chân caochạy nhanh và tai to thính (Nai, Hươu vàng, )

- Dạng đặc biệt gồm các loài thú bay và thú bơi Thú bay gồm các loài dơi có cánhvới các xương ngón dài và nối với nhau bằng màng da mỏng, bay giỏi Gần gũi với thú bay

là Cầy bày, Sóc bay, tuy những loài này được đặt tên như vậy nhưng chúng chỉ có khảnăng lượn từ trên cao xuống thấp Cầy bay và Sóc bay có màng da nối từ cổ qua chi trướcđến chi sau và đuôi Các loài thú bay hoặc thú lượn chỉ hoạt động vào ban đêm Dơi baynhẹ nhàng và không phát ra tiếng động Ngược lại, Sóc bay, Cầy bay phát ra tiếng động(tiếng gió rít) khi lượn

- Dạng thú bơi chỉ sống trong môi trường nước và có hình thái cấu tạo thích nghivới vận động bơi lội (Bò biển, Hải cẩu, Cá heo, Cá voi ) Các loài thú nhóm này đều có datrần, chi biến thành mái chèo, đuôi dạng đuôi cá

Trang 17

- Một nhóm thú sống trên cạn nhưng kiếm ăn dưới nước rất dễ nhận diện trên thực

địa là rái cá Việt Nam đã ghi nhận 4 loài rái cá, đó là Rái cá lớn (Lutra lutra), Rái cá lông mượt (Lutra perspicillata), Rái cá lông mũi (Lutra sumatra) và Rái cá nhỏ (Aonyx

cinerea), trong đó 3 loài rất dễ phát hiện trên thực địa (trừ Rái cá lông mũi) nhờ dấu chân

và phân của chúng để lại trên thực địa)

Ngoài các đặc điểm về môi trường sống, các đặc điểm hình thái, cấu tạo ngoài củathú (kích thước toàn bộ và từng phần cơ thể, hình dạng, màu sắc cơ thể và vác sọc, đốm,khoang màu trên các bộ phận, dáng điệu, cách thức vận động, ) thường được sử dụng đểnhận diện loài Điểm lưu ý để nhận diện nhanh và chính xác các loài thú trên thực địa,người điều tra phải có những kinh nghiệm nhất định và luôn luôn tích lũy kinh nghiệm.Ngoài kinh nghiệm sẵn có, chúng ta cần kết hợp nhanh nhiều đặc điểm hình thái, sinh thái

và cả tập tính của con vật trong nhận biết loài

Các đặc điểm hình thái thường được sử dụng để đo đếm thú: Khối lượng cơ thể(gam hoặc kg); Hình dạng, màu sắc các bộ phận cơ thể, màu sắc lông; Kích thước các bộphân trên cơ thể; Chiều dài thân (HB): đo từ mút mõm đến gốc đuôi (hậu môn); Chiều dàiđuôi (T): Đo từ gốc đuôi đến mút đuôi (không kể túm lông đuôi); Chiều cao tai (E): Đo từkhe trước lỗ tai tới chỏm sau tai (không kể túm lông tai); Chiều dài bàn chân sau (HF): Đo

từ gót chân đến mút ngón chân dài nhất (không kể vuốt); Chiều rộng màng da (sóc bay, cầybay): Đo chỗ rộng nhất

Hình 1.12: Cách đo kích thước thú

PHẦN II NHẬN BIẾT MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ NGUY CẤP, QUÝ HIẾM THƯỜNG BỊ BẪY BẮT, BUÔN BÁN KHU VỰC TRUNG TRƯỜNG SƠN 2.1 Các loài lưỡng cư

Trang 18

2.1.1 Thành phần các loài lưỡng cư ở Việt nam

Theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009), nước ta có

173 loài lưỡng cư thuộc 43 giống, 10 họ và 3 bộ (bảng 2.1)

Bảng 2.1: Tổng hợp thành phần các loài lưỡng cư ở Việt Nam đến năm 2009

(Nguồn: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường, 2009)

Kể từ năm 2009 đến nay, số lượng các loài lưỡng cư bổ sung ở Việt Nam ngày càngnhiều Thông qua các bài báo về các loài mới ghi nhận, hiện nay nước ta có khoảng 210loài lưỡng cư thuộc 10 họ và 3 bộ (bảng 2.2)

B ng 2.2 T ng h p th nh ph n các lo i l ảng 2.2 Tổng hợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ổng hợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ưỡng ở Việt Nam đến nay ng Vi t Nam ở Việt Nam đến nay ệt Nam đến nay đến nay n nay

Trang 19

1 Cóc tía Bombinatoridae 1 1

Từ năm 2009 đến nay, nước ta có 37 loài lưỡng cư được bổ sung cho 8 họ, đặc biệt

bổ sung 3 giống mới Họ có nhiều loài được phát hiện nhất là họ Ếch cây, tiếp đến là họCóc bùn và họ Nhái Bầu Số loài Ếch giun mới được phát hiện cũng góp phần thêm sự đadạng của bộ Không chân

2.1.2 Thành phần các loài lưỡng cư nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam

Trong số các loài lưỡng cư ở Việt Nam hiện có 14 loài lưỡng cư đang bị đe dọatuyệt chủng và có tên trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), 01loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP và không có loài nào thuộc Nghị định160/2013/NĐ-CP Danh sách các loài lưỡng cư nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam nhưbảng 2.3

B ng 2.3: Danh sách các lo i l ảng 2.2 Tổng hợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ưỡng ở Việt Nam đến nay ng c nguy c p, quý, hi m Vi t Nam ư ấp, quý, hiếm ở Việt Nam ến nay ở Việt Nam đến nay ệt Nam đến nay

Trang 20

2.1.3 Các loài lưỡng cư nguy cấp, quý, hiếm ở vùng Trung Trường Sơn

Theo thống kê từ các tài liệu về vùng phân bố của các loài lưỡng cư ở Việt Nam (ĐỗQuang Huy, 1998; Nguyễn Văn sáng và cộng sự, 2005; Nguyễn Văn Sáng và cộng sự,2009; Trần Hồng Việt, 2013) hiện có 76 loài lưỡng cư thuộc 7 họ có vùng phân bố từQuảng Bình đến Thừa Thiên Huế, Quảng Nam (bảng 2.4)

B ng 2.4: Các lo i l ảng 2.2 Tổng hợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ưỡng ở Việt Nam đến nay ng c có vùng phân b khu v c Trung Tr ư ố khu vực Trung Trường sơn ực Trung Trường sơn ường sơn ng s n ơn

TT Tên họ và loài Khu vực ghi nhận tại Trung Trường Sơn

I Họ Cóc

II Họ Nhái bén

III Họ Cóc bùn

Trang 21

TT Tên họ và loài Khu vực ghi nhận tại Trung Trường Sơn

Nam

Nam

Nam

V Họ Ếch nhái chính

thức

Nam

Nam

Nam

VI Họ Ếch nhái

Trang 22

TT Tên họ và loài Khu vực ghi nhận tại Trung Trường Sơn

Nam

Nam

Nam

Nam

VII Họ Ếch cây

Nam

Nam

Trang 23

Trong số 76 loài lưỡng cư đã được ghi nhận tại khu vực Trung Trường Sơn có 5 loàinguy cấp, quý, hiếm như bảng 2.5 Trong số đó có 3 loài ở cấp Nguy cấp (EN) và 2 loàithuộc cấp Sắp nguy cấp (VU).

Bảng 2.5: Thành phần các loài lưỡng cư nguy cấp, quý, hiếm trong khu v c ực Trung Trường sơn

Nam (2007)

Nghị định 32(2006)

Nghị định 160(2013)

Trên đầu có mào xương lớn kéo dài ra phía sau lên trên ổ mắt Tuyến mang tai nhô

rõ Gờ ổ mắt - màng nhĩ dày, rất phát triển Màng nhĩ nổi rõ bằng 3/4 mắt Da xù xì, cácmụn cóc chạy dọc thân ở hai bên sườn tạo thành những hàng gai Dài thân 65 - 85mm

Sinh học, sinh thái:

Sống chủ yếu ở rừng thường xanh, rừng lẫn rụng lá hay thứ sinh với nhiều tre nứa(ở độ cao 600 - 1200m), trên thảm lá cây mục nát ven các suối nhỏ Hoạt động kiếm ăn cảban ngày và ban đêm Thức ăn chủ yếu của cóc rừng là kiến

Thế giới: Lào, Campuchia

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016 ; Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2009)

Trang 24

Tình trạng:

Sách đỏ Việt Nam (2007): Sắp nguy cấp (VU)

Loài Cóc rừng có đặc điểm khá giống Cóc nhà Một số đặc điểm phân biệt giữa 02loài này như bảng 2.6

B ng 2.6: Phân bi t gi a lo i Cóc r ng v Cóc nh ảng 2.2 Tổng hợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ệt Nam đến nay ữa loài Cóc rừng và Cóc nhà ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ừng và Cóc nhà ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay

Đặc điểm phân biệt Duttaphrynus melanostictusCóc nhà Ingerophrynus galeatusCóc rừng

Nốt sần (mụn cóc) To nhỏ không đều: lớn ở giữa sống

lưng và bé dần về 2 bên sườn

Mụn chạy dọc thân, ở 2 bên sườn tạothành những hàng gai

Tuyến mang tai Hai tuyến lớn Hai tuyến nhỏ hơn cóc nhà

Màng xương Nhỏ và thấp chạy từ mõm đến trước

mắt Dưới tai không có viền

Màng xương lớn từ mõm đến saumang tai Dưới tai có viền lớn

Sinh cảnh sống Khô ráo, thoáng gió Rừng nứa, thảm cây mục nát

Phân bố Toàn quốc Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh,

Quảng Bình, Quảng Ninh, Gia Lai,Lâm Đồng, Đồng Nai

Trang 25

nhĩ rõ, bằng 3/4 đường kính mắt Chân tay mảnh, đầu các ngón tròn, không phình thànhđĩa Hai củ dưới bàn tay và bàn chân rõ, mầu vàng sáng.

Sinh học, sinh thái:

Đây là loài cóc ưa sống ở các vùng rừng nguyên sinh, ẩm, kín tán với độ cao trên300m chủ yếu ven các suối nước

Giá trị:

Có giá trị khoa hoc Từ 1937 cho đến 2000 mới có thêm thông tin về loài này

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sa Pa), Hà Tĩnh (Hương Sơn), Quảng Nam (Trà My)

Thế giới: Bắc Myanma, Trung Quốc

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016 ; Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2009)

Tình trạng: Sách đỏ Việt Nam: Nguy cấp (EN)

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016)

Hình 2.3: Cóc Pa giô - Bufo pageoti

và mặt trên phía ngoài cẳng chân ở con cái những hạt này không rõ lắm nên da chúngkhông ráp nhiều như ở con đực Trên các chi đều có các vệt ngang mầu tối Phía dưới bụng

và đùi đôi khi đỏ hồng nhưng thường vàng xanh; ức thường nâu đôi khi điểm chấm sẫm.Xung quanh con ngươi mắt có một vòng tròn khá rộng màu vàng Con đực nhỏ hơn con cáinhiều

Trang 26

Sinh học, sinh thái:

Chàng an-dec-son thường sống bên bờ những con suối có nước chảy mạnh, có nhiều

đá trên núi cao (600 - 1200m) Chúng khác với nhiều loài ếch nhái khác vì đôi khi chúng đikiếm ăn cả ban ngày Thức ăn của chúng thường là: châu chấu, gián rừng, cuốn chiếu Loàiếch này bơi giỏi, có thể bơi ngược dòng suối chảy xiết Tuy thích sống trong môi trườngnước nhưng nhiều khi chúng nấp trong các bụi cây, hốc đá bên bờ suối để kiếm mồi

Thế giới: Mianma, Trung Quốc, Lào

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016; Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2009)

Bảng 2.7: Một số đặc điểm phân biệt Ếch xanh và Chàng an-dec-son

Đặc điểm phân biệt Odorrana chloronotaẾch xanh Odorrana andersoniiChàng an-dec-son

sườn đôi khi cả trên mí mắt có

Da nhẵn, mặt dưới đùi thỉnhthoảng nổi lên hạt bé

Trang 27

Đặc điểm phân biệt Odorrana chloronotaẾch xanh Odorrana andersoniiChàng an-dec-son

những hạt nhỏ, những hạt này có

cả ở vùng lỗ huyệt, ở rìa phíangoài háng và mặt trên phía ngoàicẳng chân ở con cái những hạtnày không rõ lắm nên da chúngkhông ráp nhiều như ở con đực

xanh Phía dưới bụng và đùi đôikhi đỏ hồng nhưng thường vàngxanh ức thường nâu đôi khi điểmchấm sẫm

Các hoa văng thường xám trắng.Bụng thường có màu trắng

Trang 28

Lưng ếch gai có mầu vàng lục thẫm hay đen Có một nếp da màu sáng chạy nối phía sauhai mắt Mỗi bên đầu có một nếp da kéo dài từ sau mắt đến tận vai Màng nhĩ không rõ.Trên chân sau có những vệt ngang mờ Bụng trắng, ức và phía dưới các chi lốm đốm xám.

Sinh học, sinh thái:

Sống ở vùng rừng núi, thường gặp chúng ở ven bờ suôí có nước chảy mạnh Ban

ngày chúng ẩn sâu trong khe đá hay dưới các gốc cây, ban đêm mới đi kiếm ăn Thức ăngồm: ấu trùng chuồn chuồn, sâu non, gián rừng, kiến đen, châu chấu, nhiều chân, ốc Vàomùa sinh sản ở phần ngực của ếch gai đực phủ kín những gai đen Ếch đẻ trứng vào tháng

5 - 9 hàng năm, trứng dính với nhau thành từng đám bám vào các cây cỏ thuỷ sinh haydưới các tảng đá chìm trong các thác nước Đường kính trứng lớn nhất tới 5mm

Thế giới: Trung Quốc

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016; Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2009)

Tình trạng: Sách đỏ Việt Nam (2007): Nguy cấp (EN)

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016)

Hình 2.7: Ếch gai - Quasipaa spinosa

Trang 29

nền vàng ở hai bên nách Bàn chân tay có màng hoàn toàn, đĩa ngón rộng trên nền vàngcủa màng chân (màng tay của 3 ngón ngoài) có mầu đen hay tím sẫm Màng chân lớn, nếp

da bên cánh tay rộng giúp ếch có thể liệng từ trên cây cao xuống Gót chân có nếp da nhọn.Mầu sắc con đực và con cái giống nhau

Sinh học, sinh thái:

Loài này gặp ở hầu khắp các rừng ở trung du và miền núi đến độ cao 1500m Thức

ăn của ếch cây kio là sâu non, cánh màng, kiến, đó là những con mồi có sẵn trên cây Ếchcây kio sinh sản từ đầu tháng 4 cho đến hết tháng 8 Thời gian sinh sản tập trung vào tháng

4 - 5 (Buôn Lưới), tháng 7 - 8 (Bến En) Vào những đêm mưa, ếch tập trung quanh các hồnước trên các cành cây, thường số lượng con đực gấp đôi con cái Trời tối hẳn chúng liệng

từ trên cây cao 3 - 5m xuống mặt hồ, ghép thành đôi, con cái cõng con đực leo lên các cànhcây ven hồ và các con đực khác củng bám theo tạo thành một nhóm từ 5 - 7 con đực cùnggiao phối với 1 con cái.Thời gian giao phối từ 1 - 4 giờ Trứng được đẻ và thụ tinh luôncuộn trong những chiếc lá tạo thành những ổ bọt dài 18 - 22cm treo lơ lửng cách đất 0,5 -1m Nòng nọc phát triển trong ổ bọt rồi rơi xuống nước

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia

Tình trạng:

Sách đỏ Việt Nam (2007): Nguy cấp (EN)

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016)

Hình 2.8: Ếch cây kio - Rhacophorus kio

6 Nhái bầu vân

Tên khoa học: Microhyla pulchra

Trang 30

Họ: Nhái bầu – Microhylidae

Bộ: Không đuôi – Anura

Đặc điểm nhận biết:

Cơ thể có kích thước: trung bình Thân hình tam giác, mõm nhỏ và hơi tròn, conđực có túi thanh quản lớn, các ngón tay không có màng Lưng có vân xếp như hình đồngmức và chia thành 2 vùng màu (đậm ở giữa và sáng ở bên ngoài) Bụng và đùi có thể cóđốm màu vàng

Đặc điêm sinh học, sinh thái:

Nhái bầu vân sống ở các sinh cảnh như: rừng thường xanh, đồng ruộng, ven suối,vườn cây Kiếm ăn đêm, thức ăn là côn trùng

Giá trị: khoa học, sinh thái

Ở Việt Nam: từ miền Bắc đến Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc

Trên thế giới: Cam pu chia, Trung Quốc, Hồng K ông, Lào, Ma Cao, Thái Lan, ViệtNam

Tình trạng: số lượng còn nhiều

(Ph m Nh t v ạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998) ật và Đỗ Quang Huy, 1998) ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay Đỗ Quang Huy, 1998) Quang Huy, 1998)

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016)

Hình 2.9: Nhái bầu vân - Microhyla pulchra

Loài ếch cỡ trung bình, dài 7-10cm Trên lưng có nhiều nốt sần với khoảng 10 nếp

da, chi có màng da gần như đầy đủ giữa các ngón, đầu ngón chi trước hơi phình Da lưngmàu nâu hoặc xanh rêu, có nhiều đốm sần nhỏ đứt quãng chạy dọc theo thân Có một nếp

da kéo dài từ mí mắt, vòng qua trên màng nhĩ và đến gần chi trước Màng nhĩ rõ Ếch đựckhác biệt với ếch cái bởi 2 chấm đen ở dưới hàm và hai chai sinh dục rất rõ Con đực nhỏhơn con cái

Đặc điểm sinh học, sinh thái:

Trang 31

Ếch đồng sống ở nơi ẩm ướt như đồng ruộng, ao, hồ, suối…,sống chủ yếu dướinước Loài có khả năng di chuyển nhanh trong nước nhờ các màng da nối các ngón chânvới nhau Săn mồi bằng cách rình mồi Thức ăn gồm các loài châu chấu, cào cào, dế, chuồnchuồn, cua, ốc

Giá trị: thực phẩm, sinh thái

Phân bố:

Việt Nam: khắp cả nước

Thế giới: Lào và Campuchia

Tình trạng: số lượng còn nhiều ngoài tự nhiên

Đặc điểm sinh học, sinh thái:

Ếch đồng sống ở nơi ẩm ướt như đồng ruộng, ao, hồ, suối…,sống chủ yếu dướinước Loài có khả năng di chuyển nhanh trong nước nhờ các màng da nối các ngón chânvới nhau Săn mồi bằng cách rình mồi Thức ăn gồm các loài châu chấu, cào cào, dế, chuồnchuồn, cua, ốc

Giá trị: thực phẩm, sinh thái

Phân bố:

Việt Nam: khắp cả nước

Thế giới: loài có ở nhiều nước châu Á: Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Campuchia

Tình trạng: số lượng còn nhiều ngoài tự nhiên.

(Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)

Trang 32

2.2.1 Thành phần các loài bò sát ở Việt nam

Theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009), nước ta có

Trang 33

(Nguồn: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường, 2009)

Cũng giống như các loài lưỡng cư, kể từ năm 2009 đến nay có nhiều loài mới đượcphát hiện bổ sung ở Việt Nam và chủ yếu trong phân Bộ Thằn lằn (Sauria), Bộ Có vẩy(Squamata)

2.2.2 Thành phần các loài bò sát nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam

Trong số các loài bò sát ở Việt Nam hiện có 40 loài bò sát đang bị đe dọa tuyệtchủng và có tên trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), 21 loài cótên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 11 loài có tên trong Nghị định 160/2013/NĐ-CP.Danh sách các loài bò sát nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam như bảng 2.9

Bảng 2.9: Danh sách các loài bò sát nguy c p, quý, hi m Vi t Nam ấp, quý, hiếm ở Việt Nam ến nay ở Việt Nam đến nay ệt Nam đến nay

TT Tên phổ thông Sách đỏ Việt

Nam (2007)

Nghị định 32 (2006)

Nghị định 160 (2013)

Trang 34

-18 Rắn cạp nia nam - IIB

-Ghi chú: EW – Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên hoang dã; CR – Rất nguy cấp; EN – Nguy cấp; Vu – Sắp nguy cấp; IB – Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại các loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng cao.

Các loài bò sát nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam có giá trị về mặt thực phẩm, dượcliệu, khoa học, làm cảnh nên hiện đang bị khai thác và buôn bán nhiều hiện nay Loài Cásấu hoa cà hiện chỉ còn trong điều kiện nuôi nhốt và 9 loài bò sát khác hiện đang bị đe dọatuyệt chủng ở cấp Rất nguy cấp (CR)

2.2.3 Các loài bò sát nguy cấp, quý, hiếm ở vùng Trung Trường Sơn

Trong số 44 loài bò sát nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam hiện có 31 loài bò sát cóvùng phân bố từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế, Quảng Nam (bảng 2.10)

B ng 2.10: Các lo i bò sát nguy c p, quý, hi m có phân b khu v c ảng 2.2 Tổng hợp thành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay ấp, quý, hiếm ở Việt Nam ến nay ố khu vực Trung Trường sơn ở Việt Nam đến nay ực Trung Trường sơn

TT Tên họ và loài Khu vực ghi nhận tại Trung Trường Sơn

I Họ Nhông

1 Nhông cát ri vơ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế

2 Rồng đất Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

II Họ Tắc kè

Trang 35

TT Tên họ và loài Khu vực ghi nhận tại Trung Trường Sơn

III Họ Kỳ đà

4 Kỳ đà vân Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

5 Kỳ đà hoa Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

IV Họ Trăn

6 Trăn đất Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

7 Trăn gấm Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

12 Rắn ráo thường Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

13 Rắn ráo trâu Quảng Bình, Quảng Nam

14 Rắn cạp nia bắc Thừa Thiên Huế

15 Rắn cạp nia nam Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

16 Rắn cạp nong Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

18 Rắn hổ chúa Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

21 Quản đồng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

22 Rùa đầu to Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

24 Rùa hộp trán vàng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế

25 Rùa hộp ba vạch Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam

28 Rùa núi vàng Quảng Bình, Quảng Nam

Trang 36

TT Tên họ và loài Khu vực ghi nhận tại Trung Trường Sơn

29 Rùa núi viền Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

31 Ba ba gai Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam

2.2.4 Nhận diện một số loài bò sát thường gặp và nguy cấp, quý, hiếm

Cơ thể có kích thước trung bình, khối lượng cơ thể trưởng thành từ 50 - 200g (hiếm

có cá thể nào trên 300g Dài thân 140 – 170mm, dài đuôi 130 – 160mm Đầu bẹp 3 cạnh.Trên thân có nhiều nốt sần lớn màu đỏ sẫm hoặc xám hồng Bụng trắng xám Chân 5 ngón,ngón chân có giác bám

Đặc điểm sinh học, sinh thái:

Tắc kè sinh sống trên các dạng sinh cảnh: sinh cảnh rừng núi đất, núi đá, vách đákhông có rừng và trong nhà dân Loài thường làm tổ trong các hốc cây hoặc trong hang đákín, nước mưa không chảy vào được Mỗi hang tổ có 2 -10 con (mùa hè thường 2-3con/tổ,mùa đông 8 – 10 con/tổ) Thức ăn gồm các loài côn trùng còn sống (dế mèn, gián, châuchấu, cào cào, mối, bướm, sâu, bọ ngựa, …) Loài có hiện tượng ăn trứng lẫn nhau và ănthịt đồng loại Kiếm ăn đơn vào ban đêm (18-21h) Ban ngày thường nằm nghỉ ngơi tronghang tổ Hoạt động vào mùa nắng ấm Miền Bắc hoạt động chủ yếu từ tháng 3 đến tháng

10, miền Nam gần như quanh năm Sinh sản: 2 quả/lứa (đôi khi có 1 -3 quả) Mùa sinh sản

từ tháng 5 đến tháng 10, chủ yếu từ tháng 5 – tháng 8 Mỗi năm 1-2 lứa Trứng nở nhờnhiệt độ môi trường, thời gian trứng từ khi được đẻ ra đến lúc nở là 90 – 125 ngày

Giá trị sử dụng: dược liệu, thực phẩm và là thiện địch của sâu bọ hại cây rừng.

Phân bố:

Việt Nam: từ Bắc đến Nam

Thế giới: Nam Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Thái Lan và Đông Dương

Tinh trạng: Sách đỏ Việt Nam (2007): Sắp nguy cấp (VU).

(Vũ Tiến Thịnh và cộng sự, 2013)

Trang 37

Khối lượng trung bình 7 – 8kg, cỡ lớn 25kg Đầu, lưng, đuôi xám xám mốc

Lưng và hai bên sườn dạng lưới, có hoa văn màu vàng Đuôi dẹp kiểu thân cá, trên sống đuôi

có gờ Mõm dài Chân 5 ngón, ngón có vuốt lớn Lỗ mũi tròn hay hình bầu dục, gần mõm

Đặc điểm sinh học, sinh thái:

Kỳ đà hoa sống ở ven khe suối, sông, hồ trong rừng Sống đơn, kiếm ăn về đêm, chủyếu dưới nước Loài bơi lội giỏi Săn mồi bằng cách rình mồi, khi con mồi bỏ chạy chúnglao ra đuổi, con mồi nhỏ nuốt ngay còn con mồi lớn xé nhỏ và nuốt Thức ăn bao gồm: cá,tôm, cua, động vật thủy sinh Đẻ trứng vào mùa hè trong các hốc đất, hốc cây gần sôngsuối, bờ sông, ao hồ Mỗi lần đẻ 15 – 20 trứng Trứng nở nhờ nhiệt độ môi trường

Giá trị sử dụng: thực phẩm, dược liệu, da.

Phân bố:

Việt Nam: miền núi và trung du Việt Nam

Trên thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philipin, Đông Dương

Tình trạng:

Sách đỏ Việt Nam (2007): Nguy cấp (EN)

Công ước CITES (2015): Phụ lục II

Nghị định 32/2006/NĐ-CP: IIB

(Ph m Nh t v ạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998) ật và Đỗ Quang Huy, 1998) ành phần các loài lưỡng ở Việt Nam đến nay Đỗ Quang Huy, 1998) Quang Huy, 1998)

Trang 38

(Sinh vật rừng Việt Nam, 2016)

Hình 2.12: Kỳ đà hoa - Varanus salvator

Trong họ Kỳ đà có 01 giống và 02 loài là Kỳ đà hoa (Varanus salvator) và Kỳ đà

vân (Varanus nebulosus) Hai loài này khá giống nhau và có thể phân biệt thông qua một

số đặc điểm như bảng 2.11

Bảng 2.11: Phân biệt Kỳ đà hoa và Kỳ đà vân

Đặc điểm Kỳ đà hoa (Varanus salvator) Kỳ đà vân (Varanus nebulosus)

- Hình thái

Kích thước Có thể dài đến 2,5m Nặng đến 25kg Thon dài và nhỏ hơn Kỳ đà hoa Cỡ lớn

dài tới 1,5mMàu sắc + Đầu, lưng và hông màu xanh đá

+ Lưng và hông có nhiều hoa vănmàu vàng lớn Các hoa văn hìnhtròn, to có chấm sẫm ở giữa Cácđốm hoa xếp thành hàng ngang

+ Bụng và họng vàng sáng

+ Đầu, lưng và hông màu xám đất+ Thân có hoa văn vàng sáng rải rác

+ Bụng và họng màu xámĐuôi + Đuôi có các khoanh xám trắng và

các khoanh đen xen kẽ nhau

+ Đuôi không có các khoanh trắng và cáckhoanh đen xen kẽ nhau

Lỗ mũi + Tròn hoặc hình bầu dục, gẫn mút

mõm hơn gần ổ mắt

+ Hình xiên, gần ổ mắt hơn mút mõm

Trang 39

Đặc điểm Kỳ đà hoa (Varanus salvator) Kỳ đà vân (Varanus nebulosus)

A: Kỳ đà vân B: Kỳ đà hoa

- Sinh thái và phân bố

Nơi sống + Ven suối, sông hồ̀ trong rừng Hoạt

động tích cực trên cạn và dưới nước

+ Hoạt động chủ yếu trên cạn

Thức ăn + Kiếm ăn dưới nước Thức ăn bao

gồm: cá, tôm, cua và xác chết

+ Kiếm ăn chủ yếu trên cạn Thức ăn baogồm: sâu bọ, thằn lằn, ếch nhái, chim vàthú nhỏ

Phân bố + Từ Bắc vào Nam + Từ Quảng Trị vào Nam

Đặc điểm sinh học, sinh thái:

Rồng đất sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau, di chuyển nhanh nhẹn trên mặt đất.Thức ăn chủ yếu côn trùng, giun đất…Mùa hè hoạt động mạnh, mùa đông ẩn nấp trongbóng cây Sinh sản từ 5-16 trứng/lứa, đẻ vào tổ đất đào gần suối

Giá trị: thực phẩm, sinh thái, thẩm mĩ.

Phân bố:

Việt Nam: khắp các vùng có rừng cả nước

Thế giới: Nam Trung Quốc, Thái Lan và Đông Dương

(Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998)

Tình trạng: Sách đỏ Việt Nam (2007): Sắp nguy cấp (VU).

Trang 40

(Báo Dân Việt, 2016)

Vảy thân tương đối đồng đều, xếp theo kiểu ngói lợp từ trước đến sau Vảy trênlưng có 3 gờ rõ (đôi khi có 5 gờ) vảy bên hông có gờ mảnh hơn, vảy bụng nhẵn Có 30 - 33hàng vảy bao quanh giữa thân kể cả vảy bụng 39 - 46 hàng vảy dọc theo lưng, 46 - 54hàng vảy dọc theo bụng, 68 - 94 hàng vảy dưới, giữa đuôi Vảy ở các chi nhỏ hơn vảy ởthân Vảy chi trước nhẳn, vảy chi sau mặt trên có gờ mảnh, mặt dưới không có gờ

Thân màu nâu bóng hoặc nâu đen bóng, mặt bụng và phía dưới các chi sáng màuhơn trên lưng Trên lưng có từ 5 - 7 dải nhỏ màu nâu sẫm, (rộng bằng 1/3 chiều rộng của 1hàng vảy) chạy dọc từ tấm sau gáy đến tận gốc đuôi Hai bên sườn cũng có màu nâu sẫm.Con cái có các đốm trắng nằm dọc hai bên thân từ sau lỗ tai đến 1/3 chiều dài đuôi

Sinh học, sinh thái:

Loài bò sát máu lạnh này khá phổ biến gần các nơi con người sinh sống, bờ sông vàcác con suối rộng nơi đất thấp và có độ cao tương đối Chúng thường điều tiết thân nhiệt

Ngày đăng: 16/04/2020, 09:43

w