• Những văn bản kim tự tháp: được khắc trên những bức tường trong các kim tự tháp của năm vị pharaoh thuộc vương triều V và VI (cuối thế kỷ XXV – giữa thế kỷ XXIII TCN), được chôn cùng với người chết như các tác phẩm kinh cầu hồn, hàm chứa quan niệm của người Ai Cập về thiên nhiên và con người, cái chết và cuộc sống sau khi chết, phản ánh ước muốn người chết trở thành bất tử, niềm tin ngây thơ của con người vào khả năng thắng được cái chết và trở nên bất tử giống thần linh. • Văn bia tiểu sử tự truyện của các quan đại thần: quan niệm của người Ai Cập cổ “sự vật không có tên thì không tồn tại”, việc khắc ghi vĩnh cửu tên của người chết trên bia mộ làm cho sự sống thành vĩnh cửu, tiêu hủy tên đồng nghĩa với việc tiêu hủy người mang tên đó. Từ đó, dần xuất hiện các câu chuyện tự sự có nội dung và nghệ thuật đặc sắc. • Văn bia lịch sử: thuộc thời Tân vương quốc, không có yếu tố huyền thoại, gần với thực tế, như Biên niên sử của Pharaoh Tuthmosis III, Trường ca Pentaur, Văn bia Israel 1.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
LỚP: QH1012
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
ĐỀ TÀI: Thành tựu văn học Ai Cập, Lưỡng Hà Nhóm thực hiện: 04
1 Nguyễn Võ Minh Ngọc 1257060093
Email:
meoluna7@gmail.com Điện thoại: 01249578581
2 Phan Thị Hồng Liên 1257060063
Email:
leni.phan1202@gmail.com Điện thoại: 01649224031
Email:
ledinhthi234.ir@gmail.com Điện thoại: 0972180750
Ngày nộp đề cương: 06/02/2013
NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG
I Đặt vấn đề:
Giới thiệu sơ lược văn minh Ai Cập – Lưỡng Hà
II Thành tựu văn học:
1 Những nét tương đồng:
a Văn bia:
Ai Cập:
Những văn bản kim tự tháp: những văn bia được khắc trên những bức
tường trong các căn phòng trong các kim tự tháp của năm vị pharaoh thuộc vương triều V và VI, có niên đại khoảng cuối thế kỷ XXV – giữa thế kỷ
XXIII trước công nguyên B.A.Turaev đã gọi Những văn bản kim tự tháp
là: “mắt xích đầu tiên của chuỗi mắt xích liên tục những tác phẩm kinh cầu hồn mang tính ma thuật đã được tạo nên trong suốt quá trình phát triển văn minh đa thần giáo (và một phần Thiên Chúa giáo) của Ai Cập…” Công dụng chính của chúng là được chôn cùng với người chết như các tác phẩm
Trang 2kinh cầu hồn Ngoài ra, trong nội dung Những văn bản kim tự tháp còn hàm
chứa quan niệm của người Ai Cập về thiên nhiên và con người, cái nhìn của
họ đối với cái chết và cuộc sống sau khi chết, phản ánh ước muốn người chết trở thành bất tử, niềm tin ngây thơ của con người thời bấy giờ vào khả năng thắng được cái chết và trở thành giống như các thần linh bất tử
Văn bia tiểu sử/ tự truyện của các quan đại thần: xuất phát từ mong muốn trở nên bất tử của các quan đại thần, tên họ được lưu lại trên các văn bia trong các hầm mộ, vì theo quan niệm của người Ai Cập cổ “sự vật không có tên thì không tồn tại”, cái tên được xem như một thực thể cố hữu của người mang nó, là phần quý báu trong bản chất của người đó, được mẹ sinh ra cùng với đứa trẻ Vì vậy, việc khắc ghi vĩnh cửu tên của người chết trên bia
mộ làm cho sự sống thành vĩnh cửu, và ngược lại, tiêu hủy tên đồng nghĩa với việc tiêu hủy người mang tên đó Từ đó, dần dần xuất hiện các câu chuyện tự sự mang nội dung đặc sắc và phẩm chất nghệ thuật rõ nét
Văn bia lịch sử
Biên niên sử của Pharaoh Tuthmosis III: được khắc trên các bức
tường đền Karnak thờ thần Amon ở Thebes, là trích đoạn trong từ toàn văn biên niên sử thời bấy giờ do viên thư lại Chanini soạn
Trường ca Pentaur: mô tả trận đánh Kandesh nổi tiếng giữa Ramses
II với những người Hitti diễn ra vào đầu thế kỷ XIII trước công nguyên, ca ngợi pharaoh như một anh hùng, người cứu đất nước và nhân dân thoát khỏi kẻ thù khủng khiếp là những người Hitti
Văn bia Israel: ca ngợi chiến thắng của pharaoh Merenptah - người
kế vị Ramses II - trước những đội quân Libia hùng mạnh xâm lược
Ai Cập
Lưỡng Hà:
Văn bia chiến công của các vị vua: xuất hiện ở Sumer vào phần tư thứ hai của thiên niên kỷ III trước công nguyên, đầu tiên gắn với việc xây dựng các ngôi đền và các con kênh, về sau các văn bia trở nên lớn hơn, nhắc đến vài công trình, các cuộc chiến tranh Đến giữa thiên niên kỷ III trước công nguyên, văn bia trở nên dài hơn đồng thời bắt đầu hình thành những cơ sở của một phong cách ngày càng trở nên giàu hình tượng và biểu cảm
“Ngụy văn bia”: mô phỏng phong cách của các văn bia cổ và dòng tự sự được kể từ ngôi thứ nhất, thường được viết để tưởng nhớ các sự kiện chiến tranh, trong đó rõ ràng là cả những sự kiện đang diễn ra
Lịch sử thánh đường Tummal: liệt kê tên các vị vua trị vì các thành
bang khác nhau từng xây dựng và tái thiết thánh đường Tummal.
Trang 3 Danh mục các vua: liệt kê các vua, thường theo mẫu chung vị vua trị
vì bao nhiêu năm, các thành bang bị ngài đánh bại, và bổ sung cả những chuyện khác, thường là mang tính huyền thoại, được chia thành “trước đại hồng thủy” và “sau đại hồng thủy”
Liệt kê tên các năm: được tạo lập dưới thời vương triều III Ur, có thể
được xem như một tác phẩm sử ký hay biên niên sử sơ khai
Văn bia Assyria: niên đại vào khoảng thế kỷ VIII – VII TCN, có thể chia thành ba loại
Văn bia long trọng: sự liệt kê các chiến công của nhà vua nhưng không có thông tin lịch sử hay địa lý nào
Biên niên sử: ghi lại chi tiết hơn những cuộc viễn chinh và những chiến công của nhà vua, cung cấp những tư liệu hết sức quý giá về lịch sử và địa lý Mục đích của những văn bia này là tôn vinh sức mạnh và lòng dũng cảm của vua, dẫn đến việc vận dụng những phép
tu từ cố định: vua – người đàn ông hùng dũng, vĩ đại, quả cảm, đối thủ của vua – kẻ hèn nhát, nhỏ mọn và giọng điệu trình bày trang trọng, hơi khoa trương, dòng tự sự rõ ràng và sinh động
“Thư tín”: của các vị vua gửi thần linh dưới dạng bản báo cáo chi tiết về một cuộc viễn chinh
b Văn giáo huấn, tư tưởng triết lí:
Ai Cập:
Châm ngôn:
Châm ngôn của Ptahotep: Ptahotep là tể tướng của vua Izezi thuộc
vương triều V (khoảng 2500 năm TCN), châm ngôn của ông là lời giảng dạy cho con trai, đồng thời cũng là người kế vị ông, dẫn dắt nó đến một cuộc sống tốt đẹp, lối hành xử khôn ngoan Trong tác phẩm, những lời giáo huấn mang tính đạo đức cao cả được xen lẫn với những lời khuyên bảo về sinh hoạt đời thường, xuất phát từ những tính toán mang tính thực dụng rõ rệt
Châm ngôn của vua thành Heracleopolis: được viết cho con trai ông
là Merikare, là tập hợp những kinh nghiệm trị vì đất nước, những phương pháp đấu tranh chống lại những kẻ mưu phản và nổi loạn
Châm ngôn của Ani, Amenepome: được các tác giả viết cho các con
trai mình theo truyền thống cổ đại, bao gồm những lời khuyên răn đủ loại hết sức khác nhau được xếp không theo một trật tự nào Đáng chú ý là trình độ triết lý đạo đức của những châm ngôn thời Tân Vương quốc cao này hơn rõ rệt so với thời cổ đại
Trang 4 Châm ngôn của Ankhsheshonk, Châm ngôn Insinger: châm ngôn
thời kì Demotic, không có nhiều khác biệt so với châm ngôn truyền thống
Truyện về anh dân quê hùng biện: bổi cảnh là vương triều thứ X, gồm chín
bài nói hết sức cầu kỳ bóng bẩy mà người nông dân nói với viên quan đại thần, bày tỏ sự nổi giận vì anh ta bị thuộc hạ của viên quan ăn cướp Tác phẩm được coi là khuôn mẫu cho mỹ từ học của thời bấy giờ, đồng thời thấm nhuần tư tưởng củng cố tình hình trong nước, thiết lập công lý và tòa
án công minh
Bài ca của người chơi đàn hạc: tập hợp khoảng 15 văn bản được truyền lại
một phần từ thời Trung Vương quốc, một phần từ đầu thời Tân Vương quốc, được lưu trên papyrus Harris 500 vào thời Tân Vương quốc Đặc biệt, tác phẩm là phản đề cho giáo lý về sự bất tử, không chỉ đơn thuần đề cao cuộc sống trần gian, mà còn bộc lộ rõ ràng thái độ ngờ vực đối với những tín điều về thế giới bên kia, cho thấy ở Ai Cập thời Trung Vương quốc có
sự hiện diện những tư tưởng tôn giáo xã hội khác nhau, đôi khi đối lập nhau
Bi ca một linh hồn tuyệt vọng: thuộc thời Trung Vương quốc, là đối thoại
giữa một con người thất vọng với cuộc sống và muốn tự vẫn, với linh hồn của anh ta phản đối việc tự vẫn và chứng minh sự cần thiết phải sống Kết thúc cuộc đối thoại, vấn đề chân lý thuộc về bên nào vẫn chưa được làm sáng tỏ
Lưỡng Hà:
Văn bản Eduba: từ “Eduba” nghĩa là “ngôi nhà của những tấm bảng”, là tên gọi của các trường học Sumer Các tác phẩm eduba văn chương có thể chia thành 3 nhóm:
Tác phẩm mô tả cuộc sống trong trường học: đại diện là Người
cha và đứa con phóng đãng, chứa đựng lời khuyên răn của người
cha, vốn là một thư lại, dành cho cậu con trai học kém và bướng bỉnh Người cha trách mắng con và nêu các bạn bè đã mang về nhà bổng lộc ra làm gương cho con
Văn bản giáo huấn: gắn với hoạt động của các trường học của Sumer, nhằm mục đích giáo dục và là những bài hoặc răn dạy
đạo đức (Châm ngôn của thần Shuruppak Ziusudra), khuyên bảo thực tiễn để hoàn thành một việc nào đó (Biên niên sử người làm
nông)
Cách ngôn dân gian: gắn với cuộc sống đời thường nhiều hơn cả,
sử dụng ngôn ngữ nói và lối chơi chữ mà ý nghĩa của chúng
Trang 5thường các nhà nghiên cứu hiện đại không nắm bắt được, bao gồm tục ngữ, châm ngôn, truyện tiếu lâm, ngụ ngôn, v.v… Và
một bản truyện cổ tích Chàng chăng cừu thành Adab, sau đó là truyện Anh nghèo thành Nippur thời kì văn học Babylon Truyện
kể về một người nghèo khổ bị tên quan thị trưởng xử tệ một cách bất công, và là một dị bản của loại truyện phổ biến trong văn học dân gian thế giới kể về người nghèo khổ trả thù, ba lần xuất hiện trong nhà của kẻ đã xúc phạm mình với những khuôn mặt khác nhau
Tranh luận – đối thoại: những hình thức sơ khai của việc phê phán xã hội, mỗi người tham gia tranh luận đều ra sức bảo vệ quan điểm của
mình Tác phẩm tiêu biểu là Tam thiên bi quan, trong mỗi cặp tranh luận
của bộ ba đối thoại này, một người khẳng định rằng mọi thứ đều tốt, còn người kia bảo mọi thứ đều tồi Kết thúc các cuộc tranh luận, phần thắng thường thuộc về người lạc quan Ngoài ra còn có tác phẩm nổi tiếng của
văn học Babylon Cuộc đối thoại bi quan Xuất hiện vào cuối thiên niên
kỷ II – đầu thiên niên kỷ I TCN, cuộc đối thoại diễn ra giữa một ông chủ với người đầy tớ của mình, trong đó người đầy tớ răm rắp tuân theo những ý muốn đầy mâu thuẫn của chủ Nội dung chính là những chuyện
đi săn, cưới vợ, kiện tụng, nổi dậy chống chính quyền, tình yêu, tôn giáo, làm giàu và cuối cùng là làm việc thiện
Truyện về người vô tội bị nạn: được xác định niên đại vào thời Kassit (thế kỷ XV - XII TCN) chịu ảnh hưởng lớn của các bài tụng ca và đặc
biệt của các bài thơ sám hối, nội dung là khát vọng tìm ra nguyên nhân những tai ương, mong muốn hiểu được tại sao con người trở nên bất hạnh, mô tả thần linh “xa lạ với con người, đỏng đảnh và khó hiểu”
Châm ngôn của Akhikar: được sáng tác vào khoảng thế kỷ VII – VI
TCN, đánh dấu ưu thế của tiếng Arame đối với tiếng Akkad, là một tuyển tập những câu cách ngôn được đặt vào miệng viên quan tể tướng của vua Sinakhsrib
c Văn xuôi:
Ai Cập:
Huyền thoại, truyền thuyết:
Người bị đắm tàu: câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất về những
chuyến phiêu lưu huyền thoại trên biển Nhân vật chính lên đường để đi đến các mỏ của pharaoh trên chiếc tàu với một đội thủy thủ dày dặn kinh nghiệm Nhưng rồi khi bão nổi lên, con tàu
Trang 6cùng cả đội thủy thủ đều chết Chỉ mỗi người kể chuyện sống sót
và bị trôi dạt tới một hoàn đảo xa lạ, trên đảo này chàng đã có những cuộ phiêu lưu kì thú và sau đó là cuộc hành trình hồi hương của chàng
Papyrus Westcar: bao gồm những câu chuyện kể trên một cốt
truyện chung pharaoh Khufu của vương triều IV, buồn chán và nói với các con trai rằng ngài muốn được nghe họ kể những câu chuyện đời xưa
Truyện về Neferkar và viên tướng Sisin: chuyện kể về thời kỳ trị
vì của pharaoh Peni II vương triều VI, cuối thời Cổ Vương quốc,
phê phán gay gắt sự bất công, bất bình đẳng bao trùm trong triều đình
Huyền thoại về công chúa xứ Bakhtan: kể về những sự kiện xảy
ra vào thời kỳ của Ramses II (thế kỷ XIII TCN), bức tượng Honsu kì diệu đã chữa được căn bệnh nan y của công chúa xứ Bakhtan và trở vể kinh thành Thebes trong vinh quanh
Cuộc phiêu lưu của Un-Amon: là tác phẩm văn học thời kỳ Tân
Vương quốc, một câu chuyện nổi tiếng của chàng trai Un-Amon
về chuyến phiêu lưu của mình đến Bible, chứa đựng nhiều thông tin thú vị về những xứ sở mà Un-Amon đã đến, về quan hệ của
họ đối với Ai Cập, về tình hình chính trị ở bản thân Ai Cập, và một số vấn đề khác
Những truyền thuyết về Petubast: những huyền thoại được lịch
sử hóa với nhiều tình tiết có thực về Petubast, vị vua trong thời
kỳ bị người Assyria xâm lược
Truyện về Haemuas (hay Truyện về những quan tư tế Memphis):
Haemuas là một nhân vật lịch sử, con trai trưởng của Ramses II Trong tác phẩm, haemuas hiện diện như một quan tư tế được tôn vinh nhờ học bác uyên thâm
Cổ tích thần thoại:
Thần thoại về Osiris Và Isis, Thần thoại về Seth và Horus
Truyện hai anh em: hai anh em là nông dân, hơn nữa người em
trai lao động vất vả ngoài đồng và ở nhà để nuôi anh và chị dâu Truyện nói về người vợ không chung thủy của người anh, định quyến rũ em chồng nhưng không thành công Sau đó mụ vu khống người em với chồng, tuyên bố rằng người em định làm nhục mụ Người em bị xúc phạm và sỉ nhục nhờ sự giúp đỡ của thần linh đã thoát khỏi tay người anh Chàng chạy sang xứ
Trang 7Lebian đến “thung lũng Tuyết tùng”, nơi chàng trải qua những chuyến phiêu lưu thần kỳ không thể tưởng tượng nổi Cuối truyện, người anh trai lo lắng cho số phận của em đã giúp chàng trở về lại Ai Cập Người vợ phản trắc bị giết chết, người em trở thành pharaoh của Ai Cập
Nói thật và nói dối: truyện là cuộc xung đột giữa hai anh em tên
Chân và Giả Kết quả của cuộc xung đột là người em tên Giả ra lệnh bắt giữ người anh tên Chân, chọc mù mắt chàng và bắt làm gác cổng cho ngôi nhà của mình Sau đó hắn còn định vứt nạn nhân cho sư tử xé xác nhưng không thành Trong khi đó chàng
mù trẻ tuổi đẹp trai lại được một phụ nữ yêu mến, và mối tình thoáng chốc của họ đã cho ra đời một cậu con trai Cậu bé được
mẹ cho biết ai là cha của mình và đến gặp cha, biết được ai là kẻ làm cho cha bị mù Cuối cùng, cậu con trai nhờ sự giúp đỡ của các thần linh đã trả thù Giả vì tội làm mù mắt cha cậu
Truyện về hoàng tử phải chết: câu chuyện về chàng hoàng tử đã
bị các thần linh định trước sẽ phải chết bởi cá sấu, rắn hay chó Pharaoh cha chàng nuôi dưỡng con trai ở một nơi riêng được bảo
vệ đặc biệt Nhưng cậu bé lớn lên và một lần trèo lên mái nhà trông thấy một người có con chó Chàng cũng muốn tậu được một con chó, và yêu cầu của chàng được thực hiện Sau đó chàng lên một cỗ xe cùng với con chó đi đến xứ Nakharina Vua
xứ đó có con gái sống trong tòa tháp cao ba mươi sáu mét Nhiều người là con trai các quý tộc địa phương cầu hôn với nàng, và vị vua hứa gả con gái cho ai có thể nhảy lên tới cửa sổ phòng nàng Không ai làm được điều đó Thế là xuất hiện chàng hoàng tử Ai Cập, mặc dù còn rất mệt vì đi đường xa, nhưng chàng đã đạt được điều mà những người khác không thể Trở thành phò mã của vua xứ Nakharina, chàng kể cho người vợ trẻ rằng chàng bị định trước phải chết vì cá sấu, rắn hoặc chó Sự cảnh giác của người vợ đã cứu chàng thoát khỏi rắn, và nàng thuyết phục chàng giết chết con chó, nhưng chàng từ chối Sau đó hoàng tử gặp cá sấu và trò chuyện với nó, kết truyện bị thất truyền
Papyrus Rylands IX: bản papyrus có chiều dài 45 mét được viết trên cả
hai mặt, trong đó kể lại chuyện gia đình một viên quan tư tế ở thành phố Tayudji Câu chuyện chứa đầy những chi tiết đời sống chân thực, tương
tự như truyện về Sinuhe hay truyện về Un-Amon, và không hề mang bất
kỳ yếu tố huyền thoại hay siêu nhiên nào
Trang 8 Ký lục Demotic: thuộc thế kỷ III TCN, nội dung của tác phẩm là những
câu cách của một nhà tiên tri, mỗi câu đều có kèm theo một lời giải thích
Lưỡng Hà:
Thần thoại
Enuma Elish: trường ca bằng ngôn ngữ Akkad, đề tài là chiến
tranh của các chư thần và công cuộc sáng tạo ra thế gian, là tác phẩm lớn thứ hai sau sử thi về Gilgamesh, gồm bảy bảng chữ dạng nêm, mỗi bảng chứa từ 125 đến 165 dòng Mục đích của trường ca rất rõ ràng: nó phải giải thích, biện hộ cho việc đề cao một thành phố mà trước thế kỷ XIX – XVIII TCN còn vô danh tiểu tốt là Babylon, và vị thần bảo hộ của thành phố đó là Marduk Trường ca tiêu biểu cho kiểu truyện phục vụ việc cúng tế: nó là một phần của nghi lễ đón năm mới
Thần thoại về Enki, về hành trình của thần Nanna đến Nippur,
về việc tạo nên con người, về trận đại hồng thủy, về âm phủ, về những chiến công anh hùng, v.v
Truyện Adapa, Truyện Etana: cùng với Sử thi Gilgamesh tiêu biểu cho
các tác phẩm văn học về người trần trong văn học Babylon, trong đó con người được khắc họa như những nhân vật sử thi anh hùng
Trường ca tự sự: mang nội dung lịch sử, kể về cuộc đời của các nhân vật
lịch sử khác nhau, trong đó có các vị vua Sumer Tiêu biểu là tác phẩm
Trường ca về Sargon kể về sự ra đời của Sargon (có nhiều điểm tương
đồng với câu chuyện về thánh Moses) và sự lên ngôi của Sargon nhờ sự giúp đỡ của nữ thần Ishtar
Biên niên sử Babylon: bắt đầu từ năm 745 TCN và được viết đến thời Ashshurbanipal (thế kỷ VII TCN), bao gồm nhiều tác phẩm nhỏ: Biên
niên sử Gedda kể về sự sụp đổ của Assyria (626 – 605 TCN), Biên niên
sử Uaizman tiếp nối Biên niên sử Gedda và được viết đến giữa thế kỷ
VI TCN, Biên niên sử Nabonid-Kir mô tả cuộc chinh phục Babylon của người Iran và một đoạn của Biên niên sử thời đại Selevkid.
d Tụng ca và ai ca:
Ai Cập:
Tụng ca thần linh :
Tụng ca dâng Hapi (thần sông Nile) : Một số dị bản của tụng ca này còn truyền đến nay thuộc thời đại Tân Vương quốc, nhưng
đó chỉ là các bản thời sau chép lại Bài tụng ca gây sự chú ý ở hai
Trang 9phương diện: thứ nhất, trong đó phản ánh rất sinh động thái độ của người Ai Cập đối với con sông vĩ đại không chỉ đã sinh ra đất nước Ai Cập, mà còn hàng ngàn năm nuôi dưỡng dân cư trên đất nước đó; thứ hai, những cảm xúc đó được thể hiện trong tác phẩm dưới hình thức mang tính nghệ thuật rõ rệt Tụng ca không phải là bài cầu nguyện tập hợp các lời thỉnh cầu, mà là sự thể hiện niềm vui sướng và biết ơn đối với thiên nhiên vĩ đại đã ban tặng sự sống cho đất nước và dân chúng Tụng ca mô tả một cách thi vị sức mạnh hồi sinh của nước và của lũ sông Nile, niềm hân hoan của dân chúng trong thời gian nước lũ, những mối nguy hiểm đe dọa đất nước nếu như nước lũ đến chậm, v.v
Tụng ca thần Osiris: dược khắc trên các bia mộ thời kì Trung Vương quốc, thời đại thần Osiris bắt đầu được thờ cúng rộng rãi Việc thờ cúng thần Osiris đã “bình đẳng hóa” quyền được sống bất tử sau khi sang thế giới bên kia của người Ai Cập, chỉ cần một tấm bia mộ được khắc những lời cầu nguyện tới thần Osiris
có thể đảm bảo một cuộc sống vĩnh hằng sau khi qua đời
Tụng ca Aton – Amon: Tụng ca thần Aton của pharaoh Akhnaton (khoảng giữa thế kỉ XIV TCN, ông đã thực hiện một cuộc cải cách tôn giáo nổi tiếng trong lịch sử Ai Cập, thay thế vị trí thần chủ của Amon bằng Aton) được xem như một tác phẩm thi ca tôn giáo đích thực Tụng ca không nhắc đến những thần linh khác, đề cao vị trí độc tôn của Aton Theo tụng ca, Aton là thần của người
Ai Cập và của các dân tộc khác, một vị thần ân nhân, cội nguồn của ánh sáng thể chất và ánh sáng tinh thần Sau khi Akhnaton và người kế vị của ông qua đời, việc thờ cúng Aton cũng bị bãi bỏ
và Amon trở lại với vai trò thần tối cao của Ai Cập, các tụng ca thần Amon thường có nhiều nét tương đồng, có thể xem như kế thừa tụng ca về thần Aton
Lưỡng Hà:
Tụng ca (ca ngợi thần Enlil, ca ngợi các thành phố và các ngôi đền, Bài
câu nguyện vươn tay lên thần Ishtar): tụng ca của người Sumer là
những tác phẩm phục vụ việc tế lễ, trong đó ca tụng vị thần này nay vị thần khác, kể lể tên tuổi và những công lao của thần; chúng được sáng tác cho việc biểu diễn tập thể, đồng ca Đó là lời hướng tới thần linh không phải của một cá nhân, mà là của cả một tập thể, bởi vậy những cảm xúc nảy sinh trong khi trình diễn bài tụng ca là những cảm xúc tập thể Nhiều thông tin lịch sử quý giá chứa trong các tác phẩm này Đôi
Trang 10khi trong các tụng ca ca ngợi những công lao nào đó của thần linh, khi
đó các tụng ca có liên quan chặt chẽ với các tác phẩm tự sự, trong đó có các truyền thuyết
Ai ca: những bài khóc cho các tai họa của dân chúng, cũng là những tác phẩm cúng tế, mang tính nghi lễ
Thành Lagash bị tàn phá: là bài ai ca cổ nhất được tìm thấy, tác
phẩm kể ra những lần thành Lagash bị tàn phá và nguyền rủa những người Ummu
Lời nguyền cho Akkad: kể chuyện nữ thần Ishtar đem lòng yêu
một người bình thường là Sargon và biến chàng thành một vị vua
vĩ đại Đất nước dưới sự trị vì của Sargon trở nên thịnh vượng Nhưng sau đó cháu của chàng là Naram-Suen đã làm ô uế đền thờ Enlil và xúc phạm thần linh, vì vậy đất nước phải chịu một cuộc xâm lăng tàn khốc của bộ lạc người miền núi
Người đàn ông và vị thần của riêng mình: kể về một người đàn
ông hiền lành, tử tế và thông minh, bỗng nhiên bị tai hoạ giáng xuống Người này cầu xin và than thở với vị thần hộ mệnh của mình Đó là một trong những tác phẩm triết lý tôn giáo sớm nhất, trong đó đặt ra những vấn đề về nguyên nhân của những đau khổ,
về sự bất công trên đời và về sự mù quáng của số phận khi bắt người có phẩm giá phải chịu thử thách
e Thơ tình yêu:
Ai Cập: xuất hiện các bản ghi chép từ thời Tân Vương quốc, dù thơ tình yêu được khẳng định là đã tồn tại trước đó, sự ghi chép này được giải thích là do trình độ văn hóa của những người chép sách được nâng cao, đồng thời số lượng người chép sách cũng trở nên đông đảo hơn Có thể chia thành hai loại chính, một loại được chỉnh lý chau truốt, manh hơi hướng hàn lâm, thính phòng và loại thứ hai giản dị, gần gũi với phong cách sáng tác dân gian hơn
Lưỡng Hà:
Bài hát trong các nghi thức kết hôn: kết hôn là nghi lễ trung tâm trong văn hóa Lưỡng Hà, vì vậy những nghi thức kết hôn đặc biệt được chú trọng Mặc dù có liên quan với nghi lễ, tính chất của những bài ca này khiến ta có thể đưa chúng vào nhóm thơ ca dân gian Điều này thể hiện
ở cả hình thức: thấy rõ nhịp điệu và các điệp từ, các vần đơn giản nhất thường được vận dụng Trong các buổi lễ kết hôn, các bài ca này được diễn xướng dưới hình thức hội thoại trong các vở kịch ngắn, trong đó