1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

17 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 181,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Những văn bản kim tự tháp: được khắc trên những bức tường trong các kim tự tháp của năm vị pharaoh thuộc vương triều V và VI (cuối thế kỷ XXV – giữa thế kỷ XXIII TCN), được chôn cùng với người chết như các tác phẩm kinh cầu hồn, hàm chứa quan niệm của người Ai Cập về thiên nhiên và con người, cái chết và cuộc sống sau khi chết, phản ánh ước muốn người chết trở thành bất tử, niềm tin ngây thơ của con người vào khả năng thắng được cái chết và trở nên bất tử giống thần linh. • Văn bia tiểu sử tự truyện của các quan đại thần: quan niệm của người Ai Cập cổ “sự vật không có tên thì không tồn tại”, việc khắc ghi vĩnh cửu tên của người chết trên bia mộ làm cho sự sống thành vĩnh cửu, tiêu hủy tên đồng nghĩa với việc tiêu hủy người mang tên đó. Từ đó, dần xuất hiện các câu chuyện tự sự có nội dung và nghệ thuật đặc sắc. • Văn bia lịch sử: thuộc thời Tân vương quốc, không có yếu tố huyền thoại, gần với thực tế, như Biên niên sử của Pharaoh Tuthmosis III, Trường ca Pentaur, Văn bia Israel 1.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV

KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ

MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

LỚP: QH1012

VĂN BẢN WORD

ĐỀ TÀI: Thành tựu văn học Ai Cập, Lưỡng Hà Nhóm thực hiện: 04

1 Nguyễn Võ Minh Ngọc 1257060093 Email:meoluna7@gmail.com

Điện thoại: 01249578581

2 Phan Thị Hồng Liên 1257060063 Email:leni.phan1202@gmail.com

Điện thoại: 01649224031

3 Lê Đình Thi 1257060131 Email:ledinhthi234.ir@gmail.com

Điện thoại: 0972180750

Ngày nộp: 24/02/2013

NỘI DUNG

I Đặt vấn đề:

Giới thiệu sơ lược văn minh Ai Cập – Lưỡng Hà

II Thành tựu văn học:

1 Những nét tương đồng:

a Văn bia:

 Ai Cập:

 Những văn bản kim tự tháp: được khắc trên những bức tường trong các kim tự tháp của

năm vị pharaoh thuộc vương triều V và VI (cuối thế kỷ XXV – giữa thế kỷ XXIII TCN), được chôn cùng với người chết như các tác phẩm kinh cầu hồn, hàm chứa quan niệm của người Ai Cập về thiên nhiên và con người, cái chết và cuộc sống sau khi chết, phản ánh ước muốn người chết trở thành bất tử, niềm tin ngây thơ của con người vào khả năng thắng được cái chết và trở nên bất tử giống thần linh

 Văn bia tiểu sử/ tự truyện của các quan đại thần: quan niệm của người Ai Cập cổ “sự vật không có tên thì không tồn tại”, việc khắc ghi vĩnh cửu tên của người chết trên bia mộ làm cho sự sống thành vĩnh cửu, tiêu hủy tên đồng nghĩa với việc tiêu hủy người mang tên đó Từ đó, dần xuất hiện các câu chuyện tự sự có nội dung và nghệ thuật đặc sắc

 Văn bia lịch sử: thuộc thời Tân vương quốc, không có yếu tố huyền thoại, gần với thực

tế, như Biên niên sử của Pharaoh Tuthmosis III, Trường ca Pentaur, Văn bia Israel [1]

 Lưỡng Hà:

 Văn bia chiến công của các vị vua: xuất hiện ở Sumer vào phần tư thứ hai của thiên niên

kỷ III TCN, gắn với việc xây dựng các ngôi đền và các con kênh, các cuộc chiến tranh Đến giữa thiên niên kỷ III TCN, văn bia trở nên dài hơn đồng thời bắt đầu hình thành những cơ sở của một phong cách ngày càng trở nên giàu hình tượng và biểu cảm

Trang 2

 “Ngụy văn bia”: mô phỏng phong cách của các văn bia cổ và dòng tự sự được kể từ ngôi thứ nhất, thường được viết để tưởng nhớ các sự kiện chiến tranh, trong đó có cả những

sự kiện đang diễn ra Các tác phẩm tiêu biểu: Lịch sử thánh đường Tummal, Danh mục

các vua, Liệt kê tên các năm [2].

 Văn bia của các vua Assyria: niên đại vào khoảng thế kỷ VIII – VII TCN, có thể chia thành ba loại:

 Văn bia long trọng: sự liệt kê các chiến công của nhà vua nhưng không có thông tin lịch sử hay địa lý nào

 Biên niên sử: ghi lại chi tiết hơn những cuộc viễn chinh và những chiến công của nhà vua, cung cấp những tư liệu hết sức quý giá về lịch sử và địa lý

 “Thư tín”: của các vị vua gửi thần linh dưới dạng bản báo cáo chi tiết về một cuộc viễn chinh

b Văn giáo huấn, tư tưởng triết lí:

 Ai Cập:

 Châm ngôn: văn giáo huấn chứa đựng những tư tưởng đạo lý và quy định hành xử trong

xã hội Ai Cập cổ đại Các tác phẩm chính: Châm ngôn của vua thành Heracleopolis,

Châm ngôn của Ani, Amenepome, Châm ngôn của Ankhsheshonk, Châm ngôn Insinger

[3]

(khoảng 2500 năm TCN) Châm ngôn là lời giảng dạy cho con trai, đồng thời cũng là người kế vị ông, những lời giáo huấn mang tính đạo đức cao cả được xen lẫn với những lời khuyên bảo về sinh hoạt đời thường

Vương quốc và Tân Vương quốc, được lưu trên papyrus Harris 500 Tác phẩm là phản

đề cho giáo lý về sự bất tử, đề cao cuộc sống trần gian, bộc lộ rõ ràng thái độ ngờ vực đối với những tín điều về thế giới bên kia, cho thấy ở thời Trung Vương quốc có sự hiện diện những tư tưởng tôn giáo xã hội khác nhau, đôi khi đối lập nhau

là một tác phẩm triết lí với giọng điệu bi đát Nhân vật “tôi” trong tác phẩm là một người thất vọng về cuộc sống nên muốn kết liễu đời mình, cái chết trong mắt “tôi” được diễn tả như một niềm vui Nhưng đến phần cuối của tác phẩm, nhân vật “tôi” đã quay về niềm tin rằng các thần linh sẽ phán xét công bằng [4]

 Lưỡng Hà:

 Văn bản Eduba: từ “Eduba” nghĩa là “ngôi nhà của những tấm bảng”, là tên gọi của các trường học Sumer Các tác phẩm eduba văn chương có thể chia thành 3 nhóm:

Tác phẩm mô tả cuộc sống trong trường học: Người cha và đứa con phóng đãng,

chứa đựng lời khuyên răn của người cha, vốn là một thư lại, dành cho cậu con trai học kém và bướng bỉnh

 Văn bản giáo huấn: gắn với hoạt động của các trường học của Sumer, nhằm mục đích

giáo dục, răn dạy đạo đức (Châm ngôn của thần Shuruppak Ziusudra), khuyên bảo thực tiễn để hoàn thành một việc nào đó (Biên niên sử người làm nông)

 Cách ngôn dân gian: gắn với cuộc sống đời thường nhiều hơn cả, bao gồm tục ngữ,

châm ngôn, truyện tiếu lâm, ngụ ngôn, truyện cổ tích, v.v (Chàng chăng cừu thành

Trang 3

 Tranh luận – đối thoại: những hình thức sơ khai của việc phê phán xã hội Tác phẩm tiêu

biểu: Tam thiên bi quan, Truyện về người vô tội bị nạn [6]

ra giữa một ông chủ với người đầy tớ của mình, về những ý định của người chủ về đi lại, dùng bữa, xây dựng, hôn nhân,v.v [7]

c Văn xuôi:

Ai Cập: một số tác phẩm tiêu biểu: Người bị đắm tàu, Papyrus Westcar, Truyện về Neferkar

và viên tướng Sisin, Huyền thoại về công chúa xứ Bakhtan, Cuộc phiêu lưu của Un-Amon, Những truyền thuyết về Petubast, Truyện về Haemuas (hay Truyện về những quan tư tế

do bị hiểu lầm làm nhục chị dâu nên người em bỏ đi và trải qua nhiều chuyến phiêu lưu thần kì Cuối truyện, người anh biết được sự thật đã giúp chàng trở về và trở thành pharaoh của Ai Cập

hãm hại anh và làm anh mù mắt Đến cuối truyện, cậu con trai của Chân nhờ sự giúp

đỡ của các thần linh đã trả thù Giả vì tội làm mù mắt cha cậu

Lưỡng Hà: Truyện Adapa, Truyện Etana, Trường ca tự sự, Biên niên sử Babylon [9].

 Thần thoại: Thần thoại về Enki, về hành trình của thần Nanna đến Nippur, về việc tạo

nên con người, về trận đại hồng thủy, về âm phủ, về những chiến công anh hùng, v.v

và công cuộc sáng tạo ra thế gian, gồm bảy bảng chữ dạng nêm, mỗi bảng chứa từ

125 đến 165 dòng.Trường ca tiêu biểu cho kiểu truyện phục vụ việc cúng tế[10]

d Tụng ca và ai ca:

 Ai Cập:

 Tụng ca thần linh : Tụng ca dâng Hapi (thần sông Nile), tụng ca Amon – Aton, tụng ca thần Osiris [11]

 Lưỡng Hà:

 Tụng ca (ca ngợi thần Enlil, ca ngợi các thành phố và các ngôi đền, Bài câu nguyện

vươn tay lên thần Ishtar [12])

 Ai ca: những bài khóc cho các tai họa của dân chúng, cũng là những tác phẩm cúng tế,

mang tính nghi lễ (Người đàn ông và vị thần của riêng mình) [13]

e Thơ tình yêu:

 Ai Cập: xuất hiện các bản ghi chép từ thời Tân Vương quốc.Có thể chia thành hai loại chính, một loại được chỉnh lý chau truốt, manh hơi hướng hàn lâm, thính phòng và loại thứ hai giản dị, gần gũi với phong cách sáng tác dân gian hơn [14]

 Lưỡng Hà:

 Bài hát trong các nghi thức kết hôn: Trong các buổi lễ kết hôn, các bài ca này được diễn xướng dưới hình thức hội thoại trong các vở kịch ngắn, trong đó các nhân vật vua chúa đảm nhận vai trò thần bảo trợ và các quan tư tế đóng vai bạn đời của thần

 Cuộc đối thoại tình yêu: dài hơn 50 dòng, mô tả cuộc cãi cọ của một đôi tình nhân [15]

2 Dị biệt và đặc trưng:

 Ai Cập:

Trang 4

 Tử thư: tuyển tập lớn các tác phẩm thời kì Tân Vương quốc dành cho những người chết,

sáng tác nhằm mục đích bảo đảm sự bất tử cho bất kỳ người trần gian nào Đặc biệt nổi bật trong đó là chương 125 của tác phẩm, mô tả cảnh tòa án dưới âm phủ của thần Osiris phán xét linh hồn người chết, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo và văn học, thể hiện tư tưởng thưởng phạt sau khi chết tùy thuộc vào phẩm hạnh của con người trên dương thế

 Tác phẩm chính luận: xuất hiện vào thời kỳ lịch sử chuyển giao giữa hai thời đại Cổ

Vương quốc và Trung Vương quốc (Tiên tri của Nerferty, Truyện Sinuhe, Châm ngôn

 Lưỡng Hà:

 Sử thi thần thoại và sử thi anh hùng: thực tế các tác phẩm này có đặc trưng nội dung

và phong cách giống những hình thức cổ của truyện cổ tích anh hùng hay cổ tích thần

kỳ hơn là sử thi, là những hình thức sơ khai, từ đó phát triển thành sử thi đích thực [17]

đầu tiên của nhân loại, có giá trị nhân bản và nghệ thuật thơ ca vô cùng sâu sắc

Gilgamesh là một thũ lĩnh có thật của Uruk, các huyền thoại thuê dệt xung quanh ông

chính là nền tảng cho Sử thi Gilgamesh Về mặt giá trị văn học, Sử thi Gilgamesh có

ảnh hưởng lớn đến rất nhiều tác phẩm văn học sau này, nhiều mô típ quen thuộc chúng

ta dễ dàng bắt gặp trong văn học thế giới đều khởi nguồn từ Sử thi Gilgamesh [18]

 Điềm triệu (Omina): thể loại chỉ có thể tìm thấy trong văn học Lưỡng Hà, là những bản ghi chép các hiện tượng được cho là điềm báo trước của các quan tư tế Akkad Những ghi chép như vậy được thu thập thành tập bài giảng cho các thầy bói tương lai,

để họ có thể tiên đoán tương lai khi các hiện tượng tương tự lặp Trong omina còn có những sự kiện xã hội có thực được nhắc đến, trong chừng mực nào đó chúng có thể được xem như những tư liệu lịch sử

III Nhận định, đánh giá:

1 Những khó khăn trong việc phân chia thể loại các tác phẩm văn học Ai Cập – Lưỡng Hà: Tất cả sự phân chia theo thể loại trong nghiên cứu này hoàn toàn là ước lệ và dựa trên những quan niệm của văn học hiện đại về thể loại.Điều khó khăn nhất trong việc thử phân loại văn học cổ đại Ai Cập – Lưỡng Hà là phân ranh giới rõ ràng giữa tác phẩm văn chương đích thực với những tác phẩm thành văn khác.Quá trình này đã dẫn đến kết luận là việc phân chia các tác phẩm thành các nhóm lớn thì tiện hơn và khách quan hơn là phân loại tỉ mỉ thành nhóm nhỏ

2 Vấn đề tôn giáo trong văn học Ai Cập – Lưỡng Hà:

Văn học cổ đại Ai Cập – Lưỡng Hà gắn liền với đời sống và hệ tư tưởng của xã hội cổ đại – hoàn toàn bị chi phối bởi tôn giáo Nhiều tác phẩm của nền văn học này đã thấm nhuần thế giới quan tôn giáo, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên không nên từ đó mà cho rằng văn học cổ đại chỉ là những văn bản tôn giáo hay thần thoại Ngược lại, nó rất phong phú đa dạng về thể loại

3 Ảnh hưởng của văn học Ai Cập – Lưỡng Hà cổ đại đối với văn học thế giới:

Ta có thể tìm thấy trong các tác phẩm còn lại của văn học Lưỡng Hà mô típ tiểu biểu cho các tác phẩm văn học sau này, đặc biệt là trong thể loại truyện cổ tích thần kỳ Nhiều thủ pháp nghệ thuật khác của văn học Lưỡng Hà cũng đã được kế thừa như các hình thức sơ khai của việc phê phán xã hội thông qua các cuộc đối thoại, thủ pháp lặp lại, hình tượng nhân vật, v.v

Trang 5

Đặc biệt, Ai Cập nói chung và văn học của nó nói riêng có ảnh hưởng rõ ràng đối

với Kinh Thánh (Ngụ ngôn của Solomon từ Châm ngôn Amenemope, câu chuyện

về Joseph và Pot từ Truyện về hai anh em) Chắc chắn rằng ảnh hưởng của văn học

Ai Cập đối với văn học cổ đại Hy Lạp là rất đặc biệt Trong thời Hy Lạp hóa ở Ai Cập xuất hiện thứ văn học bao gồm những bản dịch hay những phỏng thuật sang

tiếng Hy Lạp các tác phẩm của văn học Ai Cập (Lời sấm của người thợ gốm, dị

bản thần thoại về nữ thần Tethnut, phóng tác truyền thuyết về pharaoh Nektanebe của Ai Cập) Văn học Hy Lạp – Ai Cập lại có tác động đối với văn học cổ đại Hy Lạp – La Mã Cần phải nói đến mối quan hệ đã được các nhà nghiên cứu phát hiện giữa thơ tình yêu của Ai Cập với thơ tình yêu của Hy Lạp – La Mã cổ đại: những

mô típ hệt như vậy với cách lý giải cũng hệt như vậy trong thơ tình yêu của Ai Cập rất lâu trước khi các nhà thơ cổ đại Hy – La xuất hiện

Văn học Ai Cập còn ảnh hưởng đến văn học cổ đại Do Thái, qua trung gian văn học Coptic ảnh hưởng đến văn học Arập Nói cách khác, văn học thế giới phải mang ơn nhiều đối với một trong những nền văn học cổ nhất – văn học Ai Cập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Câu chuyện văn chương phương Đông – Nhật Chiêu – NXB Giáo dục

2 Văn học cổ đại Ai Cập – M A Korostovtsev, Trần Thị Phương Phương dịch – Website khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

3 Văn học Lưỡng Hà – V.K Afanasyeva, Trần Thị Phương Phương dịch – Website

khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

4 Lịch sử các nền văn minh – Hoàng Lê Minh – NXB Văn hóa thông tin

5 Lịch sử văn minh nhân loại – GS Vũ Dương Ninh – Tủ sách ĐH KHXH & NV TP.HCM 1998

6 Nguồn gốc văn minh – Will Durant, Nguyễn Hiến Lê dịch – NXB Văn hóa thông tin

7 Almanach: những nền văn minh thế giới – Nhiều tác giả - NXB Văn hóa thông tin

Trang 6

PHỤ LỤC

1 Văn bia lịch sử:

thờ thần Amon ở Thebes, là trích đoạn trong từ toàn văn biên niên sử thời bấy giờ do viên thư lại Chanini soạn

người Hitti diễn ra vào đầu thế kỷ XIII trước công nguyên, ca ngợi pharaoh như một anh hùng, người cứu đất nước và nhân dân thoát khỏi kẻ thù khủng khiếp là những người Hitti

trước những đội quân Libia hùng mạnh xâm lược Ai Cập

2 Ngụy văn bia:

từng xây dựng và tái thiết thánh đường Tummal.

năm, các thành bang bị ngài đánh bại, và bổ sung cả những chuyện khác, thường là mang tính huyền thoại, được chia thành “trước đại hồng thủy” và “sau đại hồng thủy”

một tác phẩm sử ký hay biên niên sử sơ khai

3 Châm ngôn:

tập hợp những kinh nghiệm trị vì đất nước, những phương pháp đấu tranh chống lại những kẻ mưu phản và nổi loạn

truyền thống cổ đại, bao gồm những lời khuyên răn đủ loại hết sức khác nhau được xếp không theo một trật tự nào Đáng chú ý là trình độ triết lý đạo đức của những châm ngôn thời Tân Vương quốc cao này hơn rõ rệt so với thời cổ đại

không có nhiều khác biệt so với châm ngôn truyền thống

4 Bi ca một linh hồn tuyệt vọng:

“Cái chết đang nằm trong mắt tôi Như mùi hương mật nhi lạp Như ngồi thuyền theo gió mà trôi

Trang 7

Cái chết đang nằm trong mắt tôi Như mùi hoa bách hợp

Như trên bờ nước, ta say rồi”

Phần cuối của tác phẩm, nhân vật “tôi” tin rằng các thần linh sẽ công bằng:

“Người, người ở cõi xa kia

Sẽ bắt lấy kẻ có tội

Mà trừng phạt chẳng tha Người, người ở cõi xa kia

Sẽ đi trên chiếc thuyền trời

Sẽ chọn những gì cần chọn Trong lễ dâng đền thánh.”

5 Anh nghèo thành Nippur: tác phẩm thời kì văn học Babylon Truyện kể về một người

nghèo khổ bị tên quan thị trưởng xử tệ một cách bất công, và là một dị bản của loại truyện phổ biến trong văn học dân gian thế giới kể về người nghèo khổ trả thù, ba lần xuất hiện trong nhà của kẻ đã xúc phạm mình với những khuôn mặt khác nhau

6 Tranh luận - Đối thoại:

định rằng mọi thứ đều tốt, còn người kia bảo mọi thứ đều tồi Kết thúc các cuộc tranh luận, phần thắng thường thuộc về người lạc quan

XII TCN) chịu ảnh hưởng lớn của các bài tụng ca và đặc biệt của các bài thơ sám hối,

nội dung là khát vọng tìm ra nguyên nhân những tai ương, mong muốn hiểu được tại sao con người trở nên bất hạnh, mô tả thần linh “xa lạ với con người, đỏng đảnh và khó hiểu”

7 Cuộc đối thoại bi quan:

Gần suốt văn bản, người hầu chỉ thuận ý chủ mà đáp:

“Nô bộc, hãy nghe đây -Vâng, thưa ngài, tôi xin nghe

Ta muốn yêu một cô gái -Vâng, yêu đi, thưa ngài hãy yêu đi Khi yêu một cô gái, người ta quên mọi muộn phiền

À không, nô bộc, ta không yêu một cô gái đâu -Đừng yêu, thưa ngài, đừng yêu làm gì

Đàn bà là một giếng sâu Đàn bà là lưỡi dao thép sắc ngọn Cắt cổ đàn ông như chơi.”

Nhưng bất ngờ, vào phần cuối của tác phẩm, lời của người hầu bỗng trở nên độc lập và kiên định:

“Nô bộc, hãy nghe đây -Vâng, thưa ngài tôi xin nghe Vậy thì cái tốt đẹp là gì vậy?

-Là thế này, hãy đập gãy cổ tôi đi

Trang 8

Và đập gãy cả cổ của ngài nữa Rồi đem vứt cả hai xuống sông

Đó chính là điều tốt đẹp

Có ai cao đủ để vươn tới trời?

Và ai lớn đủ để ôm choàng mặt đất?”

Có lẽ trước cả Hamlet, người hầu trong tác phẩm này đã đặt ra cho nhân loại câu hỏi: Mục đích của đời sống là gì?

8 Văn xuôi Ai Cập:

huyền thoại trên biển Nhân vật chính lên đường để đi đến các mỏ của pharaoh trên chiếc tàu với một đội thủy thủ dày dặn kinh nghiệm Nhưng rồi khi bão nổi lên, con tàu cùng cả đội thủy thủ đều chết Chỉ mỗi người kể chuyện sống sót và bị trôi dạt tới một hoàn đảo xa lạ, trên đảo này chàng đã có những cuộ phiêu lưu kì thú và sau đó là cuộc hành trình hồi hương của chàng

Khufu của vương triều IV, buồn chán và nói với các con trai rằng ngài muốn được nghe họ kể những câu chuyện đời xưa

II vương triều VI, cuối thời Cổ Vương quốc, phê phán gay gắt sự bất công, bất bình

đẳng bao trùm trong triều đình

Ramses II (thế kỷ XIII TCN), bức tượng Honsu kì diệu đã chữa được căn bệnh nan y của công chúa xứ Bakhtan và trở vể kinh thành Thebes trong vinh quanh

chuyện nổi tiếng của chàng trai Un-Amon về chuyến phiêu lưu của mình đến Bible, chứa đựng nhiều thông tin thú vị về những xứ sở mà Un-Amon đã đến, về quan hệ của họ đối với Ai Cập, về tình hình chính trị ở bản thân Ai Cập, và một số vấn đề khác

tiết có thực về Petubast, vị vua trong thời kỳ bị người Assyria xâm lược

nhân vật lịch sử, con trai trưởng của Ramses II Trong tác phẩm, haemuas hiện diện như một quan tư tế được tôn vinh nhờ học bác uyên thâm

trước sẽ phải chết bởi cá sấu, rắn hay chó Pharaoh cha chàng nuôi dưỡng con trai ở một nơi riêng được bảo vệ đặc biệt Nhưng cậu bé lớn lên và một lần trèo lên mái nhà trông thấy một người có con chó Chàng cũng muốn tậu được một con chó, và yêu cầu của chàng được thực hiện Sau đó chàng lên một cỗ xe cùng với con chó đi đến xứ Nakharina Vua xứ đó có con gái sống trong tòa tháp cao ba mươi sáu mét Nhiều người là con trai các quý tộc địa phương cầu hôn với nàng, và vị vua hứa gả con gái cho ai có thể nhảy lên tới cửa sổ phòng nàng Không ai làm được điều đó Thế là xuất

Trang 9

hiện chàng hoàng tử Ai Cập, mặc dù còn rất mệt vì đi đường xa, nhưng chàng đã đạt được điều mà những người khác không thể Trở thành phò mã của vua xứ Nakharina, chàng kể cho người vợ trẻ rằng chàng bị định trước phải chết vì cá sấu, rắn hoặc chó

Sự cảnh giác của người vợ đã cứu chàng thoát khỏi rắn, và nàng thuyết phục chàng giết chết con chó, nhưng chàng từ chối Sau đó hoàng tử gặp cá sấu và trò chuyện với

nó, kết truyện bị thất truyền

đó kể lại chuyện gia đình một viên quan tư tế ở thành phố Tayudji Câu chuyện chứa đầy những chi tiết đời sống chân thực, tương tự như truyện về Sinuhe hay truyện về Un-Amon, và không hề mang bất kỳ yếu tố huyền thoại hay siêu nhiên nào

một nhà tiên tri, mỗi câu đều có kèm theo một lời giải thích

văn học về người trần trong văn học Babylon, trong đó con người được khắc họa như những nhân vật sử thi anh hùng

 Trường ca tự sự: mang nội dung lịch sử, kể về cuộc đời của các nhân vật lịch sử khác

nhau, trong đó có các vị vua Sumer Tiêu biểu là tác phẩm Trường ca về Sargon kể về

sự ra đời của Sargon (có nhiều điểm tương đồng với câu chuyện về thánh Moses) và

sự lên ngôi của Sargon nhờ sự giúp đỡ của nữ thần Ishtar

(thế kỷ VII TCN), bao gồm nhiều tác phẩm nhỏ: Biên niên sử Gedda kể về sự sụp đổ của Assyria (626 – 605 TCN), Biên niên sử Uaizman tiếp nối Biên niên sử Gedda và được viết đến giữa thế kỷ VI TCN, Biên niên sử Nabonid-Kir mô tả cuộc chinh phục Babylon của người Iran và một đoạn của Biên niên sử thời đại Selevkid.

10 Enuma Elish: Enuma Elish được tìm thấy trên các bản đất sét có niên đại từ TK VII TCN.

Trường ca có nhân vật trung tâm là Marduk, vị thần chủ của Babylon Trích đoạn tác phẩm khi các thần linh trẻ tuổi tôn xưng Marduk là thần chủ:

“Kể từ ngày hôm nay Lệnh ngài không thể đổi Lời nào ngài thốt ra Cũng hóa thành sự thật Bước ngài đi tới đâu Không thần nào dám vượt Ngài là vua vũ trụ

Chúng tôi cùng xưng hô…”

Enuma Elish có thể được xem như một huyền thoại về thiên nhiên, trong đó Marduk –

con trai thần mặt trời – là đấng sang tạo, đem lại trật tự và văn minh đánh bại các thế lực

hỗn mang nguyên thủy

11 Tụng ca Ai Cập:

Trang 10

 Tụng ca dâng Hapi (thần sông Nile) : Một số dị bản của tụng ca này còn truyền đến nay thuộc thời đại Tân Vương quốc, nhưng đó chỉ là các bản thời sau chép lại Bài tụng ca gây sự chú ý ở hai phương diện: thứ nhất, trong đó phản ánh rất sinh động thái

độ của người Ai Cập đối với con sông vĩ đại không chỉ đã sinh ra đất nước Ai Cập, mà còn hàng ngàn năm nuôi dưỡng dân cư trên đất nước đó; thứ hai, những cảm xúc đó được thể hiện trong tác phẩm dưới hình thức mang tính nghệ thuật rõ rệt Tụng ca không phải là bài cầu nguyện tập hợp các lời thỉnh cầu, mà là sự thể hiện niềm vui sướng và biết ơn đối với thiên nhiên vĩ đại đã ban tặng sự sống cho đất nước và dân chúng Tụng ca mô tả một cách thi vị sức mạnh hồi sinh của nước và của lũ sông Nile, niềm hân hoan của dân chúng trong thời gian nước lũ, những mối nguy hiểm đe dọa đất nước nếu như nước lũ đến chậm, v.v

 Tụng ca thần Osiris: dược khắc trên các bia mộ thời kì Trung Vương quốc, thời đại thần Osiris bắt đầu được thờ cúng rộng rãi Việc thờ cúng thần Osiris đã “bình đẳng hóa” quyền được sống bất tử sau khi sang thế giới bên kia của người Ai Cập, chỉ cần một tấm bia mộ được khắc những lời cầu nguyện tới thần Osiris có thể đảm bảo một cuộc sống vĩnh hằng sau khi qua đời

 Tụng ca Aton – Amon: Tụng ca thần Aton của pharaoh Akhnaton (khoảng giữa thế kỉ XIV TCN, ông đã thực hiện một cuộc cải cách tôn giáo nổi tiếng trong lịch sử Ai Cập, thay thế vị trí thần chủ của Amon bằng Aton) được xem như một tác phẩm thi ca tôn giáo đích thực Tụng ca không nhắc đến những thần linh khác, đề cao vị trí độc tôn của Aton Theo tụng ca, Aton là thần của người Ai Cập và của các dân tộc khác, một

vị thần ân nhân, cội nguồn của ánh sáng thể chất và ánh sáng tinh thần Sau khi

Akhnaton và người kế vị của ông qua đời, việc thờ cúng Aton cũng bị bãi bỏ và Amon trở lại với vai trò thần tối cao của Ai Cập, các tụng ca thần Amon thường có nhiều nét tương đồng, có thể xem như kế thừa tụng ca về thần Aton

12 Bài cầu nguyện vươn tay lên thần Ishtar:

“Cầu nguyện Người, sao cho Người dễ dàng nghe thấy!

Nhìn thấy Người là hạnh phúc, ý chí của Người là ánh sáng!

Hãy thương lấy con, hỡi Ishtar, chia phần cho con!

Hãy dịu dàng nhìn con và nhận lấy lời cầu nguyện!

Hãy chọn đường chỉ lối cho con!

Gương mặt Người con đã nhận ra – hãy ban tặng phước lành!

Gánh nặng của Người con đã kéo lê – đã xứng được nghỉ chăng?

Con đợi lệnh của Người – xin hãy gia ân!

Vẻ lộng lẫy của Người con gìn giữ – hãy dịu dàng thương xót thân con!

Con kiếm tìm ánh sáng của Người – mong đời mình tươi sáng!!

Nguyện cầu sức mạnh toàn năng của Người – và con sẽ ở lại với thế gian!”

13 Ai ca Lưỡng Hà:

Ngày đăng: 15/04/2020, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w