1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THẢO LUẬN 3

18 1,9K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 41,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề 1: Khái niệm tài sản Tóm tắt bản án 1. Quyết định số 062017QĐPT ngày 1172017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án giữa nguyên đơn ông Phan Hai và bị đơn ông Phan Quốc Thái. Yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 2371999 của Ủy ban nhân dân huyện Diện Khánh mang tên Lương Thị Xàm cho ông Phan Hai. Quyết định không chấp nhận kháng nghị ngày 1252017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diện Khánh, tỉnh Khánh Hòa; không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn ông Phan Hai. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Trang 1

Vấn đề 1: Khái niệm tài sản

*Tóm tắt bản án

1 Quyết định số 06/2017/QĐ-PT ngày 11/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án giữa nguyên đơn ông Phan Hai và bị đơn ông Phan Quốc Thái Yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 23/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện Diện Khánh mang tên Lương Thị Xàm cho ông Phan Hai Quyết định không chấp nhận kháng nghị ngày 12/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diện Khánh, tỉnh Khánh Hòa; không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn ông Phan Hai Đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự

2 Bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long.

Xét xử vụ án “Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng” giữa nguyên đơn ông Võ Văn B, bà Bùi Thị H và bị đơn bà Nguyễn Thị Thủy T ngày 28/8/2018 Năm 2012, sau khi sửa nhà xong thì 10 ngày sau ông B, bà H phát hiện mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sau khi làm đơn, Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B, bà H, nhưng khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không được nhận do Ủy ban nói có người tranh chấp Hiện nay bà T là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B và bà H, và chỉ chấp nhận trả lại khi nhận đủ số tiền 120.000.000 đồng Quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H Buộc bà Nguyễn Thị Thủy T giao trả cho ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 2

3 Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Xét xử về việc khiếu kiện: “Quyết định truy thu thuế” giữa người khởi kiện ông Nguyễn Việt Cường và người bị kiện là Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Bến Tre

và Cục trưởng Cục thuế tỉnh Bến Tre Ông Cường có đơn khởi kiện yêu cầu tòa án hủy Quyết định số 714/QĐ-CCT ngày 12/5/2016 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Bến Tre và Quyết định số 1002/QĐ-CT ngày 18/5/2017 của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Bến Tre Lý do ông Cường phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân khi mua bán tiền kỹ thuật số Quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt Cường

Trang 3

Câu 1: Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa

về một vài giấy tờ có giá.

 Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu…

 Theo Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/03/2008 (được sửa đổi bởi Thông tư 16/2009/TT-NHNN ngày 11/08/2009) của Thống đốc Ngân hàng

Nhà nước thì “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để

huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.”

 Ví dụ về giấy tờ có giá: trái phiếu, cổ phiếu

+ Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (Khoản 3 Điều 6 Luật Chứng khoán 2006)

+ Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành (Khoản

2 Điều 6 Luật Chứng khoán 2006)

Câu 2: Trong bài viết Các loại tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, tác giả Nguyễn

Minh Oanh có coi “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là tài sản không?

Trong bài viết Các loại tài sản trong Luật dân sự Viện Nam, tác giả Nguyễn Minh

Oanh có coi “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là tài

sản vì trong bài viết có đoạn: “Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu,

quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm…không phải là giấy tờ có giá Nếu cần phải xem xét thì nó chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó” Theo tác giả

Nguyễn Minh Oanh xác định “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận

sở hữu nhà” không phải là giấy tờ có giá mà là một vật thuộc sở hữu của người đứng

Trang 4

tên trên giấy tờ đó Mà vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó thì người

đó có thể nắm giữ và quản lí được Vậy “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” chính là vật mà căn cứ theo Điều 163 BLDS 2015 là một loại tài sản

Câu 3: Trong bài viết Vai trò của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tác giả Đỗ Thành Công có nói “giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là tài sản không?

Trong bài viết Vai trò của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề kiện đòi

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tác giả Đỗ Thành Công coi “giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là tài sản

Theo bài viết Vai trò của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề kiện đòi giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất thì “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng

nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất” Tác giả Đỗ Thành Công cho rằng: “Theo

Điều 163 Bộ luật dân sự 2005, tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá, tuy nhiên hoàn toàn có thể xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật Điều này là hợp lý bởi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tồn tại dưới một hình thức vật chất nhất định, thậm chí có hình dáng cụ thể (là tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người (có thể thực hiện việc nắm giữ, chiếm giữ, quản lý đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể tham gia vào giao dịch trao đổi không làm mất đi bản chất tài sản của nó” Bên cạnh đó, “việc Tòa

án nhân dân tối cao coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản dẫn tới nhiều hệ quả không giải thích được về mặt lý luận và thực tế,…ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người sử dụng đất”, “tước bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất đối với loại giấy tờ này” Không những thế mà nó

còn dẫn đến hệ quả các vụ tranh chấp về việc đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất đi “trái với bản chất của dân luật” “Giá trị vật chất của giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất không lớn Tuy thế, loại giấy tờ này rất có ý nghĩa trong việc chứng minh quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất” Từ đó, tác giả đã kết luận: “Theo chúng tôi, về đường lối xét xử, cần thừa nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản”

Trang 5

Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng

nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?

 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không được xem là giấy tờ có giá Ví dụ như bản án số 06/2017/QĐ-PT Nhưng bên cạnh đó thì có những trường hợp Tòa án vẫn thụ lý như bản án số 39/2018/DSST

 Theo bản án số 06/2017/QĐ-PT thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không là giấy tờ có giá Dựa vào mục xét thẩm quyền giải quyết vụ án thì Theo Điều 105 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 và Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không xem là loại giấy tờ có giá Do đó, việc ông Phan Hai khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

 Theo bản án số 39/2018/DSST thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Căn cứ Khoản 2 Điều 4; Khoản 14 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định yêu cầu đòi trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B và bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Trang 6

Câu 5: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng

nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số trên và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?

 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải là tài sản Trong Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có đoạn: “Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá Do đó, việc ông Phan Hai khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.” Còn trong Bản án số 39 thì chỉ nêu là: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn B, buộc bà Nguyễn Thị Thủy T giao trả cho ông Võ Văn B giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 090902” chứ không nêu rõ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản hay không

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan

đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà” nhìn

từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài).

 Thực tiễn xét xử cho thấy, theo Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá Theo suy nghĩ chủ quan của tôi thì hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa là chưa xác đáng, vì:

+ Việc Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

Theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải giấy tờ có giá, tuy nhiên hoàn toàn có thể xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật Điều này là hợp lí bởi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tồn tại dưới một hình thức vật chất

Trang 7

nhất định, thậm chí có hình dáng cụ thể (là tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người

+ Việc Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản dẫn tới nhiều hệ quả không giải thích được về mặt

lí luận và thực tế, đồng thời nhận thức này làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người sử dụng đất Bởi vì theo quy định hiện hành của pháp luật dân sự Việt Nam, quyền sở hữu và từng nội dung riêng lẻ của quyền sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt chỉ có thể thực hiện trên các đối tượng là tài sản Việc coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản đã tước bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một khi có tranh chấp

Câu 7: Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy

chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

 Căn cứ Điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản như sau:

1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2 Tài sản bao gồm bất động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản

hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

 Căn cứ vào Điều 115 BLDS 2015 về quyền tài sản:

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với

đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Căn cứ Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

 Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chưa Quyền

sử dụng đất Quyền sử dụng đất là quyền tài sản theo quy định tại Điều 105

Trang 8

BLDS 2015, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được coi là tài sản Trong quy định Điều 163 BLDS 2005, Điều 105 BLDS 2015 đều không coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận sở hữu nhà là tài sản

Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến

“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà”.

 Hướng giải quyết của Tòa án còn chưa sát với vụ việc và mức nộp phạt mà bà Nguyễn Thị Thủy T phải đóng không hợp lý Với nội dung bản án mà bên ông B khởi kiện, gia đình ông B không hề quen biết với bà T Sau khi được UBND gọi lên để giải quyết việc tranh chấp thì gặp bà T lần đầu tiên

 Lý do đưa ra là tại sao Giấy chứng nhận sử dụng đất của nhà ông Võ Văn B tại sao lại ở trong tay bà T được? Năm 2012 nhà ông B và bà H sửa nhà nên chuyển hết

đồ đạc trong nhà ra sân, làm sao mà bà T vào được nhà ông B? Ai đó đã lấy và đưa cho bà T? Với những lời khai, chứng cứ đủ để nhận thấy đây là một vụ lừa đảo, trộm cắp của bà T

 Do bên ông B không yêu cầu Cơ quan chức năng điều tra, đi sâu vào tình tiết Gia đình ông B xuất thân có lẽ là những người nông dân hiền lành, mục đích khởi kiện

là chỉ lấy lại Giấy chứng nhận sử dụng đất và không đồng ý trả số tiền là 120.000.000 đồng

 Việc quyết định của Tòa án đưa ra đối với bà T là chưa thỏa đáng và cần phải tăng khung hình phạt đối với hành vi này

Trang 9

Câu 9: Bitcoin là gì?

 Bitcoin1 (ký hiệu: BTC, XBT, ) là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào Bitcoin có cách hoạt động khác hẳn so với các loại tiền tệ điển hình: Không có một ngân hàng trung ương nào quản lý nó và

hệ thống hoạt động dựa trên một giao thức mạng ngang hàng trên Internet Sự cung ứng Bitcoin là tự động, hạn chế, được phân chia theo lịch trình định sẵn dựa trên các thuật toán Bitcoin được cấp tới các máy tính "đào" Bitcoin để trả công cho việc xác minh giao dịch Bitcoin và ghi chúng vào cuốn sổ cái được phân tán trong mạng ngang hàng - được gọi là blockchain Cuốn sổ cái này sử dụng Bitcoin

là đơn vị kế toán Mỗi bitcoin có thể được chia nhỏ tới 100 triệu đơn vị nhỏ hơn gọi là satoshi Bitcoin là loại tiền mã hoá điển hình nhất, ra đời đầu tiên, và được

sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại điện tử

Câu 10: Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?

 Theo Tòa án, Bitcoin không là tài sản theo pháp luật Việt Nam Căn cứ theo Điều

163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá cả quyền tài sản” Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự Ngoài ra, theo Công văn số 881/TTra ngày 15/10/2013 của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông về việc cung cấp thông tin phục vụ công và Công văn số 124/BTR-TTRA.m ngày 09/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh ngành nghề kinh doanh nạp tiền ảo và cũng không có khái niệm tiền ảo, đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh về việc mua bán tiền ảo trên Internet nên quyết định của tòa án là hợp lý

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/Bitcoin

Trang 10

Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối

quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam.

 Khái niệm tài sản mà Tòa căn cứ ở đây là: Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005

quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá cả quyền tài sản” và theo Điều 3 luật Thương mại năm 2015 quy định: “Hàng hóa bao gồm: tất cả các loại

động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai” Vì vậy, theo quan điểm của Tòa thì tiền ảo không phải là tài sản trong pháp

luật Việt Nam do chưa có bất kỳ văn bản nào quy định Quan điểm của Tòa ở đây bám sát vào Điều 163 BLDS 2005 và các văn bản quy định khác về khái niệm tài sản: đặt Bitcoin ngoài phạm vi quy định tài sản ở Việt Nam Nhưng Bộ luật Dân

sự 2005 mới chỉ liệt kê những đối tượng có thể được coi là tài sản mà không đưa

ra khái niệm cụ thể về tài sản, cũng không đưa ra tiêu chí chung để làm căn cứ xác định đối tượng nào đó có phải là tài sản hay không Theo tiêu chí này, “tài sản ảo” cũng có thể trở thành loại tài sản mới được pháp luật thừa nhận bởi ý nghĩa kinh tế của nó là hiển nhiên trong giao lưu dân sự, thể hiện qua thực tiễn nó đã là đối tượng của các giao dịch kinh tế liên quan.2

2 Phạm Thị Thúy Hằng, “Giải pháp quản lý tiền ảo, tài sản ảo”, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/giai-phap-quan-ly-tien-ao-tai-san-ao-139865.html, 24/02/2019.

Ngày đăng: 10/04/2020, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w