1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài thảo luận dân sự 2

16 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 35,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thảo luận dân sựBài 1: Năng lực pháp luật dân sự của chủ thể trong xác lập giao dịch Bản án số 322018DSST ngày 20122018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự?

Trang 1

Bài 1: Năng lực pháp luật dân sự của chủ thể trong xác lập giao dịch

- Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/ chị về sự thay đổi trên.

Điều 122 BLDS 2005: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định

Điều 177 BLDS 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

* Điểm mới:

- Về điều kiện liên quan đến chủ thể (điều kiện chủ quan): So với BLDS 2005, BLDS

2015 đã thay từ “người tham gia giao dịch” bằng từ “chủ thể” Sự thay đổi này chỉ mang tính kỹ thuật, không kéo theo sự thay đổi về nội dung 1

+ BLDS 2005 chỉ yêu cầu chủ thể tham gia giao dịch “ có hành vi năng lực dân sự” , nghĩa là chủ thể tham gia chỉ “có thể là cá nhân

+ BLDS 2015 yêu cầu thêm là phải “phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” nghĩa

là chủ thể tham gia có thể là cá nhân hoặc pháp nhân

Trang 2

Sự thay đổi đã mở rộng hơn về chủ thể tham gia các giao dịch dân sự không chỉ là cá nhân mà còn là pháp nhân, đã phù hợp với thực tiễn đời sống, vì không phải tất cả các giao dịch dân sự đều có mục đích và nội dung giống nhau và yêu cầu về mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân không phụ thuộc vào từng giao dịch cụ thể 2

1 Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, Trường Đại học Luật TP HCM, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017,tr.299

- Về điều kiện liên quan đến giao dịch (điều kiện khách quan):

+ Nội dung giao dịch: Giao dịch phải có nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm, không trái với đạo đức xã hội Quy định về đạo đức xã hội không có sự khác biệt về BLDS 2005 và BLDS 2015 Quy định về điều cấm có sự khác biệt giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 Điều 128, BLDS 2005 quy định điều cấm là điều cấm của pháp luật, là những quy định của pháp luật, tức là những quy định đó có thể tồn tại trong văn bản luật hoặc văn bản dưới luật Điều 123, BLDS 2015 quy định điều cấm là điều cấm của luật, là những quy định của luật, tức là những quy định đó chỉ được tồn tại trong luật, do Quốc hội ban hành

+ Hình thức giao dịch: Điều 177 BLDS 2015 đưa điều kiện tự nguyện lên trước điều kiện không vi phạm điều cấm Điều này có nghĩa là BLDS 2015 đề cao yếu tố tự nguyện trong giao dịch dân sự hơn yếu tố không vi phạm điều cấm Đây là một điểm tiến bộ bởi chúng

ta thấy pháp luật dân sự không quyết định được việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ của các chủ thể mà việc này do chính ý chí của chủ thể quyết định, yếu tố tự nguyện là yếu tố vô cùng quan trọng trong quan hệ dân sự Sự thay đổi thứ tự này là hoàn toàn phù hợp

Câu 2: Đoạn nào trong bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?

Đoạn nhân định sau của bản án cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

“ Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch

Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người

có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sau tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam ”

Trang 3

2 Giáo trình những quy định chung về Luật dân sự, trường Đại học Luật TP HCM, Nxb Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt Nam 2017, tr.300

Câu 3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã

bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?

- Đoạn nhận đinh sau của bản trên cho thấy giao dịch ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa

án tuyên bố vô hiệu: “ do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị

vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 của Bộ luật Dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.”

Câu 4: Suy nghĩ của anh/ chị ( trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu?

- Căn cứ Tòa án đưa ra để tuyên bố giao dịch vô hiệu là hoàn toàn hợp lí và có thể chấp nhận được bởi giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định Theo Điều 122 BLDS 2015 quy định: “ Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu ” Do vậy, giao dịch dân sự vô hiệu khi không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015 cụ thể là: “ Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.” bởi vợ chồng phía nguyên đơn ông T và bà H thuộc diện người nước ngoài không có quyền sử dụng đất tại Việt Nam ( không có năng lực pháp luật tại Việt Nam) nên điều này đã vi phạm điểm a khoản 1 điều 117 BLDS 2015 Hơn nữa, theo Điều 123 BLDS 2015 quy định: “ Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiêu ” Rõ ràng hành vi mua bán và đứng tên hộ của bà Đ là trái pháp luật, hơn Trường hợp của bản án này vừa vi phạm điểm a khoản 1 điều 117 vừa vi phạm điểm c khoản 1 điều 117 BLDS 2015 nên vì thế Tòa án hoàn toàn có căn cứ thỏa đáng để kết luật giao dịch dân sự này vô hiệu Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và nhà nước; bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự.

Bài 2: Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức

- Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 4

Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

- Những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005, cụ thể:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định

- Những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

- So với BLDS 2005 quy định ở Điều 122 thì Bộ luật dân sự 2015 có một số điểm mới sau:

Thứ nhất, về chủ thể xác lập giao dịch, ở điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định

“Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”; đến BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”

Như vậy, BLDS 2015 đã đề cập bổ sung đến “năng lực pháp luật dân sự” Quy định như vậy chặt chẽ hơn so với BLDS 2005, vì trong một số trường hợp năng lực pháp luật bị hạn chế mặc dù năng lực hành vi vẫn có

Trang 5

Cùng với đó, trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù hợp với giao dịch dân sự đã xác lập” Sự thay đổi này là phù hợp vì trên thực tế có rất nhiều loại giao dịch dân sự khác nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của chủ thể Chẳng hạn, đối với giao dịch hàng ngày, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được tự xác lập, nhưng đối với giao dịch khác thì hầu như không

Thứ hai, về điều cấm của luật, ở điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”, còn điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp luật” thành “luật” Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể mắc phải

Thứ ba, về hình thức của giao dịch dân sự, tương tự như trên, khoản 2 Điều 117 BLDS

2015 đã đổi “pháp luật” ở khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 thành “luật” Điều này nhằm hẹp lại phạm vi hình thức của giao dịch

Đó là những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật

Câu 2: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

- Ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức từ thời điểm ông bị tai biến nằm một chỗ vào năm 2007

Thời điểm ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là vào 10/08/2010

Câu 3: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

- Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên

mất năng lực hành vi dân sự, vì giao dịch được xác lập vào 09/02/2010 còn ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự vào 10/8/2010

Câu 4: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không?

Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vào thời điểm xác lập người xác lập không nhận thức, làm

chủ được hành vi của mình: Điều 133 BLDS năm 2005 quy định: “Người có năng lực hành vi dân sự đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu” Theo quy định của pháp luật thì trường hợp này chỉ áp dụng đối với những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Bởi vì chỉ có những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới có điều kiện về ý chí cũng như lý trí để tham gia vào mọi quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên trên thực tế, có thể do những bệnh lý hoặc do sự tác động từ các yếu tố bên ngoài mà có những thời điểm họ không có đủ lý trí để nhận thức và điều khiển được hành

vi của chính mình Lợi dụng điều này, các chủ thể khác có thể tham gia xác lập giao dịch dân sự với họ với những nội dung có lợi cho mình

Trang 6

Câu 5: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh (chị) biết.

- Trong thực tiễn có vụ việc của ông Diện tại quyết định số 102/2015/DS-GĐT ngày 10/4/2015 giống hoàn cảnh của ông Hội

Cụ thể: Ngày 16/01/1993, ông Diện viết “Giấy nhượng tài sản” để chuyển nhượng cho ông Sơn ba gian nhà tranh Tại quyết định số 07/2009/QĐST-DS ngày 15/12/2009 Tòa ánnhân dân huyện Từ Liêm tuyên bố ông Diện mất năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, tại Giấy chứng nhận số 744/KHTH ngày 07/8/2007, bệnh viện tâm thần Hà Nội chứng nhận ông Diện bị bệnh tâm thần phân liệt đã được điều trị 07 lần từ ngày 14/3/2983 đến ngày 24/10/2003 Tại biên bản giám định pháp y tâm thần số 41/PYTT ngày 25/11/2009, Trungtâm giám định pháp y tâm thần Sở Y tế Hà Nội, ông Diện bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid từng giai đoạn với thiếu sót ổn định,

khả năng nhận thức và làm chủ hành vi bị hạn chế, cần có người giám hộ Như vậy, ông Diện xác lập giao dịch ở thời điểm chưa bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng thực tế ở thời điểm này đã “bị bệnh tâm thầnphân liệt thể Paranoid từng giai đoạn với thiếu sót ổn định, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi hạn chế”.*1

Hướng giải quyết của Tòa án: Tòa giám đốc thẩm đã theo hướng “có cơ cở để xác định tại thời điểm lập giấy chuyển nhượng tài sản ông Diện đã mất năng lực hành vi dân sự

Lẽ ra, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải làm rõ có hay không sự gian dối khi hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tại thời diểm giao kết hợp đồng ông Diện đã bị tâm thần thì việc chuyển nhượng có hợp pháp không và có bị áp dụng về thời hiệu khởi kiện không?”*2

1.Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức -Hội luật gia Việt Nam 2017 (xuất bản lần thứ 6), Bản án số 56, tr.426-427

2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức -Hội luật gia Việt Nam 2017 (xuất bản lần thứ 6), Bản án số 56, tr.427

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa

ra hướng xử lý.

- Thiết nghĩ, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên là hợp lý Một, việc chuyển nhượng phần đất này là giao dịch hợp đồng nên phải có sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng vì ông Hội trên thực tế đã không còn khả năng nhận thức trước khi thực hiện giao dịch, vì thế mà giao dịch do ông và vợ thực hiện bị vô hiệu một phần Hai, mảnh đất là tài sản chung của bà Hương và ông Hội, nên giả sử quyết định hủy toàn

bộ hợp đồng chuyển nhượng sẽ đồng thời bác bỏ luôn quyền sở hữu của bà Hương đối với phần tài sản thuộc sở hữu của bà

Thứ nhất, về chủ thể xác lập giao dịch, ở điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định

“Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”; đến BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi

Trang 7

dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Như vậy, BLDS 2015 đã đề cập bổ sung đến “năng lực pháp luật dân sự” Quy định như vậy chặt chẽ hơn so với BLDS

2005, vì trong một số trường hợp năng lực pháp luật bị hạn chế mặc dù năng lực hành vi vẫn có Cùng với đó, trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù hợp với giao dịch dân sự đã xác lập” Sự thay đổi này là phù hợp vì trên thực tế

có rất nhiều loại giao dịch dân sự khác nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của chủ thể Chẳng hạn, đối với giao dịch hàng ngày, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được tự xác lập, nhưng đối với giao dịch khác thì hầu như không

Thứ hai, về điều cấm của luật, ở điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”, còn điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp luật” thành “luật” Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể mắc phải

Thứ ba, về hình thức của giao dịch dân sự, tương tự như trên, khoản 2 Điều 117 BLDS

2015 đã đổi “pháp luật” ở khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 thành “luật” Điều này nhằm hẹp lại phạm vi hình thức của giao dịch Đó là những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, thể hiện tư duy tiến bộ, mới

mẻ của các nhà làm luật

Câu 7: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có

bị vô hiệu không? Vì sao?

- Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không bị vô

hiệu Vì theo khoản 2 Điều 125 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự của người quy định tại điểm b khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây: Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người có năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ” Giao dịch tặng cho ông Hội chỉ làm phát sinh quyền cho ông nên giao dịch này không bị vô hiệu

Bài 3: Giao dịch xác lập do có lừa dối.

Quyết định giám đốc thẩm số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 210/2013/DS-GDDT ngày 21/5/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS

2005 và BLDS 2015:

- Theo BLDS 2005: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

Theo BLDS 2015: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

Trang 8

“Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”_BLDS 2005 và BLDS 2015

Câu 2: Đoạn của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên

vô hiệu do có lừa dối:

- “Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân – họ hàng

của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái dịnh cư theo Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ ký của ông Đô (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán căn nhà 155/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh) Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng” giũa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng

Điều 132 BLDS để giải quyết”

Điều 132 BLDS có nội dung như sau: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

Câu 3: Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết.

- Hướng giải quyết trên là chưa có tiền lệ Vì theo nguyên tắc áp dụng án lệ:

“Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau.

Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Toà án; trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Toà án.”(*)

Câu 4: Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS 2015 không? Vì sao?

- Theo Điều 127 BLDS 2015:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”

“Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”

Ta thấy trong vụ án trên, anh Vinh đã cố tình không thông báo cho ông Đô và bà Thu biết tình trạng về nhà đất trong “Thỏa thuận hoán đổi” đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền

bù, khiến cho bà Thu ký vào thỏa thuận, đây là hành vi gian dối, lừa gạt

Việc hủy bản án dân sự phúc thẩm số 810/2008/DS-PT ngày 29/7/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 15/2008/DS-ST ngày

Trang 9

10-14/1/2008 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật như trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là còn phù hợp với BLDS 2015

(*) Nguyên tắc áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử

Nguồn tham khảo: BLDS 2015, BLDS 2005, Nguyên tắc áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử

Câu 5: Trong quyết định số 210, theo Toà án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?

Trả lời:

- không được yêu cầu: là bà Nhất bởi lẻ theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 1995 và

Bộ luật dân sự 2005 bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Tài, nên

bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, do bị lừa dối

- Chỉ có ông Tài mới có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối Nếu ông Tài không biết việc ông Dưỡng giả mạo chữ kí bà Nhất khi tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất

- Trong trường hợp bà Nhất khởi kiện, thì Toà án phải căn cứ quy định tại Điều 28 luật Hôn nhân và gia đình về “chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” để xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên bị vô hiệu theo Điều b khoản 1 và Điều 127

Bộ luật dân sự, khi đó ông Tài là bị đơn

Câu 6: Trong quyết định 210, theo Toà án, thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao?

Trả lời:

Không, vì:

- Theo khoản 1 Điều 142 Bộ luật dân sự 1995 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên

bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là một năm; Khoản

1 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập Còn Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai

Trang 10

năm, kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm

- Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ kí của bà

để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến ngày 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện Nên nếu xác định bà Nhất có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu do lừa dối thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện

Câu 7: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?

Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án không công nhận hợp đồng

Giải thích: Mảnh đất trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được giải quyết và đến nay Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập

đủ chứng cứ để làm rõ Nếu diện tích đất đang tranh chấp chưa được giải quyết

trong vụ án ly hôn thì phải xác định đây là tài sản chung của vợ chồng nên bà Nhất không có quyền khởi kiện đối với ông Dưỡng Còn nếu diện tích đất đã được giải

quyết trong vụ án ly hôn thì xác định quyền khởi kiện của bà Nhất đối với ông

Dưỡng Khi chưa làm rõ các tình tiết nêu trên mà Tòa án cấp sơ thẩm lại giao toàn

bộ diện tích đất cho bà Nhất và buộc ông Dưỡng bồi thường cho ông Tài và Tòa

án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng

Vậy nên: Tòa án nhân dân Tối cao đã hủy bỏ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và

sơ thẩm

Câu 8: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác nhau không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào các tình tiết như trong Quyết định số 210?

Câu trả lời cho câu hỏi trên có sự khác biệt nếu áp dụng các quy định tương ứng của

Ngày đăng: 24/03/2022, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

w