Lý luận với nghĩa chung nhất là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, làtổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong quá trình lịch sử của con người.. * Cơ sở lý
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC Câu 1: Cơ sở lý luận và nội dung nguyên tắc khách quan? Vận dụng nguyên tắc khách quan trong thực tiễn học tập và công tác?
* CS LL: Dựa trên quan điểm của CNDVBC về vật chất, ý thức, mối quan
hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Đây là cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong quá trình hoạt động thực tiễn
- Định nghĩa vật chất: là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
- Định nghĩa ý thức: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong
bộ óc người một cách năng động, sáng tạo
- Quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.
Vật chất là cái có trước, tồn tại khách quan độc lập với ý thức và quyết định
ý thức ý thức là cái có sau, phụ thuộc vào vật chất, do vật chất quyết định, nhưng ý thức có tính độc lập tương đối, có vai trò tác động trở lại đối với sự vận động và phát triển của thế giới vật chất
+ Vật chất quyết định ý thức trên ba phương diện :
Quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức: Vì nguồn gốc ra đời quan trọng của YT là lao động, là thực tiễn xã hội, ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người thông qua lao động ngôn ngữ và các quan hệ XH
Quyết định nội dung của ý thức: Vì YT là sự phản ánh TG vật chất và sự sáng tạo cuả YT là sự sáng tạo trong phản ánh và theo khuôn khổ của sự phản ánh Hơn nữa, tự thân YT không thể gây ra sự biến đổi nào trong đời sống hiện thực
Quyết định sự biến đổi của ý thức: YT phản ánh TG hiện thực KQ, TG vật chất, bản thân nó không thể gây ra sự biến đổi trong đời sống hiện thực Nhưng TG vật chất thì vận động và biến đổi không ngừng nên làm cho YT biến đổi
+ Ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất :
Ý thức do vật chất quyết định nhưng không phải là hoàn toàn thụ động, lệ thuộc vào thế giới vật chất mà nó có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất ý thức trang bị cho con người những tri thức về sự vật, về bản chất, quy luật khách quan của đối tượng Trên cơ sở đó, con người xác định đúng mục tiêu và
đề ra phương hướng hoạt động phù hợp ý thức có thể làm cho con người hoạt động đúng hay sai, thành công hay thất bại
Sự tác động trở lại của ý thức đối với thế giới khách quan cơ thể diễn ra theo hai chiều hướng khác nhau: thúc đẩy hoặc kìm hãm Nếu ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan sẽ có tác động tích cực giúp con người đạt được hiệu quả trong hoạt động thực tiễn; ngược lại, thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thực tiễn của con người
Trang 2Cần phân biệt khách quan và chủ quan không đồng nhất với vật chất và ý thức Nhưng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức lại là cơ sở để giải quyết khách quan và chủ quan
Khách quan là toàn bộ những điều kiện hoàn cảnh bên ngoài chủ thể, tạo thành một điều kiện hiện thực, tác động lên hoạt động của chủ thể (khách quan không chỉ là vật chất mà bao gồm cả ý thức)
Chủ quan là toàn bộ ý thức của chủ thể cùng với hoạt động của chủ thể tác động vào thế giới (chủ quan không chỉ là ý thức mà còn cả vật chất)
* Nội dung nguyên tắc :
Khi xem xét phải xuất phát từ bản thân sự vật, từ những điều kiện tồn tại thiết yếu của nó Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng các quy luật khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan, từ những điều kiện, hoàn cảnh, khả năng khách quan Như vậy, nhận thức, xem xét sự vật đúng như nó vốn có, không thêm, không bớt, không được lấy ý muốn chủ quan áp đặt, đánh giá sự vật, hiện tượng
Cùng với tôn trọng khách quan phải phát huy vai trò năng động chủ quan, năng động trong nhận thức, năng động trong quá trình tổ chức thực hiện
Khắc phục những hạn chế tuyệt đối hóa khách quan dẫn đến trông chờ, ỷ lại, mất cơ hội Tuyệt đối hóa chủ quan dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí
Thực hiện nhất quán nguyên tắc này sẽ khắc phục được những sai lầm của CNDT, bệnh chủ quan duy ý chí, của lối suy nghĩ và hành động giản đơn thường hay gán cho sự vật những điều mà sự vật vốn không có
* Vận dụng nguyên tắc khách quan trong thực tiễn học tập, công tác:
- Nhận thức điều kiện khách quan, quy luật khách quan
+ Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan
+ Hai là : Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm
- Phát huy vai trò tri thức khoa học trong hoạt động thực tiễn:
+ Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối
nó
+ Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra
Câu 2: Tại sao thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lenin? Vận dụng?
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lenin
Trang 3Lý luận với nghĩa chung nhất là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, là
tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong quá trình lịch sử của con người
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử
- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
- Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn: Lý luận và thực tiễn thống nhất biện
chứng ở chỗ :
Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm tra lý luận Do đó, lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng từ nhu cầu của thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành
Song, lý luận khi đã hình thành có tác động trở lại đối với thực tiễn, nó là kim chỉ nam vạch phương hướng chỉ đạo hoạt động thực tiễn Do đó, hoạt động thực tiễn phải căn cứ vào lý luận để định hướng dẫn dắt, đồng thời lý luận cũng được bổ sung từ thực tiễn Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng sẽ biến thành sức mạnh vật chất to lớn Lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao đem lại những hiểu biết sâu sắc về sự vật, về bản chất, quy luật vận động, phát triển của đối tượng Lý luận có khả năng dự báo những xu hướng vận động, phát triển của thực tiễn Cung cấp cho con người những định hướng, kế hoạch, phương pháp hành động phù hợp
Nói về vai trò của lý luận, Lênin viết : “ Không có lý luận cách mạng thì không
có phong trào cách mạng ”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: “ Lý luận không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không gắn với lý luận là thực tiễn mù quáng”
Lý luận và thực tiễn phải thống nhất vì xuất phát từ chức năng của lý luận, nhận thức là cải tạo thế giới khách quan, thông qua hoạt động thực tiễn mà con người khái quát lý luận, từ đó quay về chỉ đạo thực tiễn để lý luận bổ sung không ngừng
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giúp ta vừa phát triển được
lý luận, vừa có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn, tránh được sự lạc hậu của lý luận, đồng thời tránh được hành động tự phát trong hoạt động thực tiễn
Nó giúp ta có cơ sở khoa học để khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Bệnh kinh nghiệm chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thoả mãn với kinh nghiệm, tuyệt đối hoá kinh nghiệm, xem thường lý luận Bệnh giáo điều: tuyệt đối hoá lý luận, coi thường kinh nghiệm thực tiễn, chỉ biết sách vở, lý luận suông, không căn cứ vào thực tiễn Thực chất của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là
vi phạm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn người cán bộ KHKT phải làm gì?
- Phải không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận, tri thức chuyên ngành, thường xuyên cập nhật kiến thức, học tập suốt đời
Trang 4-Học phải đi đôi với hành, nhà trường phải kết hợp với xã hội
- Có phương pháp phân tích KH, phát hiện ra nhu cầu thực tiễn, nắm được bản chất của thực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn phải sáng tạo, đổi mới không ngừng
- Bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
Câu 3: Cơ sở lý luận và nội dung nguyên tắc toàn diện? Sự vận dụng của Đảng
ta trong sự nghiệp đổi mới?
* Cơ sở lý luận: Dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
+ Khái niệm liên hệ phổ biến: là phạm trù triết học, dùng để chỉ sự tác động qua
lại lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan
Từ nguyên lý liên hệ phổ biến thì mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong sự liên hệ phổ biến nhiều vẻ vô cùng phong phú, liên hệ là khách quan, nghĩa là không
có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách độc lập, cô lập
* Nội dung nguyên tắc toàn diện
Khi xem xét sự việc phải xem xét tất cả mối liên hệ cấu thành sự việc, bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp Nhưng phải xem xét có trọng tâm, tìm ra mối liên hệ bản chất bên trong của nó, chống xem xét tràn lan, phiến diện và chủ nghĩa triết trung
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét các mối liên hệ của sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, cũng như giữa các bộ phận, các mặt, các yếu tố trong một sự vật
Phải xem xét các giai đoạn phát triển của nó Mỗi một sự vật hiện tượng nói riêng và cả thế giới nói chung trong sự tồn tại, phát triển của mình đều phải trải qua các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau và các giai đoạn đó không tách rời nhau, có liên hệ làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này làm mở đầu cho giai đoạn khác tiếp theo
Khi xem xét nó phải gắn với điều kiện thực tiễn Muốn thúc đẩy sự vật hiện tượng phát triển phải tổng hợp nhiều biện pháp, đồng thời phải có biện pháp trọng tâm, trọng điểm, phải có mắt khâu mang tính đột phá
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện Quan điểm toàn diện khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện
* Sự vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới:
Nhận thức và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cần phải đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện công bằng xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đi tới bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, vừa giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, an ninh quốc phòng… trong đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm
Trang 5Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm Có thể khẳng định đây là sự vận động và quán triệt quan điểm toàn diện trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và đem lại những thắng lợi to lớn cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam
Chúng ta có thể thấy sự ổn định, đứng vững và từng bước phát triển của đất nước trước những biến cố của thế giới đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu để thể hiện rõ sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong lãnh dạo
sự nghiệp đổi mới Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ đó
là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội với tư cách là một xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản Nước
ta đã có một thời kỳ chìm sâu trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và một loạt những điều chỉnh trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước đã đưa đất nước dần thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đời sống của người dân được nâng cao
Quan điểm toàn diện còn được Đảng ta nhận thức và quán triệt ngay trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là việc Đảng và Nhà nước vẫn thừa nhận vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũng như thừa nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân Tuy nhiên, trong đó Đảng ta vẫn đặc biệt nhấn mạnh và coi trọng hình thức sở hữu công cộng với vai trò chủ đạo là thành phần kinh tế nhà nước trong cơ chế thị trường hiện nay, đây là một thách thức rất lớn đối với Việt Nam chúng ta Và như thế, việc nhận thức và quán triệt tốt nguyên tắc toàn diện của Đảng có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta trong thời gian tới
Câu 4: Cơ sở lý luận của quá trình đổi mới kinh tế là trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội? Sự vận dụng của Đảng ta hiện nay? (Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng)
* Cơ sở lý luận:
Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị có vị trí rất quan trọng trong quá trình đổi mới ở nước ta, bởi cả hai yếu tố này đều là những lĩnh vực của đời sống xã hội, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Đây chính là biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa cái khách quan và cái chủ quan
Trong mỗi thời đại lịch sử, sự vận động của các chế độ chính trị - xã hội suy cho cùng đều phụ thuộc vào sự vận động của chế độ kinh tế - xã hội, trong đó phương thức sản xuất có vai trò, vị trí hàng đầu
Trang 6Hồ Chí Minh, nhà cách mạng lỗi lạc, bằng chính hoạt động của mình đã cho rằng cần phải kịp thời đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị Vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác và xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng, đổi mới nền kinh
tế là vấn đề quan trọng của Việt Nam thời kỳ đầu của cách mạng: “Chủ trương làm
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Tức
là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân và bước ngay vào thời kỳ quá độ để xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Xét về thực chất, đó là con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Theo Hồ Chí Minh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả tự nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc” Vì vậy muốn có chủ nghĩa xã hội phải có một thời
kỳ quá độ để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, xây dựng cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, xây dựng cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho nhân dân Mục tiêu đổi mới kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, Người nhấn mạnh: “1 Làm cho dân có ăn; 2 Làm cho dân có mặc; 3 Làm cho dân
có chỗ ở; 4 Làm cho dân có học hành”
Khi nói về đổi mới chính trị tức là Hồ Chí Minh bàn về sự thay đổi theo hướng phát triển đi lên của mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội, bao giờ Hồ Chí Minh cũng hướng việc đổi mới đó vào việc thực hiện dân chủ, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đây là mục đích,
là bản chất của tổ chức và hoạt động chính trị
Kết hợp chặt chẽ, khoa học giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị nhằm mục đích đề ra các quan điểm đúng đắn, phù hợp để xây dựng, phát triển đất nước, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nhân dân Cần phải đổi mới cả về tư duy lãnh đạo, phương thức lãnh đạo về đường lối cũng như đổi mới về cơ cấu các thành phần kinh tế thì Việt Nam mới có thể phát triển và hội nhập với bạn bè quốc
tế được Giải quyết vấn đề đổi mới kinh tế không thể tách rời với đổi mới chính trị, nhưng kinh tế giữ vị trí hàng đầu và quyết định đến các yếu tố khác Sự kết hợp này chính là xây dựng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế phải đi liền kề với đổi mới chính trị
Sự vận dụng của Đảng ta hiện nay
Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với nền kinh tế lạc hậu sản xuất nhỏ là chủ yếu, quá độ lên chủ nghĩa xã hội chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế như: Kinh tế nhà nước, Kinh tế tập thể, Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), Kinh tế tư bản nhà nước, Kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài, cùng các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc
Trang 7dân thống nhất Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, lại vừa thống nhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, chúng vừa cạnh tranh nhau, vừa liên kết với nhau, bổ sung cho nhau Đó là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột Bởi vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dục truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội là việc làm thường xuyên, liên tục của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng
Xây dựng hệ thống chính trị, xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự của
xã hội Toàn bộ quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đảm bảo phát huy mọi khả năng sáng tạo, tích cực chủ động của mọi cá nhân Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ: ”Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo” Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị - xã hội không tồn tại như một mục đích tư nhân mà vì phục vụ con người, thực hiện cho được lợi ích và quyền lợi thuộc về nhân dân lao động
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Đại hội VIII chỉ
ra “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”
Câu 5: Cơ sở lý luận quá độ lên CNXH và quá trình thực hiện ở nước ta hiện nay?
Thực tiễn đã cho thấy, loài người đã, đang và sẽ trải qua 5 hình thái kinh tế –
xã hội theo thứ tự từ thấp đến cao Đó chính là quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử, thể hiện tính liên tục của lịch sử Tuy nhiên, đối với mỗi nước cụ thể, do những điều kiện khách quan và chủ quan riêng thì một nước nào đó, một dân tộc nào đó có thể “ bỏ qua” những chế độ xã hội nhất định Sự khác nhau về trật tự phát triển ở phạm vi toàn nhân loại vẫn là quá trình lịch sử – tự nhiên, còn đối với từng quốc gia, dân tộc cụ thể bỏ qua những “ nấc thang ”nhất định Thực tế lịch sử của một số nước đi theo con đường XHCN đã chứng minh tính đúng đắn, khoa học của hình thái kinh tế – xã hội và lý luận về khả năng “bỏ qua” một chế độ xã hội nhất định
Trang 8Về khả năng khách quan: Yếu tố khách quan quan trọng đầu tiên giúp chúng
ta tiến lên CNXH là Liên Xô lúc đó đã tiến hành thành công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa và sẵn sàng giúp đỡ chúng ta cả về vật chất và tinh thần Sau đó hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã đã đưa ra cho chúng ta tấm gương khá sinh động về sự thành công và thất bại đã sâu sắc và chi tiết đến mức có thể từ đó đưa ra những giải pháp điển hình cho sự lãnh đạo và thực hiện tiến trình cách mạng CNXH bị khủng khoảng và sụp đổ nhưng đó là sụp đổ mô hình CNXH tập trung quan liêu bao cấp chứ không phải CNXH với tư cách là 1 XH cao hơn CNTB Còn đến ngày nay, xu thế quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới đã đóng vai trò tích cực, không những làm cho quá độ bỏ qua CNTB là tất yếu mà còn đem lại điều kiện và khả năng khách quan cho sự quá độ này Quá trình quốc tế hoá sản xuất, toàn cầu hoá với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
đã tạo khả năng cho những nước kém phát triển đi sau tiếp thu, vận dụng đưa vào nước mình lực lượng sản xuất hiện đại và kinh nghiệm của những nước đi trước cũng như tạo khả năng khách quan cho việc khắc phục khó khăn về nguồn vốn, kĩ thuật hiện đại Điều kiện đó giúp chúng ta tranh thủ được cơ hội, tận dụng, khai thác, sử dụng có hiệu quả những thành tựu mà nhân loại đã đạt được để rút ngắn thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta
Về khả năng chủ quan: Mọi thành công của chúng ta đạt được phải kể đến yếu tố quan trọng bậc nhất là sự lãnh đạo của Đảng và liên minh công nông vững chắc Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin luôn luôn nhấn mạnh vai trò của Đảng vô sản trong việc lãnh đạo cách mạng nói chung và trong việc thực hiện quá trình phát triển rút ngắn ở các nước tiền tư bản nói riêng thì ở Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam là một nhân tố có vai trò quyết định đối với việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước Và trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo
đã thu được những kết quả khả quan như: đã củng cố và khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn Sự lựa chọn con đường quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN của nước ta là phù hợp với sự lựa chọn của nhân dân ta Các tầng lớp lao động công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cùng nhau chiến đấu, hy sinh để giành lại độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc Do đó họ sẵn sàng liên minh chặt chẽ với nhau và cùng với Đảng để vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công CNXH
Ngoài ra, khả năng và nguồn lực trong nước có thể đáp ứng được yêu cầu của thời kì quá độ lên CNXH Chúng ta có lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ, khéo léo, dễ đào tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới Tài nguyên thiên nhiên của nước ta cũng hết sức giàu có và phong phú tạo điều kiện hoàn thành
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo tiền đề xây dựng xã hội chủ nghĩa Nhân dân ta, dân tộc ta cũng đã hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc là áp bức bóc lột Vì những lẽ đó, Đảng tất yếu lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động tiến thẳng lên CNXH không trải qua giai đoạn phát triển TBCN
Trang 9Quá trình thực hiện ở nước ta hiện nay:
Để xác định con đường đi lên của mình, cụ thể trong điều kiện hiện nay chính là thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì điều cần thiết là phải xuất phát từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước, xuất phát từ đặc điểm LLSX và QHSX ở nước ta để lựa chọn đúng hình thức kinh tế cho hiệu quả, xác định rõ những bước đi cụ thể theo mục tiêu đã chọn Nghị quyết Trung ương 5
về văn hoá và Nghị quyết Trung ương 6 (lần1) khoá VIII về kinh tế gần đây đã khẳng định cần phải đẩy mạnh việc phát huy nội lực kinh tế, tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ, mạnh dạn hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới Đó chính là những nghị quyết sát thực với cuộc sống, đã khuyến khích QHSX phát triển trên cơ sở phù hợp với trình độ của LLSX ở nước ta hiện nay
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung năm 2011) của Đảng đã xác định 8 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng, đó là:
- Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Do nhân dân lao động làm chủ
- Nền sản xuất phát triển cao dựa trên LLSX tiên tiến, hiện đại, chế độ công hữu về TLSX chủ yếu
- Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Con người giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động
- Các dân tộc bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
- Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
- Quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới
Cương lĩnh vạch ra những phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình thực hiện những đặc trưng của CNXH trên đất nước ta Những phương hướng đó vừa mang tính bảo đảm không chệch hướng XHCN, vừa quán triệt tinh thần đổi mới cho phép không lặp lại những sai lầm cũ, tinh thần từng bước thực hiện những đặc trưng của CNXH
Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở VN, là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và KTTT TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa LLSX TBCN, những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, như về khoa học và công nghệ, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam Nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu Cái thiếu lớn nhất của chúng ta là một nền đại công nghiệp Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá CNH, HĐH ở nước ta là nhằm xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH Đó là nhiệm vụ trọng
Trang 10tâm của trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở nước ta Con đường CNH HĐH
ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt nhằm mục đích xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (đi tắt đón đầu)
Kết hợp giữa phát triển LLSX với xây dựng QHSX phù hợp trong thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng CNXH ở Việt Nam Từng bước xác lập QHSX phù hợp với sự phát triển của trình độ sản xuất Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của LLSX ở nước ta
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam Gắn liền với phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước thì phải không ngừng đổi mới hệ thống chính trị Đồng thời với phát triển kinh tế, phải phát triển văn hoá, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Câu 6: Cơ sở lý luận để xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay? Vận dụng
ở nước ta trong quá trình đổi mới?(Tồn tại xã hội và ý thức xã hội)
* Cơ sở lý luận: Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tư tưởng
văn hóa rất quan trọng trong quá trình đổi mới ở nước ta, bởi cả hai yếu tố này đều
là những lĩnh vực của đời sống xã hội, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Đây chính là biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội; giữa vật chất và ý thức
Sự nghiệp đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế đã và đang tạo ra những chuyển biến toàn diện và sâu sắc về văn hóa, xã hội Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra điều kiện thuận lợi để nước ta phát huy ảnh hưởng tích cực của những giá trị truyền thống Việt Nam với bè bạn khắp năm châu, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao tầm vóc của mình trên trường quốc tế Những thành quả văn hóa - xã hội trong đổi mới đang cổ vũ động viên nhân dân ta ra sức phấn đấu để đạt tới mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh"
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm nảy sinh nhiều hạn chế, yếu kém trong đời sống văn hóa Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã gây ra trạng thái dao động, hoài nghi, giảm sút lòng tin ở một số người, kể cả một số cán bộ, đảng viên Kinh tế thị trường kích thích khát vọng làm giàu, làm giàu bằng bất cứ giá nào, lấy đồng tiền làm mục tiêu lớn nhất, dẫn đến nhiều kiểu làm ăn bất chính, với lối sống hưởng lạc, xa hoa, lãng phí, với thái độ lạnh lùng, giả dối trong ứng
xử Nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội phát sinh đang làm xói mòn đạo đức tốt đẹp, lối sống lành mạnh và quan hệ giàu tình nghĩa của dân tộc ta