Trước giữa đầu thế kỷ XIX (VI tcn1848), dù diễn đạt có khác nhau, nhưng cả phương Đông và phương Tây đều quan niệm triết học là sự hiểu biết uyên thâm về những lĩnh vực nhất định của thế giới. Quan niệm như vậy vừa đề cao triết học, coi triết học là khoa học của mọi khoa học. Nhưng đồng thời đã hạ thấp triết học, vì chưa nghiên cứu triết học với tư cách là một khoa học độc lập.
Trang 1HOÀNG NGỌC VĨNH
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
HUẾ, 2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
Chương mở đầu: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH 4
I ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC 4
II ĐỐI TƯỢNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM 7
III ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH 12
Chương 1: TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO VÀ ĐỔI MỚI CỦA HỒ CHÍ MINH 17
I HUẾ VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT CỘI NGUỒN CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 17
II CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, HIỆN THÂN RỰC RỠ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM 21
III ĐẠO PHẬT MỘT CỘI NGUỒN VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 28
IV LUẬN CƯƠNG CỦA LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC THUỘC ĐỊA VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA HỒ CHÍ MINH 33
V HỒ CHÍ MINH VỚI LÊNIN VÀ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI 35
VI PHƯƠNG PHÁP KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỒ CHÍ MINH 38
VII CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI KHAI SINH NỀN LÝ LUẬN CÁCH MẠNG MỚI CỦA VIỆT NAM 42
Chương 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT SỐ LĨNH VỰC CỤ THỂ 49
I TRIẾT LÝ HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN 49
II TRIẾT LÝ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 58
III NGUYÊN TẮC “TIN DÂN, DỰA VÀO DÂN” TRONG CHIẾN LƯỢC ĐẠI ĐOÀN KẾT CỦA HỒ CHÍ MINH 63 IV TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MNH VỀ NHÀ NƯỚC THỂ HIỆN SINH ĐỘNG TRIẾT LÝ DÂN CHỦ CỦA NGƯỜI TRONG ĐỜI SỐNG 69
V ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG DO CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DÀY CÔNG VUN ĐẮP LÀ ĐẠO ĐỨC SUỐT ĐỜI VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN 74
VI TƯ TƯỞNG “QUÂN SỰ LẤY CHÍNH TRỊ LÀM GỐC” CỦA HỒ CHÍ MINH 80
VII CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, MỘT THIÊN TÀI QUÂN SỰ 83
VIII CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945, BÀI HỌC LỚN VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 93
IX Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI CỦA BẢN “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA” 97
X HỒ CHÍ MINH PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ CÁCH MẠNG VÔ SẢN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÊN TẦM CAO MỚI TRONG ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA VIỆT NAM 104
Chương 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 113
I CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI ĐẦU TIÊN CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG KHỦNG HOẢNG ĐƯỜNG LỐI CỨU NƯỚC KÉO DÀI GẦN 100 NĂM CỦA VIỆT NAM 113
II Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH 118
III NẮM VỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO, CHỐNG “ÂM MƯU DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” “BẠO LOẠN LẬT ĐỔ” DO ĐẾ QUỐC MỸ CẦM ĐẦU CHỐNG VIỆT NAM 128
IV KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH LÀ THỰC HIỆN NGUYỆN ƯỚC TRONG “DI CHÚC” CỦA NGƯỜI 135
V HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 141
VI NGHỆ THUẬT VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC CỦA HỒ CHÍ MINH 146
VII HỒ CHÍ MINH VỚI PHỤ NỮ VIỆT NAM 153
VIII TỪ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THANH NIÊN, NGHĨ VỀ CÔNG TÁC ĐOÀN, HỘI HIỆN NAY 160
IX SAU HƠN 40 NĂM THỰC HIỆN “DI CHÚC” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NHỮNG THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC 165
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 174
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
-***-Để đáp ứng kịp thời yêu cầu học tập, nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và ôn thi hết học phần Chuyên đề “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của sinh viên và học viên sau đại học chuyên ngành lý luận Mác- Lênin của các trường Đại học thuộc Đại học Huế, cùng những bạn đọc xa gần
có quan tâm đến lĩnh vực này, chúng tôi biên tập và cho ra mắt cuốn “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam”
Cuốn sách được hoàn thành chủ yếu dựa vào nội dung cuốn “Tập bài giảng chuyên đề tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của tác giả đã trực tiếp giảng dạy cho sinh viên Triết học K28 và K29 trong các năm học 2007-2008
và 2008-2009 Đặc biệt “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới ở Việt Nam” ra mắt lần này hầu hết là biên tập bố cục lại các công trình nghiên cứu của tác giả đã được đăng tải trên các Tạp chí, Tập san nghiên cứu khoa học và các Kỷ yếu của các Hội thảo Khoa học trong những năm qua cho phù hợp với bố cục sau của cuốn sách:
TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH.
MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song cuốn sách ra mắt lần này so với
2011, cho dù đã được chỉnh sửa và bổ sung, cũng không tránh khỏi những hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, đọc giả
xa gần để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 2 năm 2013 GVC Th.s Hoàng Ngọc Vĩnh
Trang 4Chương mở đầu: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH
I ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC
1 Triết học
Trước giữa đầu thế kỷ XIX (VI tcn-1848), dù diễn đạt có khác nhau, nhưng cảphương Đông và phương Tây đều quan niệm triết học là sự hiểu biết uyên thâm về nhữnglĩnh vực nhất định của thế giới Quan niệm như vậy vừa đề cao triết học, coi triết học là khoahọc của mọi khoa học Nhưng đồng thời đã hạ thấp triết học, vì chưa nghiên cứu triết họcvới tư cách là một khoa học độc lập
Theo quan niệm mác-xít thì “Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, làkhoa học nghiên cứu về những con đường chung nhất, những nguyên tắc chung nhất, nhữngbiện pháp chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới”
Triết học là một trong các hình thái ý thức xã hội ra đời khoảng thế kỷ VI tcn, là một
bộ phận của kiến trúc thượng tầng, xét đến cùng triết học bị quy định bởi đời sống vật chấtcủa xã hội
Sự phát triển của các tư tưởng triết học bị quy định bởi sự phát triển của nền sản xuấtvật chất và phải phụ thuộc vào sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Triếthọc cũng chính là thế giới quan của những giai cấp hoặc tập đoàn xã hội nhất định
Tuy vậy, triết học và sự phát triển của lịch sử triết học vẫn luôn có tính độc lập tươngđối với đời sống vật chất của xã hội Bởi lẽ, triết học luôn có nhiều mối liên hệ, sự giao lưu
tư tưởng khác nhau
Trong một phạm vi không gian, thời gian nhất định, sự giao lưu đó vượt ra khỏi sựràng buộc trực tiếp của đời sống vật chất của xã hội như các vấn đề liên quan đến: Nguồngốc nhận thức của triết học; Nguồn gốc xã hội của triết học; Lôgic nội tại của các khuynhhướng và hệ thống triết học (Duy vật, duy tâm, biện chứng, siêu hình); Mối quan hệ giữatriết học với các khoa học, với các tư tưởng khác
2 Đối tượng nghiên cứu của triết học.
Từ khái niệm trên, triết học có đối tượng nghiên cứu là những con đường chungnhất, những nguyên tắc chung nhất và những biện pháp chung nhất của sự vận động và pháttriển của thế giới
Tuy nhiên, trong lịch sử cho đến đầu thế kỷ XIX, loài người đã chưa xác định đúngđối tượng nghiên cứu của triết học Các nhà triết học trong lịch sử đã quan niệm đối tượngnghiên cứu của các khoa học cụ thể đồng thời là đối tượng nghiên cứu của triết học
Quan niệm như vậy là đề cao triết học, làm cho triết học trở thành khoa học đứngtrên mọi khoa học Đồng thời đã hạ thấp triết học, vì không xác định được đối tượng nghiêncứu riêng của triết học
Ngay cả Hêghen là người thành công nhất trong việc tách triết học thành một khoahọc độc lập và sáng tạo ra ngành lịch sử triết học, nhưng do đứng trên lập trường duy tâmkhách quan nên ông cũng đã không làm cho triết học trở thành một khoa học đích thực Mãiđến khi triết học Mác-Lênin ra đời thì triết học mới thực sự là một khoa học độc lập đúngnghĩa
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu của triết học
Trong từng trường phái, ở từng giai đoạn khác nhau, triết học có nhiều phương phápnghiên cứu cụ thể, nhưng chung nhất thì triết học có hai phương pháp nghiên cứu cơ bản:
+ Phương pháp biện chứng: Xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến,quy định ràng buộc lẫn nhau, luôn vận động và luôn phát triển trong mâu thuẫn nội tại củachúng
Trong tiến trình vận động và phát triển của mình, phương pháp biện chứng đã vậnđộng đi từ thấp đến cao (biện chứng cổ đại, biện chứng duy tâm, biện chứng duy vật), màđỉnh cao là biện chứng duy vật
+ Phương pháp siêu hình: Xem xét sự vật hiện tượng trong sự tách biệt cô lập lẫnnhau, hoặc không vận động, hoặc không phát triển, hoặc vận động và phát triển theo chu kỳkhép kín
Phương pháp siêu hình cũng đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau trong tiến trìnhvận động và phát triển của mình, nhưng nhìn chung là hai hình thức cơ bản: siêu hình duyvật và siêu hình duy tâm
4 Đặc điểm nghiên cứu của triết học
Khác với các khoa học cụ thể, khi nghiên cứu triết học cần chú ý các đặc điểm sau:
- Triết học không mô tả thế giới một cách cụ thể, mà chỉ nghiên cứu thế giới trongtính chỉnh thể, hệ thống và khái quát, nhằm chỉ ra bản chất của thế giới
- Một tri thức được gọi là triết học phải bao gồm hai yếu tố: Nhận thức: Phải thể hiện được một sự hiểu biết nhất định (nếu không nói là sự hiểu biết uyên thâm) về thế giới Nhận
định: Phải tỏ rõ được thái độ, hành vi, cách cư xử, ứng xử, đối xử của con người với thế
+ Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định
ý thức Chủ nghĩa duy vật thường là thế giới quan của lực lượng tiên tiến, tiến bộ của xã hội.Chủ nghĩa duy vật khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới Trong tiến trìnhphát trển từ cổ đại đến hiện đại, chủ nghĩa duy vật đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau.Nhưng nói chung, nó đã có các hình thức chủ yếu: Duy vật cổ đại; Duy vật tầm thường; Duyvật cơ học máy móc; Duy vật siêu hình nhân bản của Phơ bách; Duy vật biện chứng
+ Chủ nghĩa duy tâm khẳng định ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết địnhvật chất Chủ nghĩa duy tâm thường là thế giới quan của những lực lượng suy tàn, bảo thủ vàphản động của xã hội Chủ nghĩa duy tâm thường phủ nhận hoặc chỉ thừa nhận một cách rấthạn chế khả năng nhận thức thế giới của con người Khi họ thừa nhận con người có khảnăng nhận thức thế giới thì thực tế đó chỉ là sự tự nhận thức về ý thức của họ về thế giới mà
Trang 6thôi Trong sự phát triển của mình, chủ nghĩa duy tâm cũng đã trãi qua nhiều hình thức khácnhau Nhưng nói chung có hai hình thức cơ bản là duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan.
- Khác với chủ nghĩa duy tâm (Tinh thần là động cơ của phát triển triết học; phủ
nhận sự phụ thuộc của triết học vào đời sống kinh tế-xã hội, phủ nhận tính giai cấp của triếthọc; phủ nhận những động lực vật chất-xã hội cho sự phát triển triết học ), lần đầu tiêntrong lịch sử triết học, Mác là người đặt cơ sở hiện thực cho lý luận về lịch sử triết học Saunày, trong điều kiện lịch sử mới, Lênin đã bảo vệ những quan điểm của Mác và Ăng ghen vềvấn đề này Lênin đã đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tính Đảng của lịch sử triết học lànguyên tắc bất di bất dịch, là cái vốn có của lịch sử triết học từ 2000 năm trước đây
+ Lịch sử triết học mác-xít công khai trước sau như một, bảo vệ chủ nghĩa duy vậttrước sự tấn công của những kẻ thù địch với nó, phê phán có cơ sở xã hội khách quan đốivới mọi quan điểm của chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học, nhất là với triết học tư sảnhiện đại
Tuy nhiên, không vì thế mà tùy tiện, hời hợt, võ đoán trong việc nghiên cứu cácdòng triết học tư sản hiện đại Ở đây, cần có bản lĩnh vạch rõ tất cả những gì phản động vàphục vụ lợi ích riêng của các giai cấp, các tầng lớp phản động trong xã hội Đồng thời, cònphải biết thận trọng duy trì và bảo vệ tất cả những gì tiến bộ, có giá trị trong mọi triết thuyết
+ Nguyên tắc tính Đảng trong lịch sử triết học mác-xít đối lập với mọi biểu hiện củachủ nghĩa giáo điều Nó đòi hỏi tính sáng tạo cao và quan điểm lịch sử cụ thể nghiêm túc.Trong điều kiện ngày nay, càng nhận thức rõ hơn ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống lại chủnghĩa giáo điều
+ Tính sáng tạo trong lịch sử triết học mác-xít hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa xét lại
và chủ nghĩa cơ hội đang mưu toan bóp méo, xuyên tạc các sự kiện lịch sử nhằm phục vụ ý
đồ chính trị, thực tiễn của các giai cấp, các tầng lớp phản động hiện nay Sáng tạo trong lịch
sử triết học mác-xít đóng vai trò quan trọng trong đánh bại các mưu toan đó, đưa lại bứctranh chân thực của lịch sử, thúc đẩy sự phát triển của triết học và tiến bộ xã hội
Ăng ghen chỉ rõ rằng, không nên đọc Hê ghen với mục đích duy nhất là tìm ra ở Hêghen những điều ngộ biện - đó là công việc của một học sinh Điều quan trọng hơn là dướicái hình thức không đúng, và trong các quan hệ giả tạo, tìm ra cái đúng và cái thiên tài.Chính quan điểm này mà Mác, Ăngghen đã tiếp thu được tất cả những gì có giá trị tiến bộtrong lịch sử phát triển của triết học và sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng
Lênin cũng chỉ rõ, khi đặt vấn đề phê phán các trào lưu triết học phi mác-xít, thì phảiphê phán nó trên cơ sở phân tích khoa học Chính lẽ này, khi phê phán chủ nghĩa Cant vàchủ nghĩa Makhơ, Lênin đã khiển trách những người đứng nhiều hơn trên lập trường củachủ nghĩa duy vật tầm thường để phê phán chủ nghĩa Cant Lênin cho rằng, lối phê phán nhưthế chỉ biết vất bỏ những lý luận của phái đó, mà không biết sửa sai cho những lập luận ấy,không đào sâu, không khái quát hóa và mở rộng chúng, không nêu rõ được mối liên hệ vànhững chuyển tiếp của mọi thứ khái niệm Lênin cũng cho rằng, những nhà triết học duy vậtsiêu hình khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, đã không thấy rõ nguồn gốc nhận thức luận củanó
Như vậy, với lịch sử triết học Mác-Lênin, mọi sự phân tích có phê phán mọi trườngphái triết học duy tâm, đòi hỏi phải vạch ra một cách cụ thể chính những giới hạn, những
Trang 7khía cạnh của nhận thức mà mọi sự tách rời chúng khỏi vật chất và tuyệt đối hóa chúng mộtcách phiến diện đã dẫn đến sự xuất hiện một trào lưu duy tâm chủ nghĩa nào đó
II ĐỐI TƯỢNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LỊCH
SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM
1 Đối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.
Bất cứ môn khoa học nào cũng phải xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứuriêng của mình
- Ở Việt Nam, trong lịch sử do mối quan hệ khăng khít giữa các ngành Văn, Sử, Triết
mà rất khó phân định ranh giới giữa chúng Thậm chí người ta còn thấy chúng thống nhấtvới nhau bởi “đạo”
Trong sự thống nhất đó, cần phải thấy rằng triết học là cốt lõi của “đạo học”, văn làphương châm để chuyên chở “đạo”, là phương tiện để truyền bá “đạo”, còn sử học là lĩnhvực dùng sự kiện để chứng minh cho “đạo” Đạo ở đây không được đồng nhất nó với ĐạoNho, đạo Phật hay đạo Lão, mà đạo được đề cấp đến chủ yếu với tư cách là “đạo người”
Có sự gần gũi giữa lịch sử tư tưởng và lịch sử triết học, nhưng hai môn này khôngphải là một: Triết học là thuộc về tư tưởng, nhưng còn nhiều tư tưởng không là tư tưởng triếthọc
- Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về môn học “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam”
Có ý kiến coi đây là môn lịch sử triết học, có ý kiến coi đây là môn lịch sử tư tưởng Cũng
có ý kiến coi đây là môn lịch sử ý thức hệ Thậm chí có ý kiến cho rằng Việt Nam làm gì cótriết học
Chúng ta cần xác định môn học này không phải là môn lịch sử tư tưởng nói chung,
cũng không phải là môn lịch sử của các tư tưởng trong ý thức hệ Đây phải là môn học mà
nội dung cơ bản của nó là lịch sử triết học và những tư tưởng có quan hệ mật thiết với tư tưởng triết học.
Việt Nam trong lịch sử, tuy triết học không phát triển, nhưng đã có tư tưởng triết họccủa mình Nhưng phải thấy rằng những lý luận ở mức độ khái quát, những lý luận giữ vai tròthế giới quan chung và phương pháp luận cho các lĩnh vực hoạt động tinh thần và hoạt độngthực tiễn dựng nước và giữ nước đã hình thành và phát triển Những tư duy đó chưa đạt tớitrình độ tư duy triết học thực thụ, nhưng đã vượt qua giai đoạn tiền triết học Nó chưa là triếthọc thuần tuý, nhưng nó đã đề cập đến một số vấn đề của bản thân triết học Ở đó nó khôngcòn là tư tưởng chung chung nữa mà nó đã là tư tưởng triết học
Năm 1981, trong Nghị quyết của Bộ chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật đãchỉ ra phải: “Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởngtriết học Mác-Lênin ở Việt Nam”1
Đối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam như vậy phải bao gồm các vấn đề sau: Tiền triết học, tư tưởng triết học, triết học, những tư tưởng chính trị-xã hội gắn bó hữu cơ với triết học Tức là những nội dung xoay quanh cái trục triết học và thể hiện
lên các mức độ phát triển của triết học Việt Nam Người nghiên cứu phải lựa chọn lấy mộttrong số đó
- Cần thấy rằng, Việt Nam ở vào giữa Ấn Độ và Trung Quốc là hai nôi triết học củanhân loại, nhất định phải chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học của hai quốc gia đó Mặt khác,
1 LSTTVN - Tập 1 - Nhà xuất bản KHXH - HN 1993 - Tr 13
Trang 8lịch sử Việt Nam là một quốc gia văn minh hùng cường chúng ta phải có một trình độ lýluận, một tư duy khái quát ngang tầm với mỗi thời đại Có những nguyên nhân chủ quan vàkhách quan riêng, nhưng rất tiếc cho đến nay lịch sử chưa đúc kết tư duy lý luận của ViệtNam thành những hệ thống triết học
Triết học phương Đông chủ yếu bàn về nhân sinh quan, ít bàn đến thế giới quan.Ngay cả khi bàn về nhân sinh quan, thì triết học Trung Quốc chú trọng đến đạo đức, chínhtrị-xã hội, còn triết học Ấn Độ lại chú trọng đến đời sống tâm linh nhiều hơn Giải thoát luậnluôn là khuynh hướng nổi trội trong lịch sử triết học Ấn Độ, đặc biệt ở giai đoạn cổ-trungđại Triết học phương Đông là sự phản tỉnh của đời sống nhân sinh, chứ không chỉ là sựphản tỉnh của tự ý thức
Triết học phương Đông có sự đan xen rất khó phân biệt giữa duy tâm và duy vật,giữa biện chứng và siêu hình, giữa vô thần và hữu thần, trong đó triết học Ấn Độ là sự đanxen, hòa đồng giữa những tư tưởng triết học với những tư tưởng tôn giáo Sự đan xen thểhiện rõ ngay trong mỗi nhà triết học, mỗi trường phái và mỗi hệ phái triết học trong mỗi thờiđại
Ấn Độ và Trung Quốc là hai trung tâm triết học lớn của các dân tộc phương Đông cổđại nói chung và các dân tộc châu Á nói riêng Tính đa dạng, phong phú, sâu sắc của nềntriết học phương Đông nói lên rằng: Bất cứ một sự coi thường nào về nền văn hóa và tưtưởng của các dân tộc châu Á đều là chủ quan trong khoa học về lịch sử, là cắt xén lịch sử,
do đó sẽ không thấy được tính đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử tư tưởng triết họcnhân loại
Những tư tưởng triết học Ấn Độ và Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, dần hòaquyện vào tư tưởng và văn hóa dân tộc Lịch sử triết học cho thấy cần phải xử lý đúng đắnmối quan hệ giữa “cái dân tộc” và “cái quốc tế”, làm cho những tư tưởng triết học của ViệtNam ngày càng phong phú, sống động hơn trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triểnchung của thế giới, nhằm đạt tới một nền văn minh hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc
- Đi vào cụ thể: Việt Nam chưa xuất hiện các khái niệm “vật chất”, “tinh thần”, tưduy”, “tồn tại”, “biện chứng”, “siêu hình” như phương Tây, nhưng lại có các phạm trù và
các vấn đề tương đương: “trời-người”, “hình-thần”, “tâm-vật”, “hữu-vô”, ‘lý-khí” thuộc về
vấn đề cơ bản của triết học; “tĩnh-động”, “thường-biến”, “pháp cổ (bắt chước cổ)”, “pháp
tiên vương (bắt chước vua đời trước)”, “thuận lẽ trời, thuận lòng người” thuộc về phương
pháp tư duy; có các quan niệm về đường lối trị nước, về trị-loạn, về thành-bại, về quan hệ
vua-dân thuộc về triết học về xã hội; có quan niệm về bản chất con người, về đạo làm người,
về xây dựng con người, về chuẩn mực đạo đức con người thuộc về triết học về con người
Đó cũng chính là đối tượng và phạm vi nghiên cứu của môn Lịch sử tư tưởng triếthọc Việt Nam mà không thể nhầm nó với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Chính trịhọc, Luật học, Văn học hay Sử học
2 Đặc điểm nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.
Cần phải xác định rõ rằng: Tư tưởng triết học Việt Nam dù được hình thành trên cơsở bản địa hay được kế thừa từ ngoài vào, tất cả đều trải qua một quá trình vận động và pháttriển ở Việt Nam, đều bị thực tiễn Việt Nam chi phối nên nó có những nét đặc trưng, khácbiệt
Trang 9- Chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử tư tưởng triết học ViệtNam Ở đây không xét chủ nghĩa yêu nước trên phương diện tình cảm, tâm trang, tâm lý hay
chuẩn mực đạo đức, hiện tượng đạo đức, hành vi đạo đức mà xét chủ nghĩa yêu nước trên
phương diện lý luận Tức phải xét nó trên phương diện tư tưởng chính trị-xã hội hoặc quan
điểm triết học về xã hội Chủ nghĩa yêu nước phải được đề cập đến với tư cách là một hệthống những lý luận, những quan điểm về đánh giặc giữ nước và phát triển đất nước
Lịch sử thế giới cho thấy có nhiều dân tộc có chủ nghĩa yêu nước của mình, nhưng ítthấy có dân tộc nào khác có chủ nghĩa yêu nước như dân tộc Việt Nam được xét đến ở tất cả
các phương diện: ý thức trách nhiệm về nòi giống, về cộng đồng, về dân tộc; những nhận
thức về con đường, biện pháp đấu tranh giải phóng dân tộc, về động lực và khả năng giành lại lãnh thổ và xây dựng đất nước, về quan hệ giữa dân tộc và dân tộc.
- Về kết cấu của tư tưởng, thế giới quan của triết học Việt Nam là thế giới quan phứchợp, là một thể kết hợp của Nho-Phật-Lão Cùng bàn về nhân sinh quan, nhưng Nho, Phật,Lão đã tạo ra ba thế mạnh khác nhau Phật nặng về tâm linh, tình cảm tôn giáo; Nho nặng vềchính trị, đạo đức; Lão lại chủ trương tự nhiên Sự hội nhập Nho-Phật-Lão đã tạo ra mộthiện tượng đặc biệt trong đời sống tư tưởng văn hóa các dân tộc Á Đông, và nó đã bổ túccho nhau tạo ra một thế giới quan “hỗn dung”,”tổng hợp” - tức là một thế giới quan triết họctoàn diện hơn
- Về khuynh hướng của tư duy, thế giới quan triết học Việt Nam nặng về vấn đề xã
hội và nhân sinh, mà ít quan tâm đến vấn đề tự nhiên và các hình thức tư duy của con người.
Nó chú trọng xây dựng lý lẽ cho chính trị-xã hội và luân lý, mà ít bàn đến quan hệ
khách thể và chủ thể giữa các thành phần của tư tưỏng để hình thành nhận thức luận và lôgíchọc
Nó thiên về giáo dục đạo làm người hơn là cung cấp cho con người những nhận thức
mới về thế giới khách quan bên ngoài cũng như thế giới nội tâm
Nó thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ sự phát triển của thực tế
khách quan để khái quát lên thành các nguyên lý khác trước làm cơ sở cho luận chứng
Tương ứng với “phương thức sản xuất kiểu châu Á” của Việt Nam là thế giới quan
phong kiến ấy Thế giới quan này là phản ánh của thực trạng phương thức sản xuất làm cho
công thương nghiệp không phát triển, khoa học tự nhiên không xuất hiện, tầng lớp trí thức tự
do không thể ra đời của lịch sử phong kiến Việt Nam
- Về quá trình phát triển, thế giới quan triết học Việt Nam trong phạm trù của chủnghĩa phong kiến tuy có phát triển nhưng trong trạng thái khủng hoảng kéo dài: Lúc đầu lànhững ý niệm thô sơ chất phác của con người bản địa về thế giới quan và nhân sinh quan, vềsau là sự du nhập từ ngoài vào như Nho, Phật, Lão và sau cùng là sự trưởng thành của chế
độ phong kiến Việt Nam
Thế giới quan này ban đầu đáp ứng được yêu cầu của công cuộc dựng nước và giữnước của Việt Nam Nhưng chẳng bao lâu nó trở nên lúng túng trước những thay đổi của cácvấn đề kinh tế-xã hội và chính trị-xã hội của đất nước từ thế kỷ XVI trở đi
Sự bế tắc cuả thế giới quan biểu hiện trong việc đặt lại vấn đề theo đạo này hay theođạo kia, hay kết hợp cả ba đạo để trị nước, sự phục hồi khắc nghiệt của Nho giáo ở triềuNguyễn v.v Sự bế tắc đó cũng thể hiện trong thái độ của nhân dân đối với hệ tư tưởng thống
Trang 10trị của xã hội (sự đả kích châm biếm của nhân dân đối với một số giáo điều của Nho giáohoặc Phật giáo)
Mãi cuối thế kỷ XIX, Việt Nam mới có Nguyễn Trường Tộ do được tiếp xúc với thếgiới quan tư bản chủ nghĩa, nên trong các điều trần của mình đã lên tiếng phê phán thế giớiquan phong kiến
Rồi đầu thế kỷ XX, với phong trào Đông kinh nghĩa thục ở Hà Nội ta mới có sự phêphán truyền thống tư tưởng cũ với mức độ tập trung và sâu sắc hơn, nhưng vẫn chưa phá vỡđược tư tưởng phong kiến bảo thủ, trì trệ
Mãi đến khi giai cấp công nhân Việt Nam trở thành người đại diện cho đất nước vàtruyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, thì thế giới quan phong kiến mới bị loại trừ, thế giới quanmới khoa học và cách mạng mới được xây dựng và phát triển ở Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt là phép biện chứng duy vật Bởi phép biệnchứng duy vật là phương pháp luận khoa học nhất, nó có nhiều khả năng giải quyết một cáchhợp lý nhất những vấn đề do bộ môn lịch sử triết học đặt ra Chỉ trên cơ sở của chủ nghĩaduy vật biện chứng thì mới có điều kiện làm sáng tỏ các vấn đề: hiện tượng tư tưởng, tràolưu tư tưởng, cá nhân nhà tư tưởng, mới có khả năng giải thích tốt các mối quan hệ: Tư duy
và tồn tại, lôgíc và lịch sử, cá nhân và xã hội, kế thừa và sáng tạo, cái bản địa và cái ngoạilai, mới có triển vọng trình bày lịch sử tư tưởng như một quá trình phát triển hợp quy luật
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giúp các nhà khoa học tạo nên mô hình, nhữngdạng thức mẫu mực cho việc nghiên cứu lịch sử triết học châu Âu Nhưng nếu áp dụngnguyên xi nó vào nghiên cứu lịch sử triết học phương Đông và đặc biệt là lịch sử tư tưởngViệt Nam thì lại là một việc làm gượng ép, thậm chí là một việc làm sai lầm làm nghèo nàn
tư tưởng dân tộc
Mô hình và dạng thức nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam phải là nghiên cứu cácvấn đề về triết học xã hội, về đường lối trị nước, về đạo làm người, mà không nên trình bàylịch sử tư tưởng Việt Nam cũng theo các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, cũng tập trungvào các trường phái duy vật, duy tâm, kinh nghiệm, v.v
- Đứng ở góc độ phương pháp, thì các triết thuyết Trung Quốc đặc biệt quan tâm đếnđời sống thực tiễn chính trị-xã hội, trong khi đó triết học Ấn Độ lại thiên về siêu hình học vàtôn giáo Triết học phương Đông, nhất là triết học Ấn Độ, mà nổi bật nhất là triết học Phậtgiáo đã bao hàm những tư tưởng biện chứng sâu sắc Nhưng với tư cách là biện chứng của
sự phát triển thì về cơ bản nó chưa đề cập tới
Tam giáo là một trong những nguồn gốc của tư tưởng triết học Việt Nam Nhưngkhông thể vì lịch sử tư tưởng Việt Nam “lấy gốc từ tam giáo”, “vận dụng tam giáo”, mà lại
đi trình bày lịch sử tư tưởng dân tộc như là lịch sử phát triển của tam giáo Phạm trù triết
học Việt Nam tuy chưa phát triển đầy đủ, chưa hoàn chỉnh, chưa trở thành một hệ thống vững chắc nhưng nó rất quan trọng Vì vậy, trong những trường hợp có thể cần tập trung
trình bày những khái niệm triết học hoặc có tính triết học trong lịch sử tư tưởng dân tộc.Những khái niệm trời-người, tâm-vật, trị-loạn, nhân nghĩa, phải có vai trò nổi bật
Trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam khi gặp những khái niệm, phạm trùcùng loại hoặc có nguồn gốc xa xưa từ các khái niệm, phạm trù của lịch sử triết học Trung
Trang 11Quốc hay Ấn Độ, thì phải so sánh để thấy được sự khác biệt, sự phát triển so với gốc của nó,
so với người bạn đồng tông của nó ở các hệ thống kia
Tuy nhiên, không thể lúc nào cũng truy về nguồn, cũng so sánh Phương pháp quan
trọng trong nghiên cứu không phải là so sánh mà là phân tích Phải phân tích mới thấy được
ý nghĩa của các khái niệm ấy và giá trị của những nội dung ấy F.Enghen viết: “Từ dân tộcnày sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đãbiến đổi đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau.”2
Là một môn khoa học, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam chỉ có thể nêu lên một yêucầu quán xuyến là trình bày sự phát triển của tư tưởng phù hợp với quy luật, quy luật tácđộng qua lại giữa tồn tại và ý thức, quy luật phát triển của tự bản thân tư tưởng Nếu quả là
có một dòng tư tưởng chủ đạo thì nó phải là kết quả trải qua nghiên cứu chứ không là định
đề có sẵn
- Cuộc đấu tranh trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam xung quanh vấn đề cơ bảncủa triết học là không trực diện, không rõ Nhưng nếu muốn tránh sự trình bày một chiều,đơn điệu, không phù hợp với thực tế và phải làm rõ những giá trị tư tưởng của lịch sử tưtưởng triết học Việt Nam thì phải trình bày và phân tích nó thông qua các mặt đối lập vàthấy rằng: Các quan điểm khách quan, duy vật biện chứng, vô thần, dân chủ và độc lậpthường là tiếng nói của các lực lượng tích cực trong lịch sử, còn các quan điểm chủ quan,duy tâm, siêu hình, hữu thần, chuyên chế và lệ thuộc thường là tiếng nói của các lực lượngtiêu cực trong lịch sử
- Phân kỳ là một vấn đề quan trọng có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong nghiêncứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Đây cũng chính là vấn đề hiện đang được các nhà
tư tưởng quan tâm và có nhiều ý kiến khác nhau Ta có thể phân kỳ lịch sử theo các triềuđại, các thế kỷ, các sự kiện chính trị-xã hội, các hình thái kinh tế-xã hội, nhưng hợp lý hơn
cả là phân kỳ theo hình thái kinh tế-xã hội
Nhưng lịch sử Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945 không xuất hiện cáccuộc cách mạng xã hội, chính vậy mà việc phân kỳ lịch sử Việt Nam cần phải kết hợp cácmốc là hình thái kinh tế-xã hội với các mốc là sự kiện chính trị-xã hội lớn của lịch sử ViệtNam
III ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH
3.1.1 Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh
a) Khái niệm tư tưởng
- Khái niệm tư tưởng
+ Hiểu theo nghĩa phổ thông, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểuhiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh (thông thường người ta cũng quan niệm
tư tưởng là suy nghĩ hoặc ý nghĩ)
+ Hiểu theo nghĩa khoa học thì tư tưởng là những quan niệm, quan điểm được xâydựng dựa trên một thế giới quan nhất định
2 C.Mác - Ăngghen - Tuyển tập - Tập V - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1983 - Tr 134 S đ d trang 28
Trang 12+ Khái niệm “tư tưởng” trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh” vì thế phải được nghiên cứu làmột hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng thếgiới quan và phương pháp luận (nền tảng triết học) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyệnvọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại
chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực
- Khái niệm “tư tưởng” thường liên quan trực tiếp đến khái niệm “nhà tư tưởng” Theo
từ điển tiếng Việt, “nhà tư tưởng” là những người có những tư tưởng triết học sâu sắc.
Lênin cũng đã lưu ý rằng: Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyếttrước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về nhữngyếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát
Như vậy: Nhà tư tưởng là người có tư tưởng Tư tưởng của họ được thể hiện bằng các
tác phẩm và có ảnh hưởng đối với một bộ phận dân cư nhất định của lịch sử.
Với hai khái niệm trên chúng ta có thể khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởngthực thụ và tư tưởng của Người đã hàm chứa những tư tưởng triết học có vị trí, vai trò vàtầm quan trọng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam
b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
- Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được định nghĩa tại Đạihội VII và được hoàn chỉnh thêm ở Đại hội IX, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Tuy nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới từ rấtsớm Ở góc độ lý luận (có tác phẩm và có ảnh hưởng đối với một bộ phận dân cư nhất định)
có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuất hiện và ngày càng hoàn thiện theo các mốc sau:
1919 với bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, 1927 với “Đường kách mệnh”, 1930 với
“Cương lĩnh đầu tiên của Đảng”, 1945 với “Tuyên ngôn độc lập” của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa,
1991 là thời điểm chín muồi về bối cảnh quốc tế và trong nước cho sự ra đời khái niệm
tư tưởng Hồ Chí Minh
- Định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta chỉ rõ:
1 Bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận phản ánh những vấn đề có tínhquy luật của cách mạng Việt Nam
2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề có liên quan đến quá trình pháttriển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa
3 Chỉ ra nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin,truyền thống dân tộc, trí tuệ thời đại
4 Mục tiêu của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giảiphóng con người
- Từ đó (ĐH VII, 1991) cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩakhác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh ở các góc độ của mỗi khoa học cụ thể Tuy nhiên, từđịnh hướng của ĐH IX, ở khoa học lý luận thì định nghĩa sau đây của Hội đồng Trung ươngchỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ ChíMinh được in trong “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh”, dùng trong các trường Cao đẳng vàĐại học, năm 2003 (dù đang vận động) được coi là khá hoàn thiện nhất cho đến ngày nay
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng
Trang 13XHCN; là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người” 3
- Dù định nghĩa theo cách nào, thì tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tưcách là một hệ thống lý luận Hiện đang tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng
Hồ Chí Minh:
1 Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tri thức tổng hợp gồm: tư tưởng triết học, tưtưởng kinh tế, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, tư tưởng đạo đức-văn hóa-nhân văn
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam: tư tưởng
về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về CNXH và con đường quá độ lênCNXH ở Việt Nam; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốctế; về dân chủ và Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về văn hóa và đạo đức
Khi thể hiện cuốn sách này, tác giả tiếp cận tư tưởng triết học Hồ Chí Minh theophương thức thứ 2, nhằm giới thiệu với người đọc những nội dung tư tưởng triết học Hồ ChíMinh: về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về CNXH và con đường quá độlên CNXH ở Việt Nam; về Đảng cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kếtquốc tế; về dân chủ và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về văn hoá, đạo đức vàxây dựng con người mới XHCN
- Tư tưởng Hồ Chí Minh như vậy là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kimchỉ nam cho mọi hành động của Đảng và của nhân dân ta Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa sựnghiệp cách mạng của dân tộc ta vượt qua muôn trùng khó khăn để đi đến những thắng lợi
có ý nghĩa lịch sử vĩ đại và có tính thời đại sâu sắc
- Tư tưởng Hồ Chí Minh như vậy là một hệ thống lý luận, có cấu trúc lôgic chặt chẽ và
có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải
phóng con người
Theo tác giả, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ thống những
quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận Mácxit-Lêninnit, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, được hình thành trên cơ sở thực tiễn Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực Việt Nam từ cuối giữa đầu thế kỷ XX đến nay” chính là tư tưởng triết học Hồ Chí Minh.
Không chỉ ở Việt Nam mà ở cả nhiều nước trên thế giới, nhiều chính khách, nhiều nhànghiên cứu đã nhìn nhận và khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, một nhà lý luậncách mạng độc đáo
Tóm lại, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh từ góc độ ấy chính là góp phần làm rõ tưtưởng triết học của Hồ Chí Minh
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Từ khái niệm tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đã nêu trên, đối tượng nghiên cứu củamôn học là:
3 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trang 19.
Trang 14- Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với hai cuộc cách mạng(cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa) ở Việt Nam.
- Sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênnin của Hồ Chí Minh vào ViệtNam Nói cách khác tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin đã được ViệtNam hóa bởi Hồ Chí Minh
- Sự kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại của Hồ Chí Minh
Cả ba nhóm đối tượng đó đều nhằm mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
và giải phóng con người
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH
3.2.1 Cơ sở phương pháp luận (phương pháp chung)
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và các quan điểm có giá trị phương pháp luận của HồChí Minh là thế giới quan và phương pháp luận của môn học Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
a) Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận xuyên suốt của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là Ủy viên Quốc tế cộng sản, là người tiếp thu và vận dụng sáng tạo, pháttriển chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ởViệt Nam
Vì thế, nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh phải lấy phép biện chứng duy vật là cơsở lý luận chung, xuyên suốt
b) Phương pháp lý luận gắn liền với thực tiễn nhưng đề cao thực tiễn của Hồ Chí Minh
Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin thực tiễn là tiêu chuẩn, thước đo kiểm tra chân
lý Giữa thực tiễn và lý luận là mối quan hệ biện chứng
Sinh thời Hồ Chí Minh không tự nhận mình là nhà lý luận, Người chỉ là một thiên tàicủa tổ chức thực hiện thực tiễn Nhưng những kinh nghiệm thực tiễn và các tác phẩm củaNgười (dù là bài viết đơn giản) đã luôn phản ánh những nội dung lý luận sâu sắc Suốt cuộcđời, Hồ Chí Minh luôn bám sát thực tiễn cách mạng thế giới và trong nước, coi trọng tổngkết thực tiễn, coi đó là biện pháp nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn và nhằm nâng caotrình độ lý luận
Nghiên cứu, học tập tư tưởng triết học Hồ Chí Minh vì thế cần quán triệt quan điểm lýluận gắn liền với thực tiễn nhưng đề cao thực tiễn của Người, nói đi đôi với làm, học đi đôivới hành, phải biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, phục vụ cho sự nghiệp cáchmạng của đất nước
c) Phương pháp lịch sử-cụ thể của Hồ Chí Minh
Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh luôn nêu gương sáng: Khi giảiquyết bất cứ một vấn đề nào cũng phải đặt nó trong bối cảnh sự hình thành, tồn tại và pháttriển của nó; Khi vận dụng những nguyên lý chung vào hoàn cảnh cụ thể cần phải biết cábiệt hoá nó cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ấy
Trong bối cảnh những năm 60 của thế kỷ XX, Người tuyên bố: Liên Xô có đặc điểmcủa Liên Xô, Việt Nam có đặc điểm của Việt Nam, chúng ta làm khác với Liên Xô chúng tavẫn là mác-xít Điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh là người tuyệt đối trung thành với Lênin, vừathể hiện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, đổi mới của bản lĩnh Hồ Chí Minh
Trang 15d) Phương pháp toàn diện và hệ thống của Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm giải quyết thực tiễn của Hồ Chí Minh luôn đảm bảo mối quan hệ giữakinh tế-chính trị-văn hóa-tư tưởng với dân tộc-giai cấp-quốc tế-thời đại, cũng như phải đảmbảo sự thống nhất giữa tính Đảng, tính khoa học; lý luận gắn liền với thực tiễn; lịch sử cụthể, mà hạt nhân cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Khi nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh nếu tách rời một yếu tố nào đó khỏi hệthống sẽ hiểu sai tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
g) Phương pháp kế thừa, phát triển của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là mẫu mực về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lêninvào Việt Nam; là thiên tài của sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằmgiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Học tập, nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ biết kế thừa, vận dụng
mà còn phải biết phát triển sáng tạo tư tưởng triết học của Người vào điều kiện mới của đấtnước và quốc tế
3.2.2 Các phương pháp cụ thể
Phương pháp là cách thức đề cập đến hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượngcủa tự nhiên và xã hội; là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh nhận thức và hoạt động cải tạothực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức
- Phương pháp nghiên cứu đặc thù của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là Logic-lịchsử: Phương pháp lịch sử (nghiên cứu sự vật và hiện tượng theo quá trình phát sinh, tồn tại vàphát triển) và phương pháp logic (nghiên cứu một cách tổng quát nhằm tìm ra được cái bảnchất của sự vật hiện tượng và khái quát thành lý luận) là rất cần thiết trong nghiên cứu, giảngdạy và học tập tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
- Cần vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ ChíMinh (vì Hồ Chí Minh là một nhà khoa học, một nhà tư tưởng, tư tưởng triết học Hồ ChíMinh là một hệ thống bao quát nhiều lĩnh vực khoa học: kinh tế, chính trị, đạo đức, văn học,
sử học )
- Ngoài ra, những phương pháp khác, như: tổng hợp, phân tích, so sánh, tiếp xúc nhânchứng lịch sử, sẽ làm tăng thêm tính hiệu quả của việc nghiên cứu tư tưởng triết học HồChí Minh
Nghiên cứu và học tập tư tưởng triết học Hồ Chí Minh chỉ dừng ở các bài nói, bài viết,tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, nhiều lắm là mới lĩnh hội một phần nội dung tư tưởngtriết học của Người mà thôi Kết quả hành động thực tiễn của Hồ Chí Minh và chủ nghĩa anhhùng cách mạng Việt Nam theo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh mới là lời giải thích rõ rànggiá trị khoa học của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
4.3 ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH
- Trên cơ sở đối tượng, phương pháp nghiên cứu, môn tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Trang 16+ Phải nắm vững các phương pháp của Hồ Chí Minh để làm rõ tính khách quan và tínhtrung thực của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh.
Phải đảm bảo tính khách quan, trung thực cần nắm vững các quan điểm có giá trị phươngpháp luận của Hồ Chí Minh khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Phải căn cứ vào những kết luận về Hồ Chí Minh của các lãnh tụ Quốc tế III và cáclãnh tụ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam để làm rõtính sâu sắc, tính toàn diện của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
- Nhiệm vụ của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là đi sâu nghiên cứu làm rõ:
+ Sự ra đời của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử dân tộc
+ Nội dung, bản chất cách mạng, khoa học, đặc điểm của các quan điểm trong toàn bộ
hệ thống tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
+ Vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng triết học Hồ ChíMinh đối với cách mạng Việt Nam
+ Vận dụng, phát triển tư tưởng triết học Hồ Chí Minh của Đảng và nhà nước ta trongcông cuộc đổi mới hiện nay
+ Các giá trị lý luận của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đối với kho tàng tư tưởng lýluận cách mạng thế giới của thời đại
Chương 1: TƯ DUY ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO
VÀ ĐỔI MỚI CỦA HỒ CHÍ MINH
Trang 17I HUẾ VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT CỘI NGUỒN CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Năm 1858 Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Năm 1885 thất thủ kinh đô Huế.Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam dù nổ
ra rầm rộ, dần cao và lan rộng cả nước, rồi trước sau đều lần lượt thất bại vì chưa có mộtđường lối kháng chiến rõ ràng, còn mang nặng tư tưởng tôn quân, chưa thật tin vào lựclượng cách mạng quần chúng nhân dân
Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta chuyển dần sang
xu hướng dân chủ tư sản, nhưng cũng chỉ rộ lên một thời gian ngắn rồi lần lượt bị dập tắt, dochưa lôi cuốn được quần chúng nhân dân và chủ chủ yếu vẫn do các sỹ phu phong kiến cựuhọc truyền bá dẫn dắt
Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời, trước hết là giải quyết sự khủng hoảng về đường lốicứu nước của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tư tưởng Hồ Chí Minh là sảnphẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan bức thiết củacách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay
Cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng văn hóa truyền thống của ViệtNam, tư tưởng văn hóa phương Đông, tư tưởng văn hóa phương Tây, chủ nghĩa Mác-Lênin
và những phẩm chất cá nhân của Người
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với trí tuệ dântộc và trí tuệ thời đại Hồ Chí Minh với sự khổ công rèn luyện có tri thức uyên thâm vềnhiều lĩnh vực, với bộ óc phân tích tinh tế, sáng suốt, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo,với tấm lòng yêu thương con người vô hạn, yêu nước nồng nàn, nhiệt thành cách mạng,Người đã hóa giải được tinh hoa văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, trí tuệ thời đại,lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho dân tộc ViệtNam đang ngày càng sánh vai các cường quốc thế giới
Ở Việt Nam, từ Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II (1951) của Đảng Cộng sảnViệt Nam cho đến nay đã liên tục khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng của đạo đức, tácphong cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Tại Đại hội Đại biểuToàn quốc lần thứ VII (1991) Đảng Cộng sản Việt Nam đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh vàĐiều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”4 Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sảnViệt Nam đã định hướng cho việc định nghĩa khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh5 Từ đó, trên
cơ sở những tư liệu đã thu thập được về Người, từ những kết quả nghiên cứu được trongnhững năm qua của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là ngành lý luận, khái niệm tư tưởng HồChí Minh bước đầu được định nghĩa như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quanđiểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr
127.
5 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001,
tr 83-84.
Trang 18tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kếttinh tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
và giải phóng con người”6
Cội nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, văn hóa nhân loại và cội nguồn chủ quanthuộc về các phẩm chất đặc biệt của Hồ Chí Minh có thời điểm xuất phát rất quan trọng:mười năm Hồ Chí Minh sống và học tập tại Huế (1895-1901 và 1906-1909)
Sáu năm (1895-1901), tuổi niên thiếu của Hồ Chí Minh đã gắn bó mật thiết với Huế.Ngày ấy gia đình Người đã sống tại ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan, mà vốn trước đó là mộttrại lính của Nha Hộ thành triều Nguyễn bị bỏ phế sau sự kiện thất thủ Kinh đô 1885 Nơiđây, chính giai đoạn này, Người đã chứng kiến những tháng ngày tần tảo của mẹ, lo lắng củacha, hạnh phúc và bất hạnh của gia đình, quê hương Người thấm thía nỗi đau mất mẹ, mất
em và càng thấm thía nghĩa tình sâu nặng mà bà con lao động nghèo xứ Huế đã dành cho giađình Người
Lần xa quê đầu tiên này, sống tại Huế, Người đã thường hay lui tới và tham dự cácbuổi cúng tế tại Miếu Âm hồn (ngã tư Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tông ngày nay) Miếuđược nhân dân Huế tạo dựng vào khoảng năm 1895, nhằm hương khói, thờ cúng các anhhùng chiến sỹ và đồng bào đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc trong sự kiện bihùng thất thủ Kinh đô 23 tháng 5 năm 1885 (âm lịch) Chính những hành động này của mình
mà Người đã thấm thía những bài văn tế bi ai về số phận những con người đã hy sinh vì đạinghĩa, vì độc lập, tự do của dân tộc Kỷ niệm tuổi thơ này là một phần quan trọng khơi dậy
và hun đúc chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh sau này
Thời gian này, Người cũng đã được cha đưa về sống và học tập tại ngôi nhà của ôngNguyễn Sỹ Độ ở làng Dương Nỗ – Phú Vang (1898 -1900) Tại đây Người đã được cha vàanh trai Nguyễn Sinh Khiêm kèm cặp học chữ Hán Người cũng đã chứng kiến tinh thần laođộng cần cù, nghĩa tình làng xóm của người dân quê mộc mạc qua vui chơi, nô đùa với bạn
bè ở Đình làng, Am Bà và vùng vẫy trên sông Phổ Lợi Tấm gương vượt khó để thành tài vàtinh thần yêu nước của cha, tình quê mộc mạc ở Huế giai đoạn này là nhân tố quan trọnggóp phần tạo nên tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này
Lần thứ hai đến Huế, bốn năm (1906-1909) sống tại ngôi nhà Dãy Trại (nay là 47Mai Thúc Loan), Hồ Chí Minh đã học những năm tiểu học tại trường tiểu học Pháp - ViệtĐông Ba (1906-1908), rồi vào học trường Quốc Học Huế (1908-1909) và đã từng tham giaphong trào chống thuế tháng 4 năm 1908 tại tòa Khâm sứ Trung kỳ (nay là Giảng đường Icủa Đại học Sư phạm Huế) Giai đoạn này, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã được Triềuđình Nhà Nguyễn bổ nhiệm là Thừa biện Bộ Lễ trông coi việc học hành ở Quốc Tử Giám
Chính thời gian này, chứng kiến cha mình dù sống trong cảnh làng quan, nhưng vẫngiữ nếp sống giản dị, thanh nhã của đồ nho xứ Nghệ; chứng kiến sự chèn ép của thực dânPháp với triều đình, cảm nhận và chia sẻ một cách sâu sắc những tâm tư của cha “Quantrường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ – nghĩa là Quan trường là nô lệ trong đám người
nô lệ lại càng nô lệ hơn”; giai đoạn này, hầu như Người đảm nhận chuyện chợ búa, nội trợgiúp cha, hàng ngày tận mắt chứng kiến cuộc sống tối tăm, bạc nhược của đám quan trường
nô lệ, v.v, nên Người đã sớm thức tỉnh nỗi nhục của người dân mất nước Từ đó nhen nhóm
và nhân lên lòng căm thù thực dân, phong kiến, lòng yêu nước thương dân ở Người Đặc
6 Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trang 19.
Trang 19biệt, những năm tháng học ở trường tiểu học Pháp – Việt Đông Ba và trường Quốc HọcHuế, Người đã học để nắm vững tiếng Pháp, hấp dẫn bởi Tự do – Bình đẳng – Bác ái củagiai cấp tư sản qua văn hóa Pháp, mà sau khi tham gia phong trào chống thuế tháng 4 năm
1908, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước ở phương Tây vào năm 1911
Những sự kiện liên quan trực tiếp đến đời sống ở Huế của Nguyễn Tất Thành nêutrên, cho thấy Huế đã hội gần đủ các yếu tố cấu thành cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh:
1 Nếu Nam Đàn là điểm xuất phát của hầu hết các cuộc khởi nghĩa vũ trang tiêubiểu chống thực dân Pháp của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và là nơi sinh ra,trưởng thành hoặc là nơi trưởng thành của hầu hết các nhà yêu nước tiêu biểu của Việt Namcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thì Huế chính là nơi tập trung của hầu hết các cuộc đìnhcông, biểu tình chống sưu cao thuế nặng của thực dân Pháp ở Việt Nam vào thời gian ấy.Chủ nghĩa yêu nước, thương dân của Hồ Chí Minh vì thế nếu được bắt nguồn từ truyềnthống của gia đình nhà Nho yêu nước, thì chủ nghĩa yêu nước, thương dân ấy của Ngườiđược hun đúc, phát triển bởi chính truyền thống cách mạng của hai quê hương Nam Đàn vàHuế, đặc biệt là 10 năm sống và học tập ở Huế của Người
2 Nếu bà Ngoại của Hồ Chí Minh là người có công trong hoằng dương Phật giáo tạiNghệ -Tĩnh vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà tuổi ấu thơ Người từngđược nghe Bà Ngoại ru ngủ bằng kinh Phật, thì mười năm sống và học tập ở Huế bên cạnhCha - Cụ Nguyễn Sinh Sắc - không chỉ là một nhà Nho yêu nước mà còn là người rất mến
mộ Phật giáo (Cụ là một trong những người đầu tiên dịch kinh Phật từ tiếng Trung Quốc ratiếng Việt và thực hiện chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ năm 1920) Hơn thế, từ cuối thế kỷ
IX đến đầu thế kỷ XX, Huế chính là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam
Từ năm 1957, Hồ Chí Minh đã được các vị cao tăng của Ấn Độ phong tặng danh hiệu “vịPhật sống” Bản thân Người, trong các thư gửi đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật tín
đồ Việt Nam, Người luôn coi Đức Phật là tấm gương “đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn” Sựảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo ở Hồ Chí Minh là rất tự nhiên, và vì thế khôngthể không kể đến tầm quan trọng của mười năm sống, học tập tại Huế của Người
3 Cội nguồn Nho giáo của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có thời gian hình thành, pháttriển quan trọng là mười năm sống tại Huế: 1895-1901 và 1906-1909 Khoảng thời gian này,như đã trình bày ở trên, đây là khoảng thời gian Người bắt đầu đến trường và thành đạt vềhọc tập Giai đoạn này chủ yếu Người học ở trường làng Người sống, học tập, lao động, rènluyện bên cạnh người cha và anh trai mình Tấm gương khổ luyện thành tài của cha, tinhthần yêu nước, thương dân của cha và anh trai (những nhà Nho yêu nước nổi tiếng của ViệtNam) đã tác động lớn đến nhân cách yêu nước Hồ Chí Minh và để lại những ấn tượng tíchcực của Nho giáo cho Người Bởi họ chính là những người thầy dạy chữ Hán đầu tiên củaNgười và cũng là những người đầu tiên có tác động mạnh nhất đến sự hình thành nhân cáchcủa Người Ngoài ra, Huế là thủ phủ của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong và là Kinh đô củatriều đình phong kiến trung ương tập quyền Nhà Nguyễn của Việt Nam Ảnh hưởng củaNho giáo ở Hồ Chí Minh rất sâu sắc, nhất là triết lý tu thân Người đã cải tạo, phát triển mộtcách tài tình các phạm trù đạo đức của Nho giáo để quy định các chuẩn mực đạo đức conngười mới XHCN ở Việt Nam
4 Huế còn là một trung tâm lớn của đạo Công giáo ở Việt Nam Mười năm tuổi vịthành niên và thanh niên của Người tại Huế, vì thế nhất định đã chịu ảnh hưởng ít nhiều đạo
Trang 20đức nhân từ của tấm gương hy sinh vì sự cứu rỗi con người của Chúa Điều này có thể lýgiải được bằng 10 năm tìm đường cứu nước (1911-1920), thời gian trú chân tại Hoa Kỳ,Người đã đến nhà thờ cầu Chúa ban phước lành cho dân tộc Việt Nam Sau này, khi đã làlãnh tụ của dân tộc Việt Nam, đã trải nghiệm thực tiễn cách mạng dân tộc và cách mạng thếgiới, Người đã trả lời câu hỏi “Người là ai?” của các nhà báo trong và ngoài nước nướcrằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, Ki tô giáo có
ưu điểm là lòng bác ái Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm chính là chính sách của nó phùhợp với những điều kiện của nước ta Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việcbiện chứng… Tôi cố gắng làm một học trò nhỏ của các vị ấy”7 Trong các bức thư Ngườigửi cho Giáo hội Công giáo Việt Nam và đồng bào Công giáo Việt Nam, Người luôn coiChúa là tấm gương nhân từ, hy sinh cao nhất vì sự cứu rỗi con người
5 Khoảng thời gian vào học ở trường Tiểu học Pháp Việt Đông Ba, đặc biệt là thờigian học tập ở trường Quốc Học Huế, tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo, đổi mới của Người đãhình thành và phát triển Điều này được chứng minh: khác với những nhà yêu nước tiêu biểukhác của Việt Nam thời ấy, hấp dẫn bởi dân chủ tư sản Người không đi tìm đường cứu nướcở phương Đông, mà ra đi tìm đường cứu nước ở phương Tây Hành động này, sau nàyNgười thổ lộ: Người rất đề cao tinh thần yêu nước của dân ta và khâm phục nhiệt huyết cáchmạng của các lãnh tụ yêu nước ngày ấy, nhưng không tán thành con đường, phương phápcủa họ Sau này, khi thực thi dân chủ tư sản tại Pháp, Người đã từ bỏ chủ nghĩa dân chủ giảtạo, hình thức ấy để đến với cội nguồn cốt lõi của mình là chủ nghĩa Mác-Lênin
Mười năm ở Huế, nhất là từ 1906-1909, Huế - một trung tâm văn hóa của Việt Nam,
đã hội tụ nhiều yếu tố văn hóa Đông-Tây và có bề dày văn hóa dân tộc - là một tác động lớnvới những dấu ấn sâu sắc đến tinh thần người thanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành, là mộtcội nguồn quan trọng của sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh
II CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, HIỆN THÂN RỰC RỠ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Các đặc trưng cơ bản chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam là:một dân tộc yêu hòa bình, ghét chiến tranh; Có lòng nhân ái cao cả; Bất khuất chống giặcngoại xâm quyết vì độc lập dân tộc; Lao động cần cù và lao động sáng tạo; Có sự cố kếtcộng đồng dân tộc cao
Có người cho rằng, những nét truyền thống ấy thì dân tộc nào mà chẳng có Đúngthế Nhưng để có được những đặc trưng truyền thống ấy như Việt Nam thì không phải dântộc nào cũng có được
1) Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ truyền thống của dân tộc Việt Nam “yêu hòa bình, ghét chiến tranh” và có “lòng nhân ái cao cả”
Ngay từ khi sử dân tộc ta mới chỉ lưu truyền bằng văn học miệng, dân tộc Việt Nam
đã có truyền thuyết Thạch Sanh-Lý Thông:
Khi đất nước bị xâm lăng, vua giao cho Thạch Sanh đánh giặc giữ nước, với sứcmạnh và vũ khí thần diệu chém chết trăn tinh, bắn rơi đại bàng, nhưng Thạch Sanh khôngdùng vũ khí đánh bại quân thù, mà dùng tiếng đàn nhân nghĩa khiến quân thù phải hàngphục Khi quân thù thất bại, Thạch Sanh không để chúng đói ra về, mà ban cho chúng niêu
7 Về Tôn giáo, Nxb KHXH, Hà Nội, 1994, tập 1, trang 6-7; Nho giáo xưa và nay, Nxb KHXH, Hà Nội, 1971, trang 16.
Trang 21cơm nhân nghĩa của dân tộc, khiến kẻ thù khiếp sợ vì ăn mãi không hết Tấm lòng nhânnghĩa ấy của Việt Nam, không đụng đến thì thôi, hễ đụng đến thì sinh sôi nảy nở, kẻ thù làmsao ăn hết được.
Truyền thống ấy đã được chứng minh bởi cuộc kháng chiến chống quân Minh do LêLợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo Yêu hòa bình, ghét chiến tranh, thương dân trăm họ lầm than,
“đầu vốn không có mưu lấy thiên hạ… Việc khởi nghĩa thực là bất đắc dĩ mà phải làm vậythôi”8, nên các ông “Cứu dân để dạ, chí háo hức chỉ muốn về Đông”9, “Gắng làm điều nhân,gấp hơn cứu đuối”10, phất cờ khởi nghĩa “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân cứu nướctrước cần trừ bạo”11
Phương châm đánh giặc của các ông là “lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chínhân mà thay cường bạo”12, “Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng”13, “Đầu sỏgiặc đã hàng, mảy may không xâm phạm Những kẻ tội lớn tội nhỏ đều tha hết”14, “Phục thùbáo oán, đó là thường tình của người ta Không thích giết người, đó là bản tâm của kẻ nhângiả Vả người ta đã hàng mà lại giết, thì không còn gì không lành hơn nữa Để hả mối giậnmột sớm, mà mang tiếng giết hàng muôn đời, thì sao bằng để sống ức vạn người mà hết mốichiến tranh cho hậu thế, khiến sử xanh ghi chép, nghìn thửa lưu thơm, như thế chẳng là lớnsao!”15;
Nên khi thế ta như chẻ tre, các ông lại sáu lần lăn miệng hổ, quyết nghị hòa để dânhai nước khỏi vạ can qua: “Vì ngài tính kế ngày nay, không gì bằng cởi giáp nghỉ binh, ngồinhàn mà nhận hàng, đó là thượng sách Thế tuy là may cho bọn tôi cùng ngài, mà cũng làmay lớn cho vạn dân thiên hạ vậy”16; “Như việc hòa hảo đã thành… Từ nay về sau, giá ngài
bỏ cái lòng nghi hoặc, dốc lòng hòa hảo, thì dưới sẽ làm cho An Nam thoát khổ lầm than,trên sẽ khiến Trung Quốc khỏi nỗi nhọc mệt, thực là phúc cho thiên hạ lắm”17; “Nay cái kếhay hơn cả cho các ngài, chẳng gì bằng sớm bỏ giáp binh, ra ngoài thành cùng quân củaThái đô đốc lục tục kéo về, để trả lại cho ta cảnh thổ nước An Nam, khiến cho hai bên đềutiện, như thế lại chẳng hay ư?18; “Nay cái kế tốt cho các ngươi không gì bằng ra ở ngoàithành, cùng Thái đốc quân quyết định việc về, để cứu vớt mấy nghìn tính mệnh ở trongthành… Các người nếu biết kéo quân ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình, thì ta coi cácngươi nghĩa như anh em ruột thịt, nào chỉ những bảo toàn tính mệnh vợ con mà thôi đâu?”19;
“Nay kế hay của các ông chẳng gì bằng thuận theo sở ngộ, nghe theo mệnh trời, nhân thời
cơ này dựng nên công nghiệp, khiến cho dân ta may được thoát khổ làm than, mà công trạnglớn lao của ông được rạng rỡ trong sử xanh”20
8 Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 71.
9 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 78.
10 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.
11 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 77.
12 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.
13 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 80.
14 Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 55-56.
15 Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 69.
16 Thư cho Phương Chính, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 104.
17 Lại thư trả lời Vương Thông, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 111.
18 Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 123.
19 Thư du thành Bác Giang, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 127-128.
20 Thư cho Thái đô đốc, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 141.
Trang 22Khi đạt được nghị hòa, các ông đã cấp thuyền bè, lương thảo để giặc được lui binh
an toàn, làm cho kẻ thù hết đổi kinh hoàng: “Tham chính Phương Chính, nội quan Mã Kỳđược cấp năm trăm chiếc thuyền đã vượt biển về mà còn hồn kinh phách lạc Tổng binhVương Thông, tham chính Mã Anh, được cấp mấy ngàn ngựa, đã về nước mà còn ngực đậpchân run Chúng đã sợ chết tham sống mà thực muốn cầu hòa, Ta lấy toàn quân làm cốt màcho dân được nghỉ”21
Đại nhân, đại nghĩa như vậy xưa nay sử nhân loại chưa từng thấy “Xã tắc do đóđược yên, Non sông do đó đổi mới Càn khôn đã bỉ mà lại thái, Nhật nguyệt đã mờ mà lạitrong Để mở nền thái bình muôn thuở, Để rửa nổi sỉ nhục ngàn thu”22
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ, đã phát huy thành công truyền thống cực kỳ quý báu ấy của dân tộc Vì kẻ thùman rợ cướp nước ta, giết hại dân ta, dùng bạo lực giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhândân là việc làm bất khả kháng của Người
Vạch trần, tố cáo tội ác của thực dân Pháp trước dư luận thế giới và ngay cả trongnhân dân lương thiện Pháp, nhằm thức tỉnh cao độ tinh thần quật cường của đồng bào mình,trong hai tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đây Công lý của thực dân Pháp ởĐông Dương”, Người mô tả cảnh địa ngục trần gian tối tăm mà thực dân Pháp đang đày đọadân ta Tội ác ấy nào khác chi Nguyễn Trãi đã từng kết luận: “Tát cạn nước Đông hải không
đủ rửa hết vết nhơ; Chặt hết trúc Nam sơn, chẳng đủ ghi hết tội ác”23 Làm như vậy là vìNgười tin vào sức mạnh của chính nghĩa và tiềm năng sức mạnh vô tận vô địch của nhânloại tiến bộ ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả cho sự nghiệp đánh bại chủ nghĩa thực dân của dân tộcta
Chính vậy mà trong cả hai cuộc chiến, Người luôn viết thư kêu gọi đối phương, ngồivào bàn hội nghị hòa bình để giải quyết chiến tranh: Trong kết hợp sức mạnh quân sự, chínhtrị và ngoại giao, thì sức mạnh quân sự chỉ là đòn quyết định, sức mạnh chính trị và ngoạigiao mới là chủ yếu Trong kết hợp sức mạnh quân chính quy, quân địa phương và binh vận,thì sức mạnh binh vận mới là chủ yếu Dù quân và dân ta đang chịu nhiều thiếu thốn về vậtchất, Người vẫn ban chính sách đại khoan hồng, để hàng binh giặc được hưởng chính sáchnhân đạo nhất Người chỉ thị: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, taphải canh phòng cho cẩn thận, nhưng phải đối đãi họ cho khoan hồng, phải làm cho thế giới,trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại Chúng ta chỉ đòiquyền độc lập, tự do, chứ chúng ta không vì tư thù, tư oán; làm cho thế giới biết rằng chúng
ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”24 Trong Chỉ thịthành lập “Đội Tuyên truyền giải phóng quân”, Người giải thích nhiệm vụ của quân đội ta
“chính trị trọng hơn quân sự”25 Dù đánh giặc bằng bất cứ phương pháp, biện pháp gì, ở đâu,lúc nào thì đường lối chiến tranh nhân dân của Người là lợi ích của dân phải trên hết
Khi Bác sang Pháp do Chính phủ Pháp mời, tháng 5/1946, thực dân Pháp bội tínHiệp định sơ bộ 6/3, lập nước Nam Kỳ tự trị, chia rẽ dân tộc ta, gây nguy cơ nội chiến Bácviết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ nén giận, đề cao nhân nghĩa, mở lòng bao dung, lấy tình
21 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 81.
22 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 81-82.
23 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 78.
24 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 507.
25 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 27-28.
Trang 23thân ái mà cảm hóa, nhằm có thể cải tà quy chính nhân tâm được đối với Nguyễn VănThinh Quả nhiên, chỉ sau một tháng đã tiêu diệt được mầm họa này.
Thanh niên Việt Nam, thanh niên Pháp hay thanh niên Mỹ ngã xuống trên chiếntrường, Người đều thương xót như nhau Người đau tất cả các nỗi đau của những cha mẹmất con, vợ mất chồng, người thân mất người thân, nên kiên định hòa bình, nhân nghĩatrong lãnh đạo cách mạng Việt Nam Nhân từ, nhân hậu, nhân ái, vì đại nghĩa, mà Người đã
nổ lực bằng mọi giá, để kết thúc chiến tranh bằng các Hội nghị thương lượng hòa bình
Nét tiêu biểu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là:
a) Người có lòng yêu thương vô hạn đối với con người, thông cảm sâu sắc với mọi đau khổ của con người, từ đó tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây ra cho con người.
Hồ Chí Minh yêu thương mọi đồng bào, đồng chí của mình, không phân biệt một ai,không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái củaNgười Người cũng dành tình yêu thương cho những người nô lệ mất nước và cùng khổ trênkhắp thế gian
Tấm lòng nhân ái bao la của Người được đặt trên một cơ sở khoa học là chủ nghĩaMác-Lênin Người chỉ rõ nguồn gốc của mọi niềm đau nỗi khổ của con người nô lệ mấtnước và con người cùng khổ là chủ nghĩa thực dân, đế quốc Dưới ánh sáng của chủ nghĩaMác-Lênin, Người đã chỉ rõ con đường giải phóng của con người Việt Nam, góp phần chỉ rõcon đường giải phóng của các dân tộc thuộc địa và của nhân dân lao động toàn thế giới
Yêu thương vô hạn đối với con người, nên Hồ Chí Minh coi hòa bình trong độc lập
tự do là nguyện vọng sâu xa, còn chiến tranh chỉ là bắt buộc Người hết sức bảo vệ conngười như bảo vệ sinh mệnh của cách mạng
Người hoãn khởi nghĩa giành chính quyền ở Cao-Bắc-Lạng tháng 9 năm 1944 là đểtránh tổn thất cho các địa phương khác do thời cơ chưa đến Người tranh thủ khả năng pháttriển cách mạng bằng phương pháp hòa bình là để đỡ tốn xương máu cho nhân dân ViệtNam và nhân dân các nước chính quốc Người đã làm tất cả những gì có thể làm được đểtránh các cuộc chiến tranh Bất khả kháng, Người và dân tộc ta mới buộc phải tiến hànhkháng chiến để bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc và phẩm giá của con người
b) Người có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người, dù nhất thời họ còn thấp bé, lầm lạc.
Tấm lòng nhân ái của Người bao dung đối với mọi người Chính tấm lòng nhân áibao la, khoan dung cao cả, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi con người, mà Người
đã quy tụ rộng rãi được toàn thể dân tộc
Với tấm lòng độ lượng như sông sâu, biển rộng, Hồ Chí Minh đã ban bố quốc lệnhcấm giết hại và ngược đãi đối với tù binh và quy định những chính sách khoan hồng đối xửnhân đạo đối với họ
Người cũng đã quy tụ quanh mình và phát huy tác dụng của Thượng thư Bùi BằngĐoàn, Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, và cả cựu hoàng Bảo Đại mà bản thân ông ta vàtriều đình hư vị của ông theo lệnh thực dân Pháp đã ký án tử hình vắng mặt Nguyễn AiQuốc
Người nâng niu trân trọng khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong con người, lấy đólàm biện pháp giúp đỡ những người có thói hư, tật xấu, lầm đường lạc lối Người viết: “đối
Trang 24với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũngphải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùiphần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”26.
Người có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và tính chủ động sáng tạo của quần chúngnhân dân Tin dân của Người là xuất phát từ niềm tin vào tình người Con người luôn có xu
hướng vươn lên cái Chân-Thiện-Mỹ
c) Người có lòng khoan dung, độ lượng rộng lớn
Lòng khoan dung rộng lớn, sâu sắc của Hồ Chí Minh thể hiện ở:
Đoàn kết rộng rãi, lâu dài các lực lượng Ở đây, Người đã trân trọng phần thiện dùnhỏ nhất ở mỗi con người Chỉ có lòng độ lượng, chí công vô tư, Hồ Chí Minh mới quy tụđược nhiều nhân sỹ có danh vọng của chế độ cũ
Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tiến bộ xã hội, Hồ Chí Minh đã đưa ra những chủtrương có lý, có tình đối với kiều dân nước ngoài, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của họ.Người đánh giá cao vấn đề này và ghép tội tử hình đối với ai “vô cớ sát hại kiều dân ngoạiquốc”27
Hồ Chí Minh đã có chính sách khoan hồng đại lượng, đối xử nhân đạo với tù binh.Người cổ vũ, hướng con người tới cái chân-thiện-mỹ, chú ý giáo dục, nhẹ về xử phạt đối vớicán bộ, đảng viên có lỗi Người trân trọng mọi ý kiến khác nhau, kể cả những ý kiến khôngđồng tình, trái với suy nghĩ của Người
d) Người có ý chí đấu tranh để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người.
Đi khắp năm châu, chứng kiến tội ác của chủ nghĩa thực dân, Người kết luận: ở đâuchủ nghĩa thực dân cũng tàn ác, ở đâu các dân tộc thuộc địa cũng khổ đau Chính thế mà ở
Hồ Chí Minh là sự thống nhất của giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngngười
Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, nêu cao tư tưởng giải phóng con người, khẳng địnhquyền con người, quyền công dân, Người đã hy sinh trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dântộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người
2) Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ truyền thống của dân tộc Việt Nam
“bất khuất chống giặc ngoại xâm quyết vì độc lập dân tộc” và “cố kết cộng đồng cao”
Cũng từ khi sử nước ta chưa thành văn viết, Việt Nam đã có truyền thuyết ThánhGióng: Gióng lên ba, chưa tự và cơm ăn được Thế nhưng, nghe giặc Ân đến xâm lược nướcnhà, đã vươn vai trở thành Phù Đổng để đánh giặc giữ nước Mẹ Gióng quá nghèo, không đủsức nuôi Gióng ăn và rèn sắm vũ khí cho Gióng như Gióng yêu cầu Toàn bộ dân làng đãcùng chung lưng đấu cật, nuôi Gióng ăn và rèn sắm vũ khí cho Gióng đánh giặc giữ nước
Ấy vậy mà khi xung trận, với ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt, Gióng không thắng được giặc Ân.Gióng chỉ nghiêng mình nhổ bụi tre làng là đã xua tan được giặc Ân Gióng đã thắng giặc
Ân bằng chính sức mạnh cố kết cộng đồng dân tộc cao, bất khuất chống giặc ngoại xâm,quyết vì độc lập dân tộc của dân tộc Việt Nam Cây tre – vũ khí thắng giặc của Gióng – làbiểu tượng cho sức mạnh ấy của dân tộc Việt Nam
26 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 558.
27 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 357.
Trang 25Truyền thống đó cũng đã được chứng minh hùng hồn bởi cuộc kháng chiến chốngquân Minh Sở dĩ Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng dân tộc làm nên được các chiến thắng oanhliệt: Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông, chính là vì cácông đã đoàn kết được toàn dân đánh giặc giữ nước
Các ông đã “Hòa rượu cùng uống, binh sĩ một dạ cha con”28 được với tất cả “nhữngcon đen đang bị nướng trên ngọn lửa hung tàn, những con đỏ đang bị vùi dưới hầm tai vạ”29,
“những manh lệ tứ phương”30, mà làm nên được những chiến công: “Trận Bồ Tất như sấmvang chớp giật, Trận Trà lân như trúc chẻ tro bay…Ninh kiều máu chảy thành sông, hôi tanhmuôn dặm; Tốt động thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu”31, “Lãnh câu máu chảy thắmdòng, nước sông ấm ức; Đan xá thầy chồng thành núi, cỏ nội thắm hồng”32, bảo vệ thànhcông khí phách “nước Đại Việt ta, Thật là một nước văn hiến Bờ cõi núi sông đã riêng,Phong tục Bắc Nam cũng khác Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, nối đời dựng nước, Cùng Hán,Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương”33
Trong thời đại ngày nay, 1919 ở “Bản yêu sách tám điểm”, ngay khi mới bước lên vũđài chính trị, Hồ Chí Minh là người đầu tiên của Việt Nam đã thống nhất hai nội dung nướcphải độc lập và dân phải tự do Trong “Đường Kách mệnh” và “Cương lĩnh đầu tiên củaĐảng”, Người đã nâng mục tiêu cách mạng ấy của mình lên trình độ mới bằng sự thống nhấthai nội dung độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Và từ “Tuyên ngôn của Nước Việt NamDân chủ Cộng hòa”, đến các lời kêu gọi sau này, nhất là các lời kêu gọi toàn quốc khángchiến, Hồ Chí Minh đã bổ sung thêm quyết tâm cao nhất của dân tộc trong gìn giữ độc lậpdân tộc, với kiên định hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vào sự nghiệp cáchmạng của dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thay mặt cho toàn dân tộc, Người trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới: “Tất cả cácdân tộc sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ quyền được mưu cầu tự do sungsướng Việt Nam đã là một quốc gia độc lập Tất cả dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinhthần, tính mạng, lực lượng và của cải, để quyết giữ gìn độc lập dân tộc ấy”34 “Miền Nam làmáu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam Nam, Bắc là một nhà Sông có thể cạn,núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”35 “Thà hy sinh tất cả chứ nhất địnhkhông chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”36 “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, thì cũngphải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”37 “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cóthể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
28 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.
29 Xem Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 77.
30 Xem Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.
31 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 79.
32 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 81.
33 Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 77.
34 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 1-4.
35 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 246; tập 12, trang 516.
36 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 480; tập 5, trang 767, tập 12, trang 516, 584.
37 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 508; Chỉ từ 1965 đến 1969 Người đã nhắc cụm từ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” khoảng 60 lần trong các Thư khen và các Lời kêu gọi (xem tập 11 và tập 12).
Trang 26phố khác có thể bị tàn phá, thì chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâmlược”38.
Toàn bộ sự nghiệp cách mạng ấy, Hồ Chủ Tịch nhờ kế thừa và phát huy thành côngtruyền thống quý báu của dân tộc “sử ta dạy cho ta bài học: khi nào dân ta đoàn kết thì độclập của nước ta được giữ vững, khi nào dân ta không đoàn kết thì độc lập của nước ta cónguy cơ bị xâm phạm”39; Người đánh giá đúng, đề cao sức mạnh và phát huy tinh thần quậtcường của “nhân dân ta có truyền thống nồng nàn yêu nước, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăngthì triệu người như một xông lên phía trước, quyết giữ gìn và bảo vệ độc lập dân tộc”40, màluôn thực hiện đường lối cách mạng đại đoàn kết toàn dân, với nguyên tắc “tin dân, dựa vàodân”, khẳng định sức mạnh vô tận, vô địch của dân: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khóvạn lần dân liệu cũng qua”41, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đạithành công”42 Một trong các cơ sở quân sự của tư tưởng Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốctheo phương châm “quân với dân như cá với nước”43, “tất cả sức mạnh đều từ dân mà ra”44;
“Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gàothét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”45; “Trong bầu trời không gì quý bằngnhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”46; Dân ta tàinăng, trí tuệ và sáng tạo, họ biết “giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng,đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”47
Niềm tin vào sức mạnh của dân ở Người là được nhận thức từ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ: nếu không có nhân dân thì Chính phủ không có đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường Đã là người cộng sản thì phải tin nhân dân và niềm tin quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh cho người cộng sản.
3) Kết luận: Tư tưởng và hành động cơ bản của Người về độc lập dân tộc và Cách
mạng giải phóng dân tộc là: Độc lập - Tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất
cả các dân tộc; Ở các nước đang đấu tranh giành độc lập, chủ nghĩa dân tộc chân chính vẫn
là một động lực lớn; Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập cho dân tộc mình đồng thờiđộc lập cho tất cả các dân tộc; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Cách mạnggiải phóng dân tộc thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản; Cách mạng giảiphóng dân tộc trong thời đại mới muốn thắng lợi phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnhđạo; Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân trên cơ sở liên minhcông nông; Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khảnăng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc; Cách mạng giải phóng dân tộcphải được thực hiện bằng con đường bạo lực
38 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 108.
39 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 217.
40 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 171.
41 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 212.
42 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 349, 350, 607 Tập 12, trang 517.
43 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 350.
44 Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 101; tập 5, trang 55, 409.
45 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 28
46 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 276.
47 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 295
Trang 27Chính tất cả những nội dung ấy, Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam Người đã đưa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm
thời đại với các chiến thắng vĩ đại: từ Cách mạng Tháng 8/1945, chiến thắng Điện Biên Phủ
1954, đến Đại thắng mùa xuân 1975
Và thật tuyệt vời, cả hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ củaViệt Nam, đều đã kết thúc tại hai hội nghị hòa bình thế giới: Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 vàHội nghị Pa-ri 1973 Độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc được giữ vững, nhândân được hoàn toàn tự do, tạo điều kiện tốt nhất cho toàn dân tộc chung sức chăm lo hạnhphúc của đồng bào
Đúng như hai trong sáu tiêu chí tổ chức văn hóa Liên hợp quốc đã công nhận “HồChí Minh - danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam” nhân kỷ niệm 100 năm ngày
sinh của Người là “Hồ Chí Minh kết tinh được những giá trị truyền thống tiêu biểu của dân
tộc Việt Nam: Giá trị truyền thống nhân nghĩa; Giá trị khoan dung của Việt Nam; Văn hóa ứng xử của người Việt Nam: biết Biến-Hóa-Dừng; ứng xử với con người, biết mình, biết người, biết thời, biết dừng, biết biến.
Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa kiệt xuất bởi vì Người là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình, đối thoại giữa các dân tộc trong giải quyết mâu thuẫn nhằm xích lại gần nhau để hợp tác trong một cộng đồng thống nhất, và cái cao nhất là chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu Hồ Chí Minh.”
III ĐẠO PHẬT MỘT CỘI NGUỒN VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời khoảng những năm 1930, trước hết là chấm dứt sựkhủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài gần 100 năm của Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đếnđầu thế kỷ XX Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đờiđáp ứng yêu cầu khách quan bức thiết của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay
Tư tưởng của Người là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với tinh hoa văn hóa dântộc và tri thức nhân loại Hồ Chí Minh với sự khổ công rèn luyện có tri thức uyên thâm vềnhiều lĩnh vực, với bộ óc phân tích tinh tường sáng suốt, với tư duy độc lập, tự chủ, sángtạo, với tấm lòng yêu thương con người vô hạn, yêu nước nồng nàn, nhiệt thành cách mạng,Người đã hóa giải được tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại với trí tuệ thời đại,lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho dân tộc ViệtNam đang ngày càng sánh vai cùng các cường quốc thế giới
Ở Việt Nam, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951) của Đảng Cộng sản ViệtNam cho đến nay đã liên tục khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng của đạo đức, tác phongcách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Tại Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VII (1991) Đảng Cộng sản Việt Nam đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều
lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tưtưởng, kim chỉ nam cho hành động”48 Kể từ đây (1991), tư tưởng Hồ Chí Minh và chủnghĩa Mác-Lênin là hai yếu tố cấu thành của hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam Nói cáchkhác là tư tưởng Hồ Chí Minh được đặt ngang hàng với chủ nghĩa Mác-Lênin trong hệ tưtưởng thống trị ở Việt Nam Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
48 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991, trang 127.
Trang 28Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đãđịnh hướng cho việc định nghĩa khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh49 Từ đó, trên cơ sở những
tư liệu đã thu thập được về Người, từ những kết quả nghiên cứu được trong những năm quacủa nhiều ngành khoa học, đặc biệt là ngành lý luận, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh bướcđầu được định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâusắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhândân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủnghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa văn hóadân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng conngười”50 Đây là định nghĩa được coi là khá hoàn chỉnh cho đến hiện nay
Bằng những phẩm chất cách mạng đặc biệt của mình, trên cơ sở cội nguồn cốt lõi làchủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã phát huy cao nhất chủ nghĩa yêu nước truyền thốngcủa Việt Nam, chắt lọc phát huy các yếu tố tích cực, tiến bộ, cách mạng trong tư tưởng vănhóa phương Đông, văn hóa phương Tây, đặc biệt là Người đã hóa giải tài tình triết lý Phậtgiáo tạo nên phong cách cách mạng Hồ Chí Minh
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cuối thế kỷ VI TCN Ngày nay Phật giáo là một trong batôn giáo lớn của thế giới (Công giáo, Phật giáo và Hồi giáo) Phật giáo truyền đến Việt Nam
từ thế kỷ I đầu công nguyên Dưới thời Lý - Trần, Phật giáo Việt Nam đã trở thành như quốcgiáo, đã xuất hiện nhiều vị sư giỏi có công lớn trong giữ nước và trị nước Suốt chiều dàilịch sử dân tộc, Phật giáo thăng trầm khác nhau nhưng nói chung có đóng góp không nhỏtrong bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam Phật giáo là thành tố quan trọng tạo nên nềnvăn hóa Việt Nam Thế giới quan Phật giáo suy cho cùng là duy tâm chủ quan Nhân sinhquan Phật giáo xây dựng trên thế giới quan ấy lại luôn chứa đựng những nét nhân bản, nhânđạo, nhân văn cao cả Phật giáo Việt Nam trong khoảng 2000 năm phát triển, đã xây dựngcho mình truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, là thành tố quan trọng chung tạo nềnvăn hóa Việt Nam Ngày nay trong nội bộ Phật giáo tuy vẫn còn những đối trọng, nhưng cơbản lối sống của Phật tử Việt Nam vẫn là từ bi - hỷ xả - vị tha – hướng thiện có tinh thầntrách nhiệm với Quốc gia theo đường hướng của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam:
“Đạo pháp – Dân tộc – Xã hội chủ nghĩa”
Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo đối với Hồ Chí Minh là rất tự nhiên Trong gia đình
Người, bà ngoại và bố của Người là những người mến mộ đạo Phật Cụ Phó bảng NguyễnSinh Sắc là người rất thông hiểu giáo lý Phật giáo, có tình cảm đặc biệt với Phật giáo và đãtừng là cố vấn cho Hòa thượng Khánh Hòa trong chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ
XX Hai quê hương – Nam Đàn và Huế – của Người là hai chiếc nôi của Phật giáo ViệtNam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Vào giai đoạn trưởng thành, Người dã có mười năm
sống, lao động, học tập và rèn luyện ở Huế – thủ đô Phật giáo Việt Nam Hồ Chí Minh viết
về Phật giáo không nhiều, nhưng cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người rất gắn bó với đạo Phật và để lại rất nhiều ấn tượng đẹp trong lòng Phật tín đồ cả nước và thế giới.
Những năm tháng hoạt động ở Thái Lan, Người đã từng cậy nhờ chùa mà làm cách mạng.Năm 1927 Người cùng đứng ra chủ trì xây dựng, vận động Việt kiều góp sức, góp của xây
49 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, trang 83-84.
50 Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trang 19.
Trang 29dựng nhà Phật lớn nhất tại chùa Phothixâmphon ở Uđon - Đông bắc Thái Lan51 Khi đã làlãnh tụ cao nhất của Việt Nam sang thăm Ấn Độ, Người đã đến nói chuyện với các nhà sư
Ấn Độ và được các nhà sư Ấn Độ gọi Người là vị Phật sống cứu khổ, cứu nạn chúng sinh52.Người không chỉ quan tâm theo dõi phong trào Phật giáo qua báo chí, qua báo cáo mà còntrực tiếp gặp gỡ, thăm hỏi, động viên các cá nhân, tập thể trong Giáo hội Phật giáo ViệtNam Người đi thăm các chùa Người viết tin nêu gương, tặng huy hiệu của Người chonhững tấm gương tử vì đạo, vì Tổ quốc Người chủ trương coi Phật giáo yêu nước là thành
tố quan trọng của Mặt trận Liên-Việt, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam,Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Gặp Người ở chùa Bà Đá, chùa Hương, ở các lần Người tiếpxúc với các Đoàn đại biểu Phật giáo toàn quốc, hay ở kỳ Đại hội thành lập Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam thống nhất, dù ở thời điểm và hoàn cảnh có khác nhau nhưng với các tăng,
ni và đồng bào theo đạo Phật giường như không có khoảng cách với Người Người là mộtmẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa53 Sự bình dị mà thâm trầm sâu lắng, sự bìnhđẳng và bác ái của Người đã xóa nhòa mọi khoảng cách giữa Người với những người tuhành Ở Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch Đảng cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa có cái “Tâm từ bi” luôn trắc ẩn trước cảnh nghèo túng và bị áp bức của nhândân; Có cái “Hạnh vô ngã” luôn quên mình vì mọi người, vì độc lập của Tổ quốc, vì tự dohạnh phúc của nhân dân; Có cái “Đức hiếu sinh” không chỉ ngăn chặn việc ác mà chủ yếu là
“làm cho phần thiện trong mỗi con người nảy nở”54; Với kẻ thù ngoan cố thì kiên gan nhưsắt thép, với đồng bào và ngay cả với kẻ thù đã ăn năn thì độ lượng, khoan hồng bằng tráitim nhân hậu mênh mông “ôm cả non sông mọi kiếp người”55 Hồ Chí Minh đã gạn lọc, kếthừa, cách mạng hóa những hạt nhân hợp lý trong triết lý đạo Phật, nhất là triết lý đề cao nếpsống đạo đức trong sáng, chủ trương bình đẳng, yêu thương đồng loại, chống điều ác Ngườinắm vững triết lý Phật giáo và đã nâng nó lên thành ngọn lửa hun đúc cho truyền thồng yêunước, nhân ái của dân tộc, động viên khích lệ đồng bào theo đạo Phật đồng lòng cùng Đảng
và Chính phủ đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc và xây dựng đất nước
Điều mà Hồ Chí Minh quan tâm lớn nhất ở Phật giáo là vấn đề đoàn kết toàn dân vì nước Việt Nam Hòa bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ và Giàu mạnh Người luôn kêu
gọi: “Chúng ta, bên lương cũng như bên giáo, Phật cũng như Cao Đài, đoàn kết chặt chẽ,kiên quyết kháng chiến để giải phóng giống nòi, giữ gìn Tổ quốc”56 Trong thư gửi Hội Phật
tử năm 1947, Người viết: “Đức Phật đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh
ra khỏi khổ nạn người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma Nay đồng bào ta đại đoàn kết,
hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động, để cứuquốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ gìn thống nhất và độc lập Tổ quốc Thế là chúng ta làm
51 Xem “Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam - PGS PTS Phùng Hữu Phú (Chủ biên) - Nxb CTQG Hà Nội
1997 - Trang 15, 19
52 Xem “Nguyệt san Giác Ngộ” - Số 2 tháng 5 năm 1996 – Trang 60
53 Đó là một trong sáu tiêu chí mà tổ chức văn hóa Liên hợp quốc UNESC đã phong tặng “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam” vào năm 1990.
54 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 12 - Trang 558
55 Bác ơi tim Bác mênh mông thế,/ Ôm cả non sông mọi kiếp người.- Thơ Tố Hữu
56 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 5, trang 214
Trang 30theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi ải nôlệ”57
Trong thư gửi đồng bào theo đạo Phật nhân lễ Phật thành đạo năm 1957, Ngườikhẳng định tôn chỉ của đạo Phật là nhằm xây dựng một cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bìnhđẳng, yên vui và no ấm Người cũng chỉ rõ những khó khăn của đất nước sau giải phóng vớinhững sai lầm trong cải cách ruộng đất là một thực tế Người khen ngợi về những đóng gópcủa những đồng bào theo đạo Phật cho cuộc kháng chiến, đồng thời Người kêu gọi tăng, ni,Phật tín đồ đoàn kết góp phần xây dựng hòa bình, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự dotín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của bọn Mỹ - Diệm và bọn tay sai ra sức lợi dụng tôn giáo
để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp đấu tranh cho thống nhất nước nhà Ngườiviết: “Tôi có lời khen ngợi các vị tăng, ni và tín đồ đã sẵn lòng nồng nàn yêu nước, hăng háilàm tròn nghĩa vụ của người công dân và xứng đáng là Phật tử Trong cải cách ruộng đất,tuy có nơi đã vi phạm sai lầm trong việc thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng,nhưng Đảng và Chính phủ đã có chính sách kiên quyết sữa chữa Hiện nay đời sống nhândân dần dần càng được cải thiện, cũng giống như tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xâydựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui no ấm Tôi mong các vị tăng, ni vàđồng bào tín đồ đã đoàn kết thì càng đoàn kết hơn để góp phần xây dựng hòa bình chóngthắng lợi Hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấphành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ - Diệm và bọntay sai lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, hãy ra sức đấu tranh giànhthống nhất đất nước”58
Trong thư gửi Hội nghị Đại biểu Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam năm 1964,Người khẳng định Phật giáo đã có công trong kháng chiến chống Pháp, ngày nay đang cùng
cả nước xây dựng miền Bắc giàu mạnh, đấu tranh yêu nước chống Mỹ xâm lăng tiến tớithống nhất nước nhà Người kêu gọi Phật giáo cả nước đoàn kết cùng toàn dân tộc, theo tinhthần của Phật mà góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam: “Chúng ta tỏlòng đoàn kết với đồng bào Phật giáo ở miền Nam đang hăng hái tham gia cuộc đấu tranhyêu nước và chống đế quốc Mỹ xâm lăng Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam,đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy là “lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”59 (Đem lợi ích và vuisướng cho mọi người, quên mình vì người khác) Chúc toàn thể tăng, ni và đồng bào Phậtgiáo góp phần xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất,độc lập, dân chủ và giàu mạnh”60
Quan điểm cách mạng của Người là: “Nước Phật (Ấn Độ) ngày xưa có những 4 đảngphái làm ly tán lòng dân và hai Tổ quốc Nhưng nước Việt Nam ngày nay chỉ có 1 đảng phải
là toàn dân quyết tâm giành độc lập Tín đồ Phật giáo tin ở Phật Tín đồ Gia-tô tin ở đứcChúa trời; cũng như chúng ta tin đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng.Nhưng đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân Dân muốn gì, ta phải làm nấy./ Nói hy sinhphấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào cómặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc Hy
57 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 5 - Trang 197
58 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 8 – Trang 290 , 291
59 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 11, Trang 315
60 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 11 - Trang 315
Trang 31sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”61.
Cách sử dụng ngôn từ và đánh giá như trên về Phật giáo Việt Nam chứng tỏ Hồ Chí
Minh là người rất am hiểu về đạo Phật, luôn đánh giá đúng vai trò, khả năng cách mạng, tầm quan trọng của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử cũng như trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Người luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, đồng thời luôn nhắc nhở nhân dân cảnh giác với những kẻ thù lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Người luôn kêu gọi đồng bào theo
đạo Phật hãy noi gương “Đức Phật là tấm gương đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn”62, hãy tuânthủ và làm theo lời Phật dạy “lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”63 đoàn kết cùng dân tộc hoànthành mọi nhiệm vụ của cách mạng Theo Người, để đất nước thoát khỏi mọi thảm họa thì
“người giàu người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo, đều hợp sức đoànkết”64 Người khẳng định: “Dân tộc có độc lập thì tôn giáo mới tự do”65 “Nước có độc lập,thì đạo Phật mới dễ mở mang”66 Đó là chân lý bất di, bất dịch mà tín đồ của mọi tôn giáocùng toàn thể nhân dân Việt Nam đoàn kết lại đạp đổ mọi ách thống trị hung ác của mọi kẻthù
Trong xã hội Ấn Độ cổ đại với sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã, đầy rẫy bất công,Đức Phật đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi trong nhung lụa của chốn hoàng cung, mộtmình tu hành để tìm chân lý diệt trừ đau khổ cho chúng sinh Trong xã hội hiện đại củaPhương Đông cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cũng đầy rẫy những bất công, sự áp bức bóclột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh với đôi bàn tay trắng bôn ba khắp nămchâu bốn biển, “nâng niu tất cả chỉ quên mình” đem tự do, bình đẳng, bác ái cho nhân dân,độc lập cho Tổ quốc Hoàn cảnh sống tuy có khác nhau, nhưng bối cảnh lịch sử và nhâncách của hai bậc vĩ nhân có những nét tương đồng nên tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của
họ cũng có những nét tương đồng Đức Phật là tấm gương hy sinh cao nhất cho sự nghiệpgiải thoát của chúng sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương hy sinh cao nhất cho sựnghiệp giải phóng nhân loại
Tóm lại: Hồ Chí Minh không chỉ là một vị Chủ tịch nước mà là một con người đã
làm cho nhân dân và đất nước của Người lớn lên ngang tầm thời đại Người là hiện thân sinhđộng của lòng yêu nước, yêu nhân loại, một hiền triết và là một chiến sỹ suốt đời đấu tranhcho tự do, bình đẳng, bác ái Với “Đức tinh tấn” uyên thâm Đông - Tây - Kim - Cổ67, tàinăng trên tất cả mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, Người có trái timnồng hậu yêu thương tất cả dân mình và yêu thương nhân loại, Người kết hợp chủ nghĩa yêunước với chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính, lo lắng văn minh cho cả nhân loại mà không
61 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 4, trang 148
62 Xem Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 5, trang 197
63 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 11, Trang 315
64 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 1, Trang 41
65 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 6 - Trang 342
66 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 5, trang 197
67 Hồ Chí Minh là người có học vấn uyên thâm, uyên bác, tích tụ nhiều lĩnh vực, biết nhiều nền văn hóa: Nói chuyện được với mọi tầng lớp trong xã hội như nông dân, chính khách, nhà khoa học Những đối tượng khi được tiếp xúc với Người dù là ai thì bao giờ cũng có những nhận thức mới về thế giới (đặc biệt Người nói chuyện bằng ngôn ngữ chính của đối tượng; Người thông thạo được nhiều thứ tiếng: Trung, Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, Tây Ban Nha, ) là một trong sáu tiêu chí mà tổ chức văn hóa Liên hợp quốc UNESCO đã phong tặng
“Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam” năm 1990.
Trang 32quên văn minh của mỗi con người Trong tư tưởng của Người có cái uyên thâm của Nho Phật - Lão, có cái tinh túy cao siêu của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người theo đuổi hoài bão lớncủa nhân loại mà sống cuộc đời rất thanh bạch: Vừa là lãnh tụ, vừa là công bộc, đầy tớ củanhân dân Việt Nam, vừa là chiến sỹ, vừa là nghệ sỹ trong lòng nhân dân thế giới Người là
-vị “Phật sống” đã phát huy được truyền thống yêu nước, đoàn kết dân tộc, cứu nhân độ thế,
vị tha, hướng thiện của Phật giáo Việt Nam vì mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội dânchủ, công bằng và văn minh Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là “làm saocho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn
áo mặc, ai cũng được học hành Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có nonxanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăntrâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”68
IV LUẬN CƯƠNG CỦA LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC THUỘC ĐỊA VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA HỒ CHÍ MINH
Trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960), Hồ Chí Minh đã viết về ảnh hưởng của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc
địa” của Lênin đối với Người như sau: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như
đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cầnthiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”
Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.”69
Người đến với Lênin trước hết là sự hấp dẫn của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin, bởi ở đó Lênin là người bênh
vực cho các dân tộc thuộc địa Điều này đã được Hồ Chí Minh tâm sự, ngay từ 1920 “dùchưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn đập mạnh những lời lẽ chống lạiLênin, chống lại Quốc tế thứ ba Lý lẽ duy nhất của tôi là: Nếu đồng chí không lên án chủnghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cáicách mạng gì?”70
Bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa”
gồm 12 luận cương, ở đó Lênin đã đề cập tới những vấn đề cơ bản sau:
1 Giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trừu tượng và hình thức vấn đề dân tộc vàquyền bình đẳng giữa các dân tộc Đó là một sự đối trá, thủ tiêu đấu tranh giai cấp nhằm bảo
vệ lợi ích của giai cấp tư sản Thực chất chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản là vị kỷ, hẹphòi, cá lớn nuốt cá bé Nó tạo ra những quốc gia độc lập về phương diện chính trị, nhưnghoàn toàn phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản về phương diện kinh tế, tài chính và quân sự(Luận cương 1, 9, 10, 11)
2 Lênin đã đặt ra một loạt các vấn đề có tính nguyên lý và những phương hướng giảiquyết các vấn đề dân tộc của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng Ở đó các dân tộc đều cóquyền bình đẳng và quyền tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình trên tinh thần hợp tác vàxích lại gần nhau giữa các dân tộc Đây là sự phát triển, hoàn thiện lý luận chủ nghĩa Mác vềvấn đề dân tộc của Lênin (Luận cương 2, 3, 4, 7, 8, 10, 11, 12)
68 Hồ Chí Minh toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 2000 - Tập 4 - Trang 161
69 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 127.
70 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 127.
Trang 33Nếu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” 1848 với các Lời tựa của nó do Ăngghen viết
cho các lần tái bản 1892 và 1893 khẳng định: giải phóng dân tộc là điều kiện để đoàn kết
quốc tế chống chủ nghĩa tư bản, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Thì “Sơ thảo
lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đã chỉ ra
những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam Những nguyên tắc đó là:
a Phải phân biệt rõ lợi ích của các giai cấp bị áp bức, bóc lột với lợi ích của giai
cấp thống trị Phân biệt rõ quyền lợi của dân tộc bị áp bức với quyền lợi của các lực lượng
đi áp bức Nhờ giác ngộ được nguyên tắc này mà Hồ Chí Minh đã khác với tất cả các lãnh tụ
yêu nước khác của Việt Nam, Người phân tích một cách sâu sắc các giai cấp, tầng lớp xã hộiở Việt Nam; phân tích mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam mà tìm raphương pháp đúng nhằm giáo dục, tập hợp, tổ chức và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dântộc Mẫu số chung của đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh là tinh thần yêunước và ý thức dân tộc Đây là một nguyên tắc tư duy chính trị đặc sắc của Hồ Chí Minh(thêm bạn bớt thù - tác giả nhấn mạnh), có giá trị to lớn đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàndân tộc của cách mạng Việt Nam
b Gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc là vấn đề sống
còn, là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Nhận thức
được nguyên tắc này, mà năm 1924, trong “Lênin và các dân tộc phương Đông” Hồ Chí
Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao củaviệc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng Lênin là người đầutiên chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hộikhông thể có được”71
Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện lịch sử, mà dù thấy được vai trò quan trọng củacủa cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng Lênin vẫn khẳng định sự thắng lợi của cách mạnggiải phóng dân tộc bị lệ thuộc vào sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc: “Nếukhông có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bấtbình đẳng”72 Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới đã phân tích sâu sắc tình hình thuộcđịa, nhất là tình hình cách mạng Việt Nam mà khẳng định và thực hiện: cách mạng giảiphóng dân tộc nếu được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo thì có khả năng giành thắng
lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Trong “Đường kách mệnh” 1927, Người viết: “An
Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư sản Pháp yếu, tư sản Pháp yếu thì công nông Pháplàm giai cấp cách mệnh cũng dễ”73
3 Đề cập về những yếu tố dân tộc của các nước thuộc địa, một mặt Lênin phê phánnhững biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa dân tộc tiểu tư sản như “tinh thần ích kỷ dân tộc”,
“thành kiến dân tộc tiểu tư sản thâm căn cố đế”; mặt khác Lênin đặc biệt lưu ý hai vấn đề:
Sự nghi kỵ của quần chúng cần lao ở các nước thuộc địa “đối với các dân tộc đi áp bức nói chung, kể cả với giai cấp vô sản của các dân tộc đó” 74 ; Tình trạng lạc hậu của nước tiểu sản xuất nông nghiệp mang tính chất gia trưởng làm cho “những thành kiến tiểu tư sản
71 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 136.
72 Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1978, tập 41, trang 199.
73 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 266.
74 Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1978, tập 41, trang 205.
Trang 34thâm căn cố đế nhất như tinh thần ích kỷ dân tộc, hẹp hòi dân tộc có một sức mạnh đặc biệt
và có tính dai dẳng” 75 Nhờ những gợi ý quan trọng này của Lênin mà Hồ Chí Minh sau
này, trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” năm 1924, Người đã chủ trương đoàn
kết dân tộc phải kết hợp với đoàn kết quốc tế: “Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiếtvới sự nghiệp của vô sản toàn thế giới”76, và đã phát hiện ra “chủ nghĩa dân tộc là một độnglực lớn của đất nước”77, “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản Giờ đây người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các độnglực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”78
Từ bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga, phân tích một cách khoa học những
thất bại và thành công của Quốc tế I, Quốc tế II và Quốc tế III, mà trong “Đường kách
mệnh” 1927, Hồ Chí Minh kết luận: “Xem những việc ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn
cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”79 Trong “Chánh cương vắn tắt của
Đảng” 1930, sau khi phân tích các mâu thuẫn trong nước, Người chỉ thị: “Vậy tư bản bản xứ
không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới
có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa, nên chủ trương làm tư sản dân quyền cáchmạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”80 Người cũng chỉ thị trong “Sách
lược vắn tắt của Đảng” rằng: “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không
khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp”81
Như vậy, Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình Người tìm đường cứu nước Qua nghiên cứu Luận cương, Người đã hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba Đồng thời, vận dụng sáng tạo Luận cương của Lênin, khẳng định con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đã phát triển thêm Luận cương của Lênin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới.
V HỒ CHÍ MINH VỚI LÊNIN VÀ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI
1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh trải qua 5 giai đoạn, thì kể từ 1920 trở đi, bất cứ giai đoạn nào Lênin và Cách mạng Tháng Mười cũng đều ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Người.
Từ 1911 đến 1920, đây là giai đoạn Hồ Chí Minh bôn ba năm châu bốn biển và bước
đầu xác định được con đường cứu nước của Việt Nam Việc xác định được con đường cứunước ở giai đoạn này không chỉ phụ thuộc vào tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo và đổi mớicủa Hồ Chí Minh, mà còn là sự tác động rất lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đến
tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, bằng chính “Bản sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin Điều này đã được Hồ
Chí Minh thừa nhận trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960): “Ngồi một
mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào
75 Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1978, tập 41, trang 205.
76 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 469.
77 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 466.
78 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 467.
79 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 287.
80 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 1.
81 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 3.
Trang 35bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúngta”“82 Từ đó Người đến với Lênin và chủ nghĩa Mác-Lênin và chọn con đường cách mạngViệt Nam theo cách mạng vô sản.
Từ 1920 đến 1930, là giai đoạn Hồ Chí Minh đã xác định đúng các nội dung cơ bản
của con đường cách mạng Việt Nam Việc xác định cách mạng Việt Nam phải trải qua haigiai đoạn Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và Cách mạng xã hội chủ nghĩa, ở Hồ ChíMinh tại thời kỳ này không chỉ là nhờ từ chủ nghĩa Lênin Người đến được với chủ nghĩaMác-Lênin, mà còn ở sự rút ra được bài học kinh nghiệm của cách mạng thế giới của HồChí Minh, mà Cách mạng Tháng Mười đã mạng lại cho Người bài học kinh nghiệm quý báunhất: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dânchúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thốngnhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”83 Từ đó Người sáng lập raĐảng Cộng sản Việt Nam và bắt đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam tuân thủ 3 nguyên tắccủa cách mạng vô sản: Do Đảng Cộng sản lãnh đạo; cách mạng là sự nghiệp của quần chúngnhân dân; liên minh công nông là nguyên tắc cao nhất của cách mạng vô sản
Từ 1930 đến 1945, đây là giai đoạn Hồ Chí Minh phải vượt qua mọi thử thách, thậm
chí phải đơn độc chống lại chủ nghĩa tả khuynh trong Đảng Cộng sản Việt Nam và trongQuốc tế Cộng sản nên phải bị giam lỏng tại Liên Xô, để kiên định con đường cách mạngmình đã lựa chọn Vượt qua được mọi thử thách, kể cả bị tù đày tại 30 nhà lao của TưởngGiới Thạch, kiên định với con đường cách mạng đã lựa chọn, là nhờ phần lớn Hồ Chí Minhrất trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin Người từng căn dặn Đảng ta, muốn thực sự đảmđương vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam và làm tròn những nhiệm vụ chính trị củaĐảng, thì “Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chứchọc tập có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin để nâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho cácđảng viên”84 Điều này, không những được Người chỉ ra từ 1939 trong “Những chỉ thị mà tôi
nhớ và truyền đạt”, mà sau này trong nhiều tác phẩm khác, nhất là các tác phẩm bàn về đạo
đức cách mạng, về tư cách đảng viên đều được Người nhấn mạnh
Từ 1945 đến 1969, là giai đoạn Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo thắng lợi cách mạng
Việt Nam theo con đường Người đã chọn Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện tư tưởng củaNgười về vấn đề dân tộc và vấn đề chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Làm được như vậy chính
là nhờ Người đã rất trung thành với Lênin: “Trước mắt các dân tộc phương Đông, Lêninkhông chỉ là một vị lãnh tụ, một người chỉ huy Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn làm cho quả tim của chúng tôi hướng về Người, không gì ngăn cản nổi Lênin là hiện thâncủa tình bác ái”85 “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy củaLênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, màchúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn ”86
Về vấn đề dân tộc, tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, Hồ
Chí Minh tuyên bố: Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc
82 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 127.
83 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 280.
84 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 139.
85 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 472-473.
86 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 476.
Trang 36và đưa ra chân lý sáng ngời của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”87 Người đềcao dân tộc nhưng không hạ thấp giai cấp, chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn các vấn đề dântộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước truyền thống vớichủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng vừa giành độc lập cho dân tộc mình, vừa giành độc lậpcho dân tộc bạn Người đặt cách mạng Việt Nam vào dòng chảy của cách mạng thế giới:Cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cả ba bộ phận cấu thành của sức mạnhthời đại (phong trào Xã hội chủ nghĩa, phong trào Giải phóng dân tộc, sự phát triển củaKhoa học kỹ thuật và Công nghệ) Những luận điểm của Người về vấn đề dân tộc đều tậptrung đỉnh cao nhất là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Về vấn đề xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Lênin vào Việt Nam, mà Hồ Chí Minh đã có nhiều định nghĩa khác nhau về CNXH ở ViệtNam Thông qua các định nghĩa ấy mà chỉ ra các đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam,đồng thời xác định các mục tiêu và động lực của CNXH ở Việt Nam Đóng góp quan trọngcủa Người là ở chỗ xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam mà xây dựng nhữngvấn đề có tính nguyên tắc cho CNXH của Việt Nam Cũng như Mác, Ăngghen và Lênin, HồChí Minh không định sẵn mô hình CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam Tưtưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam chỉ là vấn đề cótính nguyên tắc vạch phương hướng cho những bảo đảm sự thắng lợi triệt để của cách mạngViệt Nam Nếu Lênin đã từng chỉ ra: Không có chủ nghĩa xã hội giống nhau cho mọi dântộc, chỉ có chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng dân tộc Thì Hồ Chí Minh cũng tuyên bố: Liên
Xô có đặc điểm của Liên Xô, Việt Nam có đặc điểm của Việt Nam, chúng ta làm khác vớiLiên Xô, làm trái với Liên Xô, chúng ta vẫn là mác-xít: “Ta không thể giống Liên Xô ta cóthể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”88 Quan niệm của Hồ Chí Minh về chianhỏ thời kỳ quá độ lên CNXH thành nhiều bước đi là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin củaNgười trong điều kiện lịch sử mới
2 Chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó, Lênin và Cách mạng Tháng Mười là bộ phận ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời
và sự nghiệp cách mạng của Người.
Khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh,bởi lẽ: Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam, lăn lộn trong phong trào côngnhân quốc tế, Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành người cộng sản Việt Nam đầutiên; Người tham gia sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, là người đầu tiên trực tiếp truyền báchủ nghĩa Mác-Lênin một cách có tổ chức và có hệ thống vào Việt Nam, là người sáng lập
ra Đảng Cộng sản Việt Nam; Người là một trong những lãnh tụ lỗi lạc của phong trào côngnhân và phong trào cộng sản quốc tế; Người trực tiếp lãnh đạo, vận dụng sáng tạo và pháttriển chủ nghĩa Mác-Lênin để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợikhác theo con đường cách mạng vô sản
Trong tiến trình cách mạng ấy, có thể thấy Lênin và Cách mạng Tháng Mười là bộphận ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh:
Các tác phẩm tiêu biểu mà Hồ Chí Minh chuyên viết về Lênin và Cách mạng Tháng
Mười suốt từ 1924 đến 1969 là: “Lênin và các dân tộc thuộc địa” 1/1924; “Cách mạng Nga
87 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 108.
88 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 8, trang 227.
Trang 37và các dân tộc thuộc địa” 1924; “Tham luận về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa tại Đại hội Quốc tế lần thứ V của Quốc tế Cộng sản” 1924; “Lênin và các dân tộc phương Đông”
7/1924; “Lênin và các dân tộc thuộc địa” 1925; “Lênin và phương Đông” 1/1926; “Trường
đại học phương Đông” 6/1927; “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin” 1/ 1952; “Chủ nghĩa Lênin và công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức” 1/1955; “Sức mạnh hòa bình của Liên Xô”
5/1956; “Liên Xô vĩ đại” 10/1957; “Cách mạng Tháng Mười và sự nghiệp giải phóng các
dân tộc phương Đông” 11/1957; “Chúc mừng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại”
11/1958; “Vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1959; “Con đường dẫn tôi đến
chủ nghĩa Lênin” 4/1960; “Lênin và thi đua xã hội chủ nghĩa” 4/1960; “Sức mạnh vô địch”
1960; “Chào mừng kỷ niệm lần thứ 44 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1961; “Lênin
người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam” 4/1962; “Chủ nghĩa Lênin vĩ đại muôn năm”
4/1962; “45 năm đấu tranh anh dũng, 45 năm thắng lợi vẻ vang” 11/1962; “Nhân ngày kỷ
niệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại” 11/1963; “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” 11/1967; “Chủ nghĩa Lênin và cách mạng Việt Nam”
7/1969
Trong các tác phẩm ấy, Hồ Chí Minh không chỉ bày tỏ tình cảm kính trọng, ngưỡng
mộ của Người đối với Lênin và Cách mạng Tháng Mười, mà còn xác định trách nhiệm,nghĩa vụ cao cả của chúng ta là thực hiện những di huấn của Lênin Người luôn chỉ ra Lênin
và Cách mạng Tháng Mười là ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.Người viết: “Những người có tâm huyết làm sao có thể cầm được nước mắt? Những người
bị áp bức, há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại và tiến lên hay sao? Tiếnlên!”89 “Trong con mắt của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mấtquyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đăngchỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức”90 “Đối với tất cả cácdân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đaukhổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”91
“Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam ta luôn hướng
về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốcthứ hai của mình”92 “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắpnăm châu, thức tỉnh hành triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Đi theo conđường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân ViệtNam đã giành được thắng lợi rất to lớn”93
Trung thành với Lênin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vàoViệt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác,từng bước xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo cách của Người
Đó là những khẳng định của Hồ Chí Minh về ảnh hưởng của Lênin và Cách mạngTháng Mười đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Điều đó đồng thời nói lên
sự ảnh hưởng sâu sắc của Lênin và Cách mạng Tháng Mười đối với cuộc đời và sự nghiệpcách mạng của Hồ Chí Minh
89 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 297.
90 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 137.
91 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 220.
92 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 11, trang 166.
93 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 300 và 309.
Trang 38VI PHƯƠNG PHÁP KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỒ CHÍ MINH
Về nhân cách, phong cách, tác phong cách mạng thì kế thừa và phát triển là sự kếttinh tài tình tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại của Hồ Chí Minh Thành công đó củaNgười đã tạo nên 3 trong 6 tiêu chí mà tổ chức văn hóa của Liên hợp quốc ( UNESCO) đãcông nhận Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại:
1 Hồ Chí Minh là người có học vấn uyên thâm, uyên bác, tích tụ nhiều lĩnh vực, biếtnhiều nền văn hóa: Nói chuyện được với mọi tầng lớp trong xã hội như nông dân, chínhkhách, nhà khoa học Những đối tượng khi được tiếp xúc với Người dù là ai thì bao giờcũng có những nhận thức mới về thế giới (đặc biệt Người nói chuyện bằng ngôn ngữ chínhcủa đối tượng; Người thông thạo được nhiều thứ tiếng: Trung, Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, TâyBan Nha, )
2 Hồ Chí Minh kết tinh được những giá trị truyền thống tiêu biểu của dân tộc ViệtNam: Giá trị truyền thống nhân nghĩa; Giá trị khoan dung của Việt Nam; Văn hóa ứng xửcủa người Việt Nam: biết Biến-Hóa-Dừng; ứng xử với con người, biết mình, biết người, biếtthời, biết dừng, biết biến
3 Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa kiệt xuất bởi vì Người là mẫu mực của tinh thầnkhoan dung văn hóa
Phương pháp kế thừa và phát triển đã được Hồ Chí Minh nhận thức và thực hiệnthành công từ rất sớm Nó là một trong các động lực cách mạng quan trọng của sự nghiệpcách mạng Hồ Chí Minh
1) Từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi quan sát thấy Chính phủ Trung Quốc do
Tôn Trung Sơn đứng đầu làm điều sai trái loại bỏ các nghi lễ thờ cúng Khổng Tử, Hồ ChíMinh đã viết bài phê phán điều sai lầm ấy và kêu gọi các chiến sỹ cách mạng Việt Namngày ấy rằng: “Với việc xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ TrungQuốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ Còn những người An Namchúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng
Tử, và về cách mạng cần đọc các tác phẩm của Lênin”94
Năm 1945, sau khi đọc “Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa”, chiều 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, Người đã trịnh trọng tuyên bố: “Vấn đề thứ sáu – Thực dân và phong kiến thihành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ bề thống trị Tôi đề nghị
Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”95 Sau này trong “Thư gửiHội Phật tử ngày 30/8/1947” và trong “Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Cộng sản ViệtNam 3/3/1951”96 và nhiều bài nói bài viết khác, Người cũng thường khẳng định lại lậptrường đó
Trong sắc lệnh số 5 ký ngày 23/11/1945 ở điều 4, Người cấm phá huỷ đình, chùa,đền, miếu, hoặc những nơi thờ tự khác: cung điện, thành quách, lăng mộ chưa được bảo tồn.Người xem đó đều là di sản văn hóa của dân tộc mà trách nhiệm của chúng ta là phải gìngiữ, phát huy những giá trị tích cực của nó vì Tổ quốc, vì nhân dân
94 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 454.
95 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 9.
96 Sđd, Tập 5, Trang 197.
Trang 39Trong “Thư gửi đồng bào nhân lễ Thiên chúa giáng sinh” năm 1945, Người viết:
“Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hysinh cho tự do, bình đẳng
Trong lúc này, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, chúng mong cướp nước ta lần nữa.Chúng làm trái hẳn với lòng bác ái của Đức Giêsu
Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến,
để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”97
Trong quan niệm của Người, các vị sáng lập ra các tôn giáo đều là các vĩ nhân, các đấngchí tôn98, nêu các tấm gương sáng về nhân văn, nhân đạo cho hậu thế muôn đời Người đãtừng khẳng định “Thiên chúa đã cho loài người quyền tự do và dạy loài người lòng bác ái”99.Người đã viết và ca ngợi “Đức Thiên Chúa là tấm gương hy sinh triệt để vì những người bị
áp bức, vì những dân tộc bị đè nén, vì hòa bình, vì công lý”100 Người cũng đã viết và cangợi “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn Muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn,Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma”101
Năm 1948, trong bài “Bệnh tự kiêu, tự ái”, Bác viết: “Xưa nay những bực tài giỏi như
cụ Khổng Tử, cụ Lênin cũng không biết hết mọi việc, làm được mọi việc Cụ Khổng không
biết nấu cơm, cụ Lê không biết may áo Vì vậy, cần nấu cơm thì cụ Khổng phải học hỏi người làm bếp Cần may áo thì cụ Lê phải học hỏi người thợ may.
Cụ Khổng và cụ Lê hơn mọi người, không phải vì hai cụ biết hết mọi việc, làm được
mọi việc Mà vì hai cụ không tự kiêu, tự ái, luôn luôn học hỏi.
Lời đầu tiên của cụ Khổng trong sách Luận ngữ, là: “Học mà thường tập, chẳng cũng
vui lắm thay”
Lời cụ Lê thường thường nhắc nhủ mọi người, là: “Học, học nữa, học mãi” Và “phải
học hỏi quần chúng”102
Khi bàn về công tác huấn luyện, Người lại dặn: “Người huấn luyện phải học thêm mãi
thì mới làm được công việc huấn luyện của mình Lênin khuyên chúng ta: “Học, học nữa,học mãi” Mỗi người đều phải ghi nhớ và thực hành điều đó, những người huấn luyện lạicàng phải ghi nhớ hơn ai hết Người huấn luyện nào tự cho là mình đã biết đủ cả rồi, thìngười đó dốt nhất Khẩu hiệu “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” treo trong phònghọp chính là của Khổng Tử Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết củaKhổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học
“Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quýbáu của các đời trước để lại” Lênin dạy chúng ta như vậy”103
Trong “Bài nói chuyện ở lớp chỉnh Đảng trung ương khóa 3”, Người lại nói: “Trong khi
rỗi, Bác thường đọc sách, sách mới có, cũ có Hôm nay Bác nói một câu chuyện về sách cũ
97 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 490.
98 Xem Sđd, Tập 4, Trang 148, 490.
99 Xem Sđd, Tập 5, Trang 333.
100 Xem Sđd, Tập 4, Trang 121; Tập 5, tr 333; Tập 6, tr 137; Tập 7, tr 197.
101 Xem Sđd, Tập 5, Trang 197.
102 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 5, trang 514.
103 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 46.
Trang 40Ngày xưa Khổng Tử có câu: “ôn việc cũ để biết việc mới” nghĩa là ta phải ôn nhữngviệc đã qua để thấy việc mới”104.
Người đã từng trả lời câu hỏi “Người là ai?” rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưuđiểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, Ki tô giáo có ưu điểm là lòng bác ái Chủ nghĩa TônDật Tiên có ưu điểm chính là chính sách của nó phù hợp với những điều kiện của nước ta.Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Tôi cố gắng làm một họctrò nhỏ của các vị ấy”105
2) Toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát triển các giá
trị của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, rút ra bài học kinh nghiệm từ cách mạng dântộc và cách mạng thế giới, tạo ra động lực cách mạng mới mà đưa dân tộc Việt Nam lênngang tầm thời đại, và đến lượt dân tộc Việt Nam đã làm cho Người trở thành “Danh nhânvăn hóa kiệt xuất”
Viết về điều này, các nhạc sỹ Việt Nam đã là những người đầu tiên và thành công
nhất Vào những năm giữa đầu thế kỷ XX, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã viết: “ Từ làng Sen/ có
một người trai chí lớn/ mang lý tưởng cách mạng/ giải phóng quê hương/ Ra đi/ tìm khắp bốn phương/ đường đi cho cả dân tộc/ dặm trường mà xông pha/ ” Từ hiện thực nghe hát
đò đưa xứ Nghệ, vào thập niên 70 của thế kỷ XX, nhạc sĩ An Thuyên cũng đã viết: “ Đêm
trăng lên nghe tiếng/ đò đưa ngân rất gần/ nhớ chuyện Người thuở xa xưa…/ Tuổi ấu thơ Bác đã đi/ suốt chiều dài câu đò đưa/ Tuổi ấu thơ Bác đã sống/ suốt chiều rộng câu dân ca / Nay hát câu đò đưa, thấy đời đẹp mênh mang, càng nhớ Bác, nhớ ơn Người sâu nặng quê hương” Những năm cuối thế kỷ XX, nhạc sỹ Trần Hoàn trong bài hát “Lời Bác dặn
trước lúc đi xa” lại mô tả: Trước lúc qua bên kia thế giới, Người muôn nghe một câu hò ví
dặm, Người muốn nghe một câu hò Huế, Người muốn nghe một đôi làn quan họ Bởi nước non day dứt không nguôi, Người muốn đem tận vô cùng bài ca đất nước đến mêng mông
Chính các kỷ niệm tuổi thơ với những giá trị truyền thống của quê hương, đất nước
đã tạo nên một Hồ Chí Minh – vị Cha già dân tộc – với một tình yêu nước thương dân vô
hạn: “Cả cuộc đời, Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân/ Cả cuộc đời, Bác hy sinh cho dân
tộc Việt Nam/ Bác thương các cụ già, xuân về dâng biếu lụa/ Bác thương đàn cháu nhỏ, trung thu gửi cho quà/ Bác thương đoàn dân công đêm đêm ngủ ngoài rừng/ Bác thương người chiến sỹ đứng gác ngoài biên cương/ Bác viết thư thăm hỏi gửi muôn vàn tình thương ” (Nhạc sĩ Thuận Yến trong bài “Bác Hồ - một tình yêu bao la” đã suy tư và khái
quát như vậy); Đã tạo nên chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh “Người cao hơn núi” như gắn
liền với đất trời vũ trụ, giữa thủ đô gió ngàn cách mạng: “Suối reo dưới chân Người qua/
Đất rung tiếng ca nở hoa tháng Tám/ Bát cơm mong chờ người già ước mơ/ Líu lo i tờ môi đọng trẻ thơ/ Bác ơi! Tóc sương bạc phơ/ Núi cao, suối sâu, thủ đô yêu dấu/ Khuổi Nậm còn vang lời ca mong nhớ Người” (Nguyễn Tài Tuệ - Tiếng hát giữa rừng PắcPó); Đã tạo
nên Bác Hồ, “Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”,
“Bác như ánh mặt trời xua màn đêm giá lạnh/ Bác như vì sao sáng sáng giữa trời bao la”
3) Trong bài thơ “Bác ơi” (1969) nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Bác để tình thương cho chúng con
104 Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2000, tập 7, trang 68.
105 Về Tôn giáo , Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1994, Tập 1, Trang 6-7 Vũ Khiêu, Nho giáo xưa và nay, NXBKHXH, Hà Nội 1971, Tr 16.