1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG TRIẾT HỌC hồ CHÍ MINH về CHIẾN TRANH NHÂN dân VÀ ý NGHĨA TRONG sự NGHIỆP BẢO vệ tổ QUỐC VIỆT NAM XÃ hội CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

18 565 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 201 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mặc dù, trong toàn bộ “hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc” đó không bàn một cách cụ thể về các khái niệm, phạm trù, hay những quy luật như các tư tưởng triết học trong lịch sử nhân loại cũng như triết học MácLênin; nhưng ẩn chứa trong ấy là những nội dung thể hiện trình độ, phương pháp tư duy triết học rất sâu sắc, thể hiện sự nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan rất triết học của Hồ Chí Minh.

Trang 1

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Mặc dù, trong toàn bộ “hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc” đó không bàn một cách cụ thể về các khái niệm, phạm trù, hay những quy luật như các tư tưởng triết học trong lịch sử nhân loại cũng như triết học Mác-Lênin; nhưng ẩn chứa trong ấy là những nội dung thể hiện trình độ, phương pháp tư duy triết học rất sâu sắc, thể hiện sự nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan rất triết học của Hồ Chí Minh

Kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử, nhất là triết học Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam,

Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn và xuất sắc cho kho tàng triết học nhân loại nói chung, làm phong phú thêm triết học Mác-Lênin nói riêng về rất nhiều vấn đề, trong đó có tư tưởng triết học của Người về chiến tranh nhân dân Có thể nói, đây là một trong những di sản quý báu của Người để lại cho dân tộc ta cũng như toàn thể các dân tộc thuộc địa,

Trang 2

bị áp bức, bóc lột đứng lên giành và giữ chính quyền cách mạng, xây dựng và bảo vệ vững chắc nền tự do độc lập

1 Một số vấn đề cơ bản trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

về chiến tranh nhân dân.

Chiến tranh nhân dân, là “chiến tranh do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành vì lợi ích của nhân dân, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ, bằng mọi hình thức và

vũ khí có trong tay chống sự xâm lược từ bên ngoài hoặc chống ách thống trị bên trong.”1 Một hình thức chiến tranh với sự tham gia đông đảo, nhiệt tình, bằng sự phát huy tối đa mọi khả năng và sức lực của quần chúng nhân dân Nói cách khác, đây là hình thức chiến tranh của toàn dân, toàn thể dân chúng đều tham gia đánh giặc giữ nước, vì quyền lợi, vì cuộc sống của chính ngay những người dân tham gia chiến tranh Dưới sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ, các lực lượng dân chúng được tập hợp và tổ chức lại, tạo thành sức mạnh tổng hợp, to lớn; với mọi thứ vũ khí trong tay có thể đánh thắng mọi kẻ thù

Trong lịch sử, cũng đã có những triết gia bàn đến vị trí, vai trò của con người, của quần chúng nhân dân theo quan điểm duy vật biện chứng; nhưng do còn bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử hoặc lập trường giai cấp, nên họ chưa có quan niệm đúng đắn và đầy đủ về vấn đề đó Chỉ đến khi triết học Mác-Lênin ra đời, các vấn đề về con người, về quần chúng nhân dân mới được làm sáng tỏ trên cơ sở khoa học và mang tính cách mạng triệt để, sâu sắc Từ quan niệm con người là chủ thể sáng tạo và cải tạo thế giới, con người là trung tâm của mọi thời đại; từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng trong thế

1 Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H 1996, tr 173.

Trang 3

giới, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ vai trò to lớn của quần chúng nhân dân Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử Mọi hoạt động của quần chúng nhân dân là điều kiện

cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Họ là lực lượng

cơ bản của mọi cuộc cách mạng, cách mạng thực sự là ngày hội, là sự nghiệp của họ Trong các lĩnh vực khác như: Văn hoá, nghệ thuật, khoa học v.v, quần chúng nhân dân cũng vừa là người sáng tạo, vừa

là người thưởng thức, phê phán, kiểm nghiệm, gìn giữ, bảo vệ và phát triển những giá trị đó Ngoài ra, họ còn là nơi khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào, rung động cho các sáng tác của các văn, nghệ sĩ Nói tóm lại, trong lĩnh vực quân sự, chính trị cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, quần chúng nhân dân luôn có vai trò vô cùng to lớn, họ thực sự là động lực của mọi cuộc cách mạng xã hội, là chủ thể sáng tạo của mọi hoạt động sống Do đó, trong các hoạt động xã hội, nhất là làm cách mạng, “ai” tập hợp, phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân, “người” đó sẽ có điều kiện thuận lợi làm nên chiến thắng và ngược lại

Thấm nhuần quan điểm trên của chủ nghĩa Mác-Lênin về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân, nên ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã nhận thấy, muốn làm cách mạng Việt Nam thành công phải dựa vào sức mạnh của toàn thể quốc dân đồng bào, phải tiến hành khởi nghĩa

vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân Bởi theo Người:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó trăm lần dân liệu cũng xong” 2

Trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ năm 1924, Hồ

2 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 12, Nxb CTQG, H 2000, tr 112.

Trang 4

Chí Minh đã viết: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở

1 Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng”3

Khác với các bậc cách mạng tiền bối, Hồ Chí Minh cho rằng, để tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi không chỉ hô hào, kêu gọi quần chúng nhân dân là đủ, mà phải biết cổ vũ, động viên, tập hợp, tổ chức chặt chẽ, phải làm cho toàn thể dân chúng nhận thức rõ tội ác của kẻ thù, thấy rõ trách nhiệm của mình trước vận mệnh của đất nước Đồng thời, mọi người dân tham gia vào cách mạng đều cảm nhận được lợi ích mà

họ sẽ được thừa hưởng sau khi cách mạng thành công, đó là “người cày

có ruộng”, “mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.v.v Nên người nói: “Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc

thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân Muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ Muốn nông dân có lực lượng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở”4

Vì lẽ đó, theo Người lực lượng tham gia trong chiến tranh nhân dân phải là toàn thể nhân dân, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, hễ bất cứ ai là người con nước Việt, là con Lạc cháu Hồng đều

có nghĩa vụ và quyền lợi trong đấu tranh cách mạng của dân tộc Do vậy,

“muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới mong đi tới thắng lợi cuối cùng Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến Anh dân cày

3 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 1, Nxb CTQG, H 2000, tr 468.

4 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 7, Nxb CTQG, H 2000, tr 23.

Trang 5

cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán hàng buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là kháng chiến Các công chức, các nhà văn, nhà báo mải miết trước bàn giấy, cạnh tủ sách cũng là kháng chiến Các y sinh, khán hộ lăn lộn bên giường bệnh cũng là kháng chiến Các nhà giàu có đem hết tài lực mở mang xưởng thợ, khai thác ruộng đất cũng là kháng chiến Đó là toàn dân kháng chiến”5

Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm

1946, Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”6

Sức mạnh của chiến tranh nhân dân phải là sức mạnh tổng hợp của của tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, là sức mạnh có tổ chức của đông đảo quần chúng nhân dân, cùng với việc sử dụng và phát huy hết tính năng, tác dụng của mọi thứ vũ khí, phương tiện trong tay Bởi theo người, “muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế”7 Nên bất kỳ ở đâu, lúc nào Hồ Chí Minh cũng thường xuyên coi trọng động viên tinh thần tự lực tự cường, lòng yêu nước và chí căm thù giặc của dân tộc, coi trọng tình đoàn kết, gắn bó giữa con người với

5 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 4, Nxb CTQG, H 2000, tr 84.

6 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 1, Nxb CTQG, H 2000, tr 480.

7 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 4, Nxb CTQG, H 2000, tr 84.

Trang 6

con người, giữa các anh em, đồng chí, bè bạn Người luôn khích lệ và yêu cầu mọi người phải đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, muôn người như một, cả “dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn Song, chân lý đó không bao giờ thay đổi”; nêu cao truyền thống

“thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” của dân tộc Việt Nam, có như thế mới làm nên thắng lợi được Người viết:

“Đoàn kết ,đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”8

Rõ ràng ở đây, tuy Hồ Chí Minh không nói đến mối liên hệ phổ biến như triết học Mác-Lênin đã từng bàn, nhưng trên cơ sở quan điểm triết học ấy Người đã làm rõ các mối liên hệ đó qua phạm trù “đoàn kết” Người cũng coi đoàn kết như một mối liên hệ cơ bản, bản chất của mọi cộng đồng người, mọi tổ chức người trong xã hội Trong chiến tranh nhân dân, Người coi đoàn kết toàn dân tộc là sức mạnh cực kỳ to lớn, là truyền thống vô cùng quý báu của nhân dân ta, tinh thần đoàn kết dân tộc ấy sẽ “nhấn chìm tất cả bọn bán nước và lũ cướp nước” Người chỉ rõ: “Nếu chúng ta đoàn kết thành một khối, thì chúng ta chắc chắn tranh được hoà bình và tự do, vì đoàn kết là sức mạnh…!”9; “Ta kháng chiến thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết”, vì “đoàn kết là sức mạnh vô địch”10 Do vậy, khi cả dân tộc ta bước vào tranh đấu để thống nhất Tổ quốc, Người viết: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta Đoàn kết

là một lực lượng tất thắng”11

8 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 1, Nxb CTQG, H 2000, tr 19.

9 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 298.

10 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 298.

11 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 8, Nxb CTQG, H 2000, tr 198.

Trang 7

Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm triết học Mác-Lênin về mối liên hệ phổ biến, vai trò của quần chúng nhân dân vào xây dựng chiến lược chiến tranh nhân dân, mà Người còn thổi vào truyền thống đoàn kết của dân tộc một luồng sinh khí mới, làm tăng thêm vai trò và sức mạnh to lớn của nhân dân trong đấu tranh cách mạng, để từ đó khẳng định lực lượng trong chiến tranh nhân dân là toàn dân và là sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc Vì

vậy, trong Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá II Trường

Đại học nhân dân Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân

dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”12

Chiến tranh nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là hình thức chiến tranh mang tính cách mạng, chính nghĩa, do giai cấp công nhân – giai cấp tiến bộ lãnh đạo, mà trực tiếp là Đảng cộng sản Việt Nam; mục tiêu là vì độc lập tự do của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, vì

sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của giai cấp Phong kiến, địa chủ thối nát và thực dân, đế quốc; hình thức chiến tranh này đối lập với chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc tiến hành, nhằm xâm lược, nô dịch các dân tộc trên thế giới Do vậy, trong quá trình tiến hành chiến lược chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn nhận được sự ủng hộ nhiệt thành cả

về vật chất và tinh thần của bạn bè, của các dân tộc và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới Từ đó, cùng với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của toàn dân tộc đã càng tạo ra những điều kiện thuận lợi, những động lực to lớn cho cách mạng Việt Nam Người đã viết: “Nhờ quân và dân ta kháng chiến

12 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 8, Nxb CTQG, H 2000, tr 276.

Trang 8

anh dũng và được sự ủng hộ của nhân dân các nước bạn, nhân dân Pháp

và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới nên chúng ta đã thắng lợi ở Hội nghị Giơ ne vơ”13 Đây là một trong những chiến công quan trọng góp phần to lớn làm nên chiến thắng lịch sử năm 1975, chấm dứt hoàn toàn chiến tranh ở Việt Nam, Bắc – Nam thống nhất một nhà, non sông thu về một mối, cả nước bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trên cơ sở học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội nói chung, về tính chất, đặc điểm của chiến tranh nói riêng, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo vào xác định tính chất, đặc điểm của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam Theo Người, tuy chiến tranh nhân dân ở nước ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, có sự ủng hộ của cả nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới, nhưng xuất phát từ đặc điểm tình hình cụ thể của chúng ta, nên cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành phải là cuộc chiến tranh lâu dài, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính Chúng ta cần phải huy động và phát huy tốt sức người, sức của cho chiến tranh; chế tạo, sáng tạo và sử dụng có hiệu quả các loại vũ khí, trang bị, phương tiện để chiến tranh nhân dân giành thắng lợi cao nhất Chính từ quan điểm này, nên ngay từ khi kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước đứng lên đánh đuổi Thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”14 Thực tiễn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta đã minh chứng cho những luận điểm trên của Hồ Chí Minh Ngay sau khi giành chính quyền vào mùa thu năm 1945, thực dân pháp

đã có sự chuẩn bị mọi mặt cho việc quay trở lại cướp nước ta một lần

13 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 7, Nxb CTQG, H 2000, tr 338.

14 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 7, Nxb CTQG, H 2000, tr 480.

Trang 9

nữa, với vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại hơn, uy lực mạnh hơn; trong khi đó, quân và dân ta mới chỉ mạnh về tinh thần, ý chí; còn vũ khí, trang bị, phương tiện đang rất thô sơ và vô cùng thiếu thốn Do đó, theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, quân và dân ta vừa ra sức chống giặc, vừa tích cực chế tạo nhiều loại vũ khí, trang bị, phương tiện phục vụ cho chiến tranh, mặt khác vừa đánh giặc vừa xây dựng lực lượng, thế trận và vừa sáng tạo ra những cách đánh linh hoạt, phù hợp với khả năng sinh lực, binh lực hiện có và hình thức chiến tranh nhân dân ở nước ta Đánh địch trong thế trận của chiến tranh nhân dân, trong điều kiện chúng đang mạnh hơn ta gấp nhiều lần, chúng ta không thể dùng cách “đương đầu” trực tiếp, mà phải dùng cách đánh truyền thống – “cách đánh du kích”, đánh địch ở mọi quy mô: từng người đánh, từng đơn vị và từng làng xã đánh, có đánh lớn, có đánh vừa và có đánh nhỏ với mọi thứ vũ khí, trang bị, phương tiện trong tay, đặc biệt phải cướp vũ khí, trang bị, phương tiện của địch để tiêu hao, tiêu diệt địch; phải đẩy mạnh truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “trăm họ

là binh”, ‘cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc”, “mỗi người dân là một chiến sỹ yêu nước, mỗi làng xã là một pháo đài” v.v Đồng thời, vận dụng các cách đánh của các bậc tiền bối, như: Trần Quốc Tuấn, Quang Trung, Lê Lợi và phương thức tác chiến trong “Binh pháp Tôn Tử”, “Khổng Minh”, từ đó tạo ra thế “thiên la, địa võng”, làm cho địch không xác định được đâu là lực lượng chủ lực, đâu là lực lượng du kích, lực lượng địa phương hay người dân lao động, cả nước tạo thành màng lưới vây bắt và tiêu diệt địch để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cuộc chiến tranh nhân dân ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “…làng

Trang 10

nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có du kích, thì nó thành một tấm lưới sắt, một thứ “thiên la, địa võng” mà địch không tài gì thoát ra được.”15

Hồ Chí Minh vừa nói lên tác dụng của lối đánh du kích trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân, vừa vạch ra phương hướng, cách thức tổ chức đánh địch, “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”16, làm cho chúng đi đến đâu cũng vấp phải sự phản kháng của dân chúng, cũng bị chặn đánh tơi bời; kẻ nào còn sống sót, trốn chạy cũng bị quân và dân ta làm cho

“hồn siêu, phách lạc”, nếu có “cơ may” quay trở về được nước chúng thì vẫn chưa hết “tim đập, chân run”.Người viết: “Địch đi đến đâu cũng bị chặn đánh Địch làm cái gì cũng bị phá hoại Du kích làm cho địch có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc, có chân tay cũng như què Một

bộ phận địch thì bị du kích tỉa dần tỉa mòn Bộ phận địch còn sống sót, thì ẩn không yên, ở không yên, nghe gió thổi chim kêu cũng hoảng sợ, rồi cũng bị du kích tiêu diệt nốt”17

Lực lượng tham gia trong chiến tranh nhân dân, theo Hồ Chí Minh

là toàn thể quốc dân đồng bào, nhưng không phải đơn thuần là việc tập hợp vào để “biểu dương” lực lượng, để “ghi tên” mình vào trong danh sách tham gia kháng chiến, mà phải là mỗi người một việc, người thì trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc, người thì lo công tác bảo đảm mọi mặt (hậu cần, chính trị, quân sự, thông tin v.v) theo yêu cầu của cuộc kháng chiến Muốn làm được điều này, đòi hỏi những người tổ chức phải biết cách tổ chức, có kế hoạch, bố trí, sắp xếp đúng người đúng việc, ai có thế mạnh ở mặt nào thì phải đưa họ vào đúng mặt hoạt động ấy để họ

15 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 338

16 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 3, Nxb CTQG, H 2000, tr 507

17 Hồ Chí Minh to n t àn t ập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 338.

Ngày đăng: 25/02/2017, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w