DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CP TTP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương NHTT Nhãn hiệu tập thể SHCN Sở hữu công nghiệp SHTT Sở hữu trí tuệ TRIPs Hiệp định v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN VĂN TIỀM
BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI – 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN VĂN TIỀM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được hướng dẫn khoa học bởi PGS.TS Lê Mai Thanh
Các ví dụ, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Nội dung và các đánh giá chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đoàn Văn Tiềm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ 7
1.1 Nhãn hiệu tập thể và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 7 1.2 Bảo hộ nhãn hiệu tập thể và nội dung bảo hộ nhãn hiệu tập thể 16 1.3 Cơ sở pháp luật và cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 24
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ TẠI VIỆT NAM 32
2.1 Thực trạng pháp luật xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 32 2.2 Thực trạng về nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 41 2.3 Thực trạng thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 47
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ 54
3.1 Hoàn thiện pháp luật xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 54 3.2 Hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể 57 3.3 Hoàn thiện pháp luật thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 59
KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CP TTP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương
NHTT Nhãn hiệu tập thể
SHCN Sở hữu công nghiệp
SHTT Sở hữu trí tuệ
TRIPs Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ
WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(World Intellectual Property Organization)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho thị trường ngày càng nhiều về số lượng, chủng loại, đa dạng về mẫu mã, hình thức Từ đó đòi hỏi cần phải có nhãn hiệu để có thể tiếp cận người tiêu dùng Nhãn hiệu giúp cho người tiêu dùng
dễ dàng nhận biết, phân biệt được sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Nhãn hiệu giúp cho doanh nghiệp, cá nhân có thể quảng bá được sản phẩm Tạo uy tín, niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm Ngày nay, nhãn hiệu là một tài sản trí tuệ được pháp luật bảo hộ
Tuy nhiên, đối với các khu vực, vùng, miền có nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân cùng sản xuất, kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ Nếu mỗi doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân này lại xây dựng một nhãn hiệu riêng biệt thì nó khó có thể vượt qua được rào cản về quy mô nhỏ và bị thị trường phân lập
Để khắc phục những hạn chế đó thì giải pháp xây dựng nhãn hiệu tập thể được cho là có tính khả thi cao, giải quyết được nhiều hạn chế, yếu kém khi xây dựng các nhãn hiệu riêng biệt Khi đó, nhãn hiệu tập thể là cầu nối chỉ dẫn cho mọi người về những đặc tính cụ thể của sản phẩm Nó không chỉ giúp xác định nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm mà còn giúp cho tổ chức, doanh nghiệp sở hữu nhãn hiệu tập thể có thể tiếp thị, quảng bá sản phẩm rộng rãi
Việc quảng bá rộng rãi các sản phẩm được đăng ký nhãn hiệu tập thể thường mang đặc trưng của một vùng nhất định Trong trường hợp đó, việc tạo ra một nhãn hiệu tập thể không chỉ hỗ trợ tiếp thị sản phẩm ở thị trường trong nước mà còn có thể tiếp thị sản phẩm ra trường quốc tế Bên cạnh đó,
nó còn cung cấp cơ sở cho việc hợp tác giữa những nhà sản xuất trong nước
Việc sáng tạo ra nhãn hiệu tập thể, trên thực tế phải đi kèm với sự phát triển các tiêu chuẩn nhất định cùng với một chiến lược chung Khi đó, nhãn
Trang 7hiệu tập thể mới có thể trở thành một công cụ hữu hiệu cho phát triển trong nước, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững Trong khi sản xuất hiện nay đòi hỏi ngày càng gia tăng giá trị trí tuệ trong sản phẩm thông qua các hoạt động tích cực như thiết kế sản phẩm, kiểm soát chất lượng, tạo thói quen quản lý mới, tổ chức sản xuất và tiếp thị
Ở nước ta hiện nay, để nhãn hiệu tập thể có thể tồn tại và phát triển trong xu thế phát triển và hội nhập khi nước ta đã là thành viên của nhiều tổ chức thương mại trên thế giới Đã có nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được ký kết trong đó Hiệp định CP TTP (đã có hiệu lực), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)… là những tiền đề tạo cơ hội hợp tác nhưng cũng là thách thức cho hàng hóa, dịch vụ ở nước ta Trước bối cảnh đó, việc xác lập quyền đối với nhãn hiệụ tập thể phải có cơ chế, chính sách và quy định cụ thể, phù hợp với thực tiễn của đất nước cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Ngoài ra, việc thực thi các chế tài bảo hộ nhãn hiệu tập thể là biện pháp hữu hiện để nâng cao giá trị nhãn hiệu tập thể Muốn quảng bá các sản phẩm
ra nước ngoài đem lại lợi ích kinh tế thì phải có các nhãn hiệu tập thể đủ mạnh để có thể cạnh tranh, đủ sức vươn ra thị trường nước ngoài Vậy nên nghiên cứu bảo hộ nhãn hiệu tập thể là một trong những hướng cần chú trọng
Hiện nay, việc xác lập và bảo hộ nhãn hiệu tập thể như một tài sản trí tuệ cần phải cập nhật với những cam kết quốc tế cũng như quá trình hội nhập
Từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài “Bảo hộ nhãn hiệu tập thể theo pháp luật
Việt Nam hiện nay” để giải quyết những vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt
ra
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Bảo hộ nhãn hiệu tập thể không phải là vấn đề mới Nó đã được đặt ra, nghiên cứu trong nhiều luận án, luận văn trong góc độ là một bộ phận của nhãn hiệu như:
Trang 8- Luận án tiến sĩ Luật học (2006) “Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam”, của tác giả Lê Mai Thanh;
- Luận án tiến sĩ Luật học (2007) "Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc
độ thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", của tác giả Nguyễn Thanh Tâm;
- Luận án tiến sĩ Luật học (2007) "Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn
hiện hàng hóa ở Việt Nam", của tác giả Nguyễn Văn Luật;
- Luận văn 2016 “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang” của tác giả Trần Chí Thành;
- Luận văn 2016 “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam” của tác giả Nguyễn Lưu Hưng;
- Luận văn 2014 “Pháp luật Việt Nam về tên miền liên quan đến nhãn hiệu” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Linh, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội,
Hay được nghiên cứu là một đề tài như:
- Luận văn 2013 “ Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, của tác giả Lê Thị Vân – Khoa luật, đại học quốc gia Hà Nội
Các công trình nghiên cứu khoa học trên về cơ bản đã nêu và phân tích một cách khái quát về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong đó có nhãn hiệu tập thể hay những hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu tập thể Các tác giả trên đã nêu lên được các khái niệm, hệ thống hóa các quy định của pháp luật liên quan đến NHTT, nêu lên thực trạng đăng ký NHTT tại thời điểm các tác giải nghiên cứu
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thực tiễn các tác giả trên chưa đi sâu phân tích vai trò của NHTT trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường và NHTT đối
Trang 9với các mặt hàng nông sản, tiểu thủ công nghiệp Bên cạnh đó, khi Việt Nam chính thức ký kết các hiệp định thương mại thế hệ mới như CP TTP hay mới đây nhất là hiệp định EV FTA, Việt Nam buộc phải điều chỉnh, sửa đổi một
số quy định của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nói riêng cũng như sở hữu trí tuệ nói chung để thực thi các cam kết quốc tế Trong đó, việc sửa đổi, điều chỉnh các quy định về nhãn hiệu là nội dung mới đặt ra Để có những luận cứ sát với thực tế đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế, luận văn sẽ đi sâu phân tích, đánh giá nhằm đề ra phương hướng cụ thể phù hợp đối với pháp luật về nhãn hiệu tập thể trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi sâu phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng về bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam trong điều kiện phải thực hiện các cam kết quốc tế mới, xác định các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn cần giải quyết những nhiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về bảo hộ NHTT trên cơ sở pháp luật SHTT Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên
Trang 10- Luận văn nghiên cứu bảo hộ nhãn hiệu tập thể trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà không mở rộng nghiên cứu bảo hộ nhãn hiệu Việt Nam tại nước ngoài
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về SHTT và quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo hộ thành quả đầu tư và bảo vệ thị trường cạnh tranh lành mạnh
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, học viên đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là các phương pháp:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn
đề lý luận về NHTT, quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT, bảo hộ nhãn hiệu và các nội dung bảo hộ nhãn hiệu NHTT
- Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu các quy định về NHTT, bảo hộ NHTT theo pháp luật Việt Nam và theo các quy định tại điều ước quốc tế hoặc của các nước khác
- Phương pháp phân tích, thống kê nhằm đánh giá thực trạng pháp luật bảo hộ NHTT tại Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của Luận văn làm phong phú thêm cơ sở lý luận về nhãn hiệu tập thể, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHTT thông qua việc xây dựng phương hướng đề xuất
Trang 116.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Nội dung luận văn đã phân tích, đánh giá những bất cập, hạn chế được rút ra từ thực tiễn áp dụng luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, luận văn nêu một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ NHTT hiện nay Bên cạnh đó luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của luận văn chia thành 03 Chương sau:
Chương 1: Lý luận về bảo hộ nhãn hiệu tập thể
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu tập thể
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ 1.1 Nhãn hiệu tập thể và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu tập thể
Cho đến nay, chưa có một điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia đưa ra định nghĩa thống nhất về NHTT Theo WIPO thì “Nhãn hiệu tập thể thường được định nghĩa là các dấu hiệu phân biệt nguồn gốc địa lý, nguyên liệu, phương thức sản xuất hoặc các đặc điểm chung khác của hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau sử dụng nhãn hiệu tập thể Chủ sở hữu có thể là một hiệp hội trong đó các doanh nghiệp là thành viên hoặc bất
kỳ thực thể nào khác bao gồm cả một tổ chức công cộng hoặc hợp tác xã” [35]
Theo Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế (INTA): “Một nhãn hiệu tập thể là một dấu hiệu cụ thể từ luật nhãn hiệu mà nguyên tắc tương tự của pháp luật như nhãn hiệu áp dụng Trong vấn đề này, nó có thể bao gồm bất kỳ từ, tên, biểu tượng hoặc thiết bị, khẩu hiệu, thiết kế gói hoặc kết hợp những thứ này phục vụ để xác định và phân biệt cụ thể sản phẩm từ những người khác trên thị trường hoặc trong thương mại Một âm thanh, màu sắc kết hợp, mùi hoặc hình ba chiều cũng có thể là nhãn hiệu trong một số trường hợp ” [ 26, tr.33]
Công ước Paris có các quy định về NHTT nêu tại Điều 7bis “Điều này buộc một nước thành viên chấp nhận việc nộp đơn và bảo hộ NHTT của “các hiệp hội”, theo các điều kiện cụ thể do nước đó quy định Đây là hiệp hội các nhà sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng hoặc các thương gia khác về hàng hóa được chế tạo hoặc sản xuất tại một nước, khu vực địa phương cụ thể hoặc hàng hóa có các đặc tính chung khác NHTT của các quốc gia hoặc các
cơ quan nhà nước khác không chịu sự điều chỉnh của các quy định này
Để được áp dụng Điều 7bis, hoạt động của các hiệp hội sở hữu các
Trang 13NHTT phải không trái với pháp luật của nước sở tại Hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nước sở tại, nhưng việc đăng ký
và bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho
là trái với các quy định của pháp luật”
- Khái niệm về NHTT của Mỹ [22, tr.13]
Mục 45 của Đạo luật Lanham của Hoa Kỳ về nhãn hiệu hàng hóa tại phần-15 U.S.C 1127 nêu rõ: “nhãn hiệu tập thể được sử dụng bởi các thành viên của hợp tác xã, hiệp hội hoặc nhóm tập thể khác hoặc tổ chức và có ý định sử dụng trong thương mại và phân biệt với các thành viên không phải tập thể”
- Khái niệm NHTT của Anh [22, tr.13]
Tại Điều 49 Luật nhãn hiệu của Anh có quy định về NHTT như sau:
“NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của thành viên của hiệp hội là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó với những người thuộc các doanh nghiệp khác”
- Khái niệm NHTT của Trung Quốc [22, tr.14]
Luật nhãn hiệu Trung Quốc có quy định về NHTT tại Điều 3 như sau:
“NHTT là nhãn hiệu được đăng ký dưới tên của một nhóm người, một hiệp hội hoặc bất kỳ một tổ chức nào khác sử dụng trong công việc kinh doanh bởi các thành viên của tổ chức đó”
- Khái niệm nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam
Đi từ sự hình thành khái niệm nhãn hiệu ở nước ta, trước khi Luật sở hữu trí tuệ ra đời, BLDS điều chỉnh về quyền SHTT trong đso có nhãn hiệu nhưng không định nghĩa về NHTT mà chỉ ghi nhận tại văn bản hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005 được ban hành đã đưa ra khái niệm của nhãn hiệu trong phần giải thích từ ngữ như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (Khoản 16, điều 4 )
Trang 14Theo quy định của Luật SHTT, nhãn hiệu là một dấu hiệu Để đăng ký được với danh nghĩa là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, hình vẽ, chữ số, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu
tố đó được thể hiện bằng một hoặc một số màu sắc nhất định
Nhưng không phải bất kỳ dấu hiệu nào cũng có thể được sử dụng làm nhãn hiệu mà dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Chức năng phân biệt là một yếu tố quan trọng khi xác định một dấu hiệu làm nhãn hiệu của một chủ thể
Theo quy định của Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2018 tại Điều 4, khoản 17 : “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” [3, tr.2]
Mặc dù mỗi quốc gia đều có quy định của mình về NHTT cho phù hợp với điều kiện riêng của từng nước và phù hợp với quy định của quốc tế Nhưng điểm chung trong quy định về NHTT của các nước là các nước đều đưa ra quy định chủ sở hữu NHTT phải là một tổ chức hoặc một nhóm người
và chức năng phân biệt là yếu tố quan trọng khi xem xét một dấu hiệu được đăng ký làm NHTT
Ở Việt Nam theo quy định của luật SHTT thì “nhãn hiệu” đã có chức năng dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức và cá nhân khác nhau Đối với NHTT thì đặc điểm khác với nhãn hiệu thông thường là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên trong “tổ chức” với các sản phẩm hàng hóa không thuộc tổ chức đó Bên cạnh quy định trên, đối với NHTT còn có một quy chế sử dụng nhãn hiệu được nộp cùng với hồ sơ đăng
ký bảo hộ
Khái niệm nhãn hiệu tập thể hiện hành đã nêu được đặc điểm sở hữu của NHTT là tổ chức, nhưng chưa thể hiện rõ tính chất đặc trưng về đặc điểm
Trang 15của NHTT như: Nguồn gốc địa lý, nguyên liệu, phương thức sản xuất … để thấy được sự khác biệt ngoài tiêu chí chủ sở hữu là một tổ chức Do đó có thể đưa ra một khái niệm: Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự được cung cấp bởi các nhóm cá nhân, tổ chức khác nhau
1.1.2 Đặc điểm của nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu có tính phân biệt
Khả năng phân biệt của nhãn hiệu gắn với người tiêu dùng; thông qua
đó họ có thể phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại của chủ thể khác nhau
Ban đầu, các loại nhãn hiệu không nhìn thấy bằng mắt thường thì không được coi là nhãn hiệu và không được bảo hộ Thỏa thuận quốc tế đầu tiên, Công ước Paris năm 1883 về sở hữu công nghiệp có yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo việc bảo hộ nhãn hiệu, tuy nhiên lại không đưa ra định nghĩa thế nào là nhãn hiệu mà dành quyền đó cho các quốc gia thành viên Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) trong khuôn khổ WTO quy định “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá … Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” (Điều
15 Hiệp định TRIPs)
Tuy nhiên, Việt Nam là thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP theo quy định tại mục C điều 18.18 CP TPP thì: “ Không Bên nào được yêu cầu, như một điều kiện để được đăng ký, là dấu hiệu phải nhìn thấy được, cũng như không Bên
Trang 16nào được từ chối đăng ký một nhãn hiệu chỉ với lý do rằng dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là âm thanh Thêm vào đó, mỗi Bên phải nỗ lực hết sức để đăng
ký nhãn hiệu mùi Một Bên có thể yêu cầu phải có bản mô tả ngắn gọn và chính xác, hoặc bản thể hiện dưới dạng đồ họa, hoặc cả hai nếu phù hợp, của nhãn hiệu” [27, tr.18-11]
Và theo cam kết thực thi CP TTP thì trong thời hạn 3 năm kể từ khi CP TTP có hiệu lực Việt Nam phải điều chỉnh các quy định để bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh [27, tr.18-63]
Như vậy, đến năm 2021 chúng ta phải hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, trong đó có nhãn hiệu tập thể sử dụng
âm thanh làm nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ
- Chủ sở hữu NHTT phải là một tổ chức Đó là một đặc điểm khác với nhãn hiệu thông thường, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức Theo quy định tại Thông tư số: 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2/2007 của Bộ Khoa học
và Công nghệ, Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp Các tổ chức sau đây được coi là tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp theo quy định tại khoản
3, điều 87, Luật sở hữu trí tuệ [7; tr.45]:
(i) Liên minh hợp tác xã; các hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã, nếu trong Điều lệ ghi rõ thành viên có hoạt động sản xuất, kinh doanh độc lập;
(ii) Nhóm công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
(iii) Hội theo quy định của pháp luật về hội, nếu trong Điều lệ ghi rõ thành viên của hội có hoạt động sản xuất, kinh doanh độc lập;
- Việc sử dụng NHTT của các thành viên của tổ chức phải tuân thủ quy chế sử dụng Quy chế này được nộp cùng với đơn đăng ký bảo
hộ và phải được Cục sở hữu trí tuệ phê duyệt
Trang 17- Nhãn hiệu tập thể là chỉ dẫn thương mại có liên quan gần gũi với chỉ dẫn địa lý và thường sử dụng cho nhóm sản phẩm mang đặc tính địa phương
NHTT có chứa địa danh hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam phải có văn bản cho phép sử dụng địa danh hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của đặc sản địa phương để đăng ký nhãn hiệu tập thể Cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng địa danh hoặc dấy hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của đặc sản địa phương là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh [7, tr.47])
Vậy, một tổ chức có thể đăng ký NHTT cho các sản phẩm có nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương là một nhãn hiệu tập thể thay vì đăng ký chỉ dẫn địa lý
Điều này có thể lý giải như sau, thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý phải đáp ứng được yêu cầu đối với bản mô tả tính chất/ chất lượng/danh tiếng của sản phẩm phải có đó là: liệt kê các tính chất/chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đo điều kiện địa lý quyết định và phải “được xác định bằng các chỉ tiêu cảm quan, định tính, định lượng về vật lý, hóa học, sinh học,
có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc bằng chuyên gia theo một phương pháp thử xác định” [7, tr.66] Ngoài ra, còn phải đáp ứng các điều kiện khác
Để đáp ứng được các yêu cầu trên đối với đăng ký chỉ dẫn địa lý là khó khăn hơn rất nhiều so với việc đăng ký bảo hộ các sản phẩm đặc sản địa phương trên là một nhãn hiệu tập thể Chính vì vậy, nhiều địa phương đã lựa chọn đăng ký bảo hộ NHTT cho các đặc sản, sản phẩm danh tiếng của địa phương mình
Nhãn hiệu tập thể thể thực hiện các chức năng tương tự như nhãn hiệu Tuy nhiên, bởi vì nó được sử dụng bởi các thành viên thuộc tổ chức nên NHTT có một số chức năng cụ thể Chức năng cơ bản của nhãn hiệu tập thể là chỉ ra nguồn gốc xuất phát từ các sản phẩm hoặc dịch vụ và xác định các
Trang 18thành viên của tổ chức được ủy quyền hợp pháp để sử dụng dấu hiệu cụ thể làm nhãn hiệu
Do các nhãn hiệu tập thể được sử dụng để biểu thị sự liên kết của các thành viên sử dụng nhãn hiệu đó nên họ công khai với công chúng về một số đặc điểm chung của hàng hóa hoặc dịch vụ của họ Đặc điểm này có thể là nguồn gốc địa lý, chế độ chế tạo, vật liệu được sử dụng hoặc tư cách thành viên đơn giản cho một tổ chức [26, tr.36]
Giống như nhãn hiệu bình thường, các nhãn hiệu tập thể cung cấp thông tin về các đặc tính của sản phẩm, chẳng hạn như giá cả, chất lượng, nguồn gốc và bất kỳ thông số kỹ thuật nào khác phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác Những nhãn hiệu như vậy tạo ra danh tiếng cho sản phẩm, tạo thuận lợi cho người tiêu dùng trong quá trình ra quyết định trong khi lựa chọn giữa các hàng hóa khác nhau Dấu ấn tập thể của nhãn hiệu cũng thúc đẩy doanh số bán sản phẩm, thu hút thị hiếu của khách hàng và hỗ trợ các nghệ nhân trong việc giành hoặc duy trì thị phần [26, tr.32]
1.1.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể là một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ bởi vậy quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT chính là quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói chung
Theo quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật SHTT 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009 và năm 2019 quy định: “Quyền SHCN là quyền của tổ chức,
cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạng tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại,chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”
Quyền sở hữu công nghiệp có vai trò sống còn trong việc duy trì sự tồn tại của nhãn hiệu nói chung và NHTT nói riêng Nếu quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT không được bảo hộ thoả đáng, hiệu quả thì việc các
Trang 19hàng hóa, dịch vụ gắn NHTT sẽ bị làm giả, nhái nhãn mác gây ra thiệt hại đối với chủ sỡ hữu của nhãn hiệu đó
Với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp NHTT là một loại tài sản đặc biệt Đó là tài sản vô hình do đó quyền chiếm hữu đối với loại tài sản này của chủ sở hữu gần như không thực hiện được Giá trị của nhãn hiệu được định giá bởi thị trường dựa trên sự nổi tiếng và nằm ở khả năng khai thác thương mại của NHTT
NHTT là một loại nhãn hiệu thuộc sở hữu của chủ thể là các thành viên của một tổ chức nhất định nên quyền năng về định đoạt nhãn hiệu vẫn được ghi nhận và có khả năng thực hiện trên thực tế Hơn nữa, NHTT là một loại tài sản vô hình và khả năng chiếm giữ NHTT của chủ thể sở hữu là không khả thi vì vậy khả năng chủ thể tự xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu thông qua thực tế chiếm giữ và quản lý NHTT là không thể Trái lại, quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT chỉ phát sinh và được bảo vệ bởi nhà nước thông qua thủ tục ghi nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sở hữu công nghiệp Do đó, có thể hiểu một cách chi tiết hơn về quyền SHCN đối với NHTT như sau: Quyền SHCN đối với NHTT là quyền sở hữu của các thành viên của tổ chức đối với NHTT và quyền được áp dụng các biện pháp hợp pháp ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền trong quá trình sử dụng NHTT
Quyền SHCN đối với NHTT gắn liền với hoạt động sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ
Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ SHCN đã quy định “SHCN phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất công nghiệp và sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột” [14, tr.11] Vì vậy, một trong
Trang 20những điều kiện để được bảo hộ đối với NHTT là phải chứa đựng các chỉ dẫn thương mại
Chỉ dẫn thương mại được coi như cầu nối giữa nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng Nếu chủ thể nắm giữ được các chỉ dẫn này sẽ có những lợi thế cạnh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Ngày nay, mức
độ cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt thì việc quan tâm, đầu tư và trở thành chủ sở hữu đối với nhãn hiệu nói chung và NHTT nói riêng là một việc làm đầu tiên có ý nghĩa lớn trong sản xuất hàng hàng hóa, kinh doanh dịch vụ, tiếp cận người tiêu dùng
Quyền SHCN đối với NHTT phát sinh trên cơ sở pháp luật
Đối với Việt Nam, quyền SHCN đối với NHTT phát sinh căn cứ vào văn bằng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (một số quốc gia như Hoa
Kỳ, quyền xác lập thông qua việc sử dụng nhãn hiệu) Tại Việt Nam, quyền SHCN đối với NHTTchỉ được pháp luật bảo hộ khi được cơ quan nhà nước cấp văn bằng bảo hộ chính thức Thông quan việc đăng ký văn bằng bảo hộ chủ sở hữu NHTT đã công khai tình trạng của loại tài sản vô hình này đối với các chủ thể khác không phải là thành viên của tổ chức đó, là một hình thức để thông báo tài sản vô hình này đã thuộc về chủ sở hữu NHTT Văn bằng bảo
hộ là căn cứ chứng minh bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp khi NHTT bị người khác chiếm đoạt
Đăng ký bảo hộ đối với NHTT là thủ tục bắt buộc Trường hợp chủ thể không đăng ký quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ của mình thì không được bảo hộ nếu bị người khác chiếm đoạt hoặc đăng ký trước
Quyền SHCN đối với NHTT bị giới hạn về thời gian
Quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu tập thể nói riêng được bảo hộ trong một khoảng thời gian xác định Khoảng thời gian này được giới hạn trong nội dung văn bằng bảo hộ được cấp Tại quy định của khoản 6 Điều 93 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, và năm 2019
Trang 21“Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”
Thời gian được bảo hộ có hiệu lực khi chủ sở NHTT được bảo hộ nộp
lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng
Quyền SHCN đối với NHTT bị hạn chế về không gian
Quyền này chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà NHTT được xác lập quyền Quyền SHCN đối với NHTT mang tính lãnh thổ triệt để Nghĩa là, quyền SHCN đối với NHTT chỉ được xác lập trên cơ sở pháp luật của quốc gia đã công nhận bảo hộ quyền đó và quyền này cũng chỉ có hiệu lực trong phạm vi nước công nhận bảo hộ
Ở Việt Nam, các văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, được khẳng định tại khoản 1, điều 93 Luật sở hữu trí tuệ: “Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam” Các NHTT đăng ký tại Việt Nam, có thể được bảo hộ tại các quốc gia khác nếu đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ của các quốc gia đó như NHTT chè Thái Nguyên đã được bảo
hộ tại Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ…
1.2 Bảo hộ nhãn hiệu tập thể và nội dung bảo hộ nhãn hiệu tập thể
1.2.1 Bảo hộ nhãn hiệu tập thể
Bảo hộ NHTT được hiểu là bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT và cũng chính là một dạng bảo hộ quyền SHTT nói chung Giáo trình Luật SHTT của trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm “Bảo hộ quyền SHTT là việc nhà nước ban hành các quy định của pháp luật về quyền SHTT nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT như tác giả, chủ sở hữu văn bằng bảo hộ và những chủ thể khác liên quan đến việc sử dụng quyền SHTT” [18; tr 246]
Điều 4, phụ lục của TRIPs quy định: “thuật ngữ bảo hộ phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm
Trang 22vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi quyền SHTT cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền SHTT được quy định trong Hiệp định” Với quy định của Hiệp định thì bảo hộ không chỉ dừng lại ở việc xác lập quyền mà bao gồm trong đó cả việc thực thi quyền
Vì vậy, khái niệm bảo hộ quyền SHTT sẽ được hiểu theo hai nghĩa, theo nghĩa hẹp thì bảo hộ quyền SHTT là hoạt động nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật nhằm xác lập quyền sở hữu của các chủ thể đối với tài sản trí tuệ Hiểu theo nghĩa rộng thì khái niệm bảo hộ quyền SHTT là hoạt động, theo đó, Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật nhằm xác lập, bảo đảm thực hiện quyền và thực thi quyền sở hữu của các chủ thể đối với tài sản trí tuệ Như vậy, hoạt động bảo hộ quyền SHTT của Nhà nước đối với NHTT sẽ thể hiện trên hai phương diện Phương diện thứ nhất là xây dựng pháp luật nhằm xác lập và thực hiện quyền sở hữu của sở hữu chủ và phương diện thứ hai là thực thi nhằm bảo vệ quyền SHCN đối với NHTT
Để hiểu rõ hơn, chúng ta sẽ phân tích khái niệm bảo hộ trên góc độ dân
sự và kinh tế Trước hết, “Nếu phân tích từ góc độ pháp luật dân sự, bảo hộ quyền SHTT là củng cố và xác lập quyền sở hữu của mình đối với tài sản trí tuệ (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) của các chủ
sở hữu đối với tài sản trí tuệ” [22, tr.25]
Nếu phân tích từ góc độ kinh tế thì bảo hộ quyền SHTT là tất cả các biện pháp được áp dụng nhằm đảm bảo cho các chủ sở hữu được khai thác các giá trị của tài sản trí tuệ, phục vụ cho nhu cầu của chủ sở hữu và các đối tượng khác có liên quan Nếu phân tích từ góc độ này thì giá trị mà các tài sản trí tuệ đem lại sẽ là các lợi ích vật chất được tạo ra và thông thường đây là chính là lợi ích chính mà các chủ sở hữu muốn đạt được
Trong phạm vi nội dung luận văn, về bảo hộ NHTT chỉ xem xét khái niệm “Bảo hộ nhãn hiệu tập thể” theo nghĩa hẹp tức là: :“Bảo hộ NHTT là
Trang 23việc nhà nước thông qua các quy định của pháp luật nhằm xác lập, thực hiện
và thực thi quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với NHTT”
1.2.2 Nội dung bảo hộ nhãn hiệu tập thể
1.2.2.1 Xác lập quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể
Quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT được xác lập trên cơ sở quyết định của Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ đối với NHTT Khi đó văn bằng bảo hộ có giá trị chứng minh quyền sở hữu công nghiệp về NHTT
Dấu hiệu nhìn thấy được được hiểu là dấu hiệu có thể xác định được bằng mắt thường Như vậy, các dấu hiệu khác được cảm nhận bằng xúc giác,
vị giác, và khứu giác không được làm nhãn hiệu tập thể
Tại Khoản 3; Điều 87 luật sở hữu trí tuệ quy định: “Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể” Theo quy định trên, các tổ chức tập thể là pháp nhân được quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể như: Hợp tác xã, liên minh các hợp tác xã, hội nông dân…
Đối với các sản phẩm có những đặc trưng riêng của những cơ sở sản xuất ở một vùng nhất định được biết đến do những quy trình chế biến riêng, những kỹ thuật thủ công không thể thay thế bằng máy móc, đòi hỏi tư duy và
sự độc đáo riêng có từ các nghệ nhân và liên quan đến các điều kiện lịch sử,
Trang 24văn hóa, xã hội của vùng Có thể được đăng ký là bảo hộ nhãn hiệu tập thể và
có những nét đặc trưng đó
Tuy nhiên, điều này chỉ đúng đối với các ngành nghề sản xuất hàng hóa tiểu thủ công nghiệp, làng nghề hay các nhóm sản phẩm nông nghiệp Còn đối với nhóm hàng hóa theo phân Nhóm 9, Bảng phân loại quốc tế danh mục hàng hóa, dịch vụ NI XƠ, phụ lục 11, phiên bản 11-2019 [14, tr 99-121] thì điều này như không đúng Các mặt hàng thuộc nhóm hàng trên bao gồm các thiết bị điện tử; những đặc trưng về điều kiện lịch sử, văn hóa không được thể hiện trong nhãn hiệu tập thể được bảo hộ
Ví dụ: Bảng thống kê một số nhãn hiệu tập thể đã được đăng lý bảo hộ NHTT theo danh sách nhãn hiệu tập thể đã được công bố; nguồn: Cục sở hữu trí tuệ [13]
Công ty cổ phần đầu tư Hà Việt
JOINT STOCK COMPANY)
VINACHEM, hình
Tổng công ty Hoá chất Việt Nam
Nhãn hiệu tập thể thường do một Hiệp hội, một Hợp tác xã sở hữu Các tổ chức này phải xây dựng quy chế sử dụng NHTT do mình sở hữu khi nộp đơn đăng ký bảo hộ NHTT Đảm bảo việc kiểm soát và quản lý nhãn hiệu tập thể có hiệu quả, việc công khai các thông tin liên quan đến nhãn hiệu tập thể, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể sẽ giúp hạn chế các tranh chấp phát sinh
và đảm bảo được uy tín trên thị trường
Các thành viên của nhãn hiệu tập thể cần phải có tinh thần đoàn kết trong việc xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể của tổ chức mình,
Trang 25để phát huy được sức mạnh, lợi thế cạnh tranh của nhãn hiệu tập thể trong quá trình cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường Xây dựng mạng lưới thị trường bền vững, ổn định Tích cực, chủ động trong việc phát hiện ra các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tập thể của tổ chức mình và xử lý nghiêm, triệt để các hành vi này
1.2.2.2 Nội dung quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu tập thể
Quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT xác lập kể từ khi văn bản Quyết định cấp giấy chứng nhận NHTT có hiệu lực và chủ sở hữu nhãn hiệu nộp đủ các khoản phí theo quy định Giấy chứng nhận này có hiệu lực trong thời hạn 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể xin ra hạn, số lần ra hạn không hạn chế
NHTT là một sản vô hình, vì vậy chủ sở hữu NHTT có các quyền bao gồm: Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể; Quyền cấm chủ thể khác xâm phạm nhãn hiệu tập thể; Quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm
* Quyền sử dụng:
Cũng như nhãn hiệu thông thường, chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đã được bảo hộ có quyền sử dụng nhãn hiệu của mình bằng các hành vi: gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hành hóa, dịch vụ
Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu tập thể được bảo hộ;
Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang tên nhãn hiệu được bảo hộ
Quy định trên của Luật SHTT đã ghi nhận đầy đủ các quyền sử dụng của Nhãn hiệu và Nhãn hiệu tập thể Thực tế áp dụng từ năm 2005, quy định trên phù hợp với thực tế của việc sử dụng NHTT
* Quyền chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT
Trang 26Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng đó cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng SHCN thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình Không giống nhãn hiệu thông thường, NHTT là đối tượng hạn chế quyền chuyển quyền sử dụng Việc chuyển quyền sử dụng NHTT bị cấm theo khoản 2, điều 142 luật Sở hữu trí tuệ: “Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó” [3, tr 50]
Việc tự ý chuyển giao NHTT cho các đối tượng không phải là thành viên của tổ chức sở hữu NHTT là hành vi trái pháp luật Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Nhãn hiệu và từng thành viên của tổ chức Do
đó, khi xây dựng quy chế sử dụng NHTT cần chú ý bao quát các hành vi có thể xảy ra trên thực tế, để quản lý hiệu quả việc sử dụng trái phép NHTT Đồng thời làm căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh
* Quyền ngăn cấm người khác sử dụng NHTT
Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu tập thể được pháp luật thừa nhận với mục đích bảo hộ quyền sở hữu của chủ nhãn hiệu đồng thời bảo
vệ người tiêu dùng và xã hội Các thiệt hại về kinh tế đối với các tổ chức, cá nhân bị hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nói chung cũng như nhãn hiệu tập thể nói riêng là rất lớn Bên cạnh đó, uy tín của chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Việc bị xử lý về hành
vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của người khác có thể tạo nên tâm lý e ngại đối với khách hàng, khiến cho khách hàng tẩy chay các sản phẩm này mặc dù về mặt chất lượng, các sản phẩm này có thể có chất lượng tốt
Tuy nhiên, tổ chức, thành viên sở hữu nhãn hiệu tập thể không có quyền ngăn cấm cá nhân, tổ chức khác thực hiện các hành vi lưu thông hàng hóa gắn NHTT, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài Điều 129 luật Sở hữu trí tuệ quy định:
Trang 27“các hành vi được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tập thể” [3; tr 46]
* Quyền tự bảo vệ NHTT
Chủ sở hữu NHTT có quyền tự bảo vệ quyền SHCN nhãn hiệu của mình bằng các biện pháp: Cung cấp rộng rãi các thông tin khẳng định quyền SHCN, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để đánh dấu, nhận biết, phân biệt sản phẩm Chủ sử hữu NHTT có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm bằng văn bản đối với chủ thể có hành vi xâm phạm Có quyền khởi kiện ra tòa án, trọng tài thương mại để bảo vệ quyền, lợi ích của mình
1.2.2.3 Thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
Thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT là việc áp dụng những biện pháp cụ thể để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT Có ba biện pháp được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể:
* Biện pháp dân sự
Quyền SHCN đối với NHTT là quyền dân sự của các chủ thể nên khi xâm phạm cần áp dụng biện pháp dân sự giải quyết Thẩm quyền áp dụng biện pháp dân sự theo quy định của pháp luật thuộc về tòa án Biện pháp dân
sự được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa bên bị xâm phạm do hành vi xâm phạm của chủ thể không sở hữu NHTT gây ra Việc giải quyết thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra
Các chế tài sau đây được áp dụng để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm:
+ Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm
+ Buộc xin lỗi, cải chính công khai
Trang 28+ Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự
+ Buộc bồi thường thiệt hại
+ Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
* Biện pháp hành chính
Theo Luật sở hữu trí tuệ, biện pháp hành chính được áp dụng đối với những hành vi vi phạm được quy định tại Điều 211 bởi các cơ quan hành chính như sau:
+ Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hai cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội
+ Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó
Ngoài ra có biện pháp kiểm soát biên giới là một trong các biện pháp hành chính do cơ quan Hải quan áp dụng như sau:
Trang 29+ Tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT
+ Kiểm tra hải quan, giám sát hải quan để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT
* Biện pháp hình sự
Thẩm quyền áp dụng biện pháp hình sự cũng thuộc về tòa án Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Theo đó các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp sẽ bị xử lý theo quy định tại điều 226 Bộ luật hình sự về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp [1; tr.71,72]
Trong các biện pháp trên, biện pháp hình sự có thể nói là biện pháp có tính răn đe cao nhất bởi mức phạt nặng, điều này có tác dụng rất lớn đến việc hạn chế hành vi xâm phạm quyền Ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, biện pháp hình sự và dân sự thường được sử dụng nhiều hơn
so với biện pháp hành chính Biện pháp hành chính tuy có ưu điểm là đơn giản, không mất nhiều thời gian nhưng đặt gánh nặng lên cơ quan hành chính, không phù hợp với bản chất quyền và khó để bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu
Việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu tập thể có thể coi là khá phức tạp, và ở Việt Nam, thời gian và chi phí để thực thi nhìn chung là kéo dài, tốn kém
1.3 Cơ sở pháp luật và cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
1.3.1 Cơ sở pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
1.3.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam
Theo thống kê của WIPO, hiện nay hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ gồm có 63 văn bản bao gồm các văn
Trang 30bản luật: 19 văn bản, trong đó luật chính, chuyên ngành có 02 văn bản là: Luật Chuyển giao công nghệ và Luật Sở hữu trí tuệ; các quy tắc/quy định 44 văn bản là các nghị định, thông tư hướng dẫn, lệnh và các quyết định, chỉ thị
có chứa quy phạm pháp luật liên quan đến Sở hữu trí tuệ [36]
Luật sở hữu trí tuệ (số 50/2005/QH11) được quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 gồm có 6 phần, 222 điều Đây là luật chuyên ngành trong lĩnh vực
sở hữu Trí tuệ, trong đó quy định về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong đó có NHTT Từ khi ban hành đến nay, luật này đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2009 và 2018 Các nội dung sửa đổi, bổ sung đáp ứng yêu cầu thực tế của Việt Nam trong quá trình thực thi và tham gia các hiệp định quốc tế
Ngoài quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Chính phủ đã ban bành các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật SHTT năm 2005 Trong đó liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp của đối với Nhãn hiệu gồm có: Nghị định số: 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số: 122/2010 ngày 31/12/2010; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010; Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Ngoài ra, trong quá trình thi hành Luật sở hữu trí tuệ, các Bộ, liên Bộ
đã ban hành các Thông tư hướng dẫn thi hành
Bên cạnh đó, các văn bản Luật hiện hành liên quan đến bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu gồm:
Trang 31Bộ Luật hình sự quy định về tội xâm phạm quyền SHCN (Điều 226)
Bộ Luật Dân sự 2015 quy định liên quan đến việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu Luật Hải quan năm 2014 (từ Điều 73 đến Điều 76) quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa nhập khâu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (trong đó nội dung liên quan đến biện pháp xử lý vi phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu khi có yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu)
Có thể nói, hệ thống văn bản pháp quy của nước ta không có quy định
áp dụng riêng rẽ đối với NHTT, mà trong các quy định, NHTT được xem như
là nhãn hiệu thông thường và chỉ có các quy định riêng liên quan đến những đặc điểm riêng có của nhãn hiệu tập thể Các quy định được ban hành tương đối chi tiết, đầy đủ và thể hiện quyết tâm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, điều đó thể hiện trong việc kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy phù hợp với điều kiện cụ thể khi tham gia với tư cách là thành viên có trách nhiệm của các hiệp định quốc
tế
1.3.1.2 Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Trong quá trình phát triển và hội nhập, Việt Nam đã tham gia 51 điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ, trong số đó có 9 điều ước do WIPO quản lý Có thể dẫn chứng một vài điều ước cơ bản liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói chung và NHTT nói riêng :
a) Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883
Công ước Paris về bảo hộ SHCN , Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp ("Công ước Paris") được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris, được xem xét lại tại Brussels năm 1900, tại Washington năm 1911, tại La Hay năm
1925, tại Luân Đôn năm 1934, tại Lisbon năm 1958, tại Stockholm năm 1967
Trang 32và được sửa đổi lần cuối ngày 28.9.1979 đã tạo lập cơ sở chung nhất về bảo
hộ quyền SHCN Việt Nam tham gia là thành viên từ năm 1949
Nội dung của công ước Paris liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bao gồm:
Nguyên tắc đối xử quốc gia: Công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viên khác sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình
Quyền ưu tiên: Công ước Paris quy định quyền ưu tiên đối với nhãn hiệu trên cơ sở một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một trong số các nước thành viên, trong một thời hạn nhất định (6 tháng đối với nhãn hiệu) người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại bất cứ nước thành viên nào khác
và các đơn nộp sau sẽ được coi như đã được nộp vào cùng ngày với ngày nộp đơn đầu tiên
Theo yêu cầu của Công ước, khi một nhãn hiệu đã được đăng ký đúng thủ tục tại quốc gia xuất xứ, nhãn hiệu đó phải được xem xét bảo hộ tại các quốc gia thành viên khác Nhãn hiệu chỉ có thể bị từ chối nếu: vi phạm quyền của bên thứ ba; không có khả năng phân biệt; trái với đạo đức, trật tự xã hội hoặc có khả năng gây nhầm lẫn cho công chúng Việc đăng ký nhãn hiệu tại một quốc gia thành viên độc lập với các quốc gia thành viên khác, kể cả nước xuất xứ của nhãn hiệu đó Không một đơn đăng ký nhãn hiệu nào có thể bị từ chối hoặc đăng ký nhãn hiệu có thể bị vô hiệu dựa trên căn cứ rằng đơn, đăng
ký đó không có hiệu lực tại nước xuất xứ
b) Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs)
Hiệp định TRIPs là hiệp định đa phương toàn diện nhất liên quan đến quyền SHTT trong khuôn khổ WTO Việt Nam tham gia TRIPs từ năm 2007
Trang 33Hiệp định TRIPs bắt buộc tất cả các thành viên của WTO tuân thủ các Điều của Công ước Paris, bao gồm các nguyên tắc cơ bản Hiệp định TRIPs
đề cập một cách chính xác hơn nguyên tắc "đối xử quốc gia" đã có hiệu lực đối với nhiều quốc gia thành viên Công ước Paris Cũng như Công ước Paris, Hiệp định TRIPs quy định nguyên tắc có đi có lại giữa các quốc gia thành viên Mỗi quốc gia thành viên phải dành cho công dân của các quốc gia thành viên khác sự bảo hộ quyền SHTT không kém thuận lợi so với sự đối xử dành cho công dân nước đó
Hiệp định TRIPs, ngoài việc đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của Công ước Paris, đã vượt ra ngoài Công ước Paris và lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc mới được áp dụng trong lĩnh vực SHTTđó là "đối xử tối huệ quốc"
c) Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế Nhãn hiệu hàng hoá
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được điều chỉnh bởi hai điều ước,
đó là Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, có hiệu lực từ năm
1891 và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid, được thông qua năm
1989, có hiệu lực từ ngày 1/12/1995, và hoạt động từ 1/4/1996 Quy chế chung thi hành Thoả ước và Nghị định thư cũng có hiệu lực từ ngày 1/4/1996
Hệ thống này được quản lý bởi Văn phòng quốc tế của WIPO - Cơ quan lưu giữ đăng bạ quốc tế và xuất bản Công báo của WIPO về Nhãn hiệu quốc tế
Lý do dẫn đến việc ký kết Nghị định thư sau khi đã có Thoả ước Madrid năm 1891 (được sửa đổi lần cuối cùng năm 1967) là trong Liên minh Madrid không có một số nước lớn trong lĩnh vực nhãn hiệu hàng hoá - chẳng hạn như Nhật Bản, Anh Quốc và Hoa Kỳ Mục đích của Nghị định thư là làm cho hệ thống Madrid có thể được nhiều nước hơn chấp nhận Nghị định thư khác với Thoả ước Madrid ở chỗ có những khả năng lựa chọn dành cho người nộp đơn, cho phép các đăng ký quốc tế được dựa trên các đơn quốc gia, chứ không chỉ dựa trên đăng ký quốc gia Nghị định thư xác định thời hạn 18
Trang 34tháng thay cho thời hạn một năm dành cho các Bên tham gia để từ chối bảo
hộ, với khả năng có được thời gian dài hơn trong trường hợp từ chối dựa trên đơn phản đối; khả năng dành cho Cơ quan của một Bên được chỉ định thay vì nhận một phần được chia trong thu nhập từ các khoản lệ phí cơ bản, sẽ nhận được một khoản "lệ phí riêng" ở mức không được cao hơn mức lệ phí mà Cơ quan đó quy định đối với đơn đăng ký hoặc gia hạn quốc gia hoặc khu vực sau khi đã trừ đi các khoản thu được từ thủ tục quốc tế Nghị định thư cho phép chuyển đổi một đăng ký quốc tế không còn được bảo hộ vì nhãn hiệu cơ
sở bị mất hiệu lực tại nước xuất xứ thành các đơn quốc gia hoặc khu vực tại một số hoặc tất cả các Bên tham gia được chỉ định, với ngày nộp đơn, ngày
ưu tiên (nếu có) của đăng ký quốc tế đó Khả năng tham gia Nghị định thư không chỉ dành cho các Nước mà dành cho cả các Tổ chức liên chính phủ có
Cơ quan đăng ký nhãn hiệu với hiệu lực trong lãnh thổ của tổ chức đó
Việt Nam là thành viên cả hai điều ước và tham gia Nghị định thư từ 11/4/2006 ( hiệu lực từ ngày 11/7/2006)
1.3.2 Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
Cơ chế bảo hộ NHTT được hiểu là hệ thống các cơ quan, tổ chức có chức năng, thẩm quyền tham gia bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT; cơ chế này cũng chính là cơ chế bảo hộ quyền SHTT nói chung Từ giai đoạn xác lập quyền SHCN đến việc thực thi bảo vệ quyền SHCN đối với NHTT Trên cơ
sở cách hiểu về cơ chế bảo hộ NHTT như vậy, cơ chế bảo hộ NHTT gồm các
cơ quan sau:
1.3.2.1 Cơ quan xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể
Cơ quan xác lập quyền SHCN là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và tiến hành các thủ tục đăng ký xác lập quyền SHCN Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, cơ quan xác lập quyền SHCN là một cơ quan thuộc Chính phủ với sự độc lập tương đối về mặt cơ cấu tổ chức và trách nhiệm pháp lý nhằm
Trang 35đảm bảo các quyết định của cơ quan về cấp, từ chối, đình chỉ, hủy bỏ hiệu lực đối với nhãn hiệu hoặc quyết định giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến nhãn hiệu, quyền SHCN đối với nhãn hiệu được đưa ra một cách độc lập, không bị can thiệp bởi mệnh lệnh hành chính của cơ quan cấp trên
mà chỉ có thể bị khiếu nại theo thủ tục khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra tòa theo thủ tục tố tụng hành chính
Tại Việt Nam, theo quy định của Nghị định 95/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ được thành lập theo Quyết định số 14/2004/QĐ-BKHCN ngày 25/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Có chức năng quản lý nhà nước về quy trình, thử tục đăng ký và xác lập quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng và chuyển nhượng tài sản trí tuệ của tổ chức, cá nhân; hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc xác lập, chuyển giao quyền SHCN
Theo quy định trên, Cục SHTT vừa đảm nhiệm chức năng của một cơ quan quản lý nhà nước, vừa là một đơn vị sự nghiệp trực tiếp thực hiện các thủ tục xác lập quyền đối với các đối tượng SHCN là nhãn hiệu nói chung và thủ tục xác lập quyền SHCN đối với NHTT nói riêng
1.3.2.2 Cơ quan thực thi bảo vệ quyền SHCN đối với NHTT
Cơ quan thực thi quyền SHCN đối với NHTT là cơ quan được nhà nước giao quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền SHCN đối với NHTT khi bị xâm phạm Nhiệm vụ của các cơ quan thực thi quyền SHCN đối với NHTT gồm:
- Kiểm tra, kiểm soát hàng hóa lưu thông trên thị trường và xử phạt các hành vi vi phạm về SHCN và cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến NHTT