1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt Động Trợ Giúp Pháp Lý Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

159 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đóng góp mới về khoa học của luận án Luận án dựa trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học về cùng chủ đề đã được thực hiện trong thời gian vừa qua ở tr

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT KHOA

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIỆT KHOA

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 9 38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS PHAN TRUNG LÝ

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận án này bảo đảm độ chính xác và trung thực Những kết luận khoa học trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả, chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả Luận án

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án 8

1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu đề tài luận án 23

1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 29

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT 33

2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý 33

2.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý 51

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý 63

Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 72

3.1 Thực trạng pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 72

3.2 Thực tiễn thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam 90

3.3 Đánh giá chung về thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam 104

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 113

4.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay 113

4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay 119

KẾT LUẬN 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTV QPPL NNPQ TGPL TGVPL TTHS UBND XHCN

: Cộng tác viên : Quy phạm pháp luật : Nhà nước pháp quyền : Trợ giúp pháp lý : Trợ giúp viên pháp lý : Tố tụng hình sự : Ủy ban nhân dân : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là một loại hình dịch vụ công trong xã hội hiện đại, trợ giúp pháp lý (TGPL) là trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho các nhóm đối tượng nhất định nhằm hỗ trợ họ tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển trên thế giới, dịch vụ TGPL đã tồn tại từ ngay sau thế chiến thứ II và được triển khai với các mô hình khác nhau, tương đối đa dạng Ở Việt Nam, hệ thống TGPL được xây dựng từ năm 1997, chính thức từ sau Quyết định số 734/1997/TTg ngày 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Sau nhiều năm thực hiện công tác TGPL, chúng ta đã từng bước đưa hoạt động TGPL vào nề nếp, hướng tới thể hiện rõ tính nhân văn của một xã hội văn minh Trên phương diện thể chế, Việt Nam đã ban hành Luật Trợ giúp pháp

lý năm 2006 và Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018) cùng với các văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành 2 luật nói trên Trên cơ sở đó, về mặt tổ chức, hệ thống cơ quan TGPL của nhà nước đã được hình thành từ trung ương (Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư Pháp) đến các địa phương (Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư Pháp các tỉnh, thành) Về mặt hoạt động, chất lượng hoạt động tư pháp nói chung, chất lượng hoạt động TGPL nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng Các tổ chức trợ giúp pháp lý

đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc giúp đỡ pháp lý cho đông đảo người nghèo, các đối tượng chính sách và một số đối tượng khác, đồng thời trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu được tư vấn, giúp đỡ về pháp luật miễn phí cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách và các đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương Qua đó, hoạt động TGPL đã có đóng góp quan trọng vào

sự phát triển và trưởng thành của ngành Tư pháp và sự nghiệp đổi mới của đất

Trang 7

nước, góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động TGPL còn bộc lộ nhiều vướng mắc cả

về nội dung thể chế và thực tiễn áp dụng thể chế Một số quy định pháp luật về TGPL chưa thực sự phù hợp, các chủ trương, chính sách TGPL chưa thực sự đi vào đời sống, các hình thức và phương pháp TGPL chưa đạt hiệu quả cao, các quyền con người và khả năng tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật của các đối tượng được TGPL chưa được bảo đảm như kỳ vọng của xã hội Đặc biệt, từ năm 2010 do các nguồn hỗ trợ từ các Dự án bị cắt giảm nên tại các địa phương, hoạt động trợ giúp pháp lý gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đối với các hình thức TGPL lưu động, tập huấn truyền thông, sinh hoạt Câu lạc bộ…

Điều này – đến lượt nó, lại có nguyên nhân từ những bất cập trong nhận thức lý luận và những lúng túng chưa được tháo gỡ trong xây dựng pháp luật và thực tiễn triển khai các hoạt động TGPL cụ thể Cho đến nay, một số vấn đề liên quan đến phạm vi đối tượng TGPL, phạm vi dịch vụ TGPL, cách thức tổ chức hệ thống TGPL, khả năng và mức độ xã hội hóa hoạt động TGPL, các hình thức và phương pháp TGPL, huy động nguồn lực cho TGPL …làm sao cho tối ưu nhất với điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn luôn là những chủ đề còn nhiều dư địa để nghiên cứu, trao đổi, tranh luận và đào sâu thêm nhằm đem lại hiệu quả và tác động tích cực nhất cho hoạt động TGPL

Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống cả khía cạnh nhận thức lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi hoạt động TGPL nhằm tạo lập luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống TGPL ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết,

có tính thời sự cấp bách Đây chính là nhận thức xuất phát điểm cho việc nghiên

cứu sinh lựa chọn đề tài “ Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam

Trang 8

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục tiêu tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, làm sáng tỏ nhận thức lý luận về hoạt động TGPL và yêu cầu điều chỉnh pháp luật về hoạt động TGPL hiện nay

- Khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động TGPL và thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay Chỉ rõ những ưu điểm, thành công, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng

- Nhận diện những vấn đề pháp lý và thực tiễn đang đặt ra đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

- Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người, chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước ta và tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các quan điểm khoa học về hoạt động TGPL

- Quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Thực tiễn tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Kinh nghiệm của một số quốc gia trong xây dựng mô hình TGPL và triển khai hoạt động TGPL

Trang 9

nguyện trong cung cấp dịch vụ pháp lý cho các đối tượng trong xã hội với đặc trưng là người thực hiện dịch vụ có năng lực thực hiện sự hỗ trợ, giúp đỡ miễn phí về mặt pháp lý nhưng bản thân họ không được hưởng bất cứ khoản thù lao nào cũng có thể được xem là một loại hình của TGPL

Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp, TGPL chủ yếu là trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng thuộc chính sách

hỗ trợ của nhà nước và được tiến hành bởi các chủ thể, nội dung, hình thức và phương pháp theo luật định Theo nghĩa này, nhà nước có thể chuyển giao một

số hoạt động TGPL cho xã hội thực hiện (xã hội hóa TGPL) nhưng trách nhiệm bảo đảm nguồn tài chính chi trả cho việc cung cấp các dịch vụ pháp lý cho những người phải đối mặt với pháp luật nhưng không có khả năng trả phí dịch

vụ vẫn chủ yếu thuộc về nhà nước Gánh nặng ngân sách nhà nước trong chi trả cho hoạt động TGPL có thể được giảm thiểu bởi khả năng huy động và tự nguyện bảo đảm nguồn kinh phí cung cấp dịch vụ pháp lý của các tổ chức xã hội tham gia hoạt động TGPL

TGPL bao gồm cả phương diện hệ thống tổ chức TGPL và phương diện các hoạt động TGPL cụ thể Vì vậy, có thể tiếp cận nghiên cứu tổng thể, đồng thời về tổ chức và hoạt động TGPL, hoặc cũng có thể đi sâu nghiên cứu từng mảng vấn đề về

tổ chức hay về hoạt động TGPL và đặt chúng trong mối liên hệ với nhau

Trong khuôn khổ của luận án tiến sĩ luật học, luận án triển khai nghiên cứu TGPL theo nghĩa hẹp, tập trung làm rõ các khía cạnh lý luận, pháp luật và thực tiễn về TGPL do chủ thể là các cơ quan nhà nước tiến hành Ở mức độ nhất định, luận án đề cập vấn đề xã hội hóa TGPL như một xu hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay Luận án – như chủ đề đã xác định - sẽ dành phần lớn dung lượng để làm sáng tỏ khía cạnh hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam Hệ thống tổ chức TGPL và công tác quản lý nhà nước về TGPL cũng sẽ được đề cập trong luận án trong phạm vi những khía cạnh có liên quan đến hoạt động TGPL nhưng không thuộc đối tượng nghiên cứu chính của luận án

Trang 10

- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu dựa trên số liệu, thông tin phản ánh

thực trạng hoạt động TGPL trên địa bàn cả nước, đồng thời có chú trọng nghiên cứu điển hình tại một số địa bàn thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ

- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động TGPL từ khi ban hành

Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách đến nay và dựa trên số liệu khảo sát thực tế trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

TGPL là một trong những vấn đề xã hội - pháp lý rất quan trọng và phức tạp của đời sống xã hội hiện đại Vì vậy, để đảm bảo tính khoa học và tính chính trị - xã hội của kết quả nghiên cứu, luận án được triển khai dựa trên phương pháp luận sau:

- Các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền lực nhân dân, quyền con người, về nhà nước và pháp luật và về mối quan hệ giữa nhà nước, cá nhân,

xã hội trong các thể chế chính trị khác nhau

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, nhân quyền và về tính chất phục vụ của nhà nước, đặc biệt là các quan điểm của Người trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân chủ, đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo đoàn kết dân tộc trong xây dựng và phát triển đất nước

- Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện cách nhìn nhận các vấn đề liên quan đến quyền con người và quyền công dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển bền vững đất nước

- Nguyên lý phổ biến về chủ quyền nhân dân, quyền con người, xã hội công dân, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân (Học thuyết Khế ước xã hội, Học thuyết Quyền con người, Học thuyết Nhà nước phúc lợi chung, )

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng bao quát trong tất cả các chương, mục của luận án để phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến chủ đề luận án

Trang 11

- Phương pháp cấu trúc hệ thống: được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và

3 của luận án nhằm nhận diện và đánh giá sự vận hành của các yếu tố thuộc mô hình hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và 4 của luận án để làm sáng tỏ các mô hình pháp lý về hoạt động TGPL ở các quốc gia trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

- Phương pháp thống kê: được sử dụng trong chương 1 và 3 của luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực trạng hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Phương pháp xã hội học: được sử dụng trong chương 2, 3, 4 của luận án nhằm tìm hiểu mối liên hệ nền tảng của mô hình hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Phương pháp lịch sử: được sử dụng chủ yếu trong chương 3 nhằm nhận diện các đặc điểm và các bước tiến trong nhận thức và hiện trạng của hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Phương pháp dự báo khoa học: được sử dụng chủ yếu trong chương 4 nhằm

dự báo về các yêu cầu và xu hướng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án dựa trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học về cùng chủ đề đã được thực hiện trong thời gian vừa qua ở trong nước

và nước ngoài, đồng thời luận án có những phát hiện, luận giải và đóng góp mới

về mặt khoa học, thể hiện trên những điểm sau:

- Hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu về hoạt động TGPL theo pháp luật Trên cơ sở đó, luận án phát hiện những vấn đề lý luận, thực tiễn về hoạt động TGPL cần tiếp tục nghiên cứu, chỉ rõ hướng đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

- Đưa ra quan niệm về TGPL và hoạt động TGPL, xác định các đặc điểm của TGPL, nêu và luận giải vai trò của hoạt động TGPL

- Phân tích đầy đủ, toàn diện các khía cạnh lý luận và nhu cầu điều chỉnh pháp luật về chủ thể, đối tượng, nội dung, các hình thức hoạt động TGPL

Trang 12

- Làm rõ nội dung và khả năng ảnh hưởng của một số yếu tố đến hiệu quả hoạt động TGPL

- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn triển khai các hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam Đánh giá các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế trong hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

- Xác định các quan điểm mang tính chất định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hiện thực hóa các quan điểm nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam Các giải pháp liên quan đến nâng cao nhận thức, hoàn thiện pháp luật và triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý 2017, điều chỉnh mô hình TGPL, xây dựng nguồn nhân lực TGPL, xã hội hóa hoạt động TGPL, phát hiện nhu cầu TGPL và nâng cao ý thức pháp luật của người dân … đều có tính mới và khả thi

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần chuẩn hóa nhận thức lý luận về hoạt động TGPL, tạo nền tảng tiếp tục hoàn thiện pháp luật về TGPL, nâng cao trách nhiệm của nhà nước

và xã hội trong thực hiện dịch vụ pháp lý, thúc đẩy các hoạt động TGPL, qua đó củng cố những giá trị nhân văn của xã hội Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được áp dụng trong xây dựng các phương án lập pháp liên quan đến TGPL ở Việt Nam, ứng dụng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tổ chức TGPL từ trung ương đến địa phương Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và đào tạo thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý và khoa học quyền con người

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận

án được kết cấu thành 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra về đề

tài luận án

Chương 2: Những vấn đề lý luận về hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Chương 3: Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp

pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án

TGPL là một trong những chính sách xã hội hết sức quan trọng của Đảng

và Nhà nước ta cũng như của các quốc gia trên thế giới, gắn liền với nhận thức ngày càng đầy đủ, rõ nét hơn về dân chủ, nhân quyền trong xã hội đương đại Điều này tạo ra niềm hứng khởi cho nhiều nhà nghiên cứu khi lựa chọn chủ đề nghiên cứu Theo đó, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu với các quy mô lớn, nhỏ đã được triển khai và công bố dưới các hình thức ấn phẩm có liên quan ở các

mức độ khác nhau đến đề tài luận án Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật

Việt Nam hiện nay

Về cơ bản, có thể tìm hiểu nội dung các công trình nghiên cứu trên các khía cạnh sau:

1.1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của đề tài luận án

Hầu như trong tất cả các công trình liên quan đến chủ đề TGPL đều dành một nội dung quan trọng để làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận về TGPL và điều chỉnh pháp luật về TGPL, xem đó là tiền đề nhận thức để đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam, cũng như đưa ra các kiến nghị nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay

Ở trong nước, có thể điểm danh một số công trình tiêu biểu như:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2004), Luận cứ khoa học và thực tiễn xây

dựng pháp lệnh trợ giúp pháp lý do Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp)

phối hợp với Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư Pháp) thực hiện Đây gần như là công

trình nghiên cứu đầu tiên có quy mô lớn, nội dung phong phú, đề cập nhiều vấn đề, được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, hướng trực diện vào việc phục vụ xây dựng Pháp lệnh về TGPL ở Việt Nam Trong Báo cáo phúc trình, đề tài

Trang 14

đã dành một phần quan trọng để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc xây dựng Pháp lệnh TGPL Nhiều vấn đề đã được đặt ra phân tích như: quan niệm về TGPL; nhu cầu TGPL; đặc điểm cơ bản về tổ chức và hoạt động TGPL; nhu cầu điều chỉnh pháp luật và tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Pháp lệnh TGPL ở Việt Nam hiện nay Như vậy, mặc dù phúc đáp mục tiêu luận giải cho sự cần thiết ban hành một văn bản pháp điển cụ thể về TGPL ở Việt Nam nhưng đề tài đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, đạt được thành công trong việc bước đầu cung cấp cách hiểu cơ bản nhất

về TGPL và điều chỉnh pháp luật về TGPL tương thích với điều kiện cụ thể của Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2015), Luận cứ khoa học và thực tiễn sửa

đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý, do Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý (Bộ Tư

pháp) là cơ quan chủ trì và Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư Pháp) là đơn vị thực hiện

Đề tài triển khai trong bối cảnh Luật Trợ giúp pháp lý (2006) đã bộc lộ những bất cập chỉ sau gần 10 năm triển khai và xuất hiện những yêu cầu mới của việc tăng cường bảo đảm quyền con người, nâng cao trách nhiệm của Nhà nước theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế, bất cập của Luật Trợ giúp pháp lý 2006 là do vào thời điểm ban hành Luật, chúng ta chưa có được nhận thức rõ về bản chất, yêu cầu của hoạt động TGPL, vì vậy chưa nhận diện đầy đủ về phạm vi, phương pháp điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam Nhằm khắc phục những khiếm khuyết đó,

Đề tài đã dành một dung lượng đáng kể trong phần 1 của Báo cáo Tổng hợp để trở lại làm rõ những vấn đề như: Lịch sử hình thành và phát triển TGPL; bản chất, khái niệm TGPL; quyền được TGPL và người được TGPL; yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động TGPL và trách nhiệm của nhà nước trong xây dựng pháp luật, triển khai hoạt động TGPL Có thể nói, những khía cạnh lý luận được đề cập trong đề tài này là một bước tiến đáng kể cả về phạm vi nội dung cũng như chiều sâu của nhận thức so với đề tài cấp Bộ về cùng chủ đề này và do chính cơ quan chủ trì và cơ quan thực hiện tiến hành vào năm 2004

Trang 15

- Đề án cấp Bộ (2014) Nghiên cứu mô hình trợ giúp pháp lý trong xu hướng

xã hội hóa dịch vụ công, do TS Dương Thanh Mai – chuyên gia cao cấp của Bộ

Tư pháp làm chủ nhiệm Đề án có mục tiêu tìm kiếm phương án xây dựng mô hình TGPL trong bối cảnh xã hội hóa dịch vụ công, vì vậy khía cạnh lý luận của

đề án hướng trọng tâm vào việc đưa ra quan niệm về TGPL, xem xét nhu cầu xã hội hóa dịch vụ công, tính tất yếu cần chuyển đổi mô hình TGPL theo hướng xã hội hóa hoạt động TGPL, nghiên cứu xu hướng vận động và mô hình các yếu tố

xã hội hóa TGPL của một số quốc gia trên thế giới, bối cảnh ở Việt Nam tác động đến mô hình TGPL theo hướng xã hội hóa Như vậy, nội dung nghiên cứu lý luận của Đề án gắn sát với định hướng hoạt động TGPL ở Việt Nam và tạo cơ sở nền tảng cho việc thay đổi mô hình điều chỉnh pháp luật về hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

- Sách “Quyền con người“ do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, xuất bản năm

2011 Đây là cuốn sách trình bày một cách hệ thống những kiến thức cơ bản nhất về quyền con người Ngoài những vấn đề chung về lý luận và lịch sử quyền con người, cuốn sách bàn sâu về trách nhiệm của Nhà nước và cơ chế pháp lý bảo đảm, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, đặc biệt trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền của nhóm người dễ bị tổn thương

- Sách “ Luật Quốc tế về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương“ do Khoa

Luật Đại học Quốc gia biên soạn và xuất bản năm 2011 Cuốn sách tập trung làm sáng tỏ các định chế pháp luật và cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền của một nhóm dễ bị tổn thương Mặc dù không trực tiếp đề cập tới hoạt động TGPL và cũng chưa luận bàn về pháp luật quốc gia nhưng trên bình diện tổng thể, cuốn sách

đã đưa ra cách hiểu về nhóm dễ bị tổn thương, luận giải về nhu cầu được bảo đảm, bảo vệ và trợ giúp đối với việc thực hiện quyền của các nhóm dễ bị tổn thương

- Sách “Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại: Lý luận và thực tiễn“ do

PGS.TS Thái Vĩnh Thắng công bố ( bản tái bản năm 2010 tại NXB Tư pháp) Cuốn sách đề cập nhiều vấn đề liên quan đến chức năng của Nhà nước và pháp

luật tư sản đương đại, trong đó có dành Chương XII trình bày về Nghề luật sư và

Trang 16

Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của một số nhà nước Tư sản Tại chương này,

vai trò và phạm vi hoạt động của luật sư trong lĩnh vực TGPL được tác giả nghiên cứu như một kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam Mục tiêu

đó được tác giả khởi đầu bằng việc nhận diện một số khía cạnh lý luận có liên quan đến khái niệm TGPL, đặc thù hoạt động của luật sư trong lĩnh vực TGPL

- Báo cáo Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về trợ giúp pháp lý do nhóm

chuyên gia của Bộ Tư pháp thực hiện năm 2015 Trong quá trình khảo sát hoạt động TGPL ở một số nước, Báo cáo đã tập hợp một số khái niệm về TGPL của các Tổ chức quốc tế (Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của Liên Hợp Quốc – UNODC), của các quốc gia (Hàn Quốc, Trung Quốc, Hà Lan ) và của một số cá nhân các nhà hoạt động nhân quyền, các nhà nghiên cứu luật học Báo cáo cũng đã nhận diện nhiều khái niệm liên quan như: dịch vụ pháp lý miễn phí, người được TGPL, người thực hiện TGPL, các mô hình TGPL, hình thức và lĩnh vực TGPL Đây là những nội dung nghiên cứu có đóng góp rất quan trọng trong bối cảnh nhận thức lý luận về TGPL ở Việt Nam đang có nhiều khoảng trống khi tiến hành xây dựng mô hình điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động TGPL

- Trong thời gian vừa qua, có một số lượng đáng kể các bài báo khoa học được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành đã tập trung giải mã một hoặc một vài vấn đề lý luận về TGPL nói chung, điều chỉnh pháp luật về TGPL nói riêng

Có thể kể đến một số bài báo của tác giả Tạ Thị Minh Lý như: Bàn về khái niệm

trợ giúp pháp lý, Tạp chí nhà nước và pháp luật (2005); Khái niệm trợ giúp pháp

lý một số vấn đề cần bàn thêm, Đặc san Trợ giúp pháp lý, 2006; Bảo đảm quyền con người cho người nghèo trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Tạp chí nghiên cứu

lập pháp (2009); Bài báo của tác giả Phan Thị Thu Hà, Trợ giúp pháp lý – quan

niệm và mô hình ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

5/2006; bài báo của tác giả Lê Quang Kiêm, Xã hội hóa hoạt động TGPL cho

người nghèo và đối tượng chính sách, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên

đề tháng 11/2010…Ngoài ra, một số bài báo khoa học đi theo hướng tìm hiểu

Trang 17

kinh nghiệm nước ngoài về TGPL như: bài viết“Kinh nghiệm đảm bảo chất

lượng trợ giúp pháp lý ở Vương quốc Anh” của tác giả Dương Quang Long công

bố trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 10/2009; một số bài

viết công bố trên Cổng thông tin của Cục trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp :“Trợ

giúp pháp lý ở Canada: Luật sư công làm việc hiệu quả hơn”; “Trợ giúp pháp lý

ở Phần Lan”; “Trợ giúp pháp lý ở ISRAEL”; “Trợ giúp pháp lý ở Phần Lan”…

Từ kết quả nghiên cứu, các bài viết này đã cho thấy sự đa dạng trong quan niệm

về TGPL, người được TGPL, người thực hiện TGPL, mô hình thực hiện TGPL

và nhu cầu điều chỉnh pháp luật về TGPL

- Các luận án tiến sĩ tiếp cận từ góc độ của khoa học pháp lý có chủ đề đa dạng gắn với lĩnh vực TGPL, tuy có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đều dành một nội dung quan trọng luận bàn một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động TGPL Đáng lưu ý là: Luận án tiến sỹ Luật học của Tạ Thị

Minh Lý (bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội, 2008) với chủ đề: Điều chỉnh pháp

luật về Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới Bản luận án dành

chương 1 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam Tại chương này, luận án đã đưa ra quan niệm về TGPL, phân tích các đặc điểm, vai trò, yêu cầu của TGPL, phạm vi nội dung và hình thức của điều chỉnh pháp luật về TGPL Ở mức độ nhất định, luận án cũng đề cập các yếu tố tác động đến điều chỉnh pháp luật về TGPL và các tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện của điều chỉnh pháp luật về TGPL trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam; Luận án tiến sỹ Luật học của Nguyễn Văn Tùng (Bảo vệ tại Học viện

Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007) với chủ đề Quản lý nhà

nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay

Trong luận án, tác giả đã dành dung lượng cần thiết cho việc làm sáng tỏ khái niệm TGPL, các phương diện của hoạt động TGPL và nhu cầu sử dụng pháp luật

để quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL; Luận án tiến sỹ Luật học của Nguyễn Huỳnh Huyện (Bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh năm 2012), với chủ đề Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong

Trang 18

điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Hướng tới mục tiêu khảo

sát và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL, luận án đi từ việc trình bày quan điểm của tác giả về cấu trúc nội hàm khái niệm TGPL, đưa ra định nghĩa về TGPL và thực hiện pháp luật về TGPL, phân tích đặc điểm, hình thức và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật TGPL trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Trong luận án, nhiều quan điểm khoa học liên quan đến các vấn đề nói trên đã được tổng hợp và luận bàn, giúp hình dung được bức tranh tổng quan về trạng thái nhận thức lý luận về TGPL ở giai đoạn trước khi Luật Trợ giúp pháp lý được sửa đổi, bổ sung

- Trong thời gian gần đây, hướng nghiên cứu ứng dụng trong điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động TGPL được nhiều học viên cao học triển khai tại các không gian nghiên cứu hoặc đối tượng nghiên cứu cụ thể Mặc dù trọng tâm chính của các bản luận văn là phát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn để đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức, mở rộng phạm vi xã hội hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL …nhưng ở các mức độ khác nhau, các luận văn đều xuất phát từ việc hệ thống các quan điểm lý luận về TGPL, đưa ra cách hiểu về TGPL, phân tích nội dung hoạt động TGPL, xác định vai trò chế định hóa của pháp luật và làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan đối với

hoạt động TGPL Trong số đó, có thể kể đến Luận văn thạc sĩ luật học Hoạt

động trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo của Lê Thị Thúy tại

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012,; Luận văn thạc sỹ luật học Pháp

luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác của Hoàng Thị Liên tại Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; Luận

văn thạc sĩ luật học Trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Sóc Trăng của Hồ Minh Hải tại Học viện Khoa học xã hội, 2014; Luận văn thạc sĩ luật học Tổ chức và

hoạt động của trung tâm trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Gia Lai của Nguyễn

Thị Mộng Điệp tại Học viện Khoa học xã hội, 2017; Luận văn thạc sĩ luật học

Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận của Ngô

Văn Phát tại Học viện Khoa học xã hội, 2017;

Trang 19

Ở nước ngoài, phương diện nghiên cứu lý luận về hoạt động TGPL được

đẩy mạnh ở một số quốc gia có TGPL phát triển (Anh, Đức, Ấn Độ, Hà Lan, Singapore ), chiếm một dung lượng lớn trong những công trình nghiên cứu

chuyên khảo như: Các phương thức đa dạng trong cung ứng dịch vụ pháp luật

và Trợ giúp pháp lý ở Hồng Kông do Hội đồng dịch vụ trợ giúp pháp lý xuất bản năm 2006; Vấn đề đói nghèo và trợ giúp pháp lý – Tiếp cận công lý Tư pháp

hình sự của TS S.Muralidhar (Ấn Độ); Lý luận và thực tiễn về chế độ trợ giúp pháp lý ở Trung Quốc của GS.Nghiêm Quốc Hưng (Trung Quốc)….Ngoài ra,

nghiên cứu lý luận về TGPL còn được tiến hành lồng ghép trong một số công

trình mang tính giải thích cho một số văn bản chính trị - pháp lý như: Dự thảo

Luật mẫu về trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan phòng

chống tội phạm và ma túy của Liên Hợp quốc (UNODC) chủ trì soạn thảo Thậm chí, nhiều khía cạnh lý luận về TGPL như: khái niệm TGPL, bản chất của TGPL, các hình thức TGPL, người được TGPL, người thực hiện TGPL, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của TGPL, tính chất miễn phí và mức độ huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động TGPL còn được làm sáng tỏ trong các công trình bình luận, giải thích các văn bản pháp luật ở nhiều nước trên thế giới (Luật TGPL Slovenia năm 2001; Luật TGPL Hàn Quốc; Điều lệ Tổng công ty TGPL Hàn Quốc; Luật TGPL Phần Lan năm

2002; Luật Trợ pháp lý của Nhà nước của Cộng hoà Lít-va năm 2005)

1.1.2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của đề tài luận án

Ở trong nước, từ góc tiếp cận của khoa học pháp lý, khía cạnh thực tiễn

của hoạt động TGPL thường được nhìn nhận và triển khai nghiên cứu trên hai bình diện: (1) Thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam và (2) Thực tiễn thực hiện hoạt động TGPL ở Việt Nam Điều này dễ nhận thấy trong hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề TGPL ở Việt Nam:

- Trước hết, hai đề tài cấp Bộ đã nêu ở trên do Viện Khoa học pháp lý – Bộ

tư pháp chủ trì, Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ tư pháp thực hiện (năm 2004 và năm 2015) đều dành phần 2 trong Báo cáo phúc trình để tổng kết thực tiễn điều chỉnh pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động TGPL Những vấn đề được đề cập

Trang 20

bao gồm: quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về TGPL; thực trạng pháp luật thực định về TGPL hiện nay; thực tiễn áp dụng pháp luật về TGPL; và trên cơ sở đó đưa ra đánh giá chung về những kết quả và hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về TGPL trong thời gian qua Đáng lưu ý hơn,

đề tài cấp Bộ Luận cứ khoa học và thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý

(2015) đã đi sâu vào mô tả, phân tích toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL trong giai đoạn từ khi ban hành Luật trợ giúp pháp lý (2006) theo 07 nội dung: (1) thực trạng tổ chức thực hiện TGPL; (2) thực trạng hoạt động TGPL lý; (3) hiệu quả công việc của đội ngũ người thực hiện TGPL; (4)cơ quan quản lý về TGPL; (5) người được TGPL; (6) quy trình thực hiện TGPL; (7) kinh phí thực hiện TGPL theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 Đề tài đưa ra được một số nhận định rất khách quan và mang tính thuyết phục về các vấn đề như: hạn chế, bất cập của Luật Trợ giúp pháp lý hiện hành và các văn bản hướng dẫn; thực tiễn triển khai công tác TGPL rong xã hội hiện nay nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Cùng với nhận thức mới về lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài trên phương diện thực tiễn đã được Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp ứng dụng ngay vào quá trình đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 theo các vấn đề như: sửa đổi khái niệm TGPL,

mô hình tổ chức TGPL, quy định về người thực hiện TGPL; bổ sung nguyên tắc hoạt động TGPL; về người được TGPL; quy trình thực hiện TGPL,…

- Tiếp cận từ góc độ xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý, Đề án cấp Bộ

Nghiên cứu mô hình trợ giúp pháp lý trong xu hướng xã hội hóa dịch vụ công do TS

Dương Thanh Mai làm chủ nhiệm đã đưa ra những thông tin có được do kết quả khảo sát về mặt thực tiễn trên các bình diện: (1) Thực trạng nhu cầu TGPL của các đối tượng thuộc diện được hưởng TGPL; (2) Thực trạng các tổ chức thực hiện TGPL của nhà nước; (3) Thực trạng đội ngũ người thực hiện TGPL; (4) Kết quả hoạt động TGPL miễn phí của nhà nước; (5) Kinh phí thực hiện TGPL miễn phí của nhà nước; (6) Thực trạng hoạt động TGPL của các chủ thể ngoài nhà nước (TGPL xã hội) và quan hệ với xã hội hóa hoạt động TGPL nhà nước

Trang 21

- Thực trạng pháp luật về TGPL ở Việt Nam được trình bày tập trung hơn

trong Báo cáo tổng hợp Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng

hoàn thiện do nhóm nghiên cứu thực hiện dưới sự chủ trì của TS Ngô Đức Mạnh và

sự hỗ trợ kỹ thuật của UNDP tài trợ cho Bộ Tư pháp trong khuôn khổ Dự án VIE/02/2015 (Hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010) Báo cáo nghiên cứu này đã xem xét một cách đồng bộ các mặt được và chưa được trong khuôn khổ chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật về TGPL cũng như các quy định khác có liên quan Kế tiếp hướng đánh giá này, những hạn chế, bất cập của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 tiếp tục được nhấn mạnh trong

Báo cáo tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL được tổng kết tương đối đầy đủ

trong công trình nghiên cứu chuyên khảo Báo cáo tổng kết 08 năm thi hành Luật

Trợ giúp pháp lý do Bộ Tư pháp thực hiện vào tháng 6/2016 (Báo cáo số

158/BC/BTP ngày 30/6/2016) Mặc dù được thực hiện trong quy mô Báo cáo nhưng công trình này thực sự chứa đựng hàm lượng khoa học cao, cho phép hình dung bức tranh thực trạng đa chiều, nhiều màu sắc, nhiều khoảng sáng, tối về TGPL Báo cáo đưa ra những thông tin về kết quả đạt được liên quan đến công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế để triển khai thi hành Luật; thực tiễn tổ chức quán triệt, truyền thông để nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về pháp luật TGPL; thực trạng tổ chức thực hiện rõ nét và người thực hiện rõ nét; thực trạng công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện rõ nét; chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạt động rõ nét Báo cáo cũng cung cấp các số liệu cụ thể về kết quả thực hiện các vụ việc TGPL; công tác phối hợp trong TGPL; công tác hợp tác quốc tế về TGPL Báo cáo đặc biệt chú ý phát hiện những hạn chế bất cập trong quy định của Luật và trong triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, đồng thời chỉ ra các nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong 8 năm triển khai Luật Trợ giúp pháp lý, bao gồm các nguyên nhân khách

Trang 22

quan và các nguyên nhân chủ quan Ở mức độ nhất định, Báo cáo cũng chỉ ra một số kinh nghiệm trong điều chỉnh và thi hành Luật Trợ giúp pháp lý 2006

- Trong hầu hết các công trình nghiên cứu về TGPL được công bố dưới hình thức ấn phẩm là sách chuyên khảo đều bao gồm một nội dung quan trọng nghiên cứu thực tiễn tổ chức và hoạt động về TGPL ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, một số sách chuyên khảo xác định mục tiêu chủ đạo là yêu cầu nghiên

cứu trực diện các vấn đề thực tiễn TGPL ở Việt Nam Điển hình là: Cuốn 10

năm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hướng phát triển do Cục Trợ giúp

pháp lý – Bộ Tư pháp ấn hành năm 2008; Cuốn: Cẩm nang tổ chức thực hiện

Trợ giúp pháp lý do Cục Trợ giúp pháp lý- Bộ Tư pháp biên soạn năm 2009;

- Nghiên cứu thực tiễn tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong những nghiên cứu đơn lẻ và thường được công bố dưới hình thức là các bài báo khoa học Phạm vi và đối tượng nghiên cứu theo hướng này rất đa dạng và cụ thể với giá trị ứng dụng cao Điều

này có thể nhận thấy qua sự thống kê sơ lược, mang tính điển hình sau: Trợ giúp

pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hòa Bình của Đinh Thị Oanh, Tạp chí

Dân chủ và Pháp luật số 8/2008; Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công

dân của TS Hoàng Văn Nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15, tháng

8/2009; Chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý của TS Tạ Thị Minh Lý, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13, tháng 7/2009; Xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp

lý cho người nghèo và đối tượng chính sách của Lê Quang Kiêm, Tạp chí Dân

chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 11/2010; Hòa giải trong hoạt động trợ giúp

pháp lý của Nguyễn Huỳnh Huyện, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề

về trợ giúp pháp lý năm 2010; Khi luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý với hình

thức tham gia tố tụng của Lê Nguyễn Kim Hoàng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật số chuyên đề tháng 6/2011; Hình thức tư vấn pháp luật trong trợ giúp pháp

lý” của tác giả Đào Thị Anh Tuyết, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề

tháng 6/2011; Sau năm năm thực hiện Luật trợ giúp pháp lý ở Quảng Bình của

Trần Tiến Hải, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 3/2012;…

Trang 23

Ngoài ra, có nhiều bài viết cung cấp các thông tin về thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam, được trình bầy trong kỷ yếu của nhiều cuộc Hội thảo khoa

học do Cục Trợ giúp pháp lý – Bộ Tư pháp tổ chức như: Hội thảo Sơ kết 05 năm

thi hành Luật Trợ giúp pháp lý (2011); Hội thảo Lấy ý kiến góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 07/2007/NĐ-CP (2012); Hội thảo Về định hướng đổi mới công tác TGPL (2013); Hội nghị Tổng kết 08 năm thi hành Luật TGPL

(2015); Hội thảo định hướng xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi

(2015)….Mặc dù chưa được công bố chính thức trên các Tạp chí chuyên ngành nhưng lượng thông tin do các bài viết nói trên phản ánh hàm lượng khoa học đậm đặc và là nguồn tư liệu vật chất rất quan trọng cần được tham khảo khi triển khai

các nghiên cứu tiếp theo về hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay

- Trong thời gian gần đây, các luận án, luận văn trong lĩnh vực khoa học pháp lý thường lựa chọn chủ đề gắn với thực tiễn để tăng cường tính ứng dụng của công trình nghiên cứu Theo đó, các luận án nghiên cứu về TGPL ở Việt Nam đều dành chương 2 hoặc chương 3 để luận bàn về khía cạnh thực tiễn TGPL (thực tiễn pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật) với những mức độ khảo sát và đánh giá khác nhau Chuyên sâu theo hướng này phải kể đến: Luận

án Tiến sỹ Luật học Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong

điều kiện đổi mới của Tạ Thị Minh Lý thực hiện năm 2008 trong đó tác giả dành

chương 2 để phân tích các đặc điểm và yêu cầu TGPL đặc thù của Việt Nam, mô

tả, đánh giá quá trình xây dựng và thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với TGPL

ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành; Luận án Tiến

sỹ Luật học Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện xây dựng

nhà nước pháp quyền ở Việt Nam của Nguyễn Huỳnh Huyện thực hiện năm

2012, với điểm nhấn thuộc về chương 3 bao quát nội dung thực trạng pháp luật

về TGPL và đi sâu phân tích thực tiễn triển khai các hình thức, nội dung thực

hiện pháp luật về TGPL ở Việt Nam

Như đã nêu ở trên, phần lớn các luận văn về TGPL đều lựa chọn nghiên cứu trong một không gian xác định hay một đối tượng cụ thể Thống kê cho thấy

Trang 24

có khoảng 20 luận văn thạc sĩ (được bảo vệ tập trung ở Học viện Khoa học xã hội, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đi theo định hướng này Do vậy, khối lượng thông tin và những ý kiến nhận xét xuất phát từ góc nhìn thực tiễn rất phong phú và đa chiều Khía cạnh này chiếm dung lượng chủ đạo trong các luận văn sau: Luận văn thạc sĩ luật học

Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở của Đặng Thị Loan tại khoa Luật trường Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2009; Luận văn thạc sĩ luật học Trợ giúp pháp lý từ thực

tiễn tỉnh Sóc Trăng của Hồ Minh Hải tại Học viện Khoa học xã hội, 2014; Luận

văn thạc sĩ luật học Tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý từ

thực tiễn tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Việt Khoa tại Học viện Khoa học xã hội,

2016; Luận văn thạc sĩ luật học Tổ chức và hoạt động của trung tâm trợ giúp

pháp lý từ thực tiễn tỉnh Gia Lai của Nguyễn Thị Mộng Điệp tại Học viện Khoa

học xã hội, 2017; Luận văn thạc sĩ luật học Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp

lý từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận của Ngô Văn Phát tại Học viện Khoa học xã hội,

2017; Luận văn thạc sĩ luật học Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt

Nam của Phạm Quang Đại.…

- Gắn với nghiên cứu về thực tiễn TGPL ở trong nước, để phục vụ cho quá trình hoàn thiện pháp luật về TGPL, Bộ Tư pháp đã chủ trì một hướng nghiên cứu thực tiễn TGPL ở nước ngoài nhằm tìm kiếm kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về TGPL ở những quốc gia có hoạt động TGPL thành công Kết quả của hướng nghiên cứu này được trình bày tập trung

trong Báo cáo Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về trợ giúp pháp lý do nhóm

chuyên gia của Bộ Tư pháp thực hiện năm 2015 thông qua sự khảo sát thực tiễn của nhiều nước Ngoài ra có thể kể đến một số Báo cáo được thực hiện riêng rẽ trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2015 như: Báo cáo kết quả khảo sát tại Philippines năm 1998; Báo cáo kết quả khảo sát tại Lít-va năm 2004; Báo cáo kết quả khảo sát tại Trung Quốc năm 2004; Báo cáo kết quả khảo sát tại Ailen (2013); Báo cáo kết quả khảo sát tại Hàn Quốc (2013); Báo cáo kết quả khảo sát tại bang Victoria (Úc) (2014); Báo cáo kết quả khảo sát tại Mỹ (2014),

Trang 25

Báo cáo kết quả khảo sát tại Nhật Bản (2015), Báo cáo kết quả khảo sát tại Argentina (2015)…

Ở nước ngoài, mặc dù những vấn đề thực tiễn về hoạt động TGPL ở Việt

Nam được triển khai nghiên cứu rất sôi động ở trong nước, nhưng có khá ít công trình do người nước ngoài triển khai nghiên cứu hoặc được tổ chức nghiên cứu trong không gian nước ngoài Khảo sát của nghiên cứu sinh cho thấy, các nhà nghiên cứu ở nước ngoài chỉ tiếp cận thực tiễn Việt Nam thông qua việc tài trợ

dự án hoặc tham gia với tư cách chuyên gia trong các hoạt động điều tra để khuyến nghị về hoạt động TGPL cho những đối tượng cụ thể ở Việt Nam Trong trường hợp này, thao tác điều tra và ý kiến nhận xét của chuyên gia về TGPL ở Việt Nam cũng giúp nhận diện rõ hơn các khía cạnh thực tiễn của hoạt động TGPL ở Việt Nam, tạo lập được nguồn tư liệu vật chất rất cần thiết cho việc triển khai nghiên cứu toàn diện về TGPL ở Việt Nam Một trong những công trình

điển hình theo hướng này là Báo cáo dự thảo nghiên cứu ngắn hạn về Hỗ trợ

vấn đề trợ giúp pháp lý cho trẻ em và người chưa thành niên ở Việt Nam do Tổ

chức hỗ trợ trẻ em Thụy Điển chủ trì thực hiện năm 2002)

Tình hình thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên khảo do cá nhân các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện về thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam có thể được giải thích bởi mục tiêu ứng dụng của hoạt động nghiên cứu hướng tới phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật Việt Nam hoặc đề xuất mô hình TGPL áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.1.3 Tình hình nghiên cứu và luận giải về các đề xuất, kiến nghị của

đề tài luận án

Các nghiên cứu về TGPL ở Việt Nam đều xuất phát từ yêu cầu tìm kiếm

mô hình TGPL phù hợp, hoàn thiện pháp luật về TGPL, nâng cao chất lượng hoạt động TGPL nhằm phát huy vai trò của nhà nước và xã hội trong bảo đảm quyền con người, quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu của hầu hết các công trình nghiên cứu ở các quy mô khác nhau

Trang 26

đều thể hiện ở các đề xuất, kiến nghị cụ thể cho mục tiêu nói trên Điều này có thể thấy rõ trong các công trình nghiên cứu sau:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2004), Luận cứ khoa học và thực tiễn

xây dựng pháp lệnh trợ giúp pháp lý do Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý (Bộ Tư

pháp) phối hợp với Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư Pháp) thực hiện

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2015), Luận cứ khoa học và thực tiễn

sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý, do Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý (Bộ

Tư pháp) và Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư Pháp) thực hiện

- Đề án cấp Bộ (2014), Nghiên cứu mô hình trợ giúp pháp lý trong xu hướng

xã hội hóa dịch vụ công do TS Dương Thanh Mai – chuyên gia cao cấp của Bộ Tư

pháp làm chủ nhiệm

- Báo cáo tổng hợp Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng

hoàn thiện do nhóm nghiên cứu thực hiện dưới sự chủ trì của TS Ngô Đức Mạnh và

sự hỗ trợ kỹ thuật của UNDP tài trợ cho Bộ Tư pháp trong khuôn khổ Dự án VIE/02/2015 (Hỗ trợ thực thi chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010)

- Một số bài báo khoa học: Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, của tác giả Hằng Vân, Tạp

chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 1/2013; Xã hội hóa hoạt động trợ

giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách của tác giả Lê Quang

Kiêm, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 11/2010; Cần hoàn

thiện thể chế và các giải pháp để hoạt động trợ giúp pháp lý phát triển bền vững

của tác giả Nguyễn Vinh, Tạp chí dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng

11/2010 ; Định hướng phát triển bền vững công tác trợ giúp pháp lý đến năm

2020 của tác giả Đỗ Xuân Lân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề

tháng 3/2012…

- Luận án Tiến sỹ Luật học (2007) của Nguyễn Văn Tùng, Quản lý nhà

nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 27

- Luận án Tiến sỹ Luật học (2008) của Tạ Thị Minh Lý, Điều chỉnh pháp

luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới, Đại học Luật Hà Nội

- Luận văn thạc sỹ Luật học ( 2012) của Nguyễn Bích Ngọc, Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL

- Luận văn thạc sỹ Luật học ( 2014) của Cù Thu Anh, Hoàn thiện pháp luật Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu nói trên đã xác định một số quan điểm tiếp tục hoàn thiện mô hình TGPL, sửa đổi pháp luật TGPL và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL ở Việt Nam Các quan điểm được xác định đều gắn với nhu cầu bảo đảm quyền con người, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển bền vững đất nước, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và nhu cầu hội nhập quốc tế hiện nay, đảm bảo tính tương thích giữa nhu cầu TGPL và các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể ở Việt Nam… Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp, kiến nghị theo các hướng sau:

- Đổi mới nhận thức về tính tất yếu và vai trò của TGPL;

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về TGPL với các đề xuất cụ thể như: nghiên cứu, xây dựng Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi) trình Quốc hội ban hành và triển khai thi hành có hiệu quả sau khi được thông qua; sửa đổi, bổ sung các văn

bản pháp luật về TGPL và các văn bản có liên quan đến TGPL để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; thực hiện rà soát và đề xuất các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi các quy định của pháp luật về tố tụng, giảm nghèo, dịch vụ công… để tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khả thi

- Đổi mới mô hình TGPL ở Việt Nam phù hợp với xu hướng xã hội hóa

dịch vụ công hiện nay với những kiến nghị cụ thể như: phân loại địa bàn và đối

tượng hưởng TGPL để xác định lộ trình hợp lý đổi mới tổ chức thực hiện TGPL theo hướng xã hội hóa; thực hiện rà soát để lồng ghép các chính sách, pháp luật TGPL và các nguồn lực TGPL nhằm tăng tính hiệu quả TGPL; hoàn thiện chính sách, thể chế xã hội hóa công tác TGPL; khơi thông và liên kết các nguồn lực

Trang 28

nhà nước và xã hội để tạo nên một thị trường TGPL thông thoáng cho mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan tham gia

- Đổi mới tổ chức các Trung tâm TGPL, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác TGPL;

- Tăng cường chất lượng hoạt động TGPL thông qua một số kiến nghị cụ thể về tổ chức thực hiện, hình thức, phương pháp thực hiện và mở rộng phạm vi nội dung hoạt động TGPL

- Tăng cường hơn nữa công tác phối hợp, công tác truyền thông, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TGPL, về quyền và nghĩa vụ của người được TGPL, về hệ thống tổ chức thực hiện TGPL sẵn có của Nhà nước để nâng cao nhận thức của cá nhân, cơ quan, tổ chức người dân và các đối tượng được TGPL

- Tạo lập một số điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động TGPL: kinh phí, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, …

1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu đề tài luận án

1.2.1 Nhận xét tổng quát

Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hoạt động trợ

giúp pháp lý theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay cho thấy:

Số lượng các công trình nghiên cứu về chủ đề TGPL tương đối lớn, phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều hướng với các mức độ liên quan khác

nhau đến đề tài Hoạt động trợ giúp pháp lý theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án

Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh lý luận về tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu đánh giá thực trạng hoạt động TGPL đối với một số đối tượng cụ thể hoặc tại một địa bàn

cụ thể Trên cơ sở đó, một số công trình nghiên cứu đã dành sự quan tâm tới việc

đề xuất các giải pháp, trong đó có các giải pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL ở nước ta hiện nay Đây là kết quả có thể kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài luận án

Trang 29

Tổng quan tình hình nghiên cứu cũng cho thấy nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài luận án còn bị bỏ ngỏ hoặc chưa được triển khai một cách có hệ thống và toàn diện, mới chủ yếu hướng vào phục vụ những nhiệm vụ thời sự của khoa học pháp lý Giai đoạn trước khi ban hành Luật Trợ giúp pháp lý 2006, các nghiên cứu tập trung luận giải nhu cầu pháp điển hóa lĩnh vực pháp luật TGPL Từ sau khi Luật Trợ giúp pháp lý 2006 được ban hành, hoạt động nghiên cứu tập trung phục vụ yêu cầu triển khai thi hành Luật, xây dựng và áp dụng các biện pháp để đưa quy định Luật vào đời sống Từ sau khi Hiến pháp năm 2013 với tinh thần đề cao quyền con người, quyền công dân được thông qua và có hiệu lực thực tế, hoạt động nghiên cứu có chuyển hướng tích cực nhằm tìm kiếm cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn để tạo tiền đề cho việc đổi mới mô hình TGPL và ban hành Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) tương thích với mô hình mới Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây thường hướng trực tiếp vào việc đáp ứng yêu cầu xây dựng, ban hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, do vậy có phạm vi nghiên cứu tổng thể, bao quát nhiều khía cạnh điều chỉnh của Luật Theo đó, chủ đề hoạt động của TGPL không chiếm vị trí trọng tâm trong triển khai nghiên cứu Nói cách khác, mặc dù tình hình nghiên cứu về pháp luật TGPL ở Việt Nam diễn ra khá sôi động nhưng nhận thức lý luận và đánh giá thực tiễn về hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam vẫn còn những khoảng trống đáng kể

1.2.2 Những vấn đề liên quan đến chủ đề luận án đã được nghiên cứu sáng tỏ, có kết luận thống nhất và được luận án kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài

Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề luận

án, có thể nhận thấy một số nội dung gắn với đề tài luận án đã được giải quyết, đạt được sự thống nhất cao và đề tài có thể tiếp thu mà không cần trở lại để phân tích, làm sáng tỏ thêm

Trên phương diện lý luận, nhận thức chung về quyền con người, quyền

của nhóm người dễ bị tổn thương cũng như trách nhiệm của nhà nước và xã hội

Trang 30

đối với việc bảo đảm các quyền cơ bản của con người thể hiện bản chất của chế

độ xã hội dân chủ và văn minh đã được làm sáng tỏ Đặt trong sự nhận thức đó, cách hiểu tổng quát về nội hàm khái niệm TGPL cũng như vị trí, vai trò của hoạt động TGPL ở Việt Nam không còn là vấn đề gây tranh luận Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã thể hiện sự đồng thuận rất cao trong nhận thức về tính tất yếu của hoạt động TGPL và nhu cầu mở rộng phạm vi TGPL, nhu cầu xã hội hóa hoạt động TGPL trong bối cảnh của xã hội đương đại Theo cách hiểu phổ biến của các tác giả, TGPL là việc hỗ trợ của nhà nước và xã hội đối với những người cần sử dụng nhưng không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý để có được sự tiếp cận công lý và sự bình đẳng trước pháp luật

Do đó, quyền được hưởng TGPL được coi là một quyền con người dựa trên phương pháp tiếp cận công lý Việc thực thi các quyền pháp lý, quyền con người của những người không có khả năng tự mình làm việc đó và không thể tự thanh toán chi phí phải được trợ giúp của nhà nước và xã hội để tất cả mọi người có thể được đối xử bình đẳng theo pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng Theo

đó, cho đến nay, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, TGPL là một loại hình dịch vụ công thuộc trách nhiệm trước hết của nhà nước nhưng có thể được xã hội hóa

Cũng trên phương diện nhận thức lý luận, đã có sự thừa nhận chung về một

số đối tượng, nội dung, hình thức và phương pháp TGPL ở Việt Nam Tương tự như vậy, nhận thức về vai trò của pháp luật và nhu cầu tìm kiếm các phương án lập pháp để điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động TGPL là những vấn đề đã được chấp nhận trong hầu hết các công trình nghiên cứu Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng đã đạt được sự thống nhất nhất định trong việc xác định một số khía cạnh nội hàm của mô hình pháp luật về tổ chức và hoạt động TGPL

ở Việt Nam

Trên phương diện thực tiễn, bức tranh thực trạng pháp luật và thực tiễn tổ

chức, hoạt động TGPL ở Việt Nam đã có những đường nét cơ bản Các công trình nghiên cứu đã tổng kết tương đối đầy đủ quá trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng ta về quyền con người và về mục tiêu, yêu cầu hoạt động

Trang 31

TGPL ở Việt Nam Đặc biệt, thực trạng pháp luật về TGPL thuộc giai đoạn trước khi ban hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã được trình bày và phân tích tương đối thấu đáo, trong đó, các giai đoạn điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động TGPL của hệ thống tư pháp đã được minh định với những nhận xét, đánh giá thống nhất trong nhiều nghiên cứu Nhìn từ khía cạnh thực hiện pháp luật, nhiều nhận định, đánh giá về những kết quả và hạn chế cũng như nguyên nhân của kết quả, hạn chế của hoạt động TGPL trong giai đoạn trước khi ban hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đạt được sự đồng thuận trên những luận điểm cơ bản Ngoài ra, kết quả nghiên cứu chung đều cho rằng, các điều kiện đặc thù của địa bàn diễn ra hoạt động TGPL có tác động không nhỏ tới nội dung, hình thức, phương pháp và hiệu quả hoạt động TGPL

Gắn với thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu trong giai đoạn xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý và chuẩn bị đề án sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý đã đạt tới sự nhận diện thống nhất về các mô hình TGPL phổ biến trên thế giới cũng như thực tiễn điều chỉnh pháp luật ở nhiều quốc gia

có hoạt động TGPL phát triển

Trên phương diện đề xuất, kiến nghị, cho đến trước thời điểm năm 2017, một

mặt, các công trình nghiên cứu đạt được sự thống nhất chung về sự cần thiết phải áp dụng đồng thời nhiều giải pháp, mặt khác sự đồng thuận đạt được chủ yếu trên hai phương diện: (1) đề xuất bổ sung, sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản pháp luật có liên quan; (2) đề xuất đổi mới mô hình TGPL trên cơ sở xã hội hóa một số yếu tố của hoạt động TGPL Mặc dù trong nội dung kiến nghị trên cả hai phương diện này cũng như ở các đề xuất khác vẫn còn tồn tại khá nhiều ý kiến khác biệt (thậm chí trái chiều) với sự luận chứng khác nhau

1.2.3 Những vấn đề liên quan đến chủ đề luận án nhưng chưa được giải quyết thấu đáo, còn nhiều tranh luận, vướng mắc hoặc chưa được đặt ra nghiên cứu

Về lý luận

- Khái niệm TGPL, hoạt động TGPL và nhiều khái niệm liên quan (người

Trang 32

nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án và đã tương đối rõ về nội hàm nhưng còn khá nhiều khác biệt khi biểu đạt dưới hình thức một định nghĩa Trong bối cảnh nhận thức mới của Hiến pháp năm 2013 về trách nhiệm bảo đảm quyền con người, quyền công dân cũng như trong yêu cầu hoàn thiện pháp luật về TGPL thì mức độ khác biệt trong nhận thức lý luận về vấn đề nêu trên càng trở nên rõ rệt và đang đặt ra yêu cầu làm sáng tỏ thêm

- Đặc điểm của hoạt động TGPL là vấn đề đã được đề cập ở các mức độ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu (chủ yếu là trong các luận án, luận văn) nhưng chưa được nhấn mạnh Trên thực tế, được định khung bởi mục tiêu

và phạm vi nghiên cứu của luận án, luận văn về một đối tượng cụ thể hoặc trong một không gian cụ thể nên đặc điểm của hoạt động TGPL được trình bày tương đối phiến diện, phụ thuộc vào pháp luật thực định, chưa bộc lộ rõ tính chất riêng của loại hoạt động này Ở nước ngoài, các nghiên cứu về hoạt động TGPL thường không nghiêng về việc luận chứng cho các đặc điểm của loại hình hoạt động nên chưa có sự khái luận mang tính chất tổng thể

- Các vấn đề liên quan đến nguyên tắc, mục tiêu, chủ thể, đối tượng , nội dung, hình thức, phương pháp TGPL là những vấn đề còn nhiều sự khác biệt trong quan điểm nghiên cứu về TGPL Gắn với đó là sự tranh luận chưa đến hồi kết về phạm vi và cách thức, kỹ thuật điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam Ngoài ra, các ý kiến được đề cập trong các công trình nghiên cứu thường đi theo hướng phân tích toàn diện về mô hình tổng thể về điều chỉnh pháp luật, chưa thực sự gắn những vấn đề nói trên với trọng tâm là khía cạnh hoạt động TGPL

- Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước hầu như chưa đề cập (hoặc chỉ đề cập ở mức độ khái lược) về các yếu tố ảnh hưởng, các điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động TGPL Có thể nói, đây là khoảng trống đáng kể nhất trong các nghiên cứu lý luận về hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

Về thực trạng:

- Trạng thái hiện hành của hoạt động TGPL ở Việt Nam chưa được hình dung một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống, xét cả trên phương diện điều

Trang 33

chỉnh pháp luật và cả trên phương diện thực thi pháp luật Do những tranh luận về

mô hình tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam chưa đạt được sự thống nhất nên ý kiến đánh giá về thực trạng hoạt động TGPL vẫn thiếu điểm tựa lý luận cần thiết

- Mặc dù những kết quả và hạn chế trong hoạt động TGPL ở Việt Nam đã được nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra ở các mức độ khác nhau nhưng nguyên nhân của kết quả và hạn chế đó chưa được nhận diện một cách đầy đủ hoặc mới chỉ dừng ở việc nêu ra mà chưa có sự luận giải sâu sắc Thiếu sót theo hướng này còn bộc lộ ở chỗ trong khi đã có một số công trình tập trung nghiên cứu kinh nghiệm TGPL ở một số quốc gia và khả năng ứng dụng cho Việt Nam thì lại hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào rút ra được những bài học kinh nghiệm từ chính quá trình triển khai các hoạt động thực hiện pháp luật về TGPL ở Việt Nam

- Hầu như chưa có nghiên cứu nào làm sáng tỏ thực trạng các điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động TGPL ở Việt Nam Chính vì vậy, một số giải pháp nhằm xây dựng các điều kiện đảm bảo hiệu quả tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam

tỏ ra thiếu điểm tựa thực tiễn

Về giải pháp, kiến nghị:

- Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề Hoạt động trợ

giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay cho thấy hiện đang thiếu sự phân

tích, lập luận đầy đủ về bối cảnh và nhu cầu tăng cường hoạt động TGPL, đặc biệt

là bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế

- Cũng liên quan đến vấn đề nói trên là tình trạng thiếu một hệ quan điểm được thừa nhận chung về mô hình TGPL phù hợp và khung pháp luật cơ bản cho việc ghi nhận và điều chỉnh toàn bộ tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam trong bối cảnh mới

- Như đã nói ở trên, kết quả nghiên cứu liên quan đến chủ đề hoạt động

Trang 34

nhằm hoàn thiện pháp luật về TGPL, nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL, phát huy vai trò của nhà nước và xã hội trong hoạt động TGPL Tuy nhiên, bất cập dễ nhận thấy của hoạt động nghiên cứu thể hiện mức độ liên kết giữa các giải pháp Nói cách khác, các giải pháp chưa đạt được sự đồng bộ và đầy đủ với khả năng thuyết phục của các lập luận chưa cao Ngoài ra, các công trình nghiên cứu cũng chưa xây dựng được giải pháp mang tính chiến lược, tổng thể, lâu dài cho quá trình hiện thực hóa mô hình TGPL theo hướng xã hội hóa một số yếu tố của hoạt động TGPL như đã được đề xuất

1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về đề tài luận án

Xuất phát từ sự phân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ

đề luận án, có thể nhận thấy không gian nghiên cứu dành cho luận án còn tương đối rộng rãi, bao gồm những vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những thay đổi mới trong nhận thức lý luận về bản

chất của hoạt động TGPL gắn với tư duy mới về dân chủ, nhân quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu nhằm xác định rõ khái niệm hoạt động TGPL dưới dạng một định nghĩa, phân tích các đặc điểm của hoạt động TGPL, lập luận về vai trò của hoạt động TGPL

Thứ hai, nghiên cứu, luận chứng về tính tất yếu của hoạt động TGPL và các

phương diện biểu hiện của mô hình hoạt động TGPL ở Việt Nam: chủ thể hoạt động TGPL (người thực hiện TGPL), đối tượng của hoạt động TGPL (người được TGPL), nội dung hoạt động TGPL (các vấn đề cần TGPL), hình thức tiến hành hoạt động TGPL Từ góc độ này, các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động TGPL cần được đặt ra nghiên cứu cả ở tầm lý luận và đánh giá thực tiễn

Thứ ba, nghiên cứu khung lý thuyết về điều chỉnh pháp luật đối với hoạt

động TGPL ở Việt Nam Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam Kết quả nghiên

Trang 35

cứu cần đi tới nhận xét tổng thể về những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập của pháp luật TGPL ở Việt Nam

Thứ tư, nghiên cứu thực tiễn triển khai hoạt động TGPL ở Việt Nam Khắc

phục tình trạng nghiên cứu mang tính đơn lẻ trong thời gian qua, đề tài cần đánh giá tổng thể thực tiễn hoạt động TGPL đối với tất cả các yếu tố gắn với hoạt động TGPL nhằm xác định rõ những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động TGPL, xác định nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

Thứ năm, nghiên cứu xác định các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo hướng tiếp tục nâng cao nhận thức về TGPL; nghiên cứu điều chỉnh mô hình TGPL; tiếp tục hoàn thiện pháp luật và đẩy mạnh việc triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý 2017; tăng cường nguồn nhân lực thực hiện hoạt động TGPL; xã hội hóa hoạt động TGPL; Kết quả nghiên cứu phải đảm bảo lập luận thuyết phục hơn về các giải pháp có liên quan đã được các công trình nghiên cứu khác đề cập và luận chứng, đồng thời kiến nghị hệ giải pháp tổng thể mang tính chiến lược cho quá trình nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi 1: Nhận thức như thế nào về hoạt động trợ giúp pháp lý ?

Giả thuyết: Khái niệm hoạt động TGPL đã cơ bản được định hình nhưng

bản chất và các đặc điểm của hoạt động TGPL chưa được xác định và phân tích

rõ Điều này đang ảnh hưởng lớn tới việc nhận diện chính xác các yêu cầu của hoạt động TGPL ở Việt Nam

Câu hỏi 2: Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý được

hợp thành bởi những yếu tố nào?

Giả thuyết: Nhận thức và thực tiễn pháp luật điều chỉnh hoạt động TGPL ở

Việt Nam chưa hoàn toàn phù hợp, cần phải thay đổi để tương thích với điều kiện mới hiện nay

Trang 36

Câu hỏi 3: Những yếu tố nào có tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động

trợ giúp pháp lý và trạng thái hiện hành của các yếu tố đó ở Việt Nam hiện nay? Giả thuyết: Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến hoạt

động TGPL gây ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng hoạt động TGPL ở Việt Nam nhưng khả năng tác động của các yếu tố đó chưa được nhận diện đầy đủ, một

số yếu tố chưa hiện diện trong đời sống chính trị - pháp lý ở Việt Nam, một số yếu

tố khác đang được hiểu và vận dụng chưa chính xác Do vậy, sự tác động của các yếu tố đang đi theo chiều hướng bất lợi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay

Câu hỏi 4: Hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đang diễn ra như thế

nào? Phù hợp hay không phù hợp với nhận thức về mục tiêu, đặc điểm, vai trò, chủ thể, nội dung, hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như về yêu cầu mà hoạt động trợ giúp pháp lý Việt Nam cần hướng tới?

Giả thuyết: Hoạt động TGPL ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất

định, góp phần hiện thực hóa các chủ trương, chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước ta Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật và thực tiễn hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, hạn chế do xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan

Câu hỏi 5: Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện

nay cần xuất phát từ những quan điểm nào và cần thực hiện những giải pháp nào để hiện thực hóa các quan điểm đó?

Giả thuyết: Các quan điểm và giải pháp được áp dụng trong thời gian qua

chưa thực sự phù hợp và thiếu tính toàn diện, một số giải pháp chưa được triển khai do nhận thức chưa đầy đủ, một số giải pháp khác thiếu tính khả thi do chưa xây dựng được các điều kiện đảm bảo

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bức tranh tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài “ Hoạt động trợ giúp

pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay” đã giúp nhận diện rõ những vấn đề

liên quan đến chủ đề luận án đã được nghiên cứu sáng tỏ, có kết luận thống nhất

và được luận án kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài, cũng như những vấn

đề chưa được giải quyết thấu đáo, còn nhiều ý kiến tranh luận hoặc chưa được đặt ra nghiên cứu Tình hình nghiên cứu về đề tài luận án tương đối sôi động nhưng gián đoạn và thường trực tiếp xuất phát từ các nhu cầu cụ thể của điều chỉnh pháp luật đối với TGPL đặt ra trong mỗi thời kỳ Vì vậy, vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay Cũng còn nhiều dư địa trong đề xuất, kiến nghị các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án đã cơ bản chỉ ra danh mục

những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án, bao gồm: (1) Tiếp tục nghiên cứu nhận thức lý luận về bản chất, đặc điểm, vai trò của hoạt động TGPL; (2) Nghiên cứu nguyên tắc, mục tiêu, chủ thể hoạt động TGPL, đối tượng của hoạt động TGPL, nội dung hoạt động TGPL, hình thức và phương pháp tiến hành hoạt động TGPL; (3) Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động TGPL; (4) Nghiên cứu đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động TGPL và thực tiễn triển khai hoạt động TGPL ở Việt Nam, xác định rõ những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động TGPL, xác định nguyên nhân

và bài học kinh nghiệm của thực tiễn hoạt động TGPL; (5) Nghiên cứu xác định các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay Các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án đều tập trung giải mã những vấn đề nói trên

Trang 38

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ THEO PHÁP LUẬT

2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý

2.1.1 Khái niệm hoạt động trợ giúp pháp lý

Mặc dù ngay từ thế kỷ thứ V-VI trước CN, các nhà hùng biện của thành Athens cổ đại đã làm công việc của luật sư là biện hộ không nhận tiền công và

La Mã đã ban hành đạo luật cấm những người biện hộ nhận tiền công vào năm

224 trước CN nhưng thuật ngữ TGPL (“Legal aid”, “Le gal assistance”) chỉ chính thức xuất hiện vào thời kỳ cận đại, đồng thời với sự ra đời và ứng dụng trong thực tiễn của học thuyết Nhà nước pháp quyền với việc đề cao các giá trị quyền con người, đề cao chức năng xã hội và vai trò phục vụ của nhà nước Về

cơ bản, TGPL xuất phát từ đặc tính bảo vệ quyền con người của Nhà nước pháp quyền, có nguồn gốc từ quyền có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng được thừa nhận đầu tiên ở châu Âu, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ [104] Nói cách khác, TGPL ra đời từ mục tiêu nhân đạo, nhưng tồn tại và phát triển song hành với nghề luật sư và gắn liền với quyền con người, với yêu cầu bảo đảm công bằng xã hội ở các chế độ thượng tôn pháp luật và suy tôn nhân quyền và pháp quyền Cho đến nay, ở các mức độ và mô hình khác nhau, hầu hết các nước trên thế giới đều triển khai các hoạt động TGPL và xem đó là trách nhiệm thiết yếu của nhà nước và xã hội

Từ cách tiếp cận tổng thể, TGPL được hiểu là việc nhà nước và xã hội đảm bảo cung cấp cho những người không có điều kiện về tài chính hoặc có hoàn cảnh đặc biệt một số dịch vụ pháp lý mà không phải chi trả thù lao hoặc được giảm một phần thù lao Trong tiếng Anh, cụm từ “Legal aid” mang nghĩa “ trợ cấp pháp lý” [42], “ Trợ cấp chi phí về pháp lý” (trích từ quỹ phúc lợi công cộng) [24] Trong khi đó, Legal aid” trong cụm từ “legal aid scheme” được dịch là “kế hoạch bảo

hộ tư pháp” là kế hoạch nhằm trả những chi phí pháp lý từ công quỹ cho những

Trang 39

ai không thể tự mình trả nổi [61] “Legal aid” được sử dụng phổ biến hơn “legal aid scheme” ở đa số các nước Điều đó cho thấy, TGPL không chỉ là kế hoạch hành động mà cần được hiểu là một phương diện hoạt động thuộc chức năng của nhà nước hướng tới thực hiện trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm nguồn tài chính chi trả cho các dịch vụ pháp lý cho một số đối tượng nhất định nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận công lý và công bằng xã hội đối với nhóm đối tượng đó Ở đây, khách thể trợ giúp không phải là “vật chất” như nhà ở, tiền, gạo

mà là “pháp luật” Pháp luật càng đầy đủ, càng phức tạp và phạm vi điều chỉnh càng rộng thì khách thể TGPL càng cần được phát triển tương xứng Với nghĩa

đó, TGPL được tiếp cận dưới góc độ kinh tế, góc độ pháp lý và góc độ nhân đạo, lấy sự yếu thế, bần cùng hoặc bất bình đẳng của nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt (người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương ), lấy tính phức tạp của pháp luật làm căn cứ cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, đối tượng được TGPL thường là những người không có điều kiện về tài chính hoặc kém năng lực hiểu biết pháp luật, không thể tự mình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, hoặc là người thuộc chính sách hỗ trợ đặc biệt của nhà nước và chủ thể bảo đảm tài chính cho dịch vụ pháp lý miễn phí này thuộc trước hết và chủ yếu về Nhà nước Đặc tính này thường được xem là căn cứ để phân định hoạt động TGPL (Legal aid) với hoạt động thiện nguyện (pro bono) tuy cũng thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí và có chung mục đích góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý nhưng đối tượng tiếp nhận dịch vụ pháp lý không bị hạn chế và được người thực hiện dịch vụ thiện nguyện không được hưởng bất kỳ khoản thù lao nào từ sự chi trả của nhà nước, các quỹ phúc lợi, các tổ chức xã hội

Từ góc độ quyền con người, TGPL được hiểu là quyền cơ bản của công dân, là một bộ phận trong tổng thể các biện pháp thực thi pháp luật, thể hiện tính nhân văn của xã hội Trong một xã hội văn minh và nhân quyền, bất cứ công dân nào khi rơi vào những hoàn cảnh đặc biệt, cần được giúp đỡ khi đối diện với pháp luật, nếu có nhu cầu thì được bảo đảm cung ứng dịch vụ pháp lý từ phía

Trang 40

Nhà nước và xã hội Theo đó, mặc dù Nhà nước lấy sự giúp đỡ về kinh tế (giảm, miễn phí) cho người được TGPL làm bản chất nhưng có mục đích lớn hơn, đó là bảo đảm quyền lợi hợp pháp mà pháp luật dành cho mọi công dân được thực hiện đầy đủ, xây dựng một chế độ xã hội “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”, xem đó là một trong những biện pháp thực hiện sự công bằng tư pháp và đảm bảo quyền cơ bản của con người [37, tr.1] Quan niệm này dựa trên luận điểm nhà nước muốn bảo đảm các quyền lợi mà pháp luật dành cho công dân được thực hiện một cách thiết thực trong đời sống thực tại thông qua chế độ miễn, giảm phí dịch vụ pháp lý hoặc miễn, giảm chi phí tố tụng với những nhóm người cần sự giúp đỡ của pháp luật để bảo vệ quyền lợi theo quy định của pháp luật hoặc của đương sự trong một số vụ án đặc biệt vì lý do công lý

Dựa trên chủ thuyết được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận rằng TGPL thuộc trước hết về trách nhiệm của nhà nước trong việc giúp đỡ pháp luật cho những nhóm người cụ thể mà bản thân họ không phải chi trả thù lao cho việc thụ hưởng các dịch vụ pháp lý nên khái niệm TGPL được quy phạm hoá với nội dung tương đối đồng nhất trong pháp luật của các quốc gia

Dự thảo Luật mẫu về TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của Liên Hợp quốc (UNODC) chủ trì soạn thảo (sau đây gọi tắt Dự thảo Luật mẫu) quy định như sau: “TGPL là việc thực hiện

tư vấn pháp luật, hỗ trợ và đại diện pháp lý do Nhà nước trả tiền theo những điều kiện và trình tự, thủ tục quy định trong Luật này cho người bị giam giữ, bị bắt hoặc bị kết án tù; người bị tình nghi, người bị buộc tội hoặc vi phạm luật hình sự; nạn nhân và nhân chứng trong quá trình tư pháp hình sự ” (khoản 7 Điều 4) Một số nước đề cập đến chủ thể thực hiện TGPL và các hình thức TGPL trong khái niệm TGPL Ví dụ, Điều 2 Luật TGPL Hàn Quốc năm 2011 quy định:

“TGPL trong Luật này là việc luật sư hoặc luật sư nghĩa vụ theo quy định tại Luật Luật sư nghĩa vụ hỗ trợ tư vấn pháp luật, đại diện trong các vụ kiện hoặc các vấn đề pháp lý khác để đạt được mục đích nêu tại Điều 1” (tức là nhằm bảo

Ngày đăng: 30/03/2020, 21:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w