chế, bất cập chưa rõ ràng trong các quy định của pháp luật về Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, làm rõ các ưu điểm, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành trong việc thực hiện các gi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN NINH
HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Như Phát Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này do tôi tự thu thập, phân tích Các ví dụ, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác và trung thực
TÁC GIẢ
Đặng Văn Ninh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN 7
1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần 7
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 7
1.1.2 Đặc điểm công ty cổ phần 9
1.1.3 Khái niệm cổ phần 10
1.1.4 Đặc điểm của cổ phần 12
1.1.5 Các loại cổ phần 13
1.1.6 Cổ đông công ty cổ phần 15
1.2 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 18
1.3 Nguyên tắc chuyển nhượng cổ phần 21
1.4 Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay 22
1.5 Thủ tục chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay 28
1.6 Những quy định về lợi ích của các bên tham gia hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay 30
1.6.1 Chuyển nhượng cổ phần chưa niêm yết 31
1.6.2 Chuyển nhượng cổ phần đã niêm yết thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán 32
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1 Các quy định pháp luật về điều kiện chuyển nhượng cổ phần 36
2.2 Chủ thể của hợp đồng chuyền nhượng cổ phần 37
2.3 Quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia trong hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay 38
Trang 62.4 Nội dung và hình thức của hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 39 2.5 Ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 44
niêm yết/đăng ký giao dịch 44
niêm yết/đăng ký giao dịch 46
2.6 Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 48 2.7 Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 51 2.8 Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ở Việt Nam hiện nay 58
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 62
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 62
tắc pháp quyền 62
doanh của các nhà đầu tư, của các doanh nghiệp 63
trình độ phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường hiện nay và đảm bảo sự thống nhất và hài hòa với pháp luật quốc tế đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế 65
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 66
Trang 73.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi thành pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần 73
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ rất đáng lạc quan theo cơ chế thị trường Với những đổi mới kể từ sau Đại hội VI đến nay
đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển Trong bối cảnh đó thì các quan hệ thương mại ngày càng trở nên
đa dạng và phức tạp Chuyển nhượng cổ phần trong các doanh nghiệp, mua bán cổ phần trên thị trường chứng khoán là một phần tất yếu của kinh tế thị trường trong bối cảnh hiện nay Hiện nay, Việt Nam đang có nhiều công ty hoạt động với nhiều loại hình khác nhau, công ty cổ phần là một trong những loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm của công ty đối vốn Tính chất đó thể hiện rất rõ trong việc tự do chuyển nhượng cổ phần của các doanh nghiệp Cách thức chuyển nhượng cổ phần có thể được thực hiện thông qua giao dịch về hợp đồng chuyển nhượng
cổ phần hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán: Chuyển nhượng cổ phần thông qua hợp đồng chuyển nhượng thì các bên tham gia chuyển nhượng cổ phần phải tuân thủ các quy định trong Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp Trường hợp chuyển nhượng cổ phần thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán thì trình tự thủ tục và việc ghi nhận sở hữu cần tuân thủ các quy định của Luật Chứng khoán Việc tự do thực hiện chuyển nhượng cổ phần trong các công ty cổ phần làm thay đổi cổ đông và/ hoặc tỷ
lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông trong công ty cổ phần, tuy nhiên vốn cổ phần của công ty không thay đổi, đảm bảo cho các hoạt động bình thường của công ty Chuyển nhượng cổ phần của các doanh nghiệp được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây Bởi chuyển nhượng cổ phần được xem là một giải pháp tích cực cho doanh nghiêp, đồng thời nó cũng được xem là chiến lược để huy động được các cổ đông có năng lực tham gia vào công ty
Trang 9Hoạt động chuyển nhượng cổ phần đang trở nên sôi động nhưng trên thực tế việc thực hiện các giao dịch chuyển nhượng cổ phần cũng còn gặp những hạn chế và khó khăn khi chưa có khung pháp lý riêng định nghĩa cụ thể rõ ràng nên dẫn đến những rủi ro trong việc thực hiện chuyển nhượng cổ phần thông qua các giao dịch về hợp đồng chuyển nhượng hoặc là thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán Hiện nay, khi thực hiện chuyển nhượng cổ phần chủ yếu dự trên khung pháp lý Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015), Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014) và Luật chứng khoán năm 2006 (LCK 2006) Tuy nhiên, Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo khung pháp lý hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, chưa rõ ràng, vẫn chưa có một chế định cụ thể riêng, độc lập cho Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Quá đó có thể dẫn đến rủi ro về mặt pháp lý khi thực hiện các giao dịch chuyển nhượng Chính vì vậy nên việc thực hiện các hoạt động chuyển nhượng cổ phần trong bối cảnh của nền kinh tế nước ta hiện nay đòi hỏi cần thiết phải có một khung pháp lý đầy đủ rõ ràng, cụ thể để thực hiện các giao dịch là hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Việc phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, tìm ra các ưu điểm
và hạn chế của pháp luật và đưa ra các đề xuất, kiến nghị để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần đang trở thành một vấn đề cấp thiết cần phải quan tâm và điều chỉnh Với sự cấp thiết đó tác
giả lựa chọn đề tài: “Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để thực hiện luận văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đã nhận thấy có một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật này, cụ thể:
Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Tạ Thanh Bình (2001), “Đặc điểm
Trang 10pháp lý của việc giao kết hợp đồng mua bán chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung tại Việt Nam” Công trình này tập trung nghiên cứu về
giao kết hợp đồng mua bán chứng khoán nhưng chưa nghiên cứu sâu các nội dung có liên quan về trình tự thực hiện hợp đồng mua bán chứng khoán…đồng thời công trình cũng dừng lại nghiên cứu việc mua bán chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung;
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Doãn Đức (2004), “Pháp luật hợp
đồng mua bán chứng khoán, những vấn đề lý luận và thực tiễn” Công trình
này đã nghiên cứu sơ bộ được về hợp đồng mua bán chứng khoán về lý luận
và thực tiễn, thời điểm nghiên cứu của công trình này là năm 2004 nên những quy định pháp luật về hợp đồng mua bán chứng khoán được trích dẫn
và phân tích trong công trình so với thời điểm hiện tại đã hết hiệu lực
Ngoài ra, tác giả còn tham khảo thêm một số công trình nghiên cứu
khoa học khác như: Đỗ Thái Hán (2012), “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong
công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học; Nguyễn Thị Cà
(2012), “Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần”, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật; Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2008), “Bảo vệ cổ
đông thiểu số trong công ty cổ phần – So sánh giữa pháp luật Anh và pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học
Với những công trình khoa học trên là những tài liệu quý báu giúp tác giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng tới mục đích nghiên cứu các quy định của pháp luật về Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần để làm sáng tỏ hơn về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Qua đó, chỉ ra những hạn
Trang 11chế, bất cập chưa rõ ràng trong các quy định của pháp luật về Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, làm rõ các ưu điểm, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành trong việc thực hiện các giao dịch về Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, nhằm đảm bảo chủ thể tham gia trong việc chuyển nhượng
cổ phần được thực hiện đúng quy định của pháp luật với trình tự, thủ tục và phương thức đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể tham gia trong giao dịch Từ đó, luận văn đề xuất các kiến nghị về hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
Một là, tìm hiểu và phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần; cách thức chuyển nhượng cổ phần; những rủi
ro về mặt pháp lý khi thực hiện các giao dịch chuyển nhượng cổ phần thông qua hợp đồng chuyển nhượng cổ phần để làm rõ nội dung về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Hai là, thực tiễn áp dụng pháp luật về các phương thức giải quyết trong giao dịch về Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay, chỉ ra những vấn đề bất cập, hạn chế và nguyên nhân để có những kiến nghị xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng cổ phần
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đề cập đến những vấn đề chính về công ty cổ phần, chuyển nhượng cổ phần chưa niêm yết và chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Đề tài tập trung với phạm vi nghiên cứu về cách thức chuyển nhượng cổ phần có thể được thực hiện thông qua giao dịch về hợp đồng chuyển nhượng và thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán cụ thể là mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện
Trang 12nay
Đề tài nghiên cứu các văn bản pháp luật về chuyển nhượng cổ phần, các phương thức chuyển nhượng cổ phần, mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung thứ cấp được quy định trong các văn bản pháp luật như Bộ Luật dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật chứng khoán 2006, các văn bản pháp luật liên quan và các văn bản hương dẫn thi hành Đồng thời tìm hiểu thực trạng về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay để làm rõ các yêu cầu của đề tài đặt ra
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích, luận giải để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Đồng thời tác giả cũng sử dụng thêm nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp lịch sử; phương pháp chứng minh; phương pháp so sánh để áp dụng trong việc nghiên cứu đề tài này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu đề tài “Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay” chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế trong quy định về chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay, góp phần tạo cơ sở khoa học để hoàn thiện pháp luật đối với giao dịch chuyển nhượng cổ phần của cổ đông Công ty cổ phần qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật có liên quan
Về mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu đề tài “Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay” giúp người tiếp cận có cái nhìn tổng quan về hoạt động chuyển nhượng cổ phần của cổ đông Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng cổ phần của cổ đông Công
Trang 13ty cổ phần góp phần nâng cao việc thực hiện có hiệu quả quy định pháp luật
về các giao dịch trong chuyển nhượng cổ phần thông qua các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán Thông qua đó, tạo điều kiện thu hút đầu tư, đảm bảo công bằng, minh bạch trong các giao dịch chuyển nhượng cổ phần Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành luật, các nhà đầu tư và những người làm công tác thực tiễn liên quan đến việc chuyển nhượng cổ phần thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc thông qua giao dịch chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán cụ thể đó là
hợp đồng mua bán cổ phiếu trên thị trường tập trung thứ cấp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và tài liệu tham khảo, luận văn có
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN
NHƯỢNG CỔ PHẦN 1.1 Khái quát chung về công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam được xây dựng theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, các doanh nghiệp hoạt động không theo cơ chế thị trường Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm
1986 đã đề ra đường lối đổi mới, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời và phát
triển
Qua đó, ngày 21/12/1990, Quốc hội đã thông qua Luật Công ty và đây
là một dấu mốc “lịch sử” hết sức quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Luật Công ty năm
1990 đã quy định hai hình thức tổ chức công ty đó là: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần Cả hai loại hình công ty này đều được định
nghĩa là: “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là
công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”
Trong đó, Công ty cổ phần có các đặc điểm:
“a) Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy;
b) Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi
là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể
Trang 15mua một hoặc nhiều cổ phiểu;
c) Cổ phiếu được phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên;
d) Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng Cổ phiếu có ghi tên chỉ được chuyển nhượng, nếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ trường hợp quy định tại Điều 39 của Luật này”
Sau 09 năm thi hành Luật Công ty 1990, bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế thì Luật Công ty 1990 cũng đã bộc lộ một số bất cập, nhất
là trong bối cảnh quan hệ kinh tế Việt Nam trong thời kỳ này liên tục biến đổi Bởi lẻ đó, việc sửa đổi, thay thế các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các loại hình công ty là một tất yếu khách quan Ngày 12/06/1999, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp 1999, thay cho Luật công ty 1990 Khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, khái niệm về công ty cổ phần và khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn được quy định cụ thể, riêng biệt
Khái niệm Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 1999 tiếp tục được tiếp thu và kế thừa cho Luật Doanh nghiệp 2005 được quy định tại Điều 77 và Luật Doanh nghiệp 2014 được quy định tại Điều 110 Tại Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014, thì Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
“a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03
và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 Luật doanh nghiệp 2014
Trang 16đ) Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
e) Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.”
Như vậy, khái niệm Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 về
cơ bản là tương đồng với khái niệm Công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 1999 So với Luật Công ty 1990, khái niệm Công ty cổ phần theo quy định Luật Doanh nghiệp các thời kỳ sau này đã được xây dựng và hoàn thiện để phù hợp với nền kinh tế của Việt Nam
và gần với các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế Việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông được quy định tại điểm d khoản 1 điều 110 Luật Doanh nghiệp
2014 là “Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác”, tuy nhiên trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 119 và
khoản 1 điều 126 của Luật này, Theo đó, tại khoản 3 điều 119 quy định: “3
Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó; Và khoản 1 điều 126 quy định “1 Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều
lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.”
1.1.2 Đặc điểm công ty cổ phần
Công ty Cổ phần có các đặc điểm như:
Trang 17Một là, Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, tư cách pháp nhân của
công ty cổ phần phát sinh từ thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Hai là, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần nhỏ
gọi là cổ phần, người sở hữu các cổ phần gọi là cổ đông Số lượng cổ đông của công ty cổ phần tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác, trừ trường
hợp (i) đối với cổ phần của cổ đông sáng lập, trong thời hạn ba năm kể từ
ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông và (ii) điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần và các quy định này được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng
Ba là, Công ty cổ phần được phép phát hành các loại cổ phần để huy
động vốn Đặc điểm này cho phép công ty cổ phần có thể huy động nguồn vốn nhanh và rất rộng rãi
Bốn là, cổ đông công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty hoặc số vốn cam kết góp vào công ty tại thời điểm lập công ty
Với những đặc điểm nêu trên nên công ty cổ phần thường có số lượng
cổ đông lớn, các cổ đông công ty cổ phần có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và cũng có thể họ không có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước nhưng vẫn có thể đến được với nhau, gặp nhau và cùng hợp tác trên một lĩnh vực nhất định
1.1.3 Khái niệm cổ phần
“Cổ phần” là một thuật ngữ đã được sử dụng rất phổ biến bởi các nước
Trang 18trên thế giới và cũng có những cách định nghĩa khái niệm khác nhau Các nước theo truyền thống dân luật thì khái niệm về cổ phần được định nghĩa là đơn vị để phân chia quyền sở hữu công ty Bởi thế, cổ phần không có mối liên
hệ gì đến vốn điều lệ của công ty Tại một số nước Châu Âu thì khái niệm về
Cổ phần lại được định nghĩa là: Vốn điều lệ khi được chia nhỏ thành những phần bằng nhau thì mỗi phần đó gọi là cổ phần, vì vậy cổ phần là một phần của vốn điều lệ Trên thực tế thì cổ phần cũng phản ánh mức độ quyền sở hữu của cổ đông Cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần và trở thành chủ sở hữu công ty
Trong khuôn khổ pháp lý của pháp luật Việt Nam chúng ta thì khái niệm cổ phần được quy định lần đầu tiên tại khoản 2 điều 30 Luật Công ty
năm 1990, qua đó nêu: “Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần” Khái niệm này được các nhà lập pháp xây dựng
và được tiếp tục kế thừa tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 (điểm a, khoản 1, điều 110)
Theo đó, cổ phần là một phần của vốn điều lệ Cổ phần được phân chia
ra nhiều loại khác nhau như: cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi bao gồm các loại như: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức;
Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ Công ty quy định Người sở hữu cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông, điều này được thể hiện tại khoản 1 điều 113 của Luật Doanh nghiệp 2014
Đối với công ty cổ phần thì cổ phần là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau chứ không phải là tất cả các loại vốn của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau Đây là một trong những vấn đề pháp lý cơ bản của công ty cổ phần Cổ phần cũng là công cụ tài chính đặc biệt của công ty cổ phần Do vậy việc nắm giữ cổ phần trong công ty có một vai trò rất quan trọng bởi cổ phần là tài sản chứng minh tư cách sở hữu của cổ
Trang 19đông đối với công ty cổ phần Việc nắm giữ cổ phần có vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý công ty
Việc chuyển nhượng cổ phần xét về bản chất thì đây chính là sự dịch chuyển quyền sở hữu của cổ đông đối với cổ phần trong công ty cổ phần Cổ đông muốn rút cổ phần của mình ra khỏi công ty thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật về công ty cổ phần Theo đó, cổ đông có thể yêu cầu công
ty cổ phần mua lại cổ phần của mình hoặc cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Chính vì sự thuận tiện và linh hoạt của hoạt động chuyển nhượng cổ phần đã mang lại cho nền kinh tế thị trường của chúng ta
có sự vận động nhanh chóng của vốn đầu tư mà không ảnh hưởng đến tính ổn định về tài sản của Công ty cổ phần
1.1.4 Đặc điểm của cổ phần
Từ định nghĩa cổ phần nêu trên cho thấy các đặc điểm chung của cổ phần như sau:
Một là, Cổ phần thể hiện quyền sở hữu tài sản của cổ đông trong công
ty cổ phần Nó là căn cứ pháp lý để xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần, bất kể họ có tham gia thành lập nên công ty cổ phần hay không Người
sở hữu cổ phần là cổ đông của công ty cổ phần Người nắm giữ cổ phần có đầy đủ quyền của cổ đông, trực tiếp thực hiện quyền của mình đối với công ty
cổ phần Do vậy, cổ phần làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cổ đông trong công ty cổ phần Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu chúng các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau
Hai là, công ty cổ phần quyết định mệnh giá của cổ phần và được ghi
trên cổ phiếu Mệnh giá cổ phần có thể khác với giá chào bán cổ phần Giá chào bán cổ phần do Hội đồng quản trị của công ty cổ phần quyết định nhưng không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán Giá trị của cổ phần có thể được ghi trong sổ sách của công ty tại thời điểm gần nhất, trừ
Trang 20những trường hợp pháp luật có quy định khác
Ba là, cổ phần có đặc điểm là không thể phân chia nhỏ hơn nữa bởi cổ
phần là phần vốn nhỏ nhất và bằng nhau trong vốn điều lệ
Bốn là, cổ phần được chuyển nhượng dễ dàng và đây cũng là điểm đặc
trưng của công ty cổ phần, bởi công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đặc trưng của công ty đối vốn Có nghĩa là tất cả những thuộc tính của công ty đối vốn được thể hiện đầy đủ nhất trong công ty cổ phần Nhìn từ góc độ kinh tế, bởi tính dễ dàng chuyển nhượng của cổ phần tạo ra sự năng động về vốn nhưng vẫn giữ được tính ổn định tài sản của công ty cổ phần Nhìn từ góc độ pháp lý thì khi một người đã góp vốn vào công ty cổ phần, họ có quyền tự do chuyển nhượng cho người khác nhưng không có quyền rút vốn ra khỏi công
ty, trừ trường hợp yêu cầu công ty mua lại cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 hoặc trường hợp được nhận lại vốn góp khi công ty giải thể Do vậy, khi cổ đông của Công ty cổ phần nếu không muốn tiếp tục ở lại công ty thì chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
1.1.5 Các loại cổ phần
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay thì cổ phần của công ty cổ phần được chia làm: Cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi bao gồm các loại như: cổ phần ưu đãi biểu quyết; cổ phần ưu đãi cổ tức; cổ phần
ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty cổ phần quy định Mỗi loại cổ phần có những đặc điểm, tính chất khác nhau và mang lại những quyền, nghĩa vụ khác nhau cho các cổ đông sở hữu loại cổ phần đó Luật Công ty năm 1990 chỉ cho phép công ty cổ phần được phát hành một loại cổ phiếu thể hiện dưới hai hình thức đó là cổ phiếu có ghi tên và cổ phiếu không ghi tên Cổ phiếu có ghi tên là cổ phiếu của các thành viên sáng lập và các thành viên của Hội đồng quản trị Loại cổ phiếu này chỉ được phép tự do chuyển nhượng khi được sự đồng ý của Hội đồng quản trị và sau hai năm, khi
Trang 21thành viên đó thôi giữ chức thành viên Hội đồng quản trị
Trong quá trình mua bán chuyển nhượng cổ phần thì có nhà đầu tư mua
cổ phần nhằm vào mục đích tham gia điều hành các hoạt động trong công ty, củng cố quyền lực trong công ty; có nhà đầu tư thực hiện việc mua bán chuyển nhượng cổ phần chỉ nhằm mục đích hưởng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty và không cần không quan tâm đến vấn đề quản lý công ty; có những chủ thể lại mua cổ phần với mục đích được hoàn lại vốn vào bất cứ lúc nào Nhìn dưới góc độ là nhà đầu tư, họ cũng muốn góp vốn vào công ty cổ phần hơn vào các loại doanh nghiệp khác, bởi lẻ khi tham gia vào công ty cổ phần các nhà đầu tư sẽ có nhiều sự lựa chọn
Trong các loại cổ phần thì cổ phần phổ thông là nền tảng của công ty cổ phần, tổng giá trị loại cổ phần phổ thông thường chiếm tỷ lệ lớn hơn các loại
cổ phần khác Đây cũng là loại cổ phần bắt buộc mà tất cả các công ty cổ phần đều phải phát hành Việc sở hữu cổ phần phổ thông sẽ đem lại cho cổ đông phổ thông những quyền và lợi ích cơ bản trong đó một cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết để thực hiện biểu quyết các vấn đề của công ty
cổ phần Cổ phần phổ thông không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi Nhưng
cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
Cổ phần ưu đãi là loại cổ phần được ưu tiên hơn cổ phần phổ thông Tuy nhiên, các cổ đông nắm giữ những cổ phần ưu đãi cũng chịu những hạn chế nhất định Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi hoặc không có cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại như:
(1) Cổ phần ưu đãi biểu quyết, đây là loại cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty cổ phần quy định
(2) Cổ phần ưu đãi cổ tức là loại cổ phần mà cổ đông nắm giữ số cổ
Trang 22phần này được công ty cổ phần trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức được trả cho cổ phần phổ thông Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có hạn chế là không có quyền dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, không được đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Ngoài ra, cổ đông
sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có các quyền khác tương tự như quyền của cổ đông phổ thông Cổ phần ưu đãi cổ tức là loại cổ phần phù hợp với những nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi nhuận
(3) Cổ phần ưu đãi hoàn lại là loại cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại
(4) Cổ phần ưu đãi khác do điều lệ Công ty cổ phần quy định là loại cổ phần có tính mở Tuy nhiên, trong thực tiễn thì các công ty cổ phần thường chỉ phát hành các loại cổ phần được nêu trong Luật Doanh nghiệp, các công
ty cổ phần thường không đưa ra một loại cổ phần ưu đãi mới Bởi khi pháp luật chưa có sự hướng dẫn và quy định cụ thể mà công ty cổ phần phát hành thêm loại cổ phần mới sẽ có thể gây ra những rắc rối, phức tạp trong quá trình vận hành quản lý hoạt động kinh doanh
ty Cổ đông công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với số cổ
phần đang sở hữu, được chứng nhận bằng cổ phiếu của công ty cổ phần Thông tin của cổ đông phải đảm bảo được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông của công ty Cổ đông có thể không tham gia vào việc quản lý, điều hành công việc hàng ngày của công ty, tuy nhiên cổ đông thực hiện quyền chủ sở hữu
Trang 23công ty thông qua việc tham dự và biểu quyết các vấn đề quan trọng của công
ty tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông công ty
Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và
ký tên trong Danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp và phải thanh toán đủ số
cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Trong pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam có quy định cách giải quyết đối với trường hợp cổ đông sáng lập không thanh toán đủ hoặc không thanh toán đúng thời hạn cho số cổ phần mà cổ đông sáng lập đã đăng ký mua là: (1) Cổ đông chưa thanh toán số
cổ phần đã đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty cổ phần và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác; (2) Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua và còn một phần chưa thanh toán thì có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác; Số cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền bán; Công ty
cổ phần phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần
đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán
Cổ đông phổ thông nắm giữ các cổ phần phổ thông có các quyền cơ bản như: (1) Tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật hay Điều lệ công ty cổ phần quy định Mỗi
cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết; (2) Nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông; (3) Ưu tiên mua cổ phần mới chào bán
Trang 24tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty; (4) Tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật về doanh nghiệp có quy định khác; (5) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; (6) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty cổ phần, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; (7) Khi công ty cổ phần giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty cổ phần;
Bên cạnh những quyền lợi được nêu trên thì các cổ đông phổ thông nắm giữa cổ phần phổ thông cũng phải thi hành những nghĩa vụ nhất định như: (1) Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; (2) Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty cổ phần dưới mọi hình thức, trừ khi được công ty cổ phần hoặc người khác mua lại cổ phần
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không
có quyền dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, không được đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Ngoài ra, họ có các quyền và nghĩa vụ khác như cổ đông phổ thông Điều lệ Công ty cổ phần quy định cụ thể hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định việc phát hành cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại
Qua những phân tích nêu trên, có thể thấy điểm khác biệt cơ bản giữa
cổ đông nắm giữ cổ phần phổ thông với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức
và cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ đông phổ thông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết thông qua các quyết định của công ty cổ phần Thông thường, những chủ thể mua các loại cổ phần ưu đãi cổ tức hay cổ phần
Trang 25ưu đãi hoàn lại là những nhà đầu tư quan tâm nhiều đến lợi nhuận, các nhà đầu tư này thường thì họ có rất ít kinh nghiệm hoặc thậm chí không có kinh nghiệm trong việc quản lý và điều hành công ty do vậy họ chỉ muốn đầu tư cũng chỉ nhằm mục đích lợi nhuận Những vấn đề cụ thể hơn thường được quy định trong điều lệ công ty cổ phần
1.2 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
Trong lịch sử phát triển của pháp luật hợp đồng cho thấy thuật ngữ về
“Hợp đồng” được hình thành từ động từ “contrahere” trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện lần đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ thứ
5, thứ 6 trước công nguyên Pháp luật phương Tây đã có sự kế thừa và phát triển đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Hợp đồng” trong khoa học pháp lý cũng như trong việc thực hiện các giao dịch trong thực tiễn từ thời La Mã Việt Nam chúng ta trước đây sử dụng một số thuật ngữ có ý nghĩa tương tự hợp đồng như: khế ước, văn tự, cam kết, tờ giao ước… Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của nhà nước ban hành không còn sử dụng thuật ngữ này
mà sử dụng các thuật ngữ như hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại Hợp đồng chyển nhượng cổ phần là loại hợp đồng được thể hiện trong việc thực hiện các giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa các nhà đầu
tư trong các công ty cổ phần hoặc thực hiện các giao dịch chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán
Có thể nói thuật ngữ “hợp đồng” có một phạm trù đa nghĩa và có thể được xem xét qua nhiều góc độ khác nhau Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đồng” theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan Nhìn từ góc độ khách quan, hợp đồng là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong pháp luật dân sự, bao gồm các quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và chủ yếu là quan hệ về tài sản trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa
Trang 26các chủ thể với nhau Nhìn từ góc độ chủ quan, hợp đồng là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng hay là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể, được thể hiện bằng các điều khoản cụ thể về quyền
và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, nhà làm luật đã đưa ra định nghĩa
về hợp đồng tại Điều 385 BLDS 2015, theo đó thì “hợp đồng là sự thoả thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Với khái niệm này, chúng ta có thể nhận thấy rằng nó không những phản
ánh đúng bản chất của thuật ngữ “hợp đồng”, mà còn thể hiện rõ vai trò của hợp đồng trong việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự, nó như là một căn cứ pháp lý phổ biến để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên trong quá trình thực hiện các giao dịch
Theo giáo sư Mechael Blackeney của Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary, Đại học London, thì khái niệm “chuyển nhượng” được hiểu như sau: Chuyển nhượng là việc chủ sở hữu bán tất cả các quyền sở hữu trí tuệ độc quyền của mình và được một cá nhân khác hoặc pháp nhân khác mua lại các quyền đó Khi tất cả các quyền độc quyền đối với một sáng chế đã được bảo hộ được chủ sở hữu của nó chuyển giao cho một cá nhân hoặc một pháp nhân khác mà không có một giới hạn bất kỳ về thời gian hoặc các điều kiện khác, thì việc chuyển nhượng các quyền đó xem như đã được thực hiện Qua
đó, chúng ta thấy rằng “chuyển nhượng” là việc chủ sở hữu giao tài sản thuộc
sở hữu của mình cho người được nhận chuyển nhượng và nhận được từ người nhận chuyển nhượng một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đó Như vậy chúng ta thấy có sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ Chuyển nhượng cổ phần là việc cổ đông chuyển
Trang 27một phần hoặc toàn bộ số cổ phần mà mình đang nắm giữ cho người khác
Với ý nghĩa là một loại hợp đồng cụ thể, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần cũng có thể được định nghĩa dựa trên quan niệm chung và thống nhất về hợp đồng, từ lý luận và thực tiễn, loại hợp đồng này cũng có những điểm đặc thù nhất định Trên quan điểm nhận thức như vậy, tác giả luận văn cho rằng
có thể định nghĩa về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần như sau:
Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên chuyển nhượng (bên bán) chuyển quyền sở hữu số cổ phần thuộc sở hữu của mình cho bên nhận chuyển nhượng (bên mua) và bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng theo giá cả do các bên thỏa thuận
Qua đó, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có những đặc điểm như: (1) Chuyển nhượng cổ phần là hình thức mua bán một phần doanh nghiệp Nếu chuyển nhượng một lượng cổ phần đạt tỷ lệ chi phối quyền kiểm soát trong công ty cổ phần, bên nhận chuyển nhượng cổ phần sẽ có quyền sở hữu một phần công ty cổ phần và có quyền kiểm soát công ty cổ phần đó Trong trường hợp nếu bên nhận chuyển nhượng nhận chuyển nhượng cổ phần đến một tỷ lệ nhất định (đạt tỷ lệ cổ phần chi phối) trong công ty cổ phần thì trường hợp này sẽ được coi như là mua bán doanh nghiệp (2) Về chủ thể của việc chuyển nhượng Cổ đông không bị bắt buộc phải chịu ràng buộc suốt đời với cổ phần họ nắm giữ Khi không còn nhu cầu sở hữu cổ phần đó nữa, cổ đông hoàn toàn có thể chuyển nhượng nó với tư cách là một loại tài sản trong giao dịch dân sự Chủ thể nhận chuyển nhượng cổ phần có thể là cá nhân hoặc
tổ chức có nhu cầu sở hữu, có đủ năng lực tài chính và đáp ứng được các điều kiện do luật định thì đều có thể nhận chuyển nhượng cổ phần (3) Cổ phần với
tư cách là một loại tài sản, có giá trị tiền tệ được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự nhưng nguyên tắc tự do chuyển giao bị hạn chế bởi một số ngoại
Trang 28lệ về: điều khoản về sự chấp thuận và điều khoản cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết Tất cả các điều khoản hạn chế này do pháp luật về doanh nghiệp quy định chi tiết (4) Chuyển nhượng cổ phần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện và thủ tục chuyển nhượng (5) Chuyển nhượng cổ phần không chỉ đơn giản là sang tên các khoản vốn điều lệ, điều chỉnh đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần mà chủ thể chuyển nhượng cổ phần còn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với cơ quan nhà nước
1.3 Nguyên tắc chuyển nhượng cổ phần
Tổng thể các quy định của pháp luật bắt buộc các bên có liên quan phải tuân thủ khi tham gia vào quá trình chuyển nhượng cổ phần Chuyển nhượng
cổ phần trong công ty cổ phần phải tuân thủ nguyên tắc tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật dân sự, nhưng bị hạn chế bởi một số trường hợp ngoại lệ Quy định ràng buộc các cổ đông sáng lập trong thời gian ba năm đầu thành lập công ty cổ phần có tác dụng duy trì sự ổn định để công ty cổ phần phát triển Với một đặc trưng rất dễ nhận biết đó là sự gia nhập và ra đi một cách liên tục, thường xuyên của các cổ đông, nhất là ở những công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Trong khi đó, khi mới thành lập, các cơ quan quyền lực trong công ty cổ phần chưa thể hoàn thiện ngay Với đặc điểm này, công ty cổ phần sẽ liên tục phải đối đầu với vấn đề nhân sự trong các cơ quan quản lý của mình Trong khi đó, điều cần thiết trong khoảng thời gian mới thành lập công ty cổ phần là phải tập trung thực hiện chiến lược hoạt động và các mục tiêu kinh doanh của công ty cổ phần, chứ không phải loay hoay với việc thay đổi nhân sự trong các cơ quan quyền lực, quản lý, kiểm soát
Các quy định pháp luật về nguyên tắc chuyển nhượng đóng vai trò là cơ
sở pháp lý cho các cổ đông thực hiện hoạt động chuyển nhượng cổ phần của
Trang 29mình Các nguyên tắc này bảo vệ công ty cổ phần trước sự xâm nhập của người ngoài bằng các quy định hạn chế sự xuất hiện của những người lạ (người không phải là cổ đông sáng lập vào công ty cổ phần); bảo vệ các cổ đông mới nhận chuyển nhượng cổ phần trước những nguy cơ xuất hiện những hành vi lừa dối, gian lận, thiếu trung thực của bên chuyển nhượng Với các nguyên tắc chuyển nhượng cổ phần mà Luật Doanh nghiệp (2014) đã quy định, các bên có liên quan trong quan hệ chuyển nhượng có nghĩa vụ thực hiện các “quy tắc xử sự” mà pháp luật đã đề ra Đồng thời, pháp luật chỉ ghi nhận các nội dung bảo vệ các lợi ích chính đáng của các cổ đông trong công
cổ đông khác hoặc cho bất kỳ người nào Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông cụ thể như sau:
Điều 110, khoản 1, điểm d, quy định: “d) Cổ đông có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 119 và khoản 1, Điều 126 của Luật này”;
Điều 114, Khoản 1, Điểm d quy định về quyền của cổ đông phổ thông:
“d) Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 119 và khoản 1, Điều 126 của Luật này”;
Điều 126, Khoản 1, quy định: “1 Cổ phần được tự do chuyển nhượng,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 119 của Luật này và Điều lệ công
ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty
Trang 30có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng”
Như vậy, với vốn đã bỏ ra để mua cổ phần mà công ty cổ phần chào bán, cổ đông không nhất thiết phải gắn bó lâu dài với công ty, nếu họ không muốn Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần đem lại cho công ty cổ phần lợi thế hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác Đối với công ty cổ phần, quyền chuyển nhượng cổ phần bao gồm cả quyền tặng, cho, để thừa kế… cổ phần Điều đó có nghĩa là khái niệm “chuyển nhượng cổ phần” trong công ty
cổ phần không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là việc mua, bán, trao đổi cổ phần
Một trong những ưu điểm nổi bật của công ty cổ phần là mặc dù cổ đông “không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần” theo khoản 1, điều 115, Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhưng cổ đông vẫn có
quyền “được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và
cho người không phải là cổ đông” (điểm d khoản 1 điều 114 Luật Doanh
nghiệp 2014) Do xuất phát từ quan điểm xem công ty cổ phần là mô hình doanh nghiệp có tính chất đối vốn, có tính chất đại chúng khác với mô hình doanh nghiệp có tính chất đối nhân, nên việc chuyển nhượng vốn trong công
ty cổ phần dễ dàng hơn so với trong công ty trách nhiện hữu hạn và công ty hợp danh
Cũng chính vì điều đó, việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần không phải là một vấn đề gì quá phức tạp và khó khăn Các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác một cách công khai trên thị trường chứng khoán theo những điều kiện mà pháp luật cũng như Điều lệ của công ty cổ phần quy định Các nhà làm luật quy định quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông xuất phát từ quan niệm xem công ty cổ phần là
Trang 31mô hình tổ chức theo hình thức đối vốn, có tính chất đại chúng Quyền này phản ánh cấu trúc vốn linh hoạt của công ty cổ phần và khả năng chuyển đổi
dễ dàng mà không làm mất đi tính ổn định trong cấu trúc vốn Đây cũng là đặc điểm nổi bật của công ty cổ phần và là điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác theo pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay
Chuyển nhượng cổ phần phổ thông: cổ phần phổ thông có thể được coi
là nền tảng cơ bản về vốn của công ty cổ phần, tổng giá trị của loại cổ phần này chiếm tỷ lệ chủ yếu trong công ty cổ phần Người sở hữu cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, một cổ phần phổ thông sẽ có một phiếu biểu quyết, quyết định các vấn đề quan trọng đến tổ chức, hoạt động của công ty cổ phần Khi không còn nhu cầu đầu tư vào công ty cổ phần, cổ đông phổ thông có thể chuyển quyền
sở hữu của mình đối với công ty cổ phần cho người khác thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần Các điều kiện về chào bán, chuyển nhượng loại cổ phần này thường do Điều lệ công ty cổ phần quy định
Chuyển nhượng các loại cổ phần ưu đãi: Bên cạnh các cổ phần phổ
thông, các công ty cổ phần có thể quyết định việc phát hành thêm một số loại
cổ phần ưu đãi Các loại cổ phần ưu đãi bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết,
cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và một số cổ phần ưu đãi khác (nếu có) do Điều lệ công ty cổ phần quy định Cũng như các cổ đông phổ thông, các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại đều là những người đầu tư vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần trong công ty cổ phần và hoàn toàn có quyền tự do chuyển nhượng các loại cổ phần này Nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa các loại cổ phần này là: các cổ đông phổ thông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết, còn các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quyền
dự họp Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết Đối với các loại cổ phần ưu đãi
Trang 32(trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết), việc chuyển nhượng chúng như thế nào hoàn toàn mang tính chất tùy nghi và do Điều lệ công ty cổ phần quy định Nếu Điều lệ công ty cổ phần không cụ thể hóa vấn đề này, các cổ đông sở hữu chúng sẽ tự do chuyển nhượng theo quy định Luật doanh nghiệp 2014
Việc đảm bảo quyền tự do chuyển nhượng cổ phần có ý nghĩa rất quan trọng đối với cổ đông và cả nhà đầu tư Bởi mục đích chính của việc góp vốn đầu tư vào công ty cổ phần là mục đích tìm kiếm lợi nhuận do được hưởng cổ tức hàng năm hoặc hưởng chênh lệch giá từ chuyển nhượng cổ phần Khi công ty cổ phần làm ăn thuận lợi, phát triển thì giá cổ phiếu của công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán tăng Chính vì vậy, khi cảm thấy có khoản lợi nhuận lớn hơn từ chênh lệch giá cổ phiếu, cổ đông sẽ bán đi để thu lợi nhuận Trong trường hợp công ty cổ phần hoạt động kém hiệu quả, giá cổ phiếu giảm, cổ đông muốn hạn chế rủi ro, thua lỗ do đầu tư vào cổ phiếu, thì
họ có quyền bán cổ phiếu cho những nhà đầu tư có nhu cầu Điều này cũng tạo ra cơ hội tái cấu trúc lại công ty cổ phần đối với những công ty làm ăn kém hiệu quả, khi có các nhà đầu tư mong muốn mua lại phần lớn cổ phần để thiết lập lại bộ máy quản lý cũng như chiến lược hoạt động của công ty cổ phần Đối với nhà đầu tư, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện chiến lược đầu tư mua cổ phần của công ty cổ phần nhằm giành quyền quản lý, sau đó cải tạo và sắp xếp lại bộ máy quản lý, điều hành của công ty cổ phần Cơ chế này buộc các nhà quản trị công ty cổ phần phải tìm mọi phương án hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
cổ phần, nếu không muốn mất quyền quản lý và để công ty cổ phần rơi vào tay nhà đầu tư khác
Pháp luật Việt Nam thừa nhận tính tự do chuyển nhượng của cổ phần như một nguyên tắc, song cũng có một số giới hạn nhất định như: Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập: Theo Điều 119, khoản 3, Luật Doanh
Trang 33nghiệp năm 2014 thì: “Trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông”
Tuy nhiên, không phải tất cả số cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông sáng lập
đều chịu sự hạn chế chuyển nhượng này mà chỉ có “số cổ phần đăng ký tại
thời điểm đăng ký doanh nghiệp lần đầu đã góp trong 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” mới bị hạn chế chuyển
nhượng theo Điều 119, khoản 3 Hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập sẽ được bãi bỏ sau 3 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Pháp luật quy định như vậy một mặt là nhằm ràng buộc và đề cao trách nhiệm của cổ đông sáng lập trong giai đoạn đầu thành lập công ty cổ phần Mặt khác, điều này có tác dụng ngăn chặn tình trạng các sáng lập viên thành lập công ty cổ phần nhằm mục đích không trong sáng (như để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản sản của người góp vốn…) và khi đạt được mục đích của mình, họ bán cổ phần của mình và bỏ mặc số phận của công ty cổ phần cũng như của các cổ đông khác
Đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết tại khoản 3 điều 116 Luật Doanh
nghiệp năm 2014 quy định: “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác” Việc không được
chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác có nghĩa là tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết mà mình nắm giữ cho người khác Tuy nhiên, sau thời hạn ba năm, kể từ khi công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển thành
Trang 34cổ phần phổ thông Pháp luật đưa ra những hạn chế như vậy cũng nhằm đảm bảo và duy trì tính ổn định trong hoạt động của công ty cổ phần Đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết do tổ chức được Chính phủ ủy quyền nắm giữ, đương nhiên việc chuyển nhượng sẽ bị hạn chế bởi đây là cơ quan đại diện cho sự quản lý của Nhà nước trong hoạt động của công ty cổ phần, nhằm điều tiết hoạt động của công ty cổ phần cho phù hợp với định hướng của Nhà nước, vì vậy cổ đông được Chính phủ ủy quyền nắm giữ không được phép chuyển nhượng Với cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, việc chuyển nhượng này cũng bị hạn chế trong khoảng thời gian ba năm nhằm duy trì sự ổn định trong cơ cấu và bảo đảm định hướng phát triển của công ty cổ phần, khi những cổ đông này là người đầu tiên đứng ra thành lập và định hình sự phát triển của công ty cổ phần thì họ phải có trách nhiệm đối với công ty Đây là quy định hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong thực tiễn có thể gặp trường hợp đặc biệt, khi một cổ đông có quyền ưu đãi biểu quyết mất tích, chết hay mất năng lực hành vi dân sự thì số cổ phần ưu đãi biểu quyết đó sẽ được giải quyết như thế nào? Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về sự chuyển đổi của cổ phần ưu đãi biểu quyết của tổ chức được Chính phủ ủy quyền
Ngoài hai trường hợp pháp luật hạn chế chuyển nhượng cổ phần như trên, thực tế tại một số công ty cổ phần, Hội đồng quản trị không cho phép cổ đông công khai chuyển nhượng cổ phần hoặc chỉ cho phép chuyển nhượng cổ phần trong nội bộ công ty cổ phần Điều này đã dẫn đến tình trạng chuyển nhượng ngầm Cổ đông thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần chỉ thông qua giấy viết tay mà không làm thủ tục chuyển nhượng tại công ty cổ phần Một
số công ty cổ phần khác, tuy không hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần nhưng lại gây khó khăn cho cổ đông trong việc hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng cổ phần Điều này đã xâm phạm nghiêm trọng tới quyền và lợi ích
Trang 35của cổ đông được pháp luật bảo vệ
1.5 Thủ tục chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Các quy định liên quan tới chuyển nhượng cổ phần được Luật Doanh nghiệp (2014) quy định một cách rất cụ thể và rõ ràng, như: hình thức chuyển nhượng, trường hợp chỉ chuyển nhượng một số cổ phần trong cổ phiếu có ghi tên… Chuyển nhượng có thể được thực hiện giữa các cổ đông trong công ty
cổ phần hoặc với người không phải là cổ đông của công ty cổ phần Nhưng khác với hình thức mua lại cổ phần, chuyển nhượng cổ phần không làm thay đổi số vốn thực tế của công ty cổ phần, không làm ảnh hưởng đến quy mô sản xuất hay năng lực tài chính của công ty cổ phần trên thị trường
Chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng văn bản theo cách thông thường là hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc mua bán trên thị trường chứng khoán Bên chuyển nhượng vẫn là người sở hữu cổ phần có liên quan cho đến khi tên của người nhận chuyển nhượng được ghi vào sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần Giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký Thủ tục chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần được quy định như:
Chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập: Các bên liên quan ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phần; Tiến hành lập biên bản xác nhận về việc đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng cổ phần; Tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để thông qua việc chuyển nhượng cổ phần; Tiến hành chỉnh sửa, bổ sung thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần; Tiến hành đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập theo quy định;
Chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông phổ thông: Các bên liên quan ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phần; Tiến hành lập biên bản xác nhận về việc đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng cổ phần;
Trang 36Tiến hành chỉnh sửa, bổ sung thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông của công ty
cổ phần; Tiến hành đăng ký cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên với
Cơ quan đăng ký kinh doanh (nếu có) Bên chuyển nhượng vẫn là người sở hữu cổ phần có liên quan cho đến khi thông tin của người nhận chuyển nhượng được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào Sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty cổ phần Cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần
đó
Quyền chuyển nhượng cổ phần bao gồm mua, bán, tặng, cho, để lại thừa kế Trong quan hệ chuyển nhượng cổ phần, người nhận chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu cổ phần khi tên của người này được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông của công ty cổ phần Như vậy, người chuyển nhượng vẫn được nhận cổ tức từ công ty cổ phần khi họ chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian giữa thời điểm kết thúc việc lập Danh sách cổ đông và thời điểm trả cổ tức Luật Doanh nghiệp (2014) còn dự liệu cả trường hợp chỉ chuyển nhượng một số cổ phần trong số cổ phiếu có ghi tên, thì cổ phiếu cũ bị hủy bỏ và công ty cổ phần phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ phần đã chuyển nhượng và số cổ phần còn lại
Cổ đông đã chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân dựa trên thu nhập mà người này đã nhận được khi tiến hành chuyển nhượng cổ phần của mình với thuế suất 0,1% tính trên giá trị của hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
Đối với trường hợp chuyển nhượng các loại cổ phần khác (trừ các loại
cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng) thì việc chuyển nhượng cổ phần sẽ được ghi nhận trong Sổ đăng ký cổ đông Bên nhận chuyển nhượng cổ phần sẽ trở
Trang 37thành cổ đông của công ty cổ phần, có các quyền và nghĩa vụ của một cổ đông sở hữu công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần đó, cũng như được hưởng các quyền lợi khác từ loại cổ phần ưu đãi mà họ sở hữu trong công ty cổ phần
1.6 Những quy định về lợi ích của các bên tham gia hợp đồng
chuyển nhượng cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Quá trình tham gia góp vốn vào công ty cổ phần, để phục vụ cho lợi ích của mình, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần thông qua hoạt động mua bán, chuyển nhượng cổ phần Cổ phần được chuyển nhượng, nó sẽ làm phát sinh quyền và trách nhiệm đối với các bên trực tiếp tham gia chuyển nhượng và các bên có liên quan Các bên có quyền tự thỏa thuận về giá, tuy nhiên phải phù hợp với pháp luật hiện hành và phụ thuộc rất nhiều vào tình hình hoạt động của công ty cổ phần Người sở hữu cổ phần được thực hiện các quyền và nghĩa vụ với tư cách là cổ đông của công ty cổ phần Nếu công
ty cổ phần hoạt động có lãi thì giá bán cổ phần sẽ được tăng; ngược lại công
ty cổ phần làm hoạt động thua lỗ thì giá bán cổ phần sẽ giảm Bên nhận chuyển nhượng tự nhận định giá trị của cổ phần (có thể do họ tự thu thập thông tin hoặc do bên chuyển nhượng cung cấp) Các thông tin này là những thông tin đặc biệt, bởi vì nó có liên quan đến tình hình hoạt động của công ty phát hành cổ phần, nhất là tình hình tài chính Đặt giả thiết rằng: bên chuyển nhượng cổ phần đã cung cấp các thông tin không đầy đủ và trung thực cho bên nhận chuyển nhượng, do đó dẫn đến việc bên nhận chuyển nhượng có sự nhầm lẫn về giá trị của cổ phần Vậy thì trong trường hợp luật không quy định rằng cung cấp và đảm bảo giá trị thông tin về cổ phần là nghĩa vụ của bên chuyển nhượng, thì bên nhận chuyển nhượng có thể có quyền yêu cầu đền bù thiệt hại hoặc hủy bỏ hợp đồng hay không? Chúng ta có thể áp dụng tương tự pháp luật các quyền và nghĩa vụ của bên mua và bên bán trong hợp đồng mua
Trang 38bán hàng hóa thông thường cho hợp đồng mua bán quyền tài sản này hay không? Có thể thấy pháp luật vẫn chưa có quy định rõ ràng cụ thể và đầy đủ
để bảo vệ quyền lợi của bên mua trong trường hợp này Đây là một nội dung
mà trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cần xác định và có những kiến nghị để hoàn thiện cho pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng cổ phần
Pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, qua đó:
1.6.1 Chuyển nhượng cổ phần chưa niêm yết
Việc chuyển nhượng cổ phần chưa niêm yết được thực hiện bằng hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Nội dung định đoạt cổ phần chính là nội dung của hợp đồng chuyển nhượng cổ phần Trong khoa học pháp lý, điều khoản của hợp đồng được chia làm ba loại: Điều khoản căn bản, điều khoản thông thường và điều khoản tùy nghi Một hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có thể bao gồm nhiều điều khoản: Điều khoản do các bên thỏa thuận, điều khoản do pháp luật quy định Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần bắt buộc phải có những nội dung như: (1) Bên nhận chuyển nhượng cổ phần phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đối với việc chuyển nhượng vốn trong công
ty cổ phần, hình thức công ty được đánh giá là có cấu trúc vốn được chuyển nhượng tự do và khá dễ dàng thì việc chuyển nhượng được hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm cả hình thức tặng cho hoặc thừa kế) thì người nhận chuyển nhượng không đòi hỏi phải có năng lực pháp luật hoặc năng lực hành vi dân
sự đầy đủ Tuy nhiên, người nhận chuyển nhượng trong trường hợp này cũng phải chịu một số hạn chế nhất định liên quan đến điều kiện chuyển nhượng theo quy định của pháp luật doanh nghiệp (2) Đối tượng được chuyển nhượng chính là số cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông (3) Số lượng cổ phần chuyển nhượng (4) Giá chuyển nhượng và phương thức thanh toán: Giá
Trang 39chuyển nhượng do các bên tự do thỏa thuận Về phương thức thanh toán các bên có thể thỏa thuận thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua Ngân hàng (5) Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: Đây là nội dung không thể thiếu trong hợp đồng, nó quyết định một hợp đồng có hình thành và thực hiện được
hay không
Như vậy, có thể hiểu đây là một loại giao dịch dân sự mà đối tượng là
cổ phần, cơ sở hình thành là sự thỏa thuận từ hai bên Vì thế, thủ tục giao dịch cũng do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật dân sự Các hành vi chuyển nhượng khác, như tặng cho, thừa kế cũng thuộc hình thức chuyển nhượng này Yêu cầu đối với trường hợp chuyển nhượng cổ phần bằng hợp đồng là giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại điện ủy quyền của họ ký
1.6.2 Chuyển nhượng cổ phần đã niêm yết thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán
Hình thức chuyển nhượng mà trong đó, các công ty cổ phần được mua bán trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt về tính minh bạch tài chính, về khả năng sinh lời, phải được Ủy ban Chứng khoán thẩm định và phải tuân thủ các quy tắc kiểm toán theo pháp luật về chứng khoán Những quy định chặt chẽ này nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho người mua, vì khi cổ phần niêm yết được mua bán trên thị trường chứng khoán thì số lượng nhà đầu tư có thể rất lớn và không phải ai cũng có đủ thông tin để đánh giá về giá trị cổ phần Sự can thiệp của Nhà nước trong việc thẩm định các công ty cổ phần đăng ký bán cổ phần là một chứng thực tin cậy
để người mua đưa ra các quyết định trong việc giao dịch Người mua thực hiện việc mua cổ phần chỉ qua các thông tin đã được Nhà nước kiểm định, người mua không nhìn thấy hàng hóa cụ thể, nếu các thông tin này bị sai lệch thì có rất nhiều rủi ro đối với người mua Điều này cho thấy pháp luật về
Trang 40chứng khoán cần phải hết sức cụ thể, phải được thực hiện đầy đủ để bảo vệ lợi
ích người mua
Pháp luật của Việt Nam thừa nhận tính tự do chuyển nhượng cổ phần như một nguyên tắc đặc thù của loại hình công ty cổ phần Xuất phát từ quan niệm xem công ty cổ phần là mô hình tổ chức theo hình thức đối vốn, có cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng chuyển đổi dễ dàng mà không làm mất đi tính
ổn định trong cấu trúc vốn Pháp luật Việt Nam quy định cổ phần được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là một loại “hàng hóa” đặc biệt và người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Điều này khác với mô hình tổ chức doanh nghiệp theo hình thức đối nhân nên việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần dễ dàng hơn so với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp doanh
Với số vốn đã bỏ ra để mua cổ phần mà công ty cổ phần chào bán, cổ đông không nhất thiết phải gắn bó lâu dài với công ty cổ phần, nếu họ không muốn Đối với công ty cổ phần, quyền chuyển nhượng cổ phần bao gồm cả quyền bán, tặng, cho và thừa kế cổ phần Một trong những điểm nổi bật của công ty cổ phần là mặc dù cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty cổ phần mua lại
cổ phần, nhưng lại được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông Điều này xuất phát từ bản chất của công ty cổ phần là công ty đối vốn, có tính chất đại chúng Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần không phải là một vấn đề gì quá phức tạp
và khó khăn Điều đó có nghĩa là các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác công khai trên thị trường chứng khoán theo những điều kiện mà pháp luật cũng như điều lệ của công ty cổ phần quy định
Tính tự do chuyển nhượng cổ phần đem lại cho công ty cổ phần lợi thế