1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều Kiện Kinh Doanh Bán Hàng Đa Cấp Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay Từ Thực Tiễn Thành Phố

87 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 820,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tập đoàn, công ty bán hàng đa cấp hoạt động từ rất lâu và bây giờ đã xây dựng được hàng trăm chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới, phải kể đến như: Tập đoàn Amway, Avon… Cùng với sự

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô Học viện Khoa học xã hội, đặc biệt em xin cảm ơn Thầy Bùi Nguyên Khánh – Phó giáo sư Tiến sĩ đã hướng dẫn tận tình, thường xuyên động viên, khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu này Trân trọng gửi đến Thầy Cô lời cảm

ơn sâu sắc

Em xin cảm ơn Sở Công thương Thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho em được tiếp cận với những tài liệu tham khảo quan trọng và bổ ích

Em xin cảm ơn các anh/chị, bạn – những người đã động viên em về mặt tinh thần trong suốt thời gian em hoàn thành Luận văn

Xin cám ơn,

Ngày 24 tháng 8 năm 2019

Tác giả

VÕ ĐAN MẠCH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Nguyên Khánh Những luận điểm, ý tưởng, nhận xét đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, các cơ quan tổ chức, tác giả khác

sử dụng trong bài viết đều đã được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ

Ngày 24 tháng 8 năm 2019

Tác giả

VÕ ĐAN MẠCH

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN HÀNG ĐA CẤP 8

1.1 Khái niệm bán hàng đa cấp và điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp 8

1.1.1 Khái niệm kinh doanh theo phương thức đa cấp 8

1.1.2 Đặc điểm của bán hàng đa cấp 10

1.2 Pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp 14

1.2.1 Về chủ thể tham gia họat động BHĐC 14

1.2.2 Điều kiện về vốn pháp định 16

1.2.3 Điều kiện về nghĩa vụ của doanh nghiệp trong kinh doanh đa cấp 17

1.3 Kinh nghiệm quốc tế điều chỉnh pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC 18 1.3.1 Pháp luật Trung Quốc 18

1.3.2 Pháp luật Malaysia 20

1.3.3 Pháp luật Hoa Kỳ 21

CHƯƠNG 2: 28

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH 28

2.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC ở Việt Nam hiện nay 28 2.1.1 Nội dung pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC 28

2.1.2 Chế tài và xử lý vi phạm điều kiện kinh doanh BHĐC 42

Trang 6

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh Bán hàng đa cấp tại

TP Hồ Chí Minh 46 2.2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện kinh doanh Bán hàng đa cấp ở Việt Nam 46 2.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp ở

TP Hồ Chí Minh 51

CHƯƠNG 3: 61 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 61

3.1 Phương hướng hoàn thiện 61 3.2 Giải pháp hoàn thiện 63 3.2.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh theo PTĐC 63 3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung

và hoạt động KDĐC nói riêng trên các phương tiện truyền thông đại chúng 68 3.2.3 Nâng cao năng lực trong quá trình thực thi nhiệm vụ quản lý và xử lý các

vi phạm liên quan đến điều kiện kinh doanh đa cấp của doanh nghiệp 68 3.2.4 Tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương - cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương – doanh nghiệp 72

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHĐC : Bán hàng đa cấp CTĐTCB : Chương trình đào tạo cơ bản KDĐC : Kinh doanh đa cấp

KDTM : Kinh doanh theo mạng PTĐC : Phương thức đa cấp

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động bán hàng đa cấp đã manh nha xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, bắt đầu từ những năm 1934 khi công ty bán hàng đa cấp đầu tiên “Vitamins California” được thành lập tại Mỹ cho tới thời điểm hiện tại đã có rất nhiều tập đoàn, công ty bán hàng đa cấp đã ra đời, tồn tại và phát triển Hiện nay, bán hàng đa cấp đang dần trở thành sự lựa chọn cho nhiều doanh nghiệp áp dụng

để bán sản phẩm của mình Các tập đoàn, công ty bán hàng đa cấp hoạt động

từ rất lâu và bây giờ đã xây dựng được hàng trăm chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới, phải kể đến như: Tập đoàn Amway, Avon… Cùng với sự phát triển phổ biến rộng rãi của hoạt động bán hàng đa cấp trên nhiều quốc gia mà nhiều quy định của pháp luật về bán hàng đa cấp đã ra đời để tạo ra những hành lang pháp lý chặt chẽ trong việc đảm bảo quản lý và điều chỉnh loại hình kinh doanh này phát triển một cách hợp pháp

Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp có uy tín hàng đầu thế giới

đã chứng minh cho tính ưu việt của phương thức bán hàng đa cấp trong việc kinh doanh Ngày 11/01/2007 với sự kiện gia nhập WTO đã đánh dấu cho sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu Với chính sách phát triển để Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã và đang từng bước khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần xã hội phát triển bền vững và lâu dài

Bán hàng đa cấp là phương thức giúp sản phẩm tới tay người tiêu dùng nhanh chóng bằng hệ thống mạng lưới phân phối viên, đại diện bán hàng của doanh nghiệp Tại Việt Nam, phương thức bán hàng đa cấp đã và đang thu hút rất nhiều thành phần trong xã hội tham gia và đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng kể cũng như đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn tổng doanh thu của

cả nước Bên cạnh đó, sự phát triển không ngừng của phương thức bán hàng đa

Trang 9

cấp với mô hình kinh doanh theo mạng, biến tướng của mô hình này xuất hiện,

đó là mô hình “hình tháp ảo” cũng đã gây ra sự phức tạp trong xã hội, kinh tế

và cản trở của chính mô hình “hình tháp ảo” này là gây ra tình trạng khó phân biệt với mô hình kinh doanh theo mạng

Nhằm làm rõ vấn đề này, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn TP HCM” để nhận dạng bán hàng đa cấp hợp pháp và bán hàng đa cấp

bất hợp pháp ở khu vực TP HCM bằng việc tìm kiếm những thông tin pháp luật liên quan và thâm nhập thực tế để có được cơ sở lí luận chính xác, rõ ràng

Đề tài này sẽ giúp nâng cao phần nào kiến thức của chúng ta về phương thức bán hàng đa cấp, qua đó có được cái nhìn đúng đắn về phương thức kinh doanh này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về mảng đề tài pháp luật về kinh doanh đa cấp hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu dưới các cấp độ như: Luận án tiến sỹ, Luận văn thạc sỹ, Khóa luận cử nhân luật nghiên cứu, hoặc các bài viết trên các bài báo khoa học, tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học và pháp lý, Tạp chí Lập pháp, Có thể liệt kê một số đề tài như sau:

Đề tài nghiên cứu khoa học:

- Nguyễn Thị Diệu Linh và Võ Minh Huân (2004): Một số vấn đề pháp

lý về kinh doanh đa cấp;

- Lê Thị Huyền: Thực trạng kinh doanh đa cấp ở Việt Nam và một số

đề xuất kiến nghị, Công trình dự thi nghiên cứu khoa học của sinh viên cấp

trường lần thứ 9 năm 2005;

Luận án tiến sỹ: Lê Bí Bo (2016), Quản lý nhà nước đối với hoạt động

bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học, Viện hàn lâm

khoa học xã hội Việt Nam;

Trang 10

Luận văn thạc sỹ:

Hà Ngọc Sơn (2006), Pháp luật về kinh doanh đa cấp, Luận văn thạc sỹ,

trường Đại học Luật Tp.HCM;

Lê Bí Bo (2010), Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp,

Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Luật Tp.HCM;

Vũ Văn Tú (2014), Hoàn thiện pháp luật về bán hàng đa cấp tại Việt Nam theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới, Luận văn thạc sỹ, trường Đại

học Quốc gia Hà Nội – Khoa luật

Luận văn cử nhân luật:

Trương Thị Ánh Nguyệt (2005), Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với kinh doanh đa cấp, Luận văn cử nhân, trường Đại học Luật Tp HCM;

Trần Thị Kim Hoàng (2007), Pháp luật chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính, Luận văn cử nhân, trường Đại học Luật Tp HCM;

Nguyễn Mai Sương Thảo (2006), Pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp ở Việt Nam, thực trạng và định hướng hoàn thiện, Luận văn cử

nhân, trường Đại học Luật Tp HCM

Báo và tạp chí:

Nguyễn Ngọc Sơn, Tính không lành mạnh của hành vi bán hàng đa cấp bất chính theo Luật cạnh tranh 2004, Tạp chí Khoa học pháp lý số 3 (34)/2006; Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật về quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp,

Trang 11

trong phạm vi Luận văn này, Tác giả xin được tiếp cận đề tài thông qua việc phân tích các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn từ TP HCM liên quan đến các điều kiện kinh doanh đa cấp nhằm làm rõ những bất cập, vướng mắc và đề xuất hướng hoàn thiện các điều kiện đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp mà hiện nay chưa có đề tài luận văn thạc sỹ nghiên cứu về đề tài này Do đó, việc nghiên cứu của tác giả theo hướng tiếp cận này hiện nay vẫn là một vấn đề chưa được thực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp và pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp; phân tích, đánh giá điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp tại TP HCM; để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong thời gian tới

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp và pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp;

- Phân tích, đánh giá điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp theo pháp luật Việt Nam hiện nay;

- Phân tích, đánh giá điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp theo pháp luật Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp tại TP HCM;

- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 12

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: điều kiện kinh doanh bán hàng đa

cấp; pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp tại Việt Nam; pháp luật

về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp của một số quốc gia trên thế giới

Phạm vi nghiên cứu: hệ thống các quy định pháp luật về điều kiện kinh

doanh bán hàng đa cấp đang có hiệu lực thi hành tại Việt Nam; kiểm chứng qua thực tiễn thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp tại TP HCM

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử Đây là phương pháp được sử dụng chủ đạo, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn, hướng đến mục đích đưa ra những kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan, chân thực

Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp tiếp cận hệ thống

đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, xã hội, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật; Những phương pháp này được vận dụng một cách phù hợp với mục đích và nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm:

Ở Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, thu thập,

phân tích, tiếp cận đa ngành nhằm đưa ra cách nhìn tổng quan về một số vấn

đề cơ bản liên quan đến đề tài luận văn

Ở Chương 2, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu,

phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ những quy định của pháp luật điều chỉnh điều kiện kinh doanh theo phương thức đa cấp, chế tài đối với hành

vi vi phạm; phân tích so sánh các quy định pháp luật hiện hành với các quy

Trang 13

định trước đây cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp tại TP HCM

Ở Chương 3, tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp lịch sử, xã hội

học pháp luật, phương pháp tổng hợp và dự báo để đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp, đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện một số quy định hiện hành còn bất cập hay thiếu khả thi

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp và pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp; những nghiên cứu, đề xuất của luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong thời gian tới;

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp Luận văn cũng có thể là tài liệu giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo pháp luật về bán hàng đa cấp

Chương 2 Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa

cấp ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện

kinh doanh bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay

Trang 15

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN

HÀNG ĐA CẤP 1.1 Khái niệm bán hàng đa cấp và điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp

1.1.1 Khái niệm kinh doanh theo phương thức đa cấp

Khái niệm kinh doanh đa cấp (Sau đây gọi tắt là KDĐC), hay còn gọi là

“Multi Level Marketing” được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:

Dưới góc độ ngôn ngữ, Multi level marketing là tiếp thị nhiều tầng, là

việc tiêu thụ hàng hóa ra thị trường với nhiều tầng, nhiều cấp khác nhau Trong

đó, mỗi tầng sẽ bao gồm một tập hợp các chủ thể tham gia mạng lưới phân phối các sản phẩm có vị trí giống nhau, như vậy đây là phương thức đưa sản phẩm trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Tuy nhiên cách tiếp cận trên chưa làm rõ khái niệm KDĐC vì các phương thức tiêu thụ sản phẩm qua các khâu trung gian cũng sử dụng phương pháp tổ chức mạng lưới gồm nhiều tầng khác nhau như: đại lý cấp 1, cấp 2, các cửa hàng bán lẻ… Để có thể hiểu rõ hơn về

khái niệm này ta có thể tìm hiểu các định nghĩa sau đây:

Theo Don Failla, tác giả cuốn Kinh doanh theo mạng (sau đây gọi tắt là KDTM): Từ A đến Z thì“KDTM là một tổ chức gồm nhiều tầng, được xây dựng nhằm lưu hành hàng hóa từ điểm sản xuất đến người tiêu dùng qua những mối giao tiếp giữa mọi người với nhau” [21, tr.2]

Theo Richard Poe, tác giả cuốn Làn sóng thứ ba - Kỷ nguyên mới trong ngành KDTM thì “KDTM là bất kỳ một phương pháp kinh doanh nào mà cho phép một cá thể kinh doanh độc lập tiếp nhận vào công việc của mình các cá thể kinh doanh độc lập khác và lấy ra được các khoản hoa hồng từ các công việc kinh doanh của các cá thể mà họ thu hút được” [34, tr.22]

Dưới góc độ quản lý, Hiệp hội bán hàng trực tiếp Hoa Kỳ định nghĩa như sau:

Trang 16

- Bán hàng trực tiếp bao gồm một loạt các phương pháp phân phối, trong

đó tiếp thị đa cấp là một loại phương pháp phân phối và nhận tiền thưởng Trong phân phối đa cấp các mẫu sản phẩm được phân phối từ một tuyến phân phối đến những người khác và tiền thưởng được tính không chỉ dựa trên doanh

số bán sản phẩm của chính mình, mà còn được tính trên các sản phẩm bán hàng của tuyến dưới mà mình bảo trợ [40, tr.1]

Dưới góc độ pháp lý, pháp luật của bang Georgia – Hoa Kỳ định nghĩa:

- Công ty phân phối đa cấp (Multi-level distribution company) là bất kỳ người nào, bất kỳ loại hình công ty nào tiến hành việc bán, phân phối hoặc cung ứng hàng hóa, dịch vụ có giá trị sử dụng thông qua những đại lý, phân phối viên, hợp tác viên độc lập ở các tầng khác nhau mà trong đó, những người tham gia có thể tuyển dụng người khác tham gia vào mạng lưới và tiền hoa hồng, tiền thưởng, những khoản giảm giá hoặc những lợi ích khác sẽ được chi trả từ kết quả của việc bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ, hoặc từ kết quả làm việc của những người tham gia mới [35, tr.5]

Ở nước ta, khái niệm KDĐC được đề cập với nhiều tên gọi khác nhau như: truyền tiêu đa cấp, KDTM, tiếp thị đa tầng, bán hàng đa cấp (Sau đây gọi tắt là BHĐC)… nhưng sự khác biệt này là do những cách dịch khác nhau của thuật ngữ Multi Level Marketing Pháp luật Việt Nam nhìn nhận KDĐC dưới thuật ngữ là kinh doanh theo PTĐC Theo quy định tại Nghị định 40/2018/NĐ-

CP ngày 12/3/2018 về quản lý hoạt động kinh doanh theo PTĐC (Sau đây gọi

là Nghị định 40/2018/NĐ-CP) thì: “Kinh doanh theo PTĐC là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong

đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác

từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới.”

Pháp luật Việt Nam nhìn nhận KDĐC là hình thức bán lẻ hàng hóa, và hàng hóa ở đây là các sản phẩm hữu hình, đối tượng không phải là hàng hóa

Trang 17

đều bị cấm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, ngoại trừ các hàng hóa sau:

a) Hàng hóa là thuốc; trang thiết bị y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm

cả thuốc thú y thủy sản); thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong lĩnh vực gia dụng và

y tế và các loại hóa chất nguy hiểm;

b) Sản phẩm nội dung thông tin số

Từ những phân tích trên ta thấy rằng hai thuật ngữ KDĐC hay KDTM là thể hiện được tương đối cụ thể và đầy đủ khái niệm Multi Level Marketing, nó bao quát toàn bộ việc tiếp thị, bán sản phẩm cho đến việc tuyển người tham gia xây dựng mạng lưới phân phối Tuy nhiên, thuật ngữ KDĐC thể hiện được cụ thể và rõ ràng hơn tính chất đa tầng của hình thức này

1.1.2 Đặc điểm của bán hàng đa cấp

Dựa vào nội hàm các quy định của pháp luật về BHĐC, có thể chỉ ra hoạt động BHĐC mang những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, KDĐC là một phương thức bán hàng trực tiếp, do đó nó có những đặc điểm cơ bản của phương thức bán hàng trực tiếp:

- Nhà phân phối phải chủ động tìm đến người tiêu dùng để tiếp thị và bán sản phẩm Sản phẩm đến với người tiêu dùng thông qua các nhà phân phối trực tiếp mà không thông qua thêm bất kỳ khâu trung gian nào;

- Doanh nghiệp không cần thiết phải quảng cáo trực tiếp sản phẩm, nhà phân phối sẽ trực tiếp quảng cáo sản phẩm cho người tiêu dùng Đồng thời, doanh nghiệp cũng không cần lập chi nhánh, đại lý phân phối sản phẩm rộng lớn mà chỉ cần tạo ra một hệ thống nhà phân phối rộng lớn, đồng thời trả hoa hồng cho nhà phân phối theo khối lượng sản phẩm mà họ tiêu thụ được Với các khoản tiết kiệm trên, doanh nghiệp sẽ có thêm lợi nhuận và đủ khả năng chi trả cho nhà phân phối;

Trang 18

- Nhà phân phối nhận hoa hồng và tiền thưởng dựa trên khối lượng sản phẩm mà họ tiêu thụ được nên hiệu quả kinh doanh của họ và doanh nghiệp không hoàn toàn gắn liền với nhau và có tính độc lập tương đối

Thứ hai, KDĐC có những đặc điểm riêng:

- Hàng hóa được tiêu thụ theo phương thức KDĐC không phải là tất cả các sản phẩm nói chung mà là những sản phẩm tiêu dùng có phân khúc thị trường rộng lớn, phù hợp với mọi người và có ưu điểm vượt trội so với các sản

phẩm cùng loại trên thị trường Don Faila nói về đặc điểm này như sau: “Trong KDTM, chúng ta sẽ dễ dàng hơn nếu hàng của chúng ta là hàng dễ bán Hầu hết các công ty KDTM đều phải chọn hàng hóa dễ bán, còn khi hàng hóa thuộc loại khó bán thì người ta đã bán qua mạng bán lẻ thông thường Richard Poe

bổ sung thêm: sản phẩm thích hợp nhất cho các công ty KDĐC phải là những sản phẩm đặc biệt mà người tiêu dùng ít biết đến và không thể mua ở siêu thị Chúng thường là sản phẩm chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, những sản phẩm chất lượng cao bởi vì chúng có sức thu hút và tác động đến con người” [35,

tr.9]

- Khách hàng tiềm năng trong KDĐC là những người thân quen, xuất phát từ tính chất của KDĐC là truyền từ người này sang người khác nên khách hàng chủ yếu là những người thân quen trong gia đình hoặc bạn bè vì chỉ họ mới sẵn sàng lắng nghe và tin tưởng Người này sử dụng được rồi giới thiệu cho người khác Mỗi một cá nhân có mối quan hệ với hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng nghìn người và số lượng các mối quan hệ có xu hướng tăng lên theo thời gian, điều đó giúp cho các nhà phân phối ít khi nào rơi vào trạng thái thiếu khách hàng tiềm năng nếu họ thật sự biết khai thác các mối quan hệ của mình

- Tất cả mọi người không phân biệt về trình độ, tuổi tác, giới tính đều

có thể tham gia làm nhà phân phối Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng

Trang 19

5 năm 2014 của Chính phủ về Quản lý hoạt động BHĐC (Sau đây gọi là Nghị

định 42/2014/NĐ-CP) quy định “Người tham gia BHĐC là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” [9, tr.1] Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định

“Người tham gia BHĐC là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật” [8, tr.1] Ngoài ra, Nghị định 40/2018/NĐ-CP cũng đã mở

rộng một số quy định so với Nghị định 42/2014/NĐ-CP về trường hợp của cá nhân khi không được tham gia trở thành người tham gia BHĐC gồm:

a) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng cấm, quảng cáo gian dối, lừa dối khách hàng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, tội vi phạm quy định về kinh doanh theo PTĐC;

b) Người nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luật;

c) Người tham gia BHĐC đã từng bị xử phạt do vi phạm các quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Nghị định này mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;

d) Cá nhân quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định này;

đ) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép cá nhân được tham gia BHĐC còn doanh nghiệp hay một tổ chức bất kỳ nào khác không được tham gia Việc quy định nội dung này này xuất phát từ đặc điểm của KDĐC là việc tiếp thị trực tiếp từ người này sang người khác mà chỉ có cá nhân mới đáp ứng được tiêu chí này

- Nhà phân phối trong KDĐC được phân thành nhiều tầng khác nhau, trong đó người thuộc tầng trên sẽ trực tiếp giúp đỡ và đào tạo cho những người thuộc tầng dưới Đối với các phương thức kinh doanh khác, kể cả trong bán hàng trực tiếp nhà phân phối không có quyền tuyển dụng và đào tạo nhà phân

Trang 20

phối mới bởi vì anh ta chỉ là người làm thuê cho doanh nghiệp, do đó nhà phân phối sẽ không được hưởng tiền hoa hồng hoặc các lợi ích khác từ lượng sản phẩm do những người mình đã giới thiệu tiêu thụ được, hoa hồng chỉ nhận được

từ việc tiêu thụ sản phẩm của chính mình, và thu nhập này sẽ dừng lại nếu như nhà phân phối ngừng việc bán lẻ Trong KDĐC, nhà phân phối có thể xây dựng nên một hệ thống các tuyến dưới, ngoài việc bán sản phẩm để nhận được hoa hồng họ còn có được nguồn thu nhập đáng kể từ mạng lưới phân phối viên tuyến dưới Khi đó, nhà phân phối sẽ làm việc và hưởng lợi như một chủ doanh nghiệp bình thường

Thứ ba, KDĐC là phương thức tiêu thụ hàng hóa có thể đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng, cho người tham gia mạng lưới và doanh nghiệp

- Đối với người tiêu dùng: KDĐC đem lại cho họ sự tiện dụng tối đa vì

được các phân phối viên phục vụ tận tình từ khâu giới thiệu cho đến việc đặt mua và giao sản phẩm Ngoài ra, do sản phẩm không phải lưu thông qua nhiều khâu trung gian nên chất lượng hàng hóa ít bị giảm sút như những sản phẩm được phân phối theo các phương thức khác

- Đối với người tham gia: KDĐC tạo điều kiện cho tất cả mọi người có

cơ hội tăng thêm thu nhập từ mạng lưới phân phối Điều kiện cơ bản để tham gia mạng lưới là người tham gia phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Như vậy, KDĐC đã góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, giúp mọi người

kể cả những người đã hết tuổi lao động như quy định của Bộ luật lao động có

cơ hội tăng thêm thu nhập chính đáng

- Đối với doanh nghiệp: áp dụng phương thức KDĐC giúp họ giảm

thiểu tối đa chi phí quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và chi phí thành lập, duy trì hệ thống chi nhánh, đại lý bán hàng Với chi phí tiết kiệm được ngoài việc doanh nghiệp chi trả hoa hồng và lợi ích cho các nhà phân phối, doanh nghiệp có thêm nguồn kinh phí để đầu tư nâng cao chất lượng sản

Trang 21

phẩm, sáng tạo ra những sản phẩm ưu việt hơn để phục vụ xã hội ngày càng tốt hơn

Thứ tư, ngoài những đặc điểm tích cực nêu trên thì KDĐC cũng có những hạn chế nhất định, cụ thể:

- Khách hàng tiềm ẩn là những người quen, dễ gây thiệt hại và làm tổn hại đến mối quan hệ thân thiết này Trên thực tế, việc tham gia hoạt động BHĐC

đã làm sứt mẻ, rạn nứt biết bao nhiêu mối quan hệ, điều này cũng cũng tồn tại ngay giữa các thành viên trong cùng một gia đình với nhau

- KDĐC không dễ dàng thành công, để tiêu thụ sản phẩm và xây dựng mạng lưới vững mạnh đòi hỏi phải đầu tư công sức và thời gian Do bị lôi cuốn bởi những lời hứa hẹn sẽ đạt thu nhập cao mà không cần tốn nhiều công sức

mà nhiều người đã trở thành nạn nhân của mô hình lừa đảo dạng kim tự tháp

- Những thiệt hại mà KDĐC gây ra là khá lớn, ảnh hưởng nặng nề cho người tham gia, người tiêu dùng và tình hình kinh tế, xã hội hiện nay Số thiệt hại mà các doanh nghiệp KDĐC bất chính gây ra vô cùng to lớn, trong khi số tiền ký quỹ của họ không đủ để giải quyết những hệ lụy này

1.2 Pháp luật về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp

1.2.1 Về chủ thể tham gia họat động BHĐC

Có rất nhiều chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật BHĐC bao gồm: Nhà nước với vai trò quản lý, doanh nghiệp BHĐC, người tham gia BHĐC, người tiêu dùng Tuy nhiên, chủ thể chính tham gia quan hệ pháp luật BHĐC

đó là doanh nghiệp BHĐC và người tham gia BHĐC Và trong phạm vi luận văn này, Tác giả xin được phân tích rõ hơn về doanh nghiệp BHĐC và người tham gia BHĐC

Thứ nhất, về doanh nghiệp BHĐC

Doanh nghiệp ở đây có thể là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm đem bán hoặc là doanh nghiệp phân phối các sản phẩm từ các thương

Trang 22

nhân khác nhau, nó có thể là doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài tùy thuộc vào mức độ mở cửa thị trường của mỗi nước cũng như môi trường kinh doanh nội địa Doanh nghiệp BHĐC có thể được thành lập dưới các hình thức khác nhau như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, công ty cổ phần Pháp luật mỗi quốc gia quy định về điều kiện để các doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm theo phương thức BHĐC khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm tình hình thị trường, quy mô dân số, quan điểm xây dựng [36, tr.16]

Theo đó, để KDĐC, phải là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Như vậy, chỉ có doanh nghiệp mới được đăng ký kinh doanh BHĐC Các tổ chức, cá nhân khác đều không được kinh doanh BHĐC Đây là một trong những điều kiện bắt buộc đối với chủ thể tham gia hoạt động BHĐC

Thứ hai, người tham gia BHĐC là một mắc xích quan trọng trong hoạt

động KDĐC của doanh nghiệp Họ chính là cầu nối giữa doanh nghiệp BHĐC

và người tiêu dùng Chủ thể này tham gia vào mạng lưới BHĐC thông qua hợp đồng Lợi nhuận của người này nhận được từ phía công ty BHĐC thông qua việc bán hàng của chính mình và của những người khác thuộc hệ thống do mình lập ra

Để tham gia BHĐC, người tham gia cần đáp ứng các điều kiện về năng lực chủ thể, cụ thể là năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự Tuy nhiên, không phải tất cả chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân

sự đều có thể trở thành chủ thể tham gia BHĐC, mà chủ thể này còn phải không thuộc các trường hợp mà các quy định của pháp luật điều chỉnh Nội dung này

sẽ được phân tích rõ hơn tại Chương 2 của Luận văn

Như vậy người tham gia mạng lưới BHĐC chỉ có thể là cá nhân, còn tổ chức không được quyền tham gia BHĐC Có chăng, tổ chức nếu tham gia

Trang 23

BHĐC chỉ với tư cách là chi nhánh hoặc đại lý phân phối sản phẩm cho doanh nghiệp BHĐC Khi đó, ngoài chức năng cung ứng sản phẩm, tổ chức làm chi nhánh hoặc đại lý còn có thể đại diện cho doanh nghiệp để xây dựng và quản

lý mạng phân phối viên Các nhà làm luật chỉ quy định rằng cá nhân mới có quyền tham gia mạng lưới BHĐC bởi vì xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động BHĐC Theo đó, BHĐC là phương thức tiêu thụ sản phẩm dựa vào mối quan hệ thân quen và sự quảng cáo trực tiếp giữa phân phối viên với người tiêu dùng Chủ thể tham gia mạng lưới BHĐC phải là người trực tiếp sử dụng, đánh giá chất lượng sản phẩm và dùng những hiểu biết kinh nghiệm cá nhân để tiếp thị sản phẩm với người thân quen [1, tr.153]

Về địa vị pháp lý, người tham gia BHĐC có địa vị hết sức đặc biệt Họ vừa được ví như là người đại lý, nhân viên tiếp thị, vừa là nhân viên bán hàng cũng là người vận chuyển sản phẩm đến tay người tiêu dùng Pháp luật của mỗi quốc gia quy định những điều kiện đối với người tham gia căn cứ vào đặc điểm nhân thân, mức độ nhận thức, mật độ dân cư, chính sách lao động [36, tr.17]

1.2.2 Điều kiện về vốn pháp định

Nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia hệ thống, người có quyền lợi liên quan Doanh nghiệp muốn tham gia hoạt động BHĐC phải đáp ứng điều kiện về vốn và việc ký quỹ Theo đó, cần phải có số vốn điều lệ tối thiểu

mà pháp luật quy định để hoạt động và góp phần hạn chế rủ ro và khắc phục những hậu quả nếu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả

Trên thực tế, có nhiều ngành cũng quy định vốn điều lệ tối thiểu cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nhằm đảm bảo các doanh nghiệp đó có đủ năng lực tài chính để hoạt động BHĐC cũng là một ngành kinh doanh có điều kiện và có tác động đến một số lượng lớn người tham gia, do vậy việc đưa ra điều kiện về vốn là phù hợp

Do đặc thù của hoạt động BHĐC, việc phát triển mạng lưới lớn hay nhỏ

Trang 24

đều phụ thuộc vào khả năng của những thành viên tham gia mạng lưới BHĐC Doanh nghiệp đóng vai trò hỗ trợ công tác phát triển mạng lưới của các thành viên chủ chốt này như việc cung cấp tài liệu, ký hợp đồng với người tham gia mạng lưới, cung cấp địa điểm làm việc cho người tham gia mạng lưới, cung ứng hàng hóa cho hệ thống Do đó, trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp với năng lực tài chính hạn hẹp sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển của

hệ thống, dẫn đến hạn chế trong quá trình phát triển mạng lưới cũng như bán hàng của người tham gia Việc này sẽ khiến người tham gia rời bỏ mạng lưới, chuyển sang tham gia vào mạng lưới của các doanh nghiệp khác hoạt động hiệu quả hơn Điều này phần nào được phản ánh thông qua các con số thống kê nêu trên [1, tr.87]

1.2.3 Điều kiện về nghĩa vụ của doanh nghiệp trong kinh doanh đa cấp

Doanh nghiệp KDĐC cần tuân thủ các điều kiện bắt buộc, cụ thể:

Thứ nhất, doanh nghiệp có trách nhiệm đào tạo người tham gia BHĐC

theo chương trình đào tạo cơ bản (Sau đây gọi tắt là CTĐTCB) đã đăng ký với

cơ quan có thẩm quyền và không được thu phí dưới bất kỳ hình thức nào Theo

đó, doanh nghiệp cần có chương trình đào tạo người tham gia rõ ràng; bao gồm nội dung đào tạo; thời gian đào tạo; trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ đào tạo; thời gian và nội dung bồi dưỡng định kỳ cho người tham gia Điều này nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật về các điều kiện trong xây dựng và tổ chức hoạt động BHĐC; tạo cơ chế vững chắc để bảo

vệ tốt nhất cho quyền lợi của người tham gia BHĐC có thể tự bảo vệ mình; đồng thời, có thêm cơ sở để Cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng quản

lý, giám sát và xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện

Thứ hai, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp BHĐC cần thực hiện

trách nhiệm báo cáo tới Bộ Công Thương và Sở Công Thương nơi doanh nghiệp có hoạt động bán hàng đa cấp về hoạt động BHĐC của doanh nghiệp,

Trang 25

các nội dung báo cáo có thể về số lượng người tham gia, doanh thu và số thuế

đã nộp của doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân của người tham gia mà doanh nghiệp đã nộp hộ

Điều này, một mặt, quy định rõ cho doanh nghiệp và người tham gia thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế cho nhà nước; mặt khác, ý thức rõ cho doanh nghiệp và người tham gia BHĐC luôn nhận thức được sự quản lý giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước đối với họat động này, nhằm nâng cao việc tuân thủ các quy định của pháp luật của các đối tượng tham gia [1, tr.134]

Việc quy định điều kiện như vậy góp phần giúp các doanh nghiệp BHĐC thực hiện nghiêm túc hơn trách nhiệm báo cáo, từ đó, giúp nâng cao hiệu quả của công tác thống kê, dự báo và quản lý

1.3 Kinh nghiệm quốc tế điều chỉnh pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC

1.3.1 Pháp luật Trung Quốc

Hoạt động BHĐC tại Trung Quốc hiện nay được điều chỉnh bởi Quy tắc

Quản lý Bán hàng trực tiếp (Regulation on Direct Selling Administration) Quy

tắc này được ban hành vào ngày 10/08/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/12/2005, sửa đổi bổ sung ngày 01/03/2017 Các quy định tại Điều 4 của Quy tắc này hạn chế sản phẩm được kinh doanh theo PTĐC bao gồm các sản phẩm

do công ty đó trực tiếp sản xuất hoặc từ công ty mẹ hoặc từ các công ty trong tập đoàn của nó Và các quy định này cũng yêu cầu các công ty nội địa hoặc nước ngoài (“FIEs”), để tham gia vào hoạt động bán hàng trực tiếp ở Trung Quốc phải nộp đơn xin cấp giấy phép bán hàng trực tiếp của Bộ Thương mại (“MOFCOM”) Theo quy định tại Điều 7 Quy tắc Quản lý Bán hàng trực tiếp thì muốn tiến hành đăng ký hoạt động bán hàng trực tiếp tại Trung Quốc thì

cần phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

Trang 26

(i) Nhà đầu tư không có hồ sơ về hoạt động kinh doanh bất hợp pháp nghiêm trọng trong năm năm trước khi nộp đơn; đối với nhà đầu tư nước ngoài phải kinh doanh bán hàng trực tiếp tối thiểu là ba năm ở nước ngoài;

(ii) Vốn điều lệ đăng ký không thấp hơn 80 triệu nhân dân tệ;

(iii) Ký quỹ một khoản tiền vào một ngân hàng được chỉ định theo quy định của Quy tắc này;

(iv) Hệ thống báo cáo và công bố thông tin yêu cầu khi thành lập Theo quy định tại Điều 29 của Quy tắc này thì số tiền ký quỹ là 20 triệu nhân dân tệ khi công ty được thành lập Sau khi công ty bắt đầu hoạt động, số tiền này sẽ được điều chỉnh hàng tháng, và lượng tiền duy trì là 15% doanh số bán hàng trong tháng trước đó, nhưng không vượt quá 0,1 tỷ nhân dân tệ và cũng không thấp hơn 20 triệu nhân dân tệ

Ngoài ra, theo Quy tắc quản lý KDĐC 1997 tại Trung Quốc thừa nhận tính hợp pháp của quy tắc này rất chặt chẽ:

- Bắt buộc doanh nghiệp phải có nhà máy sản xuất tại Trung Quốc;

- Không được tập trung quá đông người làm mất trật tự an ninh xã hội;

- Sản phẩm phải bán đến tận tay người tiêu dùng;

- Sản phẩm dinh dưỡng phải được Bộ y tế cấp giấy phép;

- Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình bán đến tận tay người tiêu dùng, nếu người tiêu dùng bị ảnh nhưởng đến sức khỏe theo giám định của cơ quan thẩm định mà do sản phẩm gây nên;

- Không được buộc người tham gia phải mua một lượng hàng hóa quá nhiều mà người bình thường trong thời gian ngắn không thể bán được [2, tr.26]

Nhìn chung, pháp luật Trung Quốc đã ban hành các quy định nhằm hạn chế các nguy cơ dẫn đến BHĐC bất chính

Việc pháp luật quy định BHĐC phải phân phối sản phẩm được sản xuất tại Trung Quốc hoặc thuộc các công ty trong tập đoàn, theo tác giả đây là một

Trang 27

quy định khá tiến bộ và mang tính hiệu quả rất cao, bởi vì sản phẩm khi do công ty trực tiếp sản xuất hay chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo tốt hơn cho nhu cầu, quyền lợi của người tiêu dùng cũng như tăng cường tính hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động của các công ty

Ngoài ra, nếu sản phẩm được sản xuất trong nước, sẽ tạo ra nhiều giá trị mới, bắt đầu từ nguồn nguyên vật liệu, giá trị sức lao động, lao động sống, phân phối, lưu thông hàng hóa… Hiểu được vấn đề cốt lỗi này, Công ty TNHH Amway Việt Nam cũng đã tiến hành xây dựng nhà máy sản xuất tại Đồng Nai

và Khu công nghiệp Vsip tại Bình Dương, Việt Nam Do đó sản phẩm mà Amway bán ra cho nhà phân phối với giá cả thấp hơn nhiều so với những sản phẩm nhập khẩu của các công ty khác trên thị trường có tính năng tương tự Nhờ đó, số lượng sản phẩm bán ra tăng cao, nhà phân phối của Amway cũng

dễ dàng bán sản phẩm cho người tiêu dùng với mức giá cả hợp lý nhưng chất lượng vẫn đảm bảo Chính nhờ những lợi thế này mà doanh số của Amway trong các năm đều đứng đầu trong số các doanh nghiệp BHĐC tại Việt Nam

1.3.2 Pháp luật Malaysia

Tương tự như như nhiều quốc gia khác trong khu vực, tại Malaysia, hoạt động kinh doanh theo PTĐC (Multi-Level Marketing) diễn ra rất phổ biến KDĐC tại Malaysia được điều chỉnh bởi Luật bán hàng trực tiếp và chống mô

hình kim tự tháp 1993 (Direct Sales and Anti-Pyramid Scheme Act 1993)

Theo các quy định trong Luật bán hàng trực tiếp và chống mô hình kim

tự tháp 1993, Malaysia cấm các công ty đa cấp kinh doanh theo mô hình kim

tự tháp Tại Điều 27A Luật bán hàng trực tiếp và chống mô hình kim tự tháp

1993 định nghĩa mô hình kim tự tháp là bất kỳ mô hình, sự sắp xếp, kế hoạch, hoạt động hoặc các chuỗi quá trình có tất cả hoặc bất kỳ các điểm đặc trưng được quy định trong danh mục Như vậy, bất kỳ hoạt động xúc tiến nào như

sắp đặt, chuẩn bị, lập kế hoạch, quảng cáo hoặc tiến hành hoạt động nào bằng

Trang 28

cách sử dụng bất kỳ phương tiện nào, bao gồm cả giao dịch điện tử hoặc xúi giục hoặc thử xúi giục người khác tham gia vào mạng lưới đều bị coi là mô hình kim tự tháp và đều bị cấm thực hiện

Những hoạt động bất hợp pháp theo mô hình kim tự tháp trên nếu bất kỳ người nào vi phạm sẽ bị xử phạt Tại điều 27B Luật bán hàng trực tiếp và chống

mô hình kim tự tháp 1993 quy định như sau:

a) Nếu người vi phạm là công ty, hợp danh và đoàn thể thì bị phạt tối thiểu từ một triệu RM và tối đa không quá mười triệu RM; từ lần thứ hai trở đi mức phạt tối thiểu là mười triệu RM và tối đa không quá năm mươi triệu RM

b) Nếu người vi phạm không phải là công ty, hợp danh và đoàn thể thì

bị phạt tối thiểu từ năm trăm nghìn RM và tối đa không quá năm triệu RM hoặc

bị phạt tù với thời hạn không quá năm năm hoặc cả hai hình thức trên; từ lần thứ hai trở đi mức phạt tối thiểu là một triệu RM và tối đa không quá mười triệu

RM hoặc bị phạt tù với thời hạn không quá mười năm hoặc cả hai hình thức

trên

1.3.3 Pháp luật Hoa Kỳ

Pháp luật về KDĐC và chống mô hình tháp ảo của Hoa Kỳ được xem là

bộ phận không tách rời của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng vì chúng được ban hành với mục đích bảo vệ các cá nhân khỏi mô hình tháp ảo Khung pháp luật này bao gồm: pháp luật về chống mô hình tháp ảo, pháp luật về cơ hội kinh doanh, xổ số, chứng khoán…; bên cạnh đó là quy định về bán hàng trực tiếp điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà phân phối và người tiêu dùng,…

Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất của khung pháp luật vừa nêu

Pháp luật chống mô hình tháp ảo:

Pháp luật Hoa Kỳ xác định một mô hình KDĐC hợp pháp hay bất hợp pháp căn cứ vào nguyên tắc: nếu doanh nghiệp trả tiền cho người tham gia dựa

Trang 29

vào việc bán hàng của những người mà doanh nghiệp tuyển dụng thì đó là KDĐC hợp pháp; ngược lại nếu doanh nghiệp trả tiền cho những người tham gia chỉ vì người tham gia giới thiệu hoặc tuyển dụng người mới tham gia vào mạng lưới thì đó là doanh nghiệp KDĐC bất hợp pháp

Từ những nguyên tắc trên, cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ xác định tính hợp pháp của doanh nghiệp KDĐC chân chính hay bất chính dựa trên chương trình bán hàng (Hay cụ thể là cách thức trả thưởng)

Trên thực tế, Tòa án và Ủy ban thương mại Liên bang căn cứ vào các yếu tố sau để đánh giá tính hợp pháp của một chương trình trả thưởng:

- Một là, có hay không việc bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ thực sự Pháp luật Hoa Kỳ gọi đây là hiện tượng Inventory loading nghĩa là lượng hàng

tồn kho Theo quy định tại Điều 9 Quy tắc đạo đức của Hiệp hội bán hàng trực tiếp Hoa Kỳ thì một công ty thành viên của hiệp hội không được yêu cầu hoặc khuyến khích một người bán hàng độc lập mua một lượng hàng hóa bất hợp lý vượt quá khả năng bán lại hoặc tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định Các công ty thành viên phải thực hiện các bước cần thiết để đảm bảo rằng người bán hàng độc lập được tiền bồi thường cho khối lượng hàng hóa mà tuyến dưới đang tiêu thụ, sử dụng hoặc bán lại các sản phẩm và dịch vụ mà họ đã mua để

đủ điều kiện nhận tiền bồi thường [40, tr.1] Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mô hình tháp ảo trong KDĐC Người tham gia không phải bán một lượng hàng hóa hoặc dịch vụ thật sự mà đây là bản chất việc tuyển

dụng và là một chương trình kim tự tháp

- Hai là, có hay không việc bán hàng và cung ứng dịch vụ cho người tiêu

dùng thực sự Vụ công ty Koscot Interplanet, vụ công ty Omnitrition Tòa án xác định rằng các nhà phân phối phải bán được tối thiểu 70% sản phẩm được mua trong đơn đặt hàng cũ trước khi đặt mua hàng mới, tức là hàng hóa phải được bán cho người tiêu dùng thật sự tránh trường hợp nhà phân phối mua một

Trang 30

số lượng hàng hóa lớn nhằm hưởng hoa hồng từ doanh nghiệp BHĐC nhưng không thể tiêu thụ hết số lượng hàng này Sau đó bán phá giá lại những hàng hóa này nhằm cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến các nhà phân phối

khác và ảnh hưởng đến doanh nghiệp

- Ba là, doanh nghiệp có hay không có chính sách mua lại sản phẩm

Pháp luật các bang Georgia, Louisiana, Massachusetts, Maryland, Puerto Rico,

và Wyoming yêu cầu một công ty KDĐC phải mua lại hàng tồn kho được trả

về bởi các nhà phân phối Một số tiểu bang yêu cầu mua lại hàng khi một người tham gia chấm dứt mối quan hệ với các nhà cung cấp Trong các tiểu bang khác như Maryland và Puerto Rico, công ty phải mua lại hàng tồn kho trả lại nếu bất

kỳ người tham gia không thể bán nó trong vòng ba tháng kể từ ngày nhận được hàng Một số tiểu bang yêu cầu các công ty KDĐC phải mua lại sản phẩm từ nhà phân phối của họ không ít hơn 90% giá mua ban đầu Pháp luật bang Georgia cũng yêu cầu các công ty KDĐC mua lại hàng hóa mà không còn bán trên thị trường nếu nó được trả lại cho công ty trong vòng một năm kể từ thời

điểm việc tiếp thị cho hàng hoá đã ngừng

Pháp luật về hội mua hàng (Buying club)

Hội mua hàng là một câu lạc bộ được tổ chức để tập trung sức mua của các thành viên, cho phép họ mua hàng với giá thấp hơn giá thường có sẵn, hoặc mua hàng hóa mà hàng hóa đó nếu mua độc lập sẽ khó khăn Trong KDĐC, nếu doanh nghiệp tổ chức mạng lưới giống như mô hình hội mua hàng sẽ phát sinh khả năng người tham gia vào mạng lưới chỉ với mục đích mua hàng với giá ưu đãi chứ không nhằm bán lại cho người khác, và như thế doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp khác Do đó các doanh nghiệp BHĐC được khuyến cáo tránh xa các yếu tố của hội mua hàng

Pháp luật về chứng khoán

Trang 31

Giữa KDĐC và chứng khoán có mối liên hệ như thế nào và vì sao pháp luật về chứng khoán lại được sử dụng trong trường hợp này Trên thực tế, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đã từng sử dụng pháp luật về chứng khoán để truy tố mô hình tháp ảo của Công ty Glenn W.Turner Enterprises, INC Glen

W Turner Enterprises vào năm 1972 Ủy ban chứng minh rằng mô hình tháp

ảo là một loại “hợp đồng đầu tư” (Investment contract) và vì vậy, trong mô hình tháp ảo có vấn đề giao dịch chứng khoán Vậy “hợp đồng đầu tư” là gì và

tại sao nó được coi là một loại chứng khoán?

Luật chứng khoán 1933 và Luật giao dịch chứng khoán 1934 của Hoa

Kỳ quy định hợp đồng đầu tư là một loại hợp đồng, một giao dịch hoặc một kế hoạch mà ở đó người đầu tư tiền vào một công ty hợp vốn với hy vọng kiếm được lợi nhuận nhờ vào nỗ lực của những người thành lập công ty hoặc của người thứ ba nào đó Vì vậy, pháp luật Hoa Kỳ xem Hợp đồng đầu tư là một

loại chứng khoán [28, tr.1]

Để xác định có hay không có hợp đồng đầu tư trong hoạt động KDĐC,

Tòa án Hoa Kỳ căn cứ vào 3 dấu hiệu sau:

- Một là, có hay không việc đầu tư tiền của người tham gia vào doanh

nghiệp KDĐC Tất cả các khoản chi phí mà một người cần nộp để trở thành nhà phân phối đều có thể bị Tòa án xem là khoản tiền đầu tư Do pháp luật về

cơ hội kinh doanh đã quy định khoản tiền tối thiểu của khoản tiền đầu tư (từ

200 đến 500 đô la Mỹ tùy từng bang) nên Tòa án chỉ xem xét nếu mức phí tham gia mạng lưới vượt quá ngưỡng tối thiểu Ngược lại, nếu mức phí quá thấp hoặc chỉ ở mức bao gồm giá vốn sản phẩm và tiền mua tài liệu học tập cần thiết thì Tòa án không xem là khoản tiền đầu tư Vì vậy, để tránh những rắc rối với pháp luật về cơ hội kinh doanh và pháp luật chống mô hình tháp ảo, các doanh nghiệp KDĐC được khuyến cáo chỉ nên bán cho người muốn tham gia mua gói hàng

Trang 32

đầu tiên (Starter kit) với giá vốn với việc bán món hàng đó và những tài liệu kèm theo là thực sự cần thiết

- Hai là, có hay không sự gắn bó mật thiết về lợi ích của nhà phân phối

và doanh nghiệp BHĐC Đối với doanh nghiệp KDĐC chân chính, Tòa án sẽ không tìm được mối liên hệ này bởi vì sau khi mua hàng từ doanh nghiệp, phân phối viên độc lập với doanh nghiệp trong khâu tổ chức tiêu thụ Thu nhập của phân phối viên chủ yếu phụ thuộc vào lượng hàng do chính họ và mạng lưới tầng dưới của họ tiêu thụ, thu nhập này độc lập với lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản còn lại sau khi đã trừ tiền hoa hồng, tiền thưởng cho các nhà phân phối, thuế…hơn nữa lợi nhuận của doanh nghiệp có được từ hàng bán được của tất cả các nhà phân phối Nhưng đối với các doanh nghiệp KDĐC bất chính, Tòa án sẽ tìm thấy sự gắn bó mật thiết về lợi ích của phân phối viên với doanh nghiệp bởi vì sản phẩm không được bán cho người tiêu dùng cuối cùng mà bán cho người muốn tham gia, do đó thu nhập của phân phối viên dựa vào một nguồn duy nhất là phí tham gia mạng lưới của những người mới tham gia

- Ba là, có hay không việc người muốn tham gia mong muốn kiếm được

lợi nhuận từ nỗ lực của những người khác

Trong KDĐC chân chính, có hai lý do để chứng minh thành công của nhà phân phối không dựa vào doanh nghiệp hay bên thứ ba nào khác:

- Thứ nhất, yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của công

việc KDĐC là bán sản phẩm và tuyển người Đối với KDĐC chân chính, cả hai vấn đề đó đều do phân phối viên thực hiện chứ không phải doanh nghiệp Ngay trong việc tuyển người, cho dù doanh nghiệp có tổ chức hàng loạt hội thảo, nhân viên của doanh nghiệp có thuyết trình, ký hợp đồng tuyển dụng nhưng công việc chính, vấn đề cốt lõi là giới thiệu người đến hội thảo phải do phân phối viên thực hiện

Trang 33

- Thứ hai, doanh nghiệp KDĐC chân chính luôn nhấn mạnh với phân

phối viên rằng thành công của họ tùy thuộc vào khả năng và nỗ lực của họ Phân phối viên được khuyến cáo không nên trông chờ vào sự giúp đỡ của các phân phối viên tầng trên hay lãnh đạo doanh nghiệp Bởi vậy, những doanh nghiệp nói rằng: “Bạn cứ vào đi, chúng tôi sẽ xây dựng mạng lưới cho bạn” đều là mô hình tháp ảo

Từ những vấn đề nêu trên, tác giả có một số nhận xét sau:

Thứ nhất, nhìn chung pháp luật các nước đều tập trung điều chỉnh các

vấn đề cơ bản và quan trọng của KDĐC như tiền đầu tư của người tham gia, việc chi trả hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế cho người tham gia, chính sách mua lại hàng hóa,… và có những quy định tương đối thống nhất với nhau

Thứ hai, đối chiếu với pháp luật Việt Nam về BHĐC có thể thấy rằng

pháp luật nước ta không quy định về BHĐC chân chính mà chỉ định nghĩa về BHĐC bất chính

Tiểu kết chương 1

Trong giai đoạn hiện nay, khi hoạt động kinh doanh theo PTĐC ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp thì vai trò của pháp luật quốc gia trong việc tạo ra những hành lang pháp lý chặt chẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng, là cơ sở đảm bảo cho quyền lợi của các doanh nghiệp, người tiêu dùng và sự phát triển của một quốc gia Xuất phát từ tầm quan trọng đó mà

Luận văn tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề “Điều kiện kinh doanh Bán hàng đa cấp theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn

TP HCM” Trong phạm vi Chương 1 của Luận văn, tác giả đã phân tích, làm

rõ những vấn đề:

Trang 34

Thứ nhất, phân tích một cách khái quát những vấn đề chung về các điều

kiện kinh doanh theo PTĐC như khái niệm BHĐC và điều kiện kinh doanh BHĐC; đặc điểm của BHĐC; pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC;

Thứ hai, phân tích một cách khái quát các quy định của pháp luật điều

chỉnh hoạt động KDĐC ở ba quốc gia Trung Quốc, Malayxia và Hoa Kỳ, rút

ra những nhận xét, đánh giá, tạo cơ sở cho việc so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam, qua đó tham khảo và kiến nghị hoàn thiện hơn pháp luật Việt Nam

ở Chương 3

Trang 35

Chương 2:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN HÀNG ĐA

CẤP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH 2.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, về cơ bản, các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh điều kiện kinh doanh theo PTĐC bao gồm:

- Nghị định 40/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 của Chính phủ vể quản

lý hoạt động kinh doanh theo PTĐC;

- Nghị định 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh;

- Nghị định 141/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một

số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo PTĐC;

- Nghị định số 75/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh;

- Thông tư 10/2018/TT-BCT hướng dẫn Nghị định 40/2018/NĐ-CP

về quản lý hoạt động kinh doanh theo PTĐC

2.1.1 Nội dung pháp luật về điều kiện kinh doanh BHĐC

Hành lang pháp lý đối với hoạt động KDĐC nói chung và điều kiện kinh doanh BHĐC nói riêng đã manh nha tồn tại từ năm 2005 với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005) Trong văn bản này, KDĐC được đề cập dưới khái niệm là BHĐC, đồng thời Luật cạnh tranh cũng đề cập đến hoạt động KDĐC bất chính dưới phương thức là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trang 36

Sau đó, lần lượt các văn bản dưới luật đã lần lượt ra đời và điều chỉnh

Cụ thể, ngày 24/8/2005, Nghị định số 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Quản

lý hoạt động BHĐC (Sau đây gọi là Nghị định số 110/2005/NĐ-CP) được ban hành quy định cụ thể các hành vi liên quan đến BHĐC Nhằm mục đích tạo ra

cơ chế pháp lý chặt chẽ đồng thời góp phần hạn chế những hậu quả tiêu cực xảy ra với hoạt động này, pháp luật đã quy định một số nội dung cụ thể liên quan đến điều kiện KDĐC đối với doanh nghiệp Theo đó, trước khi tiến hành KDĐC, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật đã quy định Chẳng hạn như phải có giấy phép BHĐC, hàng hóa kinh doanh phải đạt điều kiện nhất định, hạn chế về chủng loại hàng hóa được kinh doanh theo phương thức đa cấp, ký quỹ Mặt khác, để có thể hoạt động BHĐC một cách hợp pháp

và được pháp luật thừa nhận, các doanh nghiệp còn phải đáp ứng những quy định khác

Như vậy, Nghị định 110/2005/NĐ-CP đã chính thức thiết lập một cơ chế quản lý đối với hoạt động BHĐC từ trung ương đến địa phương với sự tham gia của Bộ Công Thương (thông qua Cục Quản lý cạnh tranh) và UBND các tỉnh (thông qua các Sở Công Thương) Theo Nghị định 110/2005/NĐ-CP, các doanh nghiệp muốn tổ chức BHĐC thì phải đăng ký với Sở Công thương và sau đó mở rộng hoạt động ra địa bàn nào thì thông báo với Sở Công Thương tỉnh đó Một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp được đăng ký hoạt động BHĐC đó là phải ký quỹ tối thiểu 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn một tỷ đồng [19, tr.1]

Để Nghị định 11/2005/NĐ-CP có thể được áp dụng dễ dàng hơn, ngày 8 tháng 11 năm 2005, Bộ Thương mại đã ban hành Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 8/11/2005 hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 110/2005/NĐ-

CP về quản lý BHĐC

Trang 37

Sau một thời gian dài được đưa vào thực tiễn áp dụng (10 năm), các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động BHĐC đã bộc lộ một số điểm hạn chế nhất định, hơn nữa còn bắt đầu xuất hiện nhiều biến tướng theo chiều hướng tiêu cực, nhiều chủ thể lợi dụng các khe hở của pháp luật để thực hiện các hành vi bất chính khiến cho hoạt động BHĐC ngày càng trở nên xấu đi trong mắt cộng đồng xã hội và gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này

Từ thực tiễn đó, năm 2014, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế cho hệ thống văn bản cũ để tăng cường hiệu quả quản

lý hoạt động BHĐC Ngoại trừ Luật Cạnh tranh, các nghị định và thông tư cũ điều chỉnh hoạt động BHĐC đều bị thay thế với cơ chế quản lý chặt chẽ hơn, chế tài xử lý nghiêm khắc hơn Theo đó, Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản

lý hoạt động BHĐC, được ký ban hành ngày 14 tháng 5 năm 2014, chính thức

có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 Nghị định này thay thế cho Nghị định 110/2005/NĐ-CP với những thay đổi cơ bản, quan trọng theo hướng thắt chặt quản lý đối với hoạt động BHĐC như nâng cao điều kiện gia nhập, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động của người tham gia, bổ sung nhiều quy định cấm, tăng cường sự tương tác giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý cũng như giữa các cơ quan quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn công tác đào tạo người tham gia BHĐC của doanh nghiệp

Cụ thể, Nghị định 42/2014/NĐ-CP đã có những quy định tiến bộ hơn so với các quy định cũ Trong đó, phải kể đến là các quy định về số tiền vốn pháp định của doanh nghiệp muốn kinh doanh theo PTĐC là 10 tỷ đồng Vấn đề vốn pháp định trước đây chỉ quy định đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực mang tính rủi ro cho người tiêu dùng như: ngân hàng, bất động sản, hàng không, kiểm toán…và không có quy định nào về vốn pháp định đối với hoạt động thương mại Do vậy, quy định này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm

Trang 38

hạn chế rủi ro, thiệt hại cho người tiêu dùng Cùng với vốn pháp định Nghị định 42/2014/NĐ-CP cũng đã tăng số tiền ký quỹ của doanh nghiệp từ 1 tỷ đồng theo Nghị định 110/2005/NĐ-CP lên thành 5 tỷ Việc thay đổi các quy định này mang ý nghĩa ở việc vừa góp phần tạo sự ổn định tâm lý, hạn chế phần nào rủi

ro cho người tiêu dùng trong quá trình tham gia vào mạng lưới BHĐC tại các doanh nghiệp Đồng thời, quy định mới này đã ràng buộc các điều kiện đối với doanh nghiệp BHĐC theo hướng chặt chẽ hơn, đã tạo ra cơ chế sàng lọc các doanh nghiệp BHĐC nhằm đảm bảo doanh nghiệp KDĐC phải là những doanh nghiệp có khả năng tài chính, có đủ tiềm năng kinh doanh, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn chân chính, không chạy theo đồng tiền để thực hiện hoạt động KDĐC không đúng bản chất, làm hại đến quyền lợi của người tham gia BHĐC và người tiêu dùng cũng như ảnh hưởng dây chuyền đến toàn xã hội

Có thể nói với sự ra đời của Nghị định 42/2014/NĐ-CP, hoạt động BHĐC nói chung và các điều kiện kinh doanh đối với doanh nghiệp BHĐC nói riêng đã dần đi vào ổn định, tăng cường sự kiểm soát, quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các doanh nghiệp

Tuy nhiên, kinh tế, xã hội luôn mang trong mình sự vận động không ngừng, đặc biệt cùng với việc giao lưu quốc tế ngày càng phát triển, các vấn đề trong thực tế ngày càng diễn ra đa dạng, nhiều chiều Thì vấn đề được đặt ra đó

là đòi hỏi các quy định của pháp luật phải không ngừng cập nhật, điều chỉnh thường xuyên để gắn liền với thực tiễn Hơn nữa, Nghị định 42/2014/NĐ-CP

dù đã đi vào thực tiễn qua khoảng 4 năm, những điểm tiến bộ đã có nhưng vẫn còn khá nhiều điểm hạn chế và sự thiếu thống nhất Nguyên nhân xuất phát từ những thiếu sót trong quy định của Nghị định 42/1014/NĐ-CP và một phần xuất phát từ việc thiếu một văn bản hướng dẫn quy định đủ chi tiết và rõ ràng

Trang 39

Do vậy, ngày 12/03/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo PTĐC Nghị định 40/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định 42/2014/NĐ-CP và có hiệu lực kể từ ngày 02/05/2018 Tiếp đó, vào ngày 24/05/2018, Bộ Công Thương ban hành Thông

tư 10/2018/TT-BCT hướng dẫn một số điều của Nghị định 40/NĐ-CP Thông

tư 10/2018/TT-BCT bãi bỏ Thông tư 24/2014/TT-BCT và có hiệu lực kể từ ngày 15/07/2018

Nghị định 40/2014/NĐ-CP và Thông tư 10/2018/TT-BCT ra đời trong bối cảnh hoạt động BHĐC tại Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp và đòi hỏi cần phải có thêm những quy định cụ thể, rõ ràng, mang tính khả thi, góp phần siết chặt hơn, tạo hành lang pháp lý đủ vững chắc nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này

So với các quy định của Nghị định 42/2014/NĐ-CP, Nghị định 40/2018/NĐ-CP đã tạo ra một khung pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động BHĐC Nhiều quy định mới được bổ sung nhằm mục tiêu hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường kiểm soát, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và

xử lý vi phạm đối với hoạt động BHĐC, bảo đảm không để xảy ra tình trạng kinh doanh bất hợp pháp gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp chân chính và xa hơn là môi trường kinh doanh lành mạnh tại Việt Nam

Cụ thể, đối với điều kiện kinh doanh BHĐC, văn bản này quy định các nội dung chính như sau:

Thứ nhất, điều kiện về thành lập doanh nghiệp

Theo đó, để kinh doanh theo PTĐC, phải là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động BHĐC [8, tr.1] Như vậy, chỉ có doanh nghiệp mới được đăng ký kinh doanh BHĐC Các tổ chức, cá nhân khác đều không được kinh doanh BHĐC

Trang 40

Doanh nghiệp không bao gồm tổ chức hoặc cá nhân tại doanh nghiệp BHĐC đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động BHĐC; thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên; cổ đông sáng lập đối với công

ty cổ phần; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng không bao gồm tổ chức, cá nhân tại doanh nghiệp BHĐC đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động BHĐC [8, tr.1]

Từ quy định trên, có thể thấy rằng, hiện nay, pháp luật đưa ra những điều kiện khá nghiêm ngặt liên quan đến hoạt động BHĐC đối với các doanh nghiệp Thiết nghĩ đây là những quy định phù hợp, việc quy định như vậy sẽ góp phần hạn chế sự ra đời của những tổ chức không đáp ứng điều kiện hợp pháp, tạo sự thống nhất giữa các quy định của luật Doanh nghiệp và các quy định liên quan đến điều kiện để thành lập doanh nghiệp BHĐC, tạo điều kiện cho việc phối hợp thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý, thanh tra, giám sát các doanh nghiệp được hiệu quả hơn

Thứ hai, điều kiện về vốn pháp định

Trước đây, theo quy định tại khoản 6 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 thì

vốn pháp định được hiểu là “mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để có thể thành lập doanh nghiệp” Vốn pháp định do cơ quan có thẩm

quyền ấn định, tùy ngành, nghề kinh doanh khác nhau mà có quy định về số vốn pháp định không giống nhau Hiện nay, với mục đích hướng đến hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp 2013, Luật doanh nghiệp 2015 đã bỏ quy định về vốn pháp định Nhưng, đối với từng ngành nghề cụ thể vẫn quy định rõ về vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp

Ngày đăng: 28/03/2020, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w