1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam hiện nay

219 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận án có các + Nghiên cứu các điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản và hệ quả pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện hành n

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS LÊ ĐÌNH NGHỊ

2 PGS.TS NGUYỄN THỊ NHUNG

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu nêu trong luận án là trung thực Kết quả nêu trong luận án chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Đàm Thị Diễm Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Lê Đình Nghị và PGS TS Nguyễn Thị Nhung – hai người hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình tác giả thực hiện luận án Tác giả cũng xin cảm ơn các thầy cô, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành Luận án này

Tác giả luận án

Đàm Thị Diễm Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 14

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu 19

1.2.1 Về lý luận hợp đồng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 19

1.2.2 Về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 21

1.2.3 Về quan điểm, giải pháp 22

1.2.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 23

1.3 Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu 24

1.3.1 Cơ sở lý thuyết 24

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 24

Kết luận chương 1 26

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 28

2.1 Những vấn đề lý luận về hoàn cảnh thay đổi cơ bản 28

2.1.1 Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản 28

2.1.2 Các học thuyết về hoàn cảnh thay đổi cơ bản 36

2.1.3 Phân biệt hoàn cảnh thay đổi cơ bản với bất khả kháng 42

2.2 Những vấn đề lý luận về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 46

2.2.1 Khái niệm thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 46

2.2.2 Cơ sở ghi nhận điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 47

2.3 Nội dung thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 55

Trang 6

2.3.1 Điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản 55

2.3.2 Về đàm phán lại hợp đồng 60

2.3.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp và hệ quả khi đàm phán không thành 63

Kết luận chương 2 71

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 74

3.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 74

3.1.1 Khái quát quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản 74

3.1.2 Điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản 81

3.1.3 Đàm phán lại 95

3.1.4 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp và hệ quả khi đàm phán không thành 99

3.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 107

3.2.1 Thực tiễn thi hành pháp luật trước khi có Bộ luật dân sự năm 2015 107

3.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật sau khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực 110

Kết luận chương 3 124

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 128

4.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 128

4.1.1 Tiếp thu có chọn lọc các quy định tiên tiến trên thế giới, đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thích ứng môi trường kinh doanh toàn cầu 128

4.1.2 Đảm bảo tính khả thi của pháp luật 129

4.1.3 Đề cao nguyên tắc thiện chí trong quá trình giải quyết tranh chấp 129

4.1.4 Khắc phục những bất cập của pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 130

Trang 7

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh

thay đổi cơ bản 131

4.2.1 Bổ sung khái niệm hoàn cảnh của hợp đồng 131

4.2.2 Giải thích thế nào là hoàn cảnh thay đổi cơ bản 134

4.2.3 Hoàn thiện về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản 135

4.2.4 Hoàn thiện quy định về nghĩa vụ đàm phán lại 137

4.2.5 Hoàn thiện về hệ quả khi đàm phán không thành 139

4.2.6 Một số kiến nghị khác 141

4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản 143

4.3.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán 144

4.3.2 Tuyên truyền phổ biến pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đặc biệt cho đội ngũ doanh nhân 144

4.3.3 Tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ Kiểm sát viên, Luật sư 145

Kết luận chương 4 146

KẾT LUẬN CHUNG 148

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 152

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BGB Bürgerliches Gesetzbuch (Bộ luật dân sự Đức)

CISG United Nation Convention on Contract for the

International Sale of Contract (Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế)

DCFR Draff common Frame of Reference (Dự thảo

Khung tham chiếu chung) GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

PECL Principles of European Contract Law (Bộ Nguyên

tắc Luật Hợp đồng Châu Âu) PICC Principles of International Commercial Contract

(Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hợp đồng luôn là chế định trung tâm trong hệ thống pháp luật dân sự nói chung và kinh doanh thương mại nói riêng Bởi vì hợp đồng là phương tiện pháp lý chủ yếu để các cá nhân, pháp nhân trao đổi lợi ích để thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt tiêu dùng của mình Hợp đồng cũng là phương tiện quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đặc biệt trong giai đoạn mở rộng hợp tác quốc tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Mục đích của pháp luật về hợp đồng là bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực ràng buộc với các bên, các bên

phải tôn trọng và thực hiện Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các hợp đồng, nhất

là các hợp đồng dài hạn, những nhà kinh doanh có thể đối mặt với những rủi ro bất thường từ thiên nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, con người làm cho việc thực hiện nghĩa vụ trở nên vô cùng khó khăn, tốn kém, thậm chí không thể thực hiện được Trong những sự kiện như vậy, không phải các sự kiện đều thuộc trường hợp bất khả kháng để bên bị thiệt hại có thể được miễn trừ nghĩa vụ hoặc chấm dứt hợp đồng mà thuộc về hoàn cảnh thay đổi cơ bản với mục đích là các bên điều chỉnh hợp đồng để hợp đồng có thể được tiếp tục và cố gắng duy trì cân bằng về lợi ích cho cả hai bên

Ở Việt Nam, trước khi Bộ luật dân sự năm 2015 ra đời, điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản gần như không được quan tâm nhiều Khái niệm này vẫn còn khá mới mẻ trong thực tiễn pháp lý Trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành, điều chỉnh hợp đồng cũng được đề cập đến tuy nhiên chỉ ở một mức độ nhất định Có thể kể đến là quy định cho phép điều chỉnh phí bảo hiểm khi "có sự thay đổi những yếu tố là cơ sở tính phí bảo hiểm " tại Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010); cho phép các bên thỏa thuận thay đổi giá bán trong hợp đồng khi "Nhà nước thay đổi về chính sách tiền lương, chính sách giá các mặt hàng do nhà nước kiểm soát giá" trong Luật Đấu thầu

2013 (Điều 67) Tuy nhiên, đây chỉ là những quy định chuyên biệt liên quan đến các hợp đồng đặc thù, việc sửa đổi hợp đồng cũng chủ yếu là thông qua các thủ tục hành chính nên không phải là căn cứ chung để giải quyết các tranh chấp hợp đồng khác Lần đầu tiên, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi được đề cập trong BLDS 2015 tại một điều duy nhất (Điều 420) Theo đó, Điều luật đề cập

Trang 10

đến điều kiện để được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quyền yêu cầu của bên có lợi ích bị ảnh hưởng, hậu quả khi các bên không thể thỏa thuận được và trách nhiệm của các bên trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng Tuy nhiên, khi nghiên cứu sơ bộ Điều luật đã thấy nảy sinh nhiều câu hỏi khác nhau Chẳng hạn,

“nguyên nhân khách quan” dẫn đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản là những nguyên nhân nào? “không lường trước được”, “Thiệt hại nghiêm trọng” được hiểu ra sao? Thế nào là "các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý"? Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có điểm gì giống và khác với sự kiện bất khả kháng? Làm thế nào để các bên không lạm dụng quy định của pháp luật khi

có cơ chế điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản? Đây

là những vấn đề lí luận còn khá mới mẻ đối với Việt Nam

Có thể nói, trước BLDS 2015, ở Việt Nam, vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi làm mất cân bằng lợi ích nghiêm trọng giữa các bên chưa được biết đến nhiều Chính vì vậy, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một nội dung mới Việc nghiên cứu này để trả lời cho những câu hỏi trên là rất cần thiết để đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng thống nhất trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng liên quan đến dân sự và đặc biệt là thương mại

Bên cạnh đó, trong quá trình lấy ý kiến dự thảo BLDS 2015, còn có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến quy định này Có quan điểm cho rằng, nếu cho phép

điều chỉnh hợp đồng sẽ vi phạm nguyên tắc hiệu lực bất biến (pacta sunt servanda)

trong lĩnh vực hợp đồng Quan điểm khác lại cho rằng, quy định này là một ngoại lệ

của nguyên tắc hiệu lực bất biến, bổ sung cho nguyên tắc đó Do đó, việc nghiên

cứu làm rõ những vấn đề lý luận tạo cơ sở chắc chắn cho quy định mới còn gây nhiều tranh cãi này là rất cần thiết

Thực tiễn pháp lý cũng đã có xảy ra tranh chấp liên quan tới yêu cầu điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Nhưng do pháp luật chưa có quy định nên

đã gây nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết BLDS 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2017 cho nên cần có những hướng dẫn áp dụng thống nhất

Trong tập quán thương mại quốc tế và trong pháp luật của nhiều quốc gia đều có quy định về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (điều khoản

"hardship" hay "change of circumstances") Tuy nhiên, điều khoản này cũng không

được hiểu và áp dụng giống nhau ở các quốc gia và trong tập quán thương mại quốc

Trang 11

tế Do đó, việc tìm hiểu quy định này để học hỏi kinh nghiệm cho Việt Nam lại càng trở nên cấp thiết

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc giao lưu thương mại giữa cá nhân, pháp nhân Việt Nam với các cá nhân, pháp nhân nước ngoài thậm chí giữa các quốc gia với nhau ngày càng phổ biến, ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Hơn nữa, bối cảnh chính trị - xã hội trên bình diện quốc tế chưa khi nào không chứa đựng những diễn biến khó lường Chính vì vậy, dự liệu khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị, giải pháp cho vấn đề này lại càng cần được quan tâm đúng mức

Xuất phát từ những lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài "Thực hiện hợp đồng

khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam hiện nay" để làm luận

và pháp luật của một số quốc gia, trên cơ sở đó, luận án đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vấn đề này

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận án có các

+ Nghiên cứu các điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản và hệ quả pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện hành nhằm làm rõ quy định, có sự đối chiếu với quy định này trong các bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế và pháp luật của một số quốc gia;

+ Nghiên cứu thực tiễn pháp thi hành pháp luật trước khi có BLDS năm 2015

và thực tiễn thi hành pháp luật sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật;

Trang 12

+ Đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Các vấn đề lý luận chung về hoàn cảnh thay đổi cơ bản và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu các quy định cũng như thực tiễn thi hành pháp luật của Việt Nam;

+ Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trên cơ sở so sánh với pháp luật một số quốc gia, trong đó tập trung nghiên cứu quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định tại Điều 420 BLDS năm 2015;

+ Thực tiễn thi hành pháp luật trước khi có quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và thực tiễn thi hành pháp luật sau điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có hiệu lực thi hành;

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Bộ luật dân sự là luật gốc, luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng bao gồm quan hệ dân sự và kinh doanh, thương mại Các khía cạnh của hợp đồng chủ yếu được quy định trong BLDS, trường hợp luật khác

có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Do đó, hợp đồng kinh doanh thương mại hay dân sự đều được đề cập đến trong đề tài và được gọi chung là hợp đồng Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về các vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chủ yếu trong kinh doanh, thương mại và dân sự, vì vậy đề tài sẽ không đề cập đến các loại hợp đồng khác và cũng không đề cập đến mọi khía cạnh của hợp đồng nói chung Luận án cũng nghiên cứu các bản án, quyết định về kinh doanh thương mại và dân sự nhằm làm rõ vấn đề lí luận;

+ Về không gian: Luận án nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

cơ bản trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam trong đó tập trung làm rõ quy định của BLDS 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Ngoài ra, luận án cũng nghiên cứu các quy định của Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương

Trang 13

mại quốc tế (PICC), Bộ nguyên tắc Luật Hợp đồng chung Châu Âu (PECL), Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CIGS), pháp luật một số quốc gia đại diện cho hệ thống pháp luật Châu âu lục địa Civil law, hệ thống pháp luật Thông luật Common law và các tài liệu, vụ việc tham khảo

từ các quốc gia khác chỉ là nguồn tham khảo, đối chiếu, so sánh nhằm phân tích, đánh giá để có cái nhìn khách quan và toàn diện về pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

+ Về thời gian: Luận án nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định về hoàn cảnh thay đổi trong hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, có so sánh hoặc tham chiếu đến các quy định pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới

Về thực tiễn thi hành pháp luật, luận án nghiên cứu thực tiễn và các bản án và từ năm 2005 đến nay, tập trung chủ yếu từ năm 2015 đến nay

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lenin và các quan điểm, mục tiêu, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Luận án được triển khai nghiên cứu trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp phân tích, mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống hóa Cụ thể như sau:

Thứ nhất, phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa được tập trung sử dụng trong

phần tổng quan tình nghiên cứu, nhằm hệ thống hoá các công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực hợp đồng và điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

cơ bản và đánh giá, kết luận ở mỗi nội dung;

Thứ hai, phương pháp mô tả, phân tích Đây là phương pháp được áp dụng

trong toàn bộ nội dung của luận án nhằm luận giải, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích các nội dung để từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá mang tính kết luận;

Thứ ba, phương pháp lịch sử Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu

học thuyết và sự phát triển của quy phạm thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trên thế giới và ở Việt Nam;

Thứ tư, phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng tập trung ở

chương 2 và chương 3 khi nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật

Trang 14

Phương pháp này được sử dụng như một công cụ nhằm phân tích, so sánh, đối chiếu quan điểm của các học giả tại các quốc gia thuộc hai hệ thống pháp luật chính là civil law và common law Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế,

Bộ nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu và pháp luật hợp đồng Pháp, Đức và Pháp luật hợp đồng Anh, Mỹ được lựa chọn để so sánh, phân tích nội dung hoàn cảnh thay đổi cơ bản Phương pháp giúp tìm ra những điểm tích cực, những điểm bất cập của các quy định pháp luật, trên cơ sở đó, NCS có cơ sở để đánh giá và đề xuất kiến nghị ở chương tiếp theo

Thứ năm, phương pháp nghiên cứu hồ sơ Phương pháp này được sử dụng để

nghiên cứu thực trạng các tranh chấp xảy ra và giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu

áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản của các chủ thể trong hợp đồng Qua

đó, nêu khó khăn, vướng mắc mà các cơ quan có thẩm quyền gặp phải khi áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, Luận án đã bổ sung và làm sâu sắc những vấn đề lý luận về hoàn

cảnh thay đổi cơ bản và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Các vấn

đề lý luận đã được làm rõ như: khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản; các học thuyết về hoàn cảnh thay đổi cơ bản; phân biệt sự kiện bất khả kháng với hoàn cảnh thay đổi; cơ sở lý luận và nội dung thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản;

Thứ hai, luận án phân tích một cách có hệ thống thực trạng pháp luật về điều

kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đàm phán lại và hệ quả pháp lý của thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Trên cơ sở so sánh với Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế; bộ nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu, quy định của một số quốc gia trên thế giới, đề tài làm rõ quy định pháp luật đồng thời cũng chỉ ra những bất cập của pháp luật Việt Nam về quy định này;

Thứ ba, thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy các bên trong hợp đồng chưa

hiểu rõ về các điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản và ngay cả Tòa án cũng còn lúng túng trong việc xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản Luận án làm rõ cách xác định từng yếu tố của hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong tình huống cụ thể;

Trang 15

Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành, luận án đưa ra

những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Ý nghĩa thực tiễn

Luận án góp phần thống nhất nhận thức và tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam với xu hướng hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực;

Kết quả nghiên cứu cũng góp phần nâng cao ý thức hiểu biết pháp luật của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng, giúp các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể khi tham gia hợp đồng

Ngoài ra, Luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo chuyên sâu cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho những người làm công tác pháp luật, giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật hợp đồng

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

CẦN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của đề tài luận án

- Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về hợp đồng:

Đây là nhóm vấn đề có lượng tài liệu phong phú nhất Các vấn đề lý luận hợp đồng cũng rất đa dạng, từ khái niệm, bản chất, nguyên tắc pháp luật hợp đồng, phân loại hợp đồng, hiệu lực hợp đồng, giải thích hợp đồng, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng Có thể kể một số công trình sau:

Các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật như Giáo trình Luật Hợp đồng phần chung của PGS.TS Ngô Huy Cương [15], NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2003, Giáo trình Luật dân sự tập 2 do PGS TS Nguyễn Ngọc Điện chủ biên [22], NXB ĐH Quốc Gia TPHCM xuất bản năm 2016, Giáo trình Luật dân sự tập 2 của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội do PGS TS Vũ Thị Hồng Vân chủ biên [61], NXB Chính trị quốc gia sự thật năm 2017 đều đề cập đến các vấn đề cơ bản của hợp đồng và luật hợp đồng như khái niệm, bản chất, phân loại, giao kết hợp đồng, hiệu lực hợp đồng Giáo trình cung cấp về mặt lý luận cơ bản các vấn đề liên quan đến hợp đồng, là tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của luận án

Ngoài giáo trình, bình luận bộ luật dân sự thì còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu từ các sách chuyên khảo đến các bài viết tạp chí Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Cuốn sách "Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam" của TS Đỗ Văn Đại [16] do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2013; "Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án

và bình luận bản án" của TS Đỗ Văn Đại [20] do nhà xuất bản Hồng Đức, tái bản lần thứ 6 năm 2017; Cuốn “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” (2007) của TS Nguyễn Ngọc Khánh [38], NXB Tư pháp phát hành luận giải khá sâu

Trang 17

sắc và đầy đủ từ lịch sử của chế định hợp đồng trên thế giới và ở Việt Nam, thuật ngữ, khái niệm hợp đồng đến chức năng, vị trí của hợp đồng, ý chí và tự do ý chí trong hợp đồng, các khiếm khuyết của sự thống nhất ý chí, hình thức hợp đồng, giao kết, thực hiện, sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng, trách nhiệm hợp đồng Tác giả sử dụng phương pháp so sánh luật học để luận giải các vấn đề và có minh họa bằng các ví dụ

cụ thể nên cuốn sách rất có giá trị kế thừa và tiếp thu

Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về hợp đồng là nhóm công trình đa dạng, phong phú, đề cập ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến hợp đồng

- Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Trong cuốn “Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015” do PGS TS Đỗ Văn Đại chủ biên [18, tr.388-390], khi đề cập đến thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi nêu quá trình chỉnh lý dự thảo trình Quốc hội về điều luật này Cuốn “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của TS Nguyễn Ngọc Khánh [38, tr.490-538] đề cập trong Chương IV Trách nhiệm hợp đồng ở mục

IV Các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Mục này nghiên cứu luật của một số quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật như Pháp, Đức, Liên bang Nga, Anh, Mỹ và nghiên cứu Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc

tế về các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tác giả đã đề cập đến nhiều thuật ngữ như “sự kiện bất khả kháng”, “khó khăn trở ngại”, “hợp đồng không thể thực hiện được về mặt kinh tế”, “không còn căn cứ giao dịch”, “khó khăn đặc biệt về kinh tế”, “sự biến động lớn về tình hình”, “sự vô ích của hợp đồng”, “trở ngại” Tác giả đã luận giải và so sánh về các căn cứ miễn trách nhiệm giữa luật của các quốc gia Đây là những tiền đề quan trọng để NCS tiếp tục nghiên cứu

Luận án tiến sỹ luật học “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” bảo vệ thành công năm 2010 của tác giả Lê Minh Hùng [35] là một nghiên cứu có giá trị tham khảo Chương 5 của Luận án đề cập đến hiệu lực hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Luận án phân tích khái niệm, nội dung cơ bản điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật các nước và trong tập quán thương mại quốc tế

Trang 18

Luận án cũng đề cập đến thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý Việt Nam về điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Luận án đề xuất việc đưa quy định

về hoàn cảnh thay đổi vào phần chung của pháp luật về hợp đồng

Trong quá trình xây dựng BLDS 2015 có một số các bài viết góp ý dự thảo BLDS về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và khi BLDS 2015 ra đời, cũng đã xuất hiện một số bài viết phân tích quy định pháp luật, so sánh với sự kiện bất khả kháng, diễn giải áp dụng điều luật Cụ thể:

Tác giả Lê Minh Hùng với bài viết “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” [34] nghiên cứu điều khoản hardship trong pháp luật các nước và tập quán thương mại quốc tế, một số nội dung cơ bản của điều khoản hardship như khái niệm, các điều kiện của hoàn cảnh được coi là hardship, hạn chế áp dụng, các hệ quả pháp lý của việc áp dụng điều khoản này

Đề tài khoa học “Nghiên cứu so sánh các quy định chung trong Luật Hợp đồng của một số nước trên thế giới” của TS Nguyễn Thị Ánh Vân chủ biên [60] làm

rõ sự tương đồng và khác biệt điển hình giữa các quy định chung trong luật Hợp đồng của một số quốc gia trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Đức, Anh, Mỹ trên các lĩnh vực: giao kết hợp đồng, nội dung hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, thực hiện hợp đồng, chấm dứt hợp đồng Chuyên đề 16 của đề tài “Chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng” nghiên cứu về các trường hợp chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật của Anh, Mỹ, Đức trong đó có đề cập đến chấm dứt hợp đồng do hợp đồng trở nên vô ích (frustration) trong đó có liệt kê các trường hợp nào là frustration (Anh, Mỹ) và chấm dứt hợp đồng do không thể thực hiện được (Đức)

Cũng trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia như BLDS Cộng hòa Liên bang Đức, BLDS Liên bang Nga, Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ và một số tập quán thương mại quốc tế như Bộ nguyên tắc Unidriot về hợp đồng thương mại quốc tế, Bộ nguyên tắc luật hợp đồng chung châu Âu, bài viết

“Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” của TS Vũ Thị Lan Anh [3] đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5 (337) năm

2016 đã đưa ra khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản và so sánh hoàn cảnh thay đổi với sự kiện bất khả kháng

Trang 19

Bài viết của TS Nguyễn Minh Hằng và Ths Trần Thị Giang Thu [26] đăng trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 86 “Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” nêu lên nguyên tắc

áp dụng quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản dựa trên lý thuyết về hardship Hardship ra đời trên cơ sở hai nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng là nguyên tắc tôn trọng cam kết thỏa thuận (pacta sunt survanda) và nguyên tắc thiện chí

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Do điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi mới được ghi nhận minh thị trong BLDS 2015 nên chưa có nhiều các công trình nghiên cứu trực tiếp đến những quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật Tuy nhiên, trước đó vẫn có những tác phẩm đề cập đến những quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Và sau khi BLDS 2015 được thông qua, đã xuất hiện các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học đề cập đến chủ đề này Có thể kể một số tác phẩm sau:

Sách chuyên khảo“Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Khánh [38, tr.343-527] tại chương IV về Các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, tác giả đã phân tích các hệ thống pháp luật về căn cứ miễn trách nhiệm của các hệ thống pháp luật và một số quốc gia đại diện cho các dòng pháp luật đó Trong phần này, tác giả có đề cập đến các căn cứ miễn trách nhiệm và đưa ra một vài án lệ điển hình Mặc dù tác phẩm không chỉ ra hoàn cảnh thay đổi là một căn cứ miễn trách nhiệm nhưng bản chất của các thuật ngữ giống với thuật ngữ hoàn cảnh thay đổi Đây cũng là những tham khảo cho khái niệm và diễn giải điều luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Sách chuyên khảo “Luật Hợp đồng Việt Nam Bản án và bình luận”, NXB Hồng Đức của PGS TS Đỗ Văn Đại [20], tái bản lần thứ 6, có sửa chữa, bổ sung cung cấp một lượng kiến thức về hợp đồng: từ nguồn điều chỉnh đến giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng Với cách tiếp cận từ việc phân tích một số vấn đề pháp lý của bản án, tác giả bình luận dựa trên quan điểm của tác giả và so sánh với pháp

Trang 20

luật nước ngoài Trong tác phẩm này, có một số bản án và bình luận liên quan đến vấn đề mà nghiên cứu sinh dự định nghiên cứu như nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận, thiện chí, trung thực, sự kiện bất khả kháng, buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng, nguyên nhân khách quan, chủ quan, trở ngại khách quan…

Bài viết “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Lê Minh Hùng [34] đề cập đến thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý Việt Nam về điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Trong luận án, tác giả cũng đưa ra phân tích và bình luận một số các bản án trong đó các tranh chấp do nguyên nhân xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay đổi nhưng chưa có căn cứ áp dụng để giải quyết dẫn đến việc giải quyết của Tòa án là không nhất quán Thời điểm này pháp luật chưa có quy định minh thị điều khoản này nên

TS Vũ Thị Lan Anh trong bài viết “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” [3] đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật

số 5 (337) năm 2016 ngoài việc đưa ra khái niệm hoàn cảnh thay đổi còn phân tích các dấu hiệu xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cơ chế thực hiện quyền yêu cầu sửa đổi, chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và dự kiến một số vướng mắc có thể phát sinh trong thực tiễn áp dụng

Bài viết của TS Nguyễn Minh Hằng và Th.s Trần Thị Giang Thu [26] đăng trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 86 “Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS năm

2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” dự kiến việc áp dụng quy định này tại Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn do có nhiều cách hiểu và quan điểm trái chiều Chẳng hạn, hiểu thế nào là “thiệt hại nghiêm trọng”, “thời hạn hợp lý”?

Bài viết “Điều khoản hardship trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của tác giả Trần Thanh Tâm, Nguyễn Minh Hiền [51] có khảo sát về việc áp dụng điều khoản hardship trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam, trong

đó có đưa ra bảng thống kê lí do doanh nghiệp được khảo sát chưa biết đến điều khoản hardship và bảng thống kê lí do doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản hardship Ngoài ra, các tác giả cũng đưa ra nhận xét lí do tại sao các doanh nghiệp không quan tâm đến điều khoản này

Trang 21

Tham luận “Các điều khoản hardship” trong cuốn “Tài liệu hội thảo “Hợp đồng thương mại quốc tế” [33] do Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức ngày 13-14/12/2004 của Giáo sư Henry Lesguillons Trường Đại học Paris X Nanterre, Tổng biên tập Tạp chí Luật Thương mại quốc tế, đề cập đến điều khoản hardship áp dụng trong các trường hợp nào, phân biệt với sự kiện bất khả kháng; tham luận cũng nhắc đến các loại hoàn cảnh và ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với hợp đồng; thông báo sự kiện hardship, đàm phán và hậu quả của đàm phán không thành

Về thực tiễn giải quyết tranh chấp, bộ tài liệu “50 phán quyết trọng tài quốc

tế chọn lọc” đăng tải trên trang web của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam [13]

cũng là một tham khảo cho NCS khi tìm hiểu về cách giải thích và áp dụng pháp luật của Trọng tài khi giải quyết tranh chấp

1.1.1.3 Tình hình nghiên cứu và luận giải về các đề xuất, kiến nghị của đề tài luận án

Luận án tiến sỹ luật học “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật

Việt Nam” bảo vệ thành công năm 2010 của tác giả Lê Minh Hùng [35] đã kiến nghị

xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Ngoài các kiến nghị bổ sung điều luật vào BLDS sửa đổi, tác giả cũng đưa ra các kiến nghị hết sức cụ thể về thủ tục yêu cầu bên kia sửa đổi hợp đồng, thủ tục yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết Luận án đã có những đề xuất rất sát với BLDS

2015 sau này (thời điểm luận án được bảo vệ còn chưa có dự thảo sửa đổi BLDS) Ngoài ra, tác giả còn đưa ra các kiến nghị khác đối với ngành Tòa án, đối với các bên tham gia hợp đồng và đề xuất các “kênh trung chuyển” lý thuyết đến thực tiễn là thông qua hoạt động tư vấn của luật sư và thông qua việc đào tạo sinh viên luật

Bài viết “Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” của tác

giả Đỗ Văn Đại [17] đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13 (293) tháng 7 năm 2015 là góp ý của tác giả trong quá trình dự thảo xây dựng BLDS năm 2015 Bài viết đã nêu lên sự cần thiết của quy định hoàn cảnh thay đổi, những điểm bất hợp lý của dự thảo và đề xuất sửa đổi quy định trong dự thảo Có những đề xuất được tiếp thu và có những đề xuất không được ghi nhận trong BLDS 2015 Đây cũng là điểm mà luận án tiếp tục nghiên cứu

Trang 22

Bài viết “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản

trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” [34] đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp số 3(143) tháng 3 năm 2009 của tác giả Lê Minh Hùng đã nêu một số kiến nghị bước đầu về việc tiếp thu có chọn lọc các quy định tiến tiến của pháp luật các nước, các nguyên tắc, tập quán thương mại về pháp luật hợp đồng, làm cơ sở cho việc bổ sung và hoàn thiện hơn pháp luật hợp đồng Việt Nam

Bài viết của TS Nguyễn Minh Hằng và Th.s Trần Thị Giang Thu [26] đăng trên

Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 86 “Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS năm

2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” dự kiến việc áp dụng quy

định này tại Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn do có nhiều cách hiểu và quan điểm trái chiều Do đó, tác giả đề xuất một số ý kiến diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS 2015

Bài viết “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh

thay đổi” của TS Vũ Thị Lan Anh [3] đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5 (337)

năm 2016 đã dự kiến một số vướng mắc phát sinh và một số khuyến nghị nhằm khắc phục các vướng mắc có thể nảy sinh trong thực tiễn áp dụng Đó là khuyến nghị đối với các bên giao kết, khuyến nghị đối với Tòa án và khuyến nghị đối với nhà lập pháp

Tác giả Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm [53] trong bài viết “Thực

hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” đăng trên cổng thông tin điện tử của

Bộ Tư pháp đã phân tích quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới và Bộ nguyên tắc Unidroit năm

2010 về hợp đồng thương mại quốc tế và pháp luật Việt Nam Tác giả khẳng định đây là quy định có ý nghĩa quan trọng và tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như nguyên tắc thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự Bài viết cũng đặt ra một số vấn đề pháp lý cần nghiên cứu về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản ở Việt Nam

1.1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Các công trình nghiên cứu lý luận và quy định pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Liên quan đến thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, có nhiều tác giả cũng quan tâm nghiên cứu Các công trình này hầu như đề cập đến cả vấn đề

Trang 23

lý luận và quy định của pháp luật quốc tế hoặc pháp luật quốc gia về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Các quốc gia khác nhau thì có tên gọi khác nhau đối với điều khoản này, chẳng hạn, trong PICC gọi là “hardship”, trong PECL gọi là “changes of circumstance”… tuy nhiên thuật ngữ “hardship” được sử dụng phổ biến nhất Để thuận tiện cho việc trình bày các tài liệu nước ngoài, NCS sẽ sử dụng thuật ngữ “hardship”

Có thể kể đến một số các tác phẩm liên quan trực tiếp đến hardship như sau:

- Cuốn “The effect of a change of circumstances on the binding force of

contracts - Comparative perspectives” của R.A Momberg Uribe [92] (tạm dịch:

Ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh đối với hiệu lực ràng buộc của hợp đồng - Quan điểm so sánh) Cuốn sách này nghiên cứu trường hợp các hoàn cảnh đột xuất khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn và những hoàn cảnh khiến cho mục đích hợp đồng không đạt được Sự phức tạp của các mối quan hệ hợp đồng hiện đại đòi hỏi cần có sự cân bằng giữa các quy tắc kinh điển của hợp đồng về tính

tự do, bảo mật và chắc chắn với những giá trị mới bao gồm sự hợp tác, tương hỗ và tính mềm dẻo Để có sự cân bằng này, việc ghi nhận “sự thay đổi của hoàn cảnh” (a change of circumstances) như một cách thức để bên bị ảnh hưởng có thể dựa vào để yêu cầu bên có nghĩa vụ thương lượng lại Nếu việc thương lượng lại không thành công, “sự thay đổi hoàn cảnh” là công cụ để tòa án xem xét lại hợp đồng Cuốn sách bao gồm nghiên cứu so sánh pháp luật Châu Âu, Châu Mỹ Latinh và luật hợp đồng

Mỹ Bên cạnh pháp luật quốc gia, cuốn sách cũng phân tích cách tiếp cận “sự thay đổi của hoàn cảnh” trong các bộ luật mẫu hiện đại và trong luật hợp đồng quốc tế

Đó là các quy định của CIGS, PICC, PECL

- Tác phẩm “Unexpected Circumstances in European Contract Law” (tạm

dịch: Hoàn cảnh không mong đợi trong Luật hợp đồng Châu Âu) (2011) biên tập bởi Ewoud Hondius and Hans Christoph Grigoleit [79] là tác phẩm giới thiệu một cách rất tổng quan về luật của các nước Châu Âu về hoàn cảnh không mong đợi và các án lệ bao gồm cả án giả định Tác phẩm cũng đưa ra nhận xét so sánh chung:

xu hướng hội tụ của pháp luật, sự khác biệt còn lại và những vấn đề chưa được giải quyết

Trang 24

- Bài viết “The effect of change in circumstances on the performance of

contract” (Tạm dịch: Ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh đến việc thực hiện hợp

đồng) của Egidijus Baranauskas, Paulius Zapolskis [75] Các tác giả của bài viết này sử dụng các phương pháp hệ thống, so sánh và lịch sử để xem xét các đại diện của các hệ thống luật pháp điển hình nhất – Pháp, Anh, Đức - và phân tích các hệ thống pháp lý này xử lý những ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh đối với việc thực hiện hợp đồng như thế nào Các tác giả cũng thảo luận về các giải pháp được các nhóm học giả thực hiện về các công cụ luật về hợp đồng quốc tế, cụ thể là PICC

và PECL, nhấn mạnh rằng các bộ nguyên tắc này đã ảnh hưởng đáng kể đến luật hợp đồng Lithuanian về thay đổi hoàn cảnh Các tác giả đánh giá tỉ mỉ án lệ của Toà

án Tối cao Lithuanian về việc áp dụng các quy định về thay đổi hoàn cảnh và ảnh hưởng của chúng đối với việc thực hiện hợp đồng

- Bài viết “Force majeure and hardship: Application in international trade

practice with specific regard to the CISG and the UNIDROIT Principles

of International Commercial Contracts” (Tạm dịch: Bất khả kháng và hoàn cảnh

thay đổi: Áp dụng trong thực tiễn thương mại quốc tế liên quan tới CISG và các nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế) của tác giả Joern Rimke [84] Bài báo này đưa ra một số khái niệm về những khó khăn và bất khả kháng trong bối cảnh của các giao dịch hàng hóa quốc tế Thứ nhất, các khái niệm

đó được thảo luận trên cơ sở lý thuyết và phân biệt hai khái niệm Thứ hai, các cách tiếp cận khác nhau đối với hoàn cảnh thay đổi của một số quốc gia trong các hệ thống pháp luật lớn được đề cập Thứ ba, Điều 79 CISG được giới thiệu, giải thích,

và phạm vi của nó được xác định Sau đó tác giả cũng cho rằng, trong chừng mực nào, và những loại điều khoản nào liên quan đến vấn đề thay đổi hoàn cảnh, nên được đưa vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Thứ tư, bài báo đề cập đến nội dung các điều khoản bất khả kháng và khó khăn Cuối cùng, tác giả xem xét việc sử dụng các hình thức hợp đồng tiêu chuẩn, đặc biệt đối với PICC, và đưa ra đề xuất đối với điều khoản bất khả kháng và hoàn cảnh khó khăn

- Bài viết“Contract modification or cancellation and breach of contract

defenses in times of economic crisis” [114] (Tạm dịch: Sửa đổi hay huỷ hợp đồng

Trang 25

và chống lại việc vi phạm hợp đồng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế) Bài viết này lại giới thiệu một số án lệ để giải thích cho các thuật ngữ liên quan đến xác định

có phải hoàn cảnh thay đổi hay không như “không thể thực hiện được”, “không lường trước được”, “không có khả năng thực hiện” “mục đích không đạt được”…

- Bài viết ‘Comparision of commonly used hardship and Force Majeure

Clause” của văn phòng luật sư Lozenz & Partners [86] so sánh bất khả kháng và

hoàn cảnh thay đổi giữa các văn bản luật trong đó có CIGS và PICC dựa trên một

số tiêu chí nhất định

- Bài “Hardship and Changed Circumstances as Grounds for Adjustment or

Non-Performance of Contracts Practical Considerations in International” (tạm dịch Khó khăn và hoàn cảnh thay đổi làm căn cứ để điều chỉnh hoặc không thực hiện hợp đồng - Những cân nhắc trong thực tiễn quốc tế) của Frederick R Fucci [77] đề cập đến nguồn gốc, khái niệm hardship; các yếu tố mà các nhà đầu tư và người cho vay quan tâm, chẳng hạn như sự kiện không thể lường trước là thế nào, nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, chuyện gì xảy ra khi một bên tuyên bố gặp khó khăn, nếu hợp đồng được điều chỉnh thì tiêu chuẩn điều chỉnh là gì, nếu một hợp đồng bị chấm dứt, những hậu quả kinh tế là gì và cuối cùng là định nghĩa tiêu chuẩn viện dẫn hardship…

- Bài viết “Force majeure and hardship in International sales contract” (tạm

dịch “Bất khả kháng và hoàn cảnh khó khăn theo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”) của Ingeborg Schwenzer [82], giáo sư về luật tư của Đại học Basel, Switzerland Bài báo này phân tích các khái niệm về bất khả kháng và khó khăn khi

cố gắng để giải phóng bản thân khỏi một thỏa thuận Bài viết đề cập đến lịch sử ra đời cũng như quy định hiện hành trong các hệ thống pháp luật trong nước khác nhau như Đức, Pháp, Hà Lan Bài viết cũng nghiên cứu quy định tương tự trong CIGS, mặc dù CIGS không có điều khoản force majeure hay hardship nhưng lại có điều khoản có hiệu lực tương tự như vậy Tác giả cũng phân tích yêu cầu để giải phóng nghĩa vụ trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và kết luận với hậu quả của force majeure và hardship

Trang 26

Bài tạp chí “Fundamental Alteration of the contractual equilibrium under

hardship exemption” (tạm dịch Thay đổi cơ bản về sự cân bằng hợp đồng theo sự

miễn trừ khó khăn) của Daniel Girsberger và Paulius Zapolskis [72] Bài viết bình luận các yếu tố để xác định trường hợp hardship Tác giả đưa ra quan điểm: một là, chấp nhận tiếp cận khách quan của hardship là sự đối lập với chủ quan, hai là, để chứng minh hoàn cảnh thay đổi thì bên bất lợi phải chứng minh sự mất cân bằng nghĩa vụ hợp đồng

Mục đích của nghiên cứu là đánh giá sự “thay đổi cơ bản” ở cả cấp độ quốc

tế và quốc gia Tác giả khẳng định rằng không phải cứ là sự kiện không nhìn thấy trước là “hoàn cảnh khó khăn” Điều này có nghĩa là bên bị thiệt thòi muốn sử dụng

sự miễn trừ khó khăn phải cung cấp những thông tin liên quan, bằng chứng để chứng minh một số trường hợp đã thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến khả năng thực hiện hợp đồng cụ thể Cho dù một sự bất cân bằng có thể được coi là “cơ bản” hay “quá mức nặng nề” sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Tác giả cũng chỉ

ra rằng tiêu chí chính cần phải là khách quan nhất có thể, được thể hiện trong một tỷ

lệ phần trăm hoặc các con số đo lường khác Tuy nhiên, trong một số trường hợp,

đo lường tỷ lệ phần trăm là không thích hợp, và do đó các tiêu chuẩn khác nên được

sử dụng Tác giả cũng đề xuất một số tiêu chí đánh giá sự mất cân bằng, chẳng hạn khả năng tài chính của con nợ, thời hạn hợp đồng…

Tác giả Amin Dwwas trong bài viết “Alteration of the contractual

Equlibrium under the Unidroit principles” [66] (tạm dịch Thay đổi cân bằng hợp

đồng theo các nguyên tắc Unidroit) đã bình luận 2 nội dung Thứ nhất là các yếu tố nhận diện hardship và nêu ví dụ cụ thể thông qua các case Thứ hai, bài viết phân tích chi tiết nghĩa vụ của các bên liên quan đến giải pháp đàm phán lại và vai trò của

cơ quan giải quyết tranh chấp (Tòa án và Trọng tài) khi có yêu cầu của các bên liên quan khi có hardship Cụ thể là, bên có nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia tham gia đàm phán lại, yêu cầu này có thể nêu rõ ý định yêu cầu sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng Yêu cầu này phải nêu rõ vì sao việc đàm phán lại là cần thiết Theo PICC, phía được yêu cầu có nghĩa vụ tham gia đàm phán lại và nếu việc từ chối một cách không hợp lý dẫn đến thiệt hại cho bên yêu cầu thì có thể phải chịu trách nhiệm cho

Trang 27

những thiệt hại này Một khi đã tham gia đàm phán lại, các bên phải tham gia một cách thiện chí Các bên không bắt buộc phải đạt được thỏa thuận khi đàm phán lại Nếu việc đàm phán thất bại, một trong hai bên đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Đàm phán lại là bước bắt buộc trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết Bài báo cũng phân tích vai trò của Tòa án khi giải quyết yêu cầu của các bên về hardship

Do đó, NCS sẽ tập trung khai thác các yếu tố xác định hoàn cảnh thay đổi và

hệ quả khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản ra sao

- Về hoàn cảnh thay đổi và thực hiện hợp đồng khi hoàn ảnh thay đổi cơ bản, các nghiên cứu ở Việt Nam chưa nhiều, chủ yếu dừng lại ở các bài viết trên các tạp chí chứ chưa có tác phẩm chuyên khảo Các nghiên cứu trong nước cũng mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định sự cần thiết phải đưa điều khoản hoàn cảnh thay đổi vào luật hợp đồng Một số bài viết gần đây đã có đề cập đến một số khía cạnh của điều luật về hoàn cảnh thay đổi như khái niệm, các điều kiện để hoàn cảnh được coi là

Trang 28

thay đổi cơ bản là căn cứ để các bên đàm phán lại hợp đồng, phân biệt với bất khả kháng, dự kiến những khó khăn, vướng mắc sẽ gặp phải trong quá trình thi hành luật Tuy nhiên, những bài viết này cũng chưa nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc, chủ yếu là nêu vấn đề

Về các nghiên cứu nước ngoài, “hardship” hay “changes of circumstance” là chủ đề được nhiều học giả nghiên cứu Các tài liệu này rất có giá trị cung cấp các vấn đề lý luận như về nguồn gốc điều khoản hardship, các thuật ngữ khác nhau

mang bản chất của hardship và đặc biệt là nhắc đến nguyên tắc pacta sunt survanda Nguyên tắc pacta sunt survanda (hiệu lực bất biến) tức là tôn trọng giao ước của

hợp đồng đã được các tác giả khai thác và đặt ra vấn đề nguyên tắc này có mâu

thuẫn với nguyên tắc rebus sic stantibus (nguyên trạng bất biến) có thể hiểu là thay

đổi giao ước hay không? Hai thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Latin và được biết đến như là nguyên tắc phổ biến trong các điều ước quốc tế Sau này, hai nguyên tắc này được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực luật tư, đặc biệt trong lĩnh vực hợp đồng Các tác giả khá thống nhất khi nhận định rằng nguyên tắc pacta sunt survanda mang tính quyết định đối với hiệu lực hợp đồng, ý chí của các bên khi giao kết trên tinh thần tự do, tự nguyện trung thực phải được thực hiện nghiêm chỉnh Đây là nguyên tắc chi phối hiệu lực hợp đồng, khẳng định tính ràng buộc của hợp đồng Nguyên tắc rebus sic statibus giữ vai trò bổ sung quan trọng nhằm tạo sự cân bằng về lợi ích cho các bên tham gia hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi Hardship là một biểu hiện của nguyên tắc rebus sic stantibus và là ngoại lệ của Pacta sunt survanda và bù đắp “lỗ hổng” mà điều khoản bất khả kháng không điều chỉnh được Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng, cần tôn trọng cam kết của các bên và không nên quy định hardship là một điều khoản trong luật Các tác phẩm chủ yếu nhắc đến 2

nguyên tắc pacta sunt survanda và rebus sic statibus chứ chưa có tác phẩm nghiên

cứu đầy đủ về các học thuyết ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản cũng như cơ sở lý luận về sự công bằng, về thiện chí trong thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Trang 29

1.2.2 Về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

- Về thực trạng quy định pháp luật: Ở Việt Nam, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản lần đầu tiên được ghi nhận trong BLDS năm

2015 Điều này không có nghĩa là trước đó pháp luật chưa có quy định Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật Đấu thầu đã có quy định cho phép điều chỉnh hợp đồng trong những hoàn cảnh nhất định Nhưng các quy định này cũng chỉ mang tính chất chuyên biệt, đặc thù, trong trường hợp cụ thể chứ không phải là quy định chung áp dụng cho các loại hợp đồng

Các bài viết về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản cũng mới chỉ phân tích rất sơ lược quy định của luật chứ chưa có những diễn giải điều luật Các nghiên cứu này cũng chủ yếu dự kiến vướng mắc sẽ gặp phải khi áp dụng pháp luật chứ chưa giải quyết xử lý vướng mắc đó thế nào

Các nhà nghiên cứu nước ngoài lại tập trung nghiên cứu pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như CIGS, PICC, PECL Đối với CIGS, các nghiên cứu chỉ ra rằng, CIGS không quy định về hardship, nếu

có tình huống hardship xảy ra mà không thể áp dụng điều khoản miễn trừ quy định tại Điều 79 của CIGS thì áp dụng Điều 7.2 của CIGS, theo đó, các vấn đề liên quan tới đối tượng điều chỉnh của Công ước này mà không được quy định thẳng trong Công ước thì sẽ được giải quyết chiếu theo các nguyên tắc chung mà từ đó công ước được hình thành hoặc nếu không có các nguyên tắc này thì chiếu theo luật được

áp dụng theo quy phạm của tư pháp quốc tế

Bên cạnh đó, các tác phẩm nghiên cứu quy định hardship của PICC, PECL

và pháp luật của một số quốc gia như Pháp, Đức, Anh, Mỹ… Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu này là đưa ra các án lệ để đánh giá xem các hoàn cảnh đó có phải là hardship không, nếu có thì nghĩa vụ của các bên thế nào và hậu quả của việc đàm phán không thành ra sao Một số các tác phẩm có đề cập đến các điều kiện của hoàn cảnh thay đổi và thông qua các cases cụ thể để làm rõ các tiêu chí này Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chủ yếu bình luận PICC hoặc luật của một quốc gia cụ thể

Các tác phẩm này đã nghiên cứu một cách khái quát về các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia Đây sẽ là những tài liệu tham khảo giá trị khi luận án nghiên cứu pháp luật Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với pháp luật

Trang 30

quốc tế và pháp luật quốc gia để làm rõ quy định cũng như tìm điểm tương đồng và khác biệt và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Về thực tiễn thi hành: Cho đến nay chưa có báo cáo chính thức về việc áp

dụng điều luật này trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng ở Việt Nam NCS cũng chưa tìm được bản án nào áp dụng điều khoản này trong giải quyết tranh chấp

từ khi BLDS 2015 có hiệu lực Tác giả mới chỉ tìm được một khảo sát của một nhóm nghiên cứu về việc có bao nhiêu phần trăm các doanh nghiệp được khảo sát biết về điều khoản hoàn cảnh thay đổi và lí do tại sao các doanh nghiệp ít đưa điều khoản hoàn cảnh thay đổi vào hợp đồng

Tuy nhiên, đã có một số nghiên cứu phân tích thực tiễn pháp lý ở Việt Nam khi phát sinh nhiều vụ tranh chấp có liên quan tới yêu cầu cần áp dụng điều khoản điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cành thay đổi nhưng chưa có luật áp dụng và minh chứng thông qua bình luận các vụ án thực tế

Sau khi BLDS 2015 có hiệu lực, đã xuất hiện các nghiên cứu chỉ ra một số các hạn chế của pháp luật và dự kiến các vướng mắc, khó khăn khi áp dụng điều luật này trên thực tế Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng mới chỉ nhắc đến một số hạn chế chứ chưa có sự phân tích thấu đáo Luận án sẽ kế thừa và phát triển, mở rộng thêm các hạn chế, vướng mắc, khó khăn này để làm cơ sở cho những kiến nghị, giải pháp tiếp theo

1.2.3 Về quan điểm, giải pháp

Một số công trình khoa học trên đã đưa ra các đề xuất như cần phổ biến điều luật này tới các luật sư, tới các bên trong hợp đồng, đề xuất bổ sung cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng liên quan đến điều khoản hoàn cảnh thay đổi… Một số tác giả cũng đã đề cập đến đề xuất diễn giải điều luật tuy nhiên vẫn chỉ là đề xuất chứ chưa trả lời diễn giải thế nào Các nghiên cứu cũng đã đưa ra các khuyến nghị cho các đối tượng, từ Tòa án đến các bên trong hợp đồng, đến sinh viên luật cần nghiên cứu và bổ sung điều khoản này vào hợp đồng ngay khi giao kết

Một số tác giả cũng đã nhận định rằng, việc xác định điều kiện của hoàn cảnh thay đổi nên sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau tuy nhiên cũng chưa làm rõ được các tiêu chí đó là gì Và các nghiên cứu này cũng chủ yếu bình luận PICC và

có đánh giá hạn chế cũng như diễn giải một số tiêu chí trong đó

Trang 31

Như vậy, mặc dù có nhiều vấn đề liên quan đến luận án đã được nghiên cứu nhưng vẫn còn nhiều “khoảng trống” cần khai thác hoặc có nghiên cứu nhưng ở mức

độ mờ nhạt, chung nhất, hoặc mới chỉ nghiên cứu ở một khía cạnh nhất định nào đó

1.2.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu toàn diện về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi ở Việt Nam Các nghiên cứu trong nước mới chỉ nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau hoặc mới chỉ nêu vấn đề mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận lẫn thực tiễn về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trong đó hội nhập kinh tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Do đó, NCS cho rằng cần phải tiếp tục nghiên cứu lý luận, các quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành để nhận thức đầy đủ và thống nhất về pháp luật và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng, trong đó có quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Để đáp ứng nhiệm vụ này, NCS rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án của mình, cụ thể như sau:

Một là, Luận án sẽ bổ sung và làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận như đưa ra khái niệm về hoàn cảnh thay đổi, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, phân biệt hoàn cảnh thay đổi với sự kiện kiện bất khả kháng Luận án cũng sẽ làm rõ hơn điều khoản hoàn cảnh thay đổi trong mối quan hệ với nguyên tắc pacta sunt survanda và nguyên tắc rebus sic statibus Ngoài ra, luận án sẽ bổ sung nguyên tắc về

sự công bằng, nguyên tắc thiện chí nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc bổ sung điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản vào luật hợp đồng

Hai là, Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về điều

kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc đàm phán lại hợp đồng và hệ quả pháp lý khi đàm phán lại không thành Luận án sẽ phân tích điều luật một cách sâu sắc, toàn diện và rõ ràng, trên cơ sở so sánh với hai

bộ nguyên tắc luật hợp đồng và pháp luật của một số quốc gia, diễn giải điều luật nhằm thống nhất nhận thức trên cơ sở đó thống nhất áp dụng pháp luật

Ba là, Luận án phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn liên quan đến hoàn

cảnh thay đổi cơ bản và thực trạng pháp lý trước và sau khi có điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Trang 32

Bốn là, Luận án sẽ phân tích, bổ sung và đánh giá về các hạn chế, vướng

mắc, khó khăn trong các quy định của pháp luật và trong thực tiễn pháp lý để từ đó làm cơ sở cho những kiến nghị, giải pháp tiếp theo

Năm là, thông qua nghiên cứu lý luận, quy định pháp luật, so sánh với pháp

luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia điển hình, cùng với đánh giá thực tiễn, luận

án kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đưa ra các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

1.3 Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Cơ sở lý thuyết

Khi nghiên cứu về hoàn cảnh thay đổi cơ bản và pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, NCS sử dụng một số cơ sở lý thuyết điển hình như:

Một là, lý thuyết về hợp đồng được sử dụng xuyên suốt trong luận án, là cơ

sở để phân tích các vấn đề lý luận cũng như pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản;

Hai là, lý thuyết về tự do ý chí và hạn chế tự do ý chí được sử dụng chủ yếu khi phân tích quá trình đàm phán lại của các bên trong hợp đồng và hệ quả của đàm phán không thành Tự do hợp đồng cũng có nghĩa là tự do quyết định ràng buộc việc thực hiện nghĩa vụ Pháp luật chỉ can thiệp trong trường hợp ngoại lệ nhưng vẫn trên cơ sở tôn trọng tự do ý chí của các bên thông qua quá trình đàm phán lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Lý thuyết về cân bằng lợi ích với nền tảng là nguyên tắc thiện chí, trung thực và nguyên tắc công bằng Lý thuyết này có thể hiểu là: sau khi hợp đồng phát sinh hiệu lực, nếu có sự thay đổi lớn và không lường trước được về hoàn cảnh thực

tế so với thời điểm xác lập hợp đồng, thì các bên có thể đàm phán lại để điều chỉnh các nội dung có liên quan của hợp đồng cho phù hợp với mong muốn của các bên

và lẽ công bằng, thậm chí chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng [35, tr.41] Lý thuyết này được NCS sử dụng để phân tích cơ sở lý luận, nội dung thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản,

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước, cùng với sự tham vấn của các chuyên gia, Luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu như sau:

Trang 33

1.3.2.1 Câu hỏi nghiên cứu:

- Hệ thống lý luận về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nghiên cứu gì? Thế nào là hoàn cảnh thay đổi cơ bản? Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khác gì với sự kiện bất khả kháng?

- Thực trạng quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định thế nào? Thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam trước và sau khi

Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực ra sao? Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành là gì?

-Với những tồn tại, bất cập nêu trên cần phải có những giải pháp hoàn thiện

và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật như thế nào?

1.3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Cho đến nay chưa có hệ thống lý luận về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Chưa có khái niệm thống nhất về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa hoàn cảnh thay đổi cơ bản với sự kiện bất khả kháng Việc nhận diện hoàn cảnh thay đổi

cơ bản còn chưa có sự thống nhất giữa các quốc gia cũng như trên phương diện luật pháp quốc tế Các học thuyết, nguyên tắc cơ bản của hợp đồng định hướng cho việc xây dựng các quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản chưa được nghiên cứu đầy đủ

-Các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản quy định chưa rõ ràng, gây ra nhiều khó khăn khi áp dụng thực tiễn, chưa phát huy hiệu quả, cần có hướng dẫn cụ thể hơn Kể cả trước và sau khi có quy định pháp luật thì việc nhận thức và áp dụng điều luật cũng chưa đầy đủ và thống nhất

- Hiện nay, chưa có giải pháp hợp lý để sửa đổi, bổ sung, khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành

1.2.2.3 Kết quả nghiên cứu (dự kiến):

- Từ thiếu sót về cơ sở lý luận như đã nêu trên, kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản, giải thích thế nào là thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, làm rõ sự khác nhau giữa các hoàn cảnh thay đổi cơ bản với bất khả kháng Xuất phát từ các học thuyết, từ các nguyên tắc cơ bản của

Trang 34

pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng để khẳng định việc đưa quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản vào luật hợp đồng là cần thiết

- Làm rõ các quy định pháp luật về điều kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nghĩa

vụ đàm phán lại và hậu quả pháp lý khi đàm phán lại không thành.Tìm ra được những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật từ việc dựa trên những phân tích từ cả góc độ pháp lý từ thực tiễn thực thi pháp luật và kinh nghiệm điều chỉnh trong pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam và thông lệ quốc tế trong quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế

Kết luận chương 1

Đề tài “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật

Việt Nam hiện nay” ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học là đề tài có tính mới Đề tài

được thực hiện trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thông qua tình hình nghiên cứu Qua đó, tác giả nhận xét về các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án, tìm ra những “khoảng trống” để khai thác

Mặc dù cho đến thời điểm hiện nay đã có một số công trình khoa học trong

và ngoài nước đã nghiên cứu một hoặc một số khía cạnh có liên quan đến đề tài và

có giá trị tham khảo, song vẫn còn một vài hạn chế như:

Thứ nhất, liên quan đến lý luận về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay

đổi cơ bản: các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam chưa nhiều, chưa có tính hệ thống, chưa xây dựng được khái niệm, chủ yếu là nêu vấn đề chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện Các nghiên cứu ở nước ngoài khá phong phú song chủ yếu nghiên cứu về hoàn cảnh thay đổi trong Bộ quy tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu của một số các quốc gia Các tác phẩm chưa lí giải cơ sở lý luận về công bằng, thiện chí trong thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Trang 35

Thứ hai, liên quan đến thực trạng pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn

cảnh thay đổi cơ bản ở Việt Nam: các công trình ở Việt Nam mới chỉ phân tích rất sơ lược quy định của luật chứ chưa có diễn giải điều luật, chưa có sự phân tích dưới góc

độ so sánh với luật của các quốc gia Các tác phẩm ngoài nước cũng đã nghiên cứu một cách khái quát các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về điều kiện và hệ quả của hoàn cảnh thay đổi cơ bản Trên cơ sở đó, đề tài làm rõ quy định cũng như tìm điểm tương đồng và khác biệt làm cơ sở cho kiến nghị ở chương sau

Thứ ba, về thực tiễn thi hành: cho đến nay chưa có báo cáo chính thức về

việc áp dụng điều luật này trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng ở Việt Nam Tuy nhiên, đã có một số nghiên cứu phân tích thực tiễn pháp lý trước khi có BLDS năm 2015 có liên quan tới yêu cầu điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi nhưng thời điểm đó chưa có điều luật để áp dụng Đã có một số công trình chỉ ra hạn chế của pháp luật và dự kiến các khó khăn, vướng mắc khi áp dụng điều luật trên thực tế song cũng chưa có sự phân tích thấu đáo

Thứ tư, liên quan đến giải pháp hoàn thiện pháp luật, chủ yếu các công trình

mới chỉ nêu đề xuất nên diễn giải điều luật, nên hướng dẫn cụ thể, khuyến nghị cần nghiên cứu chứ chưa đưa ra các giải pháp cụ thể

Từ những đánh giá tình hình nghiên cứu, trên cơ sở lý thuyết nghiên cứu, NCS đã xác định cụ thể những vấn đề đặt ra mà đề tài cần giải quyết, có định hướng

rõ ràng nhằm đạt được mục đích nghiên cứu

Trang 36

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN

2.1 Những vấn đề lý luận về hoàn cảnh thay đổi cơ bản

2.1.1 Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Về nguyên tắc, hợp đồng là để thực hiện Không ai khi giao kết hợp đồng lại mong muốn hợp đồng bị sửa đổi hay bị chấm dứt hoặc hủy bỏ Chỉ khi có những sự kiện không thể lường được xảy ra sau khi giao kết gây ra những bất lợi cho mình thông thường lúc đó các bên mới có ý định thay đổi ý chí Bên cạnh đó, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận là một trong những nguyên tắc cơ bản khi thực hiện hợp đồng, các bên tôn trọng và thực hiện theo những gì đã giao kết với nhau Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng dài hạn, hàm chứa rất nhiều rủi ro, có thể từ thiên nhiên, từ xã hội hay từ con người, làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên vô cùng khó khăn, tốn kém, khác hoàn toàn với mục đích lúc giao kết hợp đồng Các sự kiện khách quan xảy ra khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở thành gánh nặng cho một bên mặc dù việc thực hiện hợp đồng là có thể Có nhiều

thuật ngữ khác nhau để chỉ trường hợp này: như hardship (đặc biệt khó khăn) hoặc

change of circumstances (thay đổi hoàn cảnh) Ở Mỹ là “commercial impracticcability” (thương mại bất khả thi), Ở Anh gọi là“frustration of contract”

(sự vô ích của hợp đồng), ở Đức là “Störung der Geschäftsgrundlage”(sự xâm phạm đến nền tảng của giao dịch), ở Pháp là imprévision, Ở Thụy Sỹ là

“impossibility” (bất khả thi) nhưng thuật ngữ “hardship” được chấp nhận và sử

dụng rộng rãi nhất (sau đây gọi chung bằng thuật ngữ này) Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của hardship không phải là thuật ngữ mà là cách tiếp cận khác nhau khi các nhà lập pháp hoặc tòa án xử lý nó Vấn đề chính là tiêu chuẩn nhận diện hardship và

hệ quả của nó thế nào, hay nói cách khác, tòa án có thể sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng trong trường hợp đó không

Khái niệm “hardship” lần đầu tiên được trình bày trong cuốn “Pháp luật hợp

đồng quốc tế” của Marcel Fontaine xuất bản năm 1989 Những nghiên cứu đó là

Trang 37

điểm đến, bởi vì đó là lần đầu tiên thực tiễn hợp đồng từ những năm 1960 được đem

ra phân tích, thông qua việc nghiên cứu một số lượng lớn các điều khoản về trường hợp bất khả kháng và điều khoản hardship [58]

Trước khi có quy định về “hardship”, trường hợp một bên gặp khó khăn đặc

biệt trong việc thực hiện nghĩa vụ do các yếu tố khách quan tác động thì thông thường các cơ quan tài phán sẽ áp dụng điều khoản bất khả kháng để giải quyết Hậu quả của bất khả kháng thường là giải phóng nghĩa vụ cho bên vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà thực tiễn thấy rằng, điều khoản bất khả kháng không thích hợp để giải quyết nhiều tình huống thực tiễn và gây ra sự bất công bằng cho các bên trong hợp đồng Để đảm bảo lợi ích các bên nhằm phân chia

hợp lý rủi ro và tái lập sự cân bằng của hợp đồng, điều khoản về hardship đã được

các bên đưa vào nội dung hợp đồng và dần dần đã được đưa vào văn bản pháp luật

Hardship, để được chấp nhận tương đối phổ biến trong pháp luật quốc tế và các quốc gia hiện nay, là cả một quá trình lâu dài Trong hệ thống pháp luật

common law, nguyên tắc hiệu lực tuyệt đối của hợp đồng được đề cao “hậu quả

pháp lý duy nhất và bao quát cho mọi trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện,

đó là cần bắt buộc người có nghĩa vụ phải trả tiền bồi thường thiệt hại Và vì thực

tế, tiền luôn có trên thị trường, nên không có lí do gì, cho dù hợp đồng trở nên không thể thực hiện được ngoài dự kiến mà có thể, cho phép người có nghĩa vụ được giải phóng trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, trừ phi các bên thỏa thuận trước về căn cứ miễn trách nhiệm” [38, tr.509] Cho nên việc sửa đổi hay

chấm dứt hợp đồng khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản là rất hiếm hoi

Trước đây, một số quốc gia theo truyền thống Civil law như Pháp, Đức cũng

có những quy định, tuy không hoàn toàn rõ ràng về hardship nhưng cũng đã bắt đầu được áp dụng khi có biến cố đặc biệt xảy ra như mất giá đồng tiền, tốn kém chi phí lớn hay giảm nghiêm trọng thu nhập của bên có nghĩa vụ Sau này, các bộ luật mới

có sự ghi nhận một cách minh thị, BLDS Đức sửa đổi năm 2002 quy định tại Điều

313, BLDS Pháp sửa đổi 2016 quy định tại Điều 1195 Về cơ bản, các điều luật này đều đưa ra các điều kiện hết sức nghiêm ngặt xác định thế nào là hardship và hệ quả pháp lý của nó Theo đó, hardship được xác định là hoàn cảnh khó khăn đặc biệt

Trang 38

xảy ra mà các bên không lường trước được khi giao kết hợp đồng hoặc nếu có giao kết thì với nội dung hoàn toàn khác

Ngay cả trong Công ước Viên 1980, công ước quốc tế về mua bán hàng hóa,

cũng không đề cập trực tiếp đến hoàn cảnh thay đổi mà “dựa trên cơ sở thực tiễn

thương mại quốc tế, nhằm cố gắng thiết lập một sự điều chỉnh thuận lợi tối ưu cho các bên tham gia giao dịch thương mại, những người buộc phải tìm kiếm sự dung hòa giữa ước muốn có được một nghĩa vụ chắc chắn từ phía bên đối tác với khả năng miễn trách khỏi nghĩa vụ từ phía mình, khi mà việc tiến hành thực hiện nghĩa

vụ đó, do sự tác động của tình thế nhất định, biến đổi theo chiều hướng bất lợi cho họ”[38, tr.522] CISG lựa chọn thuật ngữ “trở ngại” (impediment) và thuật ngữ

này không theo hệ thống pháp luật nào để “tạo điều kiện cho cách tiếp cận của

Công ước được phổ biến rộng rãi hơn trên toàn thế giới, tại các quốc gia có các hệ thống kinh tế, xã hội và truyền thống pháp lý khác nhau” [38, tr.522] Dù không có

quy định riêng về vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhưng CISG lại có điều luật có hiệu lực tương tự (Điều 79) [96, tr.709] Điều luật này quy định bên có nghĩa vụ được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

Việc không thực hiện đúng hợp đồng là do trở ngại (impediment) ngoài sự kiểm soát của đương sự

Trở ngại đó không thể lường trước được vào thời điểm ký kết hợp đồng và Trở ngại đó không thể vượt qua được [13]

Điều kiện (a) đề cập đến yếu tố khách quan của hoàn cảnh khó khăn đó là sự kiện xảy ra phải vượt khỏi tầm kiểm soát của bên liên quan mà không đề cập đến vấn đề lỗi [112] Điều kiện (b) yêu cầu hoàn cảnh xảy ra phải không lường trước được vì nếu sự kiện xảy ra là lường trước được thì bên không thực hiện hợp đồng được coi là đã dự liệu trước rủi ro là sự kiện đó có thể xảy ra khi ký hợp đồng [84, tr.215] Khi ký kết hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng với thời hạn dài và liên quan đến các chủ thể ở các quốc gia, khu vực khác nhau, các bên cần cân nhắc và dự liệu vào hợp đồng một cách kỹ lưỡng các hoàn cảnh khó khăn có thể xảy đến Chỉ khi nào các sự kiện xảy ra là không thể lường trước được vào thời điểm ký hợp đồng thì

Trang 39

mới có thể được xem xét miễn trừ nghĩa vụ Điều kiện (c) đòi hỏi bên bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh khó khăn phải đối phó lại với trở ngại với hai khía cạnh sau: thứ nhất, thực hiện các biện pháp có thể để ngăn cản trở ngại xảy ra khi nhìn thấy nguy cơ; thứ hai, nếu trở ngại đã xảy ra rồi thì phải tìm cách vượt qua giảm thiểu hậu quả nhanh nhất có thể Khi xảy ra hoàn cảnh khó khăn như trên, bên có nghĩa vụ nếu không thực hiện được hợp đồng thì phải thông báo cho bên kia biết về hoàn cảnh khó khăn và ảnh hưởng của hoàn cảnh đó đến khả năng thực hiện hợp đồng Nếu không gửi thông báo trong thời hạn hợp lý kể từ khi biết hoặc phải biết về hoàn cảnh khó khăn thì bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh từ việc thông báo muộn đó (Đoạn 4 Điều 79 CISG)

Trong quá trình soạn thảo Điều 79 đã có một số đề xuất về việc miễn trừ thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức việc bắt buộc bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện là không hợp lý, tuy nhiên đề xuất này đã bị bác bỏ [96, tr.712] Lịch sử hình thành của điều khoản này chứng tỏ rằng CISG không có ý định điều chỉnh

hardship [84, tr.219] Hơn nữa, chế tài đối với hardship là đàm phán lại và sửa đổi hợp

đồng, trong khi đó việc sửa đổi hợp đồng bởi thẩm phán không được cho phép rõ ràng

ở CISG do đó có thể coi là không có hardship trong công ước này [112]

Điều khoản hardship được ghi nhận trong PICC, bộ nguyên tắc được soạn thảo và ban hành bởi Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật năm 1994, sửa đổi năm 2004, 2010, 2016 PICC quy định tại Chương 6 “Thực hiện hợp đồng” tại mục

2 có tên gọi “Hardship” gồm 3 điều Theo đó, Điều 6.2.2 PICC quy định “Hoàn

cảnh hardship được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc do chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống, ”. *1Để có thể viện dẫn điều khoản

(a) the events occur or become known to the disadvantaged party after the conclusion of the contract; (b) the events could not reasonably have been taken into account by the disadvantaged party at the time of the conclusion of the contract;

Trang 40

hardship thì các sự kiện xảy ra phải đáp ứng được các điều kiện nhất định Việc áp

dụng hardship phải đảm bảo hết sức hạn chế để tránh tình trạng lạm dụng hoàn cảnh

gây thiệt hại cho một bên trong hợp đồng PICC đề cập đến hoàn cảnh làm “thay

đổi cơ bản sự cân bằng nghĩa vụ hợp đồng” hoặc “chi phí thực hiện nghĩa vụ” hoặc

“giá trị nghĩa vụ”, điều này có thể hiểu là PICC mới chỉ đề cập đến yếu tố mất cân

bằng nghĩa vụ mà chưa đề cập đến việc thực hiện có trở nên khó khăn quá mức

không Theo đó, về cơ bản hardship được hiểu là khi có sự thay đổi lớn về hoàn

cảnh làm mất cân bằng nghiêm trọng về lợi ích của một bên trong hợp đồng thì các

bên có quyền yêu cầu thỏa thuận để sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng

PECL được xây dựng bởi Ủy ban châu Âu về luật hợp đồng, với mục đích

không chỉ giúp đảm bảo sự vận hành thông suốt của Thị trường chung Châu Âu mà

còn có thể được sử dụng rộng rãi trong quan hệ hợp đồng quốc tế ngoài phạm vi

Liên minh Châu Âu PECL quy định hardship trong một điều 6:111 gồm 3 khoản

với tên gọi “Change of circumstances” Theo đó, khoản 2 quy định như sau “Nếu

việc thực hiện hợp đồng trở nên quá khó khăn bởi vì có sự thay đổi về hoàn cảnh,

các bên buộc phải tiến hành thỏa thuận với quan điểm là chỉnh sửa hợp đồng hoặc

chấm dứt hợp đồng, với điều kiện là ” [9]

Khác với PICC, PECL nhắc đến việc thực hiện hợp đồng trở nên quá khó

khăn mà không đề cập đến sự mất cân bằng hợp đồng

Có thể thấy, cả PICC và PECL đều không đưa ra khái niệm hoàn cảnh thay

đổi cơ bản mà chỉ đưa ra một đặc trưng nổi bật (thực hiện hợp đồng quá khó khăn

hoặc mất cân bằng hợp đồng) và các điều kiện để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Ở Đức, điều khoản về hoàn cảnh thay đổi được ghi nhận tại Điều 313 BLDS

Đức [5] với tên gọi là “sự xâm phạm đến nền tảng của giao dịch” theo đó, có hai

điều kiện để xác định (1) hoàn cảnh là nền tảng bị thay đổi đáng kể sau khi hợp

đồng đã ký kết; (2) các bên lẽ ra đã không ký kết hoặc ký kết với nội dung hoàn

toàn khác nếu họ biết trước sự thay đổi đó và bên bị ảnh hưởng không đáng phải

(c) the events are beyond the control of the disadvantaged party; and

(d) the risk of the events was not assumed by the disadvantaged party

Ngày đăng: 22/01/2021, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w