Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước, nhà văn hĩa cận đại của Việt Nam sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay
Trang 1Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước, nhà văn hĩa cận đại của Việt Nam sinh ngày 1 tháng 7
năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm 1888 tại Ba Tri, Bến Tre
Tiểu sử
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những chuỗi ngày gia biến và quốc biến nghiêm trọng
đã tác động đến nhận thức của ơng Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc Năm 1833 (cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi) , Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) gửi Nguyễn Đình Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học
Năm 1843 ơng đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, năm 1847 ơng ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu
1849 Nhưng sau đĩ, mẹ ơng mất, ơng trở về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khĩc nhiều nên ơng bị bệnh rồi mù cả đơi mắt Về quê, chịu tang mẹ xong, ơng lại bị một gia đình giàu
cĩ bội ước Từ ấy ơng vừa dạy học vừa làm thơ sống giữa tình thương của mọi người Về sau cĩ
người học trị cảm nghĩa thầy đã gả em gái Nhân dân thường gọi ơng là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.
Khi Pháp xâm chiếm Gia Định, ơng về ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tiếp tục dạy học và làm thuốc Vốn nhiệt tình yêu nước, ơng liên hệ mật thiết với các nhĩm nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là, lãnh binh Trương Định Ơng tích cực dùng văn chương kích động lịng yêu nước của sĩ phu và nhân dân Biết ơng là người cĩ uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ơng vẫn nêu cao khí tiết, khơng chịu khuất phục
Người Việt Nam đánh giá ơng khơng những là một nhà thơ lớn mà cịn là một nhà yêu nước, một nhà văn hĩa Việt Nam của thế kỉ 19
Quan điểm văn chương
Nguyễn Đình Chiểu tuy khơng nghị luận về văn chương nhưng ơng cĩ quan điểm văn chương riêng Quan điểm "văn dĩ tải đạo" của ơng khác với quan niệm của nhà Nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ Nhà Nho quan niệm Đạo là đạo của trời, cịn Đồ Chiểu trên nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng trong thực tế đạo làm người đáng quý hơn nhiều Đĩ là quan niệm bao trùm văn chương Đồ Chiểu
Quan điểm văn chương Đồ Chiểu tuy khơng được tuyên ngơn nhưng đây là quan điểm tiến bộ và
gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến cơng và tinh thần nhân ái.
Nguyễn Khuyến
Bách khoa tồn thư mở Wikipedia
Nhà thơ Nguyễn Khuyến, tên thật là Nguyễn Thắng [1], hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh ngày 15
tháng 2 năm 1835, tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hồng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Quê nội của ơng là làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Mất ngày 5 tháng 2 năm 1909 tại Yên Đổ
Cha Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tơng Khởi (1796-1853), thường gọi là cụ Mền Khởi, đỗ ba khĩa tú
tài, dạy học Mẹ là Trần Thị Thoan (1799-1874), nguyên là con của Trần Cơng Trạc, từng đỗ tú tài thời Lê Mạt
Thuở nhỏ, ơng cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường cụ Hồng giáp Phạm Văn Nghị N
Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến guyễn Khuyến nổi tiếng là một người thơng minh, hiếu học Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Giải nguyên) trường Hà Nội Năm sau (1865), ơng trượt thi Hội nên phẫn chí,
ở lại kinh đơ học trường Quốc Tử Giám Đến năm 1871, ơng mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên (Hồng giáp) Từ đĩ,
Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.
Năm 1873, ơng được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tại tỉnh Thanh Hĩa Năm 1877, ơng thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi Sang năm sau, ơng bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức
Trang 2quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu năm 1884 và qua đời tại đây
Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực Nhiều giai thoại kể về đời sống đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên
Hoàn cảnh lịch sử
Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được
Lúc này Nam kỳ rơi vào tay Pháp Năm 1882, Pháp bắt đầu đánh ra Hà Nội Năm 1885, chúng tấn công kinh thành Huế Kinh thành thất thủ, Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân hưởng ứng khắp nơi Nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương tan rã
Có thể nói, sống giữa thời kỳ các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc nên ông xin cáo quan về ở ẩn Từ đó dẫn đến tâm trạng bất mãn, bế tắc của nhà thơ
Tác phẩm
Các tác phẩm gồm có Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.
Quế sơn thi tập khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán và 100 bài thơ bằng Chữ Nôm với nhiều thể loại khác nhau Có bài tác giả viết bằng chữ Hán rồi dịch ra tiếng Việt, hoặc ngược lại, ông viết bằng chữ Việt rồi dịch sang chữ Hán Cả hai loại đều khó xác định vì nó rất điêu luyện
Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuỗm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương Thơ chữ Hán của ông hầu hết là thơ trữ tình Có thể nói cả trên hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công
Một số bài thơ của ông được thu thập lại dưới đây:
Thu vịnh
Trời thu xanh ngắt mấy từng
cao,
Cành trúc lơ phơ gió hắt
hiu
Nước biếc trông như tầng
khói phủ,
Song thưa để mặc bóng
trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa
năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng
nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan
cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông
Đào
Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Thu ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le
te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng
đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy,
Độ năm ba chén đã say nhè
Chú thích
• ^ Nguyễn Thắng thi hội lần đầu không đỗ nên đổi thành Nguyễn Khuyến với ý tự động viên,
khuyến khích mình (Theo Họ và tên người Việt Nam- PGS.TS Lê Trung Hoa- NXB Khoa học xã
hội-2005)