1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÁC CHUYÊN ĐỀ DUY VẬT LỊCH SỬ

66 733 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề Chủ nghĩa Duy Vật Mác-Xít Cơ Sở Lý Luận Của Thế Giới Quan Khoa Học
Người hướng dẫn GS. TS. Trần Phúc Thăng
Trường học Trường Đại học Mác - Lênin Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Giáo trình
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 391,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GHI CHÉP BÀI GIẢNG CỦA CÁC GS, PGS VỀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁC-XÍT

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

GV: GS, TS Trần Phúc Thăng

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

1 Kiến thức

- Chủ nghĩa duy vật mácxít là hạt nhân của thế giới quan khoa học

- Nắm được tính hệ thống, tính chuyên sâu và tính cách mạng của lý luận này Rút ra những nguyên tắc có tính phương pháp luận để dùng chỉ đạo thực tiễn hiện nay, đặc biệt là thực tiễn Việt Nam

- Mục đích là phải nắm được những quan điểm về thế giới quan khoa học, phải đi từ thế giới quan nói chung đến thế giới quan khoa học

- Phải nắm được những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật, bao gồm những ý cụ thể sau:

+ Quá trình phát triển của chủ nghĩa duy vật từ thời cổ đại cho đến triết học

cổ điển Đức

+ Phải nắm được những đặc trưng của chủ nghĩa duy vật mácxít, hay là của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong đó có nhiều vấn đề đề cập tới: phạm trù vật chất, quan hệ vật chất và ý thức Xem hai nội dung cơ bản này giữa CNDV mác xít

và CNDVBC có gì khác

+ Nắm được vai trò của CNDV mác xít trong việc xây dựng Thế giới quan khoa học, và những yêu cầu, các biện pháp để xây dựng Thế giới quan khoa học trong điều kiện hiện nay

3 Kỹ năng

Trang 2

- Rèn luyện được tư duy lý luận nói chung và tư duy khoa học

- Rèn luyện được khả năng vận dụng những tri thức của chủ nghĩa duy vật vào việc giải đáp và giải thích những vấn đề thực tiễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phê phán triết học pháp quyền của Gi.V.Ph.Hêghen (C.Mác)

2 Hệ tư tưởng Đức (C.Mác – Ph.Ăngghen)

3 Biện chứng của tự nhiên

4 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (V.I.Lênin)

5 Bút ký triết học (V.I.Lênin)

6 Bộ GD&ĐT: Giáo trình triết học Mác - Lênin dùng cho học viên cao học không chuyên ngành triết học

7 Các sách lịch sử triết học

8 Tư tưởng Hồ Chí Minh

9 Các Văn kiện Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 3

I CHỦ NGHĨA DUY VẬT TRƯỚC MÁC – TIỀN ĐỀ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁCXÍT

1 Chủ nghĩa duy vật cổ đại

+ Talét (642-547 TCN): Thực thể của thế giới là “Nước”

+ Hêraclít (520-460 TCN): Thực thể của thế giới là “Lửa”

+ Đỉnh cao trong quan niệm Hy Lạp thời cổ đại là quan niệm của Đê-mô-cít (460-370 tr.CN) và Lơ-xíp: Thực thể cấu tạo nên thế giới này là “Nguyên tử” (một khái niệm trừu tượng) Đê-mô-cít

Êpyquya…

Đánh giá chung về triết học duy vật cổ đại: Đa số đều đánh giá triết học Hy

Lạp cổ đại là chất phác, ngây thơ, trực quan… Cũng có thể chưa đủ, bởi trong nền triết học này cũng có những yếu tố thể hiện tư duy trừu tượng ở trình độ cao và đạt đến độ sâu sắc nhất định [GS Trần Phúc Thăng] (Tính trừu tượng trong thuyết nguyên tử; trong thuyết Âm – Dương… thể hiện quan điểm phát triển hài hòa…)

2 Chủ nghĩa duy vật thời kỳ Trung cổ

Phái Duy thực

Phái Duy danh

3 Chủ nghĩa duy vật thời kỳ Phục hưng

- Chống lại quan điểm của tôn giáo (thuyết Nhật tâm)

- Các kết luận về thế giới (về vật chất) đã cơ sở khoa học, đặc biệt là khoa học thực nghiệm

- Họ khôi phục lại tinh thần duy vật thời kỳ cổ đại và phát triển nó ở trình độ mới với những phát minh về khoa học (khoa học thiên văn) Khẳng định mặt trời là

Trang 4

trung tâm của vũ trụ, còn khẳng định trời cũng là vật chất Vũ trụ xuất hiện trước mắt con người như là vật chất vô tận và vận động theo những quy luật bên trong của nó (Côpécníc).

Brunô coi vật chất là nguyên nhân của mọi sự vật tự nhiên, là nền tảng, cơ

sở của hiện thực

4 Chủ nghĩa duy vật thời Cận đại

- Chống lại quan điểm của tôn giáo (thuyết Nhật tâm)

- Các kết luận về thế giới (về vật chất) đã cơ sở khoa học, đặc biệt là khoa học thực nghiệm

- Họ khôi phục lại tinh thần duy vật thời kỳ cổ đại và phát triển nó ở trình độ mới với những phát minh về khoa học (khoa học thiên văn) Khẳng định mặt trời là trung tâm của vũ trụ, còn khẳng định trời cũng là vật chất Vũ trụ xuất hiện trước mắt con người như là vật chất vô tận và vận động theo những quy luật bên trong của nó (Côpécníc)

Brunô coi vật chất là nguyên nhân của mọi sự vật tự nhiên, là nền tảng, cơ

sở của hiện thực

So với thời kỳ Phục hưng thì thời kỳ Cận đại có đặc điểm khác:

Thời kỳ Phục hưng thì phương thức sản xuất tư bản mới bắt đầu ra đời Thời

kỳ Cận đại là thời kỳ của các cuộc cách mạng tư Nhu cầu xã hội đã có sự thay đổi… Chủ nghĩa duy vật là sự chuẩn bị về mặt tinh thần cho cách mạng tư sản Chủ nghĩa duy vật chiếm ưu thế so với chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy vật thời kỳ Cận đại (thế kỷ XVII – XVIII) so với thời kỳ Phục hưng:

Đặc trưng của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là siêu hình Có sự phát triển hơn thời kỳ Phục hưng, nó đóng vai trò không chỉ là tiền đề cho các cuộc cách mạng mà còn là cơ sở cho sự phát triển sản xuất nói chung, sản xuất công nghiệp nói riêng Chính vì vậy, chủ nghĩa duy vật hướng con người tìm hiểu khả năng khám phá bí mật của thế giới và những sự biến đổi của xã hội để thiết kế một xã hội mới.Vì vậy, quan niệm vật chất thời kỳ này vừa đồng nhất vật chất với khối lượng (những thuộc tính của vật chất) Một số khuynh hướng khác tiếp nối thời cổ

Trang 5

đại, quy vật chất về nguyên tử, một số khác nữa lại đồng nhất vật chất với vật cụ thể đang tồn tại ở thế giới bên ngoài Cũng có quan điểm, nhận xét tổng quát đồng nhất vật chất với thế giới khách quan, vừa có khuynh hướng tìm ra các dạng vật chất trên cơ sở các thuộc tính của nó (như khách quan, quảng tính, hình dạng…)

Cũng có quan điểm cho chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII là triết học nhận thức: Quan tâm đến quá trình nhận thức của con người (cách thức, phương

pháp nhận thức của con người); thực chất là quan tâm đến quá trình chinh phục tự nhiên của con người Triết học thời kỳ này đi sâu nghiên cứu lý luận nhận thức, phương pháp luận và chia thành hai trường phái cơ bản: Duy cảm và duy lý

5 Chủ nghĩa duy vật trong triết học cổ điển Đức

Tuy nhiên, quan niệm về tôn giáo của ông còn nhiều hạn chế:

- Phê phán chủ nghĩa duy tâm nói chung, triết học duy tâm của Gi.V.Ph.Hêghen (C.Mác – Ph.Ăngghen đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của L.Phoi-ơ-bắc; trong “Hệ tư tưởng Đức”)

- Có quan niệm rõ ràng về vật chất: Vật chất là những cái hữu hình, cả những yếu tố điện, từ tính, kể cả con người (khi không kể đến mặt ý thức) V.I.Lênin nhận định đây là quan niệm rõ ràng nhưng không sâu sắc

- Ông có quan niệm duy vật về giới tự nhiên, ông cho rằng vật chất không

do ai sáng tạo ra, nó tồn tại vĩnh viễn và vô hạn

- Ông cũng có quan điểm duy vật về không gian và thời gian

Nhìn chung ông có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng còn thô sơ và siêu hình Bởi lẽ, vật chất theo ông mới chỉ là những gì cảm giác được Hay là khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm nói chung, chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói

Trang 6

riêng, ông đã không thấy được “hạt nhân hợp lý” trong triết học của Hêghen và đã phủ định một cách tuyệt đối, như “hất chậu nước tắm và cả đứa trẻ trong đó”.

NHẬN ĐỊNH KHÁI QUÁT CHỦ NGHĨA DUY VẬT TRƯỚC MÁC

1) Đặc điểm: Chủ nghĩa duy vật đã ra đời ngay từ đầu khi triết học xuất hiện

ở cả phương Đông và phương Tây Mặc dù có những bước thăng trầm nhưng nó vẫn tồn tại trong mọi giai đoạn của lịch sử tư tưởng nhân loại

Nó đặc biệt phát triển ở những thời kỳ cách mạng (thời kỳ xã hội có những biến đổi sâu sắc)

2) Nội dung: Nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật là phạm trù vật chất Quan niệm về phạm trù này ngày càng hoàn thiện từ việc quy vật chất về một dạng hay một số dạng cụ thể đã đi đến quan niệm vật chất với những thuộc tính cơ bản của nó, đồng nhất vật chất với thế giới tự nhiên, khẳng định vật chất là tồn tại khách quan, vô cùng, vô tận Đây có thể thấy là tiền đề rất cơ bản để triết học Mác kế thừa

3) Căn bản là duy vật về tự nhiên chứ chưa duy vật về mặt xã hội nên nó là chưa triệt để Mặc dù trong một số tư tưởng của các nhà triết học cũng đã phát hiện ra một vài yếu tố chứng tỏ họ đã thấy được vai trò của yếu tố vật chất trong đời sống xã hội (Phật: Triết lý tôn giáo; Nho giáo cũng có

đề cập đến vai trò của yếu tố vật chất trong xã hội – Vai trò của nhà cầm quyền trong xây dựng quốc gia – Mạnh Tử đề cập đến việc chia đất cho mọi người…)

4) Nhìn chung triết học trước Mác là chưa có tính biện chứng, mặc dù có những tư tưởng, quan điểm riêng lẻ mang tính biện chứng… chưa trở thành học thuyết, chưa trở thành hệ thống… Hay nói khái quát khi quy tất cả mọi cái về một cái “thực thể” khởi đầu)

II CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁC-XÍT

1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật mácxít

1.1 Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là tiền đề của triết học Mác? Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh rõ nét nền

sản xuất vật chất quyết định mọi mặt của đời sống xã hội

Đặc điểm của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa:

Trang 7

- Sự phát triển của đại công nghiệp: Thể hiện năng lực của con người, vai trò của trí tuệ đối với sản xuất Do đó, thể hiện vai trò đối với đời sống xã hội… Các quan điểm tôn giáo, duy tâm đã bị đánh bại…

- Sự phát triển của kinh tế thị trường: Làm cho quan hệ vật chất nổi lên chi phối mọi quan hệ xã hội khác, tác động đến chính trị, đạo đức, quy tắc sống của con người…

1.2 Sự phát triển của khoa học tự nhiên

Các thành tựu khoa học tự nhiên giáng đòn mạnh mẽ vào quan niệm duy tâm, tôn giáo…

1.3 Thành công của cách mạng Tháng Mười Nga

Tạo cơ sở cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tránh được khiếm khuyết của chủ nghĩa duy vật trước đây Đồng thời nó hướng triết học vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn

2 Sự phát triển mang tính cách mạng của chủ nghĩa duy vật mácxít

2.1 Chủ nghĩa duy vật mácxít đã giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề cơ bản của triết học Cụ thể là giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học:

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Quan niệm về vật chất:

- Chủ nghĩa duy vật mácxít đã có quan niệm đúng đắn nhất về vật chất Đã

có sự phát triển quan niệm này và hoàn thiện nó từng bước tùy thuộc vào yêu cầu của lịch sử từ C.Mác, Ph.Ăngghen đến V.I.Lênin

+ C.Mác có quan niệm về vật chất: quan hệ sản xuất không có một nguyên

tử vật chất nào nhưng nó vẫn là vật chất (Tư bản) Tức là C.Mác đã có quan niệm

về tính khách quan của vật chất…

+ Quan niệm của Ph.Ăngghen về vật chất trong “Biện chứng của tự nhiên”:

“Thực thể, vật chất không phải cái gì khác hơn là tổng số những vật thể từ

đó người ta rút ra khai niệm ấy bằng con đường trừu tượng hóa…”… “vật chất”

chỉ là “sự tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung…, rất

nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng giác quan”1

1 C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG-ST, H.1994, tr.726 – 727.

Trang 8

“…vật chất, với tính cách là vật chất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy

và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ qua những sự khác nhau về chất của những

sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tư cách là những vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất Do đó, khác với những vật chất nhất định và đang tồn tại, vật chất với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính”2 (Tức vật chất với tính cách

là “vật” khái quát trừu tượng)

Khi khoa học tự nhiên tìm ra …

Vật chất tồn tại khách quan, nó là cái tự có không thể sáng tạo ra được Ph.Ăngghen có viết: “vật chất đối diện với chúng ta như một cái gì có sẵn, một cái

gì không thể sáng tạo ra, cũng không thể tiêu diệt được”3 Và, “vật chất và vận động là không thể sáng tạo ra được và không thể bị tiêu diệt được tức là chúng ta nói rằng thế giới tồn tại như một sự tiến lên vô hạn…”4

+ V.I.Lênin:

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”5

• Nội hàm của định nghĩa: Tiêu chí để xác định vật chất (Nội hàm của phạm trù triết học hẹp nên ngoại diên rộng)

- “là một phạm trù triết học”: Một số ý kiến không đưa nội dung này vào tiêu chí để xác định vật chất Bởi khi xác định nó là tiêu chí thì nó phải là công cụ để xác định tính chất của nó…

- “chỉ thực tại khách quan”: Nghĩa thứ nhất là chỉ cái đang tồn tại với loài người với cảm giác của con người Khác nữa là khách quan là bản tính tồn tại khách quan của các sự vật – đây là tiêu chí cơ sở, là cái căn bản nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì là ý thức…

- “đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”

- “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” – trùng với tiêu chí “thực tại khách quan”

Quan niệm về ý thức:

Quan niệm của Triết học Mác – Lênin: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Hay ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan được di chuyển vào đầu óc con người và cải biến đi

Trang 9

- Chỉ có con người mới có ý thức

Sở dĩ con người có ý thức: 1) Là do cấu trúc đặc biệt của bộ não người Bộ

óc người là thực thể vật chất có tổ chức rất cao và có kết cấu hết sức tinh vi do quá trình phát triển của thế giới vật chất tạo bước nhảy vọt tạo nên đặc biệt là sự biến đổi đột ngột của môi trường (dẫn đến biến đổi gen) – lao động đã biến óc vượn người thành óc vượn người (Ph.Ăngghen)… ; 2) Môi trường xã hội…

Sự khác nhau của quan niệm mácxít về ý thức với các quan niệm trước đây:

1) Vật chất và ý thức có ranh giới tuyệt đối xét về mặt nhận thức luận:2) Ph.Ăngghen có cho rằng: nếu sau này chúng ta tìm được cả quá trình

lý hóa để sản sinh ra ý thức thì ý thức vẫn là cài gì đặc biệt không phải

là vật chất

3) V.I.Lênin nêu rõ, sự khác nhau tuyệt đối trong nhận thức luận còn ngoài ra là tương đối Chỉ xác định khi xem xét cái nào là có trước cái nào có sau, hay cái nào thứ nhất cái nào là thứ hai Giữa vật chất và ý thức có sự khác biệt căn bản xét về mặt bản chất Không có cái trung gian Trong nhận thức có thể xác định rõ ràng ranh giới giữa chúng… khi nói cái này là vật chất thì không thể là ý thức…

4) Ngoài ra nó là tương đối: bởi cả hai cái này hoàn toàn không tách biệt nhau (vì ý thức chỉ được sinh ra từ vật chất, là một thuộc tính của vật chất); bản thân vật chất không chỉ tồn tại dưới dạng thuần túy vốn có của nó mà còn tồn tại dưới dạng biến đổi dưới tác động của ý thức Khi phê phán L.Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng ông chỉ nhìn thấy giới tự nhiên với tư cách là tự nhiên mà không nhìn thấy giới tự nhiên do sự biến đổi của con người

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

- C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với tư sản thức, xem đó là nguyên tắc thế giới quan không thể đảo ngược.

• Vật chất ‘sinh” ra ý thức, quyết định nội dung của ý thức

Trang 10

• Trong đời sống xã hội được biểu hiện ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.

Quan điểm vật chất có trước ý thức đã có trong lịch sử, ở đây C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định lại một cách dứt khoát Điều này thể hiện:

1) Vật chất quyết định sự hình thành (sự ra đời) của ý thức, hay vật chất sinh

ra ý thức

2) Vật chất quyết định nội dung của ý thức – vật chất ở đây phải được hiểu là toàn bộ đời sống tự nhiên (thế giới tự nhiên) và đời sống vật chất của con người, tồn tại xã hội của con người quyết định nội dung của ý thức; đặc biệt

là những tri thức về tự nhiên của con người Mọi tri thức về tự nhiên là sự phản ánh cái vốn có trong tự nhiên

3) Vật chất, đặc biệt là vật chất xã hội quyết định sự thay đổi của ý thức; khi điều kiện vật chất, điều kiện kinh tế thay đổi thì ý thức cũng phải thay đổi

- C.Mác Ph.Ăngghen cũng khẳng định sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:

1) Thực chất của sự tác động “Ý thức tự nó không làm được gì cả” (C.Mác)

Vì sao ý thức có tác động trở lại đối với vật chất? Một trong những nguyên nhân là do bản chất của ý thức là năng động, sáng tạo, linh hoạt Chính điều này làm cho ý thức luôn luôn vươn tới hiện thực, phản ánh hiện thực, khám phá hiện thực…

2) Cơ chế, tính chất của sự tác động là gián tiếp Thực chất là ý thức thông qua thực tiễn của con người (bởi vật chất ở đây là là toàn bộ đời sống tự nhiên - thế giới tự nhiên - và đời sống vật chất của con người, tồn tại xã hội của con người) mà có thể làm biến đổi điều kiện vật chất, hoàn cảnh sống của của con người theo chiều hướng khác nhau

3) Phương thức hay phương tiện tác động, ý thức phải thông qua điều kiện vật chất, phương tiện vật chất

4) Chiều hướng tác động của ý thức là tích cực hoặc tiêu cực… Tất cả sự tác động của ý thức đối với vật chất đều nằm trong những điều kiện khác nhau

Trang 11

Vì vậy, hướng tác động, phạm vi, mức độ tác động của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Trong đó có thể thấy:

• Nó phụ thuộc vào bản thân ý thức, nó là khoa học hay không khoa học; nó là ý thức lý luận hay ý thức kinh nghiệm; nó là tri thức phổ biến hay tri thức đặc thù; nó là tri thức hay tình cảm;

• Nó phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh tác động, đặc biệt là trình độ phát triển kinh tế - xã hội

• Phụ thuộc vào trình độ nhận thức của con người,

• Phụ thuộc vào khả năng vận dụng các kiến thức đã có Điều này thể hiện ở năng lực nhà nước, năng lực tập thể, năng lực cá nhân…

• Phụ thuộc vào chế độ xã hội (một lý thuyết khoa học có thể bị các chế

độ sử dụng vào những mục đích khác nhau… chế tạo bom nguyên tử, thuốc nổ, bom hóa học – chất độc da cam, bom sinh học…)

5) Cùng với sự phát triển của xã hội ý thức ngày càng có vai trò to lớn nhưng điều đó không ảnh hưởng đến sự quyết định của vật chất đối với ý thức Vì mọi ý thức đều bị giới hạn bởi điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, nguồn lực vật chất…

Cần phải chú ý rằng, ý thức chỉ có vai trò quyết định đến sự thành bại trong hoạt động của con người

2 2 Chủ nghĩa duy vật mácxít đã thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng

Thực chất của sự thống nhất

Tính khoa học của sự thống nhất

2.3 Chủ nghĩa duy vật mácxít là chủ nghĩa duy vật triệt để

Thực chất của tính triệt để

Ý nghĩa (vai trò) của chủ nghĩa duy vật triệt để

2.4 Chủ nghĩa duy vật mácxít đã thống nhất được tính cách mạng và tính khoa học

Tính khoa học thể hiện như thế nào?

Tính cách mạng thể hiện như thế nào?

Tầm quan trọng của sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học?

II THẾ GIỚI QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN

1 Thế giới quan và các hình thức cơ bản của thế giới quan

1.1 Khái niệm về thế giới quan

Trang 12

1.1.1 Định nghĩa thế giới quan:

Thế giới quan = Thế giới + Quan sát (cách nhìn, quan điểm)

Có nhiều định nghĩa về thế giới quan:

- “Là hệ thống những quan điểm chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó Nó có tác dụng định hướng, hay xác định phương châm hành động cho con người”

- Là hệ thống những quan điểm đối với thế giới khách quan và vị trí của con người trong thế giới đó Là hệ thống những quan điểm về quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh, và bản thân con người, cũng như những lập trường sống cơ bản của con người được quy định bởi những quy định đó; là niềm tin, lý tưởng, những nguyên tắc nhận thức và hoạt động, những định hướng giá trị

-Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin, quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một xã hội, của một giai cấp, hay một xh nói chung của thực tại

Nội dung cơ bản của định nghĩa thế giới quan: 1) Quan điểm, quan niệm về thế giới, vị trí của con người trong thế giới 2) Có giá trị định hướng, phương châm hành động, phương thức sống của con người

1.1.2 Kết cấu của thế giới quan:

Có quan điểm cho Thế giới quan = Tri thức + Niềm tin

Có quan điểm cho Thế giới quan = Tri thức + Niềm tin + Lý tưởng

Tri thức + Niềm tin > Lý Tưởng

(Lý trí) (Tình cảm)

Trong thế giới quan thì “niềm tin” là niềm tin vào tri thức

Lý trí thuộc về trí tuệ; Ý chí thuộc về tình cảm

Tình cảm bao hàm hai nghĩa: Rộng = ý chí, nguyện vọng; Hẹp = độc lập đối với ý chí và nguyện vọng

Nếu chỉ có tri thức thì không thể hình thành thế giới quan mặc dù nó là yếu

tố quan trọng Bởi thế giới quan còn có giá trị định hướng phương châm hành động (tức là cần niềm tin)

Trang 13

Lý tưởng là mục tiêu cao cả mà con người dốc toàn bộ tâm lực của mình để hiện thực hóa nó (Lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin là giải phóng con người)

Lý tưởng không chỉ thuần túy là niềm tin mà nó còn có cả sự đúc kết của cả tri thức

1.2 Các hình thức cơ bản của thế giới quan:

Tri thức là nhân tố cơ bản nhất để dựa vào đó phân loại thế giới quan Có 3 loại hình thế giới quan cơ bản nhất:

1.2.1 Thế giới quan thần thoại (huyền thoại)

- Đặc trưng: Sự kết hợp giữa cái thật và cái giả, cái hiện thực và cái tưởng tượng (cái hoang đường)

- Nguồn gốc: (xã hội và nhận thức)

+ Xã hội: đây là thời kỳ nguyên thủy (mông muội), trình độ phát triển kinh

tế - xã hội hết sức thấp kém Thế giới quan này là thế giới quan đặc trưng của con người thời kỳ nguyên thủy

+ Nhận thức: Từ xã hội như thế -> trình độ nhận thức thô sơ, giản đơn, mộc mạc, chỉ nhận thức bề ngoài, chưa thể cắt nghĩa được bên trong, nguồn gốc sâu xa của nó

- Tác dụng: góp phần tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc

1.2.2 Thế giới quan Tôn giáo

Tôn giáo là hình thức tín ngưỡng: có lý luận, có tổ chức, có những lễ nghi, nghi thức xác định, có những quy định cụ thể đối với những tu sĩ, đặc biệt là về lối sống, y phục, ăn,

Theo Tuân Tử, “cái gì được nhà nước công nhận là tôn giáo” Nó làm phong phú tươi đẹp cho đời sống

- Đặc trưng của tôn giáo: Niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên

- Nguồn gốc:

+ Xã hội: Thế giới xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp, tạo nên cuộc sống hết sức cùng cực, khổ ải của những người lao động, làm cho họ cảm thấy bế tắc trong cuộc sống, và không có cơ hội để tìm ra lối thoát trong đời sống trần tục, buộc con người phải tìm đến một chỗ dựa của đời sống tinh thần, của một

Trang 14

sức mạnh bên ngoài xã hội, bên ngoài cả thế giới thực tồn Tìm chỗ dựa về mặt tinh thần để làm nhẹ những nỗi đau đớn của mình, để có thể chịu đựng được những

sự bất công, oan trái, đau đớn, cơ cực của mình… “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức”, “là thứ đền bù hư ảo” (C.Mác)…

+ Nhận thức: Về nguyên tắc do sự phát triển của xã hội mà con người chưa

đủ khả năng giải thích được những sự biến đổi trong đời sống hiện thực, hay là những hiện tượng đặc biệt trong cuộc sống, nên muốn hiểu nó, luận giải nó trên một cơ sở giáo lý nào đó nhất định Thể hiện sự bất lực của con người trong việc tìm hiểu những nguyên nhân thực sự của những vấn đề oan trái, bất công trong xã hội hoặc những phức tạp trong đời sống xã hội

+ Tâm lý, tình cảm: Là cơ sở cho sự tồn tại của tôn giáo… Sự sợ hãi tạo ra thần linh Tâm lý hoang mang, lo sợ, khủng hoảng niềm tin, trước sức mạnh tự phát của tự nhiên, xã hội là mảnh đất làm nảy sinh tôn giáo Tình cảm tôn giáo gắn liền với tâm lý tôn giáo tạo nên tâm lý cộng đồng của các nhóm xã hội theo các tôn giáo khác nhau

- Vai trò tôn giáo: Mác cho rằng, thế giới vừa là sự phản ánh đời sống hiện thực, vừa là sự phản kháng đối với xã hội hiện thực (không thừa nhận cuộc sống hiện tại, việc đời hỏi một đời sống xã hội tốt đẹp hơn) Tôn giáo là sự đền bù hư

ảo, nên trong điều kiện lịch sử nhất định, nó còn là liều thuốc giảm đau đối với những mất mát, những tổn thất của con người, giúp họ có thêm sức mạnh tinh thần

để vượt qua những đau đớn mà không có khả năng khắc phục được bằng những yếu tố vật chất, hoặc bằng những sự can thiệp khác của xã hội

Tôn giáo - hướng thiện, tuy nhiên riêng Đạo Hồi có yếu tố cực đoan, hay bài xích tôn giáo khác Trong đó tính bao dung lớn nhất là Phật giáo Nếu phát huy được mặt hướng thiện sẽ có vai trò rất lớn trong xã hội

Tôn giáo – cũng có thể ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần của xã hội nếu có ý thức

1.2.3 Thế giới quan triết học:

Trang 15

- Đặc trưng: diễn tả thế giới dưới dạng lý luận, bằng một hệ thống các phạm trù triết học Hay nói cách khác nó cách nhìn nhận về thế giới dựa trên hệ thống những quan điểm, quan niệm mang tính lý luận.

- Nguồn gốc thế giới quan triết học:

+ Xã hội: Nguồn gốc quan trọng nhất là phân công lao động giữa lao động trí óc và lao động chân tay Tức xã hội phát triển đến một trình độ nhất định để tạo

ra những khả năng để phân công lao động xã hội

+ Nhận thức: Sự phát triển năng lực tư duy của con người, đặc biệt là hai khả năng: trừu tượng hóa (chọn lấy cái cốt yếu trong tổng thể) và khái quát hóa (nhóm lại những cái chung nhất) – đặc biệt là năng lực tư duy lý luận Nó tạo thành

cơ sở của tư duy lý luận

Hai loại hình thế giới quan của triết học: Thế giới quan duy vật và duy tâm:

- Thế giới quan duy vật:

+ Thực chất của thế giới quan duy vật: là được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật là hạt nhân của Thế giới quan duy vật

+ Nguồn gốc của thế giới quan duy vật:

• Nguồn gốc xã hội – gắn liền thời kỳ có tính chất cách mạng;

• Nguồn gốc nhận thức – những thành tựu khoa học tự nhiên và những tri thức tiên nghiệm được khái quát trước Hay nói cách khác chủ nghĩa duy vật tôn trọng sự vật khách quan, tìm ra những phương thức phù hợp để giải thích các sự vật, hiện tượng ở thế giới khách quan kể

cả các hiện tượng xã hội

- Thế giới quan duy tâm:

+ Thực chất Thế giới quan duy tâm: được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm

+ Nguồn gốc:

• Xã hội nảy sinh những lực lượng bảo thủ, cần có những hình thức ngụy trang, bảo vệ cho khuynh hướng bảo thủ, cho những lợi ích không chính đáng của mình Hay nói cách khác xuất phát từ trong xã

Trang 16

hội luôn luôn có lực lượng tiến bộ và phản tiến bộ, nên những đại biểu của lực lượng bảo thủ này muốn đi tìm yếu tố bên ngoài xã hội; vai trò con người trong đời sống xã hội nhiều khi thể hiện rất rõ nét, lúc thì thuận lợi, lúc thì khó khăn, nằm ngoài những sự phán đoán thông thường, dễ dẫn tới trạng thái suy luận theo duy tâm

• Còn nguồn gốc nhận thức (DTCQ và DTKQ)

DTCQ – tuyệt đối hóa cảm tính (cảm giác)

Lênin cho rằng, CNDT chính là sự thổi phồng, sự bơm to, tuyệt đối hóa một hình thức nhận thức nào đó hay một giai đoạn hay một “địa hạt” của nhận thức nào

đó

1.2.4 Thế giới quan khoa học

Thế giới quan được hình thành trên cở sở những tri thức khoa học về thế giới

2 Vai trò của thế giới quan

- Định hướng nhận thức của con người

- Tác động trực tiếp tới việc xác định giá trị cuộc sống

3 Vai trò thế giới quan của chủ nghĩa duy vật mácxít

- Chủ nghĩa duy vật mácxít là hạt nhân của thế giới vì:

+ Về thực chất, mọi triết học đều là triết lý của thế giới quan

+ Chủ nghĩa duy vật mácxít là một học thuyết khoa học, vì vậy nó là hạt nhân của thế giới quan khoa học

+ Nói chủ nghĩa duy vật mácxít là hạt nhân của thế giới quan khoa học, điều

đó có nghĩa là thế giới quan khoa học được tạo thành từ rất nhiều nhân tố, đặc biệt

là từ các khoa học cụ thể khác nhau, trong đó không chỉ có khoa học tự nhiên, mà

cả khoa học xã hội Tuy nhiên, do tính đặc thù của triết học, nên triết học có vai trò quan trọng nhất trong sự hình thành thế giới quan

III VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC Ở NƯỚC

TA HIỆN NAY

1 Điều kiện kinh tế - xã hội – văn hóa hiện nay ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học

Trang 17

1.1 Điều kiện quốc tế

Bất cứ một yếu tố nào cũng ảnh hưởng đến sự hình thành thế giới quan Ở nước ta ảnh hưởng lớn nhất là:

Thứ nhất, ảnh hưởng của sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô

và Đông Âu; sự biến đổi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sự biến đổi của các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bởi, chúng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng… Những thực tế lịch

sử trên ảnh hưởng đến niềm tin, nhất là niềm tin đối với lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Thứ hai, sự tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, làm nảy sinh

nhiều khuynh hướng tư tưởng, làm suy nghĩ của nhiều người bị “chệch hướng”;

Thứ ba, sự truyền bá của các tư tưởng duy tâm, tôn giáo.

1 2 Trong nước

Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế thấp làm nảy sinh nhiều khuynh hướng

lệch lạc

Thứ hai, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội khá phổ biến;

Thứ ba, vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, phát huy quyền

làm chủ của nhân dân đều có những vấn đề rất bức xúc đặt ra Chính những điều

đó làm cho tinh thần học tập lý luận bị giảm sút đáng kể Việc nhận thức về tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa không đầy đủ, vừa không nhất quán

Thứ tư, việc khai thác, kế thừa những di sản văn hóa của dân tộc, của nhân loại vừa không đồng bộ, không có hệ thống không có hiệu quả, nhiều khi mang tính hình thức Tạo nên cách nhìn phiến diện, nông cạn về những vấn đề của thế giới cũng như của Việt Nam

2 Giải pháp bồi dưỡng thế giới khoa học hiện nay

- Củng cố … tạo nền tảng cho việc hình thành và củng cố thế giới quan khoa học

- Đấu tranh chống lại và phê phán những tư tưởng phản khoa học dưới mọi hình thức

Trang 18

- Xây dựng quan điểm khách quan và quan điểm toàn diện trong việc nhìn nhận thế giới, đặc biệt trong việc nhìn nhận xã hội hiện nay.

- Quyết tâm khắc phục chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa duy vật tầm thường

- Đa dạng hóa các hình thức giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục tư tưởng

để hình thành lý tưởng sống cho thế hệ trẻ

TIỂU LUẬN

1 Thế giới quan và các hình thức thế giới quan

2 Thế giới quan Mác - Lênin và những nhân tố

3 Vai trò của thế giới quan Mác - Lênin trong thế giới hiện đại, đặc biệt là Việt Nam

4 Những phương hướng và giải pháp cơ bản để bồi dưỡng thế giới quan khoa học ở nước ta hiện nay

5 Chủ nghĩa duy vật trước Mác và vai trò của chúng đối với việc hình thành chủ nghĩa duy vật mácxít

Trang 19

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG NHẤT

CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

GS.TS Phạm Ngọc Quang

-TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Tư bản quyển 1 (C.Mác)

2 Biện chứng của tự nhiên (Ph.Ăngghen)

3 Chống Đuy Rinh (Ăng ghen)

4 Bút ký triết học ( T29, V.I.Lênin)

5 Lại bàn về công đoàn (T42, V.I.Lênin)

6 Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ tư bản của C.Mác – Rôzentan

7 Lịch sử phép biện chứng (Viện hàn lâm khoa học liên xô)

8 Câu hỏi và bài tập triết học CNDV BC (T2 và T3 Nxb KHXH, 2005)

I PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1 Phương pháp là gì?

- Phương pháp (một cách đơn giản) là cách thức, nguyên tắc, quy tắc, cách

thức, thủ đoạn được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đã đặt ra

Trên quan điểm khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về thế giới, về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định

Phương pháp là phương pháp của con người (là phạm trù mang tính chủ quan) Nhưng phương pháp đúng là phải lấy khách quan làm tiền đề và phù hợp với cái khách quan đó Phương pháp do khách quan (khách thể) quy định: đối tượng là linh hồn của phương pháp (Không ai dùng dao mổ bò để mổ chim sẻ…)

2 Phương pháp luận

Là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống lý luận có vai trò chỉ đạo trong việc lựa chọn phương pháp, xác định phạm vi ứng dụng chúng và điều kiện cần thiết nhờ vậy mà đạt được kết quả cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Trang 20

II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ SỰ TIẾN HÓA CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ

1 Định nghĩa phép biện chứng

“Phép biện chứng đã được coi là khoa học về những quy luật phổ biến nhất của mọi vận động Điều đó có nghĩa là những quy luật ấy phải có hiệu lực đối với vận động trong giới tự nhiên và trong lịch sử loài người cũng như đối với vận động của tư duy”6

“Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học nghiên cứu quy luật chung nhất của mọi sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của

tư duy”7

Khách thể nghiên cứu của khoa học: Là các sự vật, các hiện tượng, các quá

trình mà con người hướng vào đó để tìm tòi, phát hiện ra quy luật tồn tại, vận động

của cả tự nhiên, xã hội và tư duy

2 Sự tiến hóa của phép biện chứng trong lịch sử

2.1 Thời kỳ cổ đại

Về cơ bản là phép biện chứng thô sơ, chất phác, ngây thơ… nó thấy được bức tranh chung của thế giới là liên hệ với nhau, chuyển hóa và vận động, phát triển… Nó là kết quả của nhận thức trực quan, cảm tính Do vậy mà hạn chế cơ bản của nó là chưa khái quát được quy luật của vấn đề liên hệ, chuyển hóa, vận động và phát triển

2.2 Tư duy siêu hình

Thế kỷ XVIII là thời điểm tư duy siêu hình phát triển mạnh mẽ nhất và giữ vai trò thống trị trong tư duy triết học

6 C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG-ST, H.1994, tr.768

7 C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG-ST, H.1994, tr 206

Trang 21

Tại sao có sự ra đời của phương pháp siêu hình? Nguyên nhân cơ bản là do

sự phát triển của phương pháp nghiên cứu của khoa hcọ tự nhiên… Do nhu cầu mổ

xẻ bức tranh chung của thế giới, để nhận thức sâu sắc hơn các bộ phận của thế giới đó… Từ đó phương pháp phân tích được sử dụng phổ biến, chính từ đó tri thức về những bộ phận của thế giới ngày càng phong phú hơn… Khi phương pháp phân tích được tuyệt đối hóa (là duy phương pháp tư duy duy nhất) dẫn đến tư duy siêu hình Khi tuyệt đối như vậy về phương pháp phân tích = tư duy siêu hình thì là sai lầm

2.3 Phép biện chứng duy tâm

Phép biện chứng duy tâm mà đỉnh cao là phép biện chứng duy tâm của Gi.V.Ph.Hêghen

Hệ thống triết học của Hêghen là một hệ thống khép kín, nó xuất phát từ tinh thần lại tha hóa quay trở lại với tinh thần, đồng thời đây là một hệ thống triết học duy tâm khách quan, bởi lẽ, Hêghen cho “tinh thần thế giới” là nguyên nhân của mọi sự vật, hiện tượng (Tinh thần thế giới - Giới tự nhiên - Xã hội – Con người – Lịch sử - Tinh thần)

Phép biện chứng của Gi.V.Ph.Hêghen: Trong “Bách khoa toàn thư triết học” Gi.V.Ph.Hêghen trình bày ba vấn đề:

1) Lô-gích học: Ý niệm tuyệt đối là đối tượng nghiên cứu

Trang 22

- Nhận thức của con người bắt đầu từ tồn tại Cái tồn tại mang đặc trưng của

“tế bào nghiên cứu” là “tồn tại thuần túy” là tồn tại không có bất kỳ tính quy định nào cả Với nghĩa đó nó đồng nhất với hư vô Nhưng nó lại là đối tượng của sự suy

tư, với nghĩa đó nó lại là cái tồn tại

Như vậy, đối với Gi.V.Ph.Hêghen “tồn tại thuần túy” là một mâu thuẫn Và đương nhiên dẫn đến vận động và phát triển Do vận động và phát triển nó chuyển hóa thành “cái sinh thành” (là tồn tại được xác định), đó chính là “chất” Từ đó ông định nghĩa “Chất” là tính quy định vốn có của sự vật

Muốn từ “tồn tại thuần túy” => Cái sinh thành phải trải qua đồng thời hai quá trình: sự mất đi và sự nảy sinh

“Sự mất đi” phạm trù dùng để chỉ cái đang “tồn tại”, có quan hệ với hư vô

và có xu hướng chuyển hóa thành “hư vô” Như vậy mất đi cũng là một quá trình

“Sự nảy sinh” là phạm trù dùng để chỉ cái gì đó chưa tồn tại nhưng có quan

hệ với tồn tại, có xu hướng chuyển hóa thành “tồn tại”

Do vận động và phát triển của chất mà tất cả đều là ‘cái một”, khi đó nảy sinh “lượng” “Lượng” là phạm trù dùng để chỉ mặt đồng nhất lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng “Chất” là nói đến sự khác nhau của sự vật Lượng và chất là hai mặt của một mâu thuẫn

Lượng là cái vốn có của sự vật, nhưng dường như nó vô can với sự vật Lượng cũng vận động và phát triển, đỉnh cao nhất của nó là đạt đến “con số” Theo Gi.V.Ph.Hêghen, lượng cũng là một mâu thuẫn Là mâu thuẫn giữa tính liên tục và tính gián đoạn Do đó, nảy sinh hai hình thức đặc trưng của sự vật: số lượng và đại lượng Số lượng là lượng mang tính rời rạc (do sự đẩy mà có) Đại lượng mang tính liên tục (do sự hút mà có)

Lượng chỉ vô can với chất trong giới hạn “độ”, nếu vượt khỏi giới hạn đó diễn ra “bước nhảy” “Bước nhảy” còn là sự biến đổi của cả về lượng và chất

“Độ” là một lượng được xác định về chất, theo Gi.V.Ph.Hêghen “độ” là một mâu thuẫn giữa tính xác định và tính không xác định

Như vậy độ không phải là cái nhất thành bất biến mà nó có sự vận động và biến đổi Độ có thể sự biến đổi của biên độ

Trang 23

- Như vậy trong “Học thuyết về tồn tại” Gi.V.Ph.Hêghen trình bày Quy luật lượng – chất.

Học thuyết bản chất của Gi.V.Ph.Hêghen đã trình bày Quy luật mâu thuẫn:

- Theo Gi.V.Ph.Hêghen quá trình nhận thức của con người là sự “phản tư”: Vật lý = vận động; Tâm lý = phản ánh’ Nhận thức luận: suy tư…

- Bản chất là cái đồng nhất của sự vật, hiện tượng Sự đồng nhất này là đồng nhất biện chứng Phân biệt với cái đồng nhất không biện chứng (không bao hàm sự khác biệt) Chỉ có đồng nhất biện chứng (bao hàm sự khác biệt và mâu thuẫn) mới tạo ra sự sống của sự vật

- Mâu thuẫn có những đặc trưng:

+ Mâu thuẫn: là khách quan, phổ biến

+ Sự vật chỉ sống động khi bao hàm mâu thuẫn trong bản thân mình

+ Mâu thuẫn là xung lực của mọi sự sống

Từ đó ông phê phán quan điểm siêu hình về mâu thuẫn: Theo ông quan điểm siêu hinh là quan điểm mang những đặc trưng sau: 1) Phủ nhận sự tồn tại của mâu thuẫn như một tất yếu khách quan; 2) nếu có chỉ có trong tư duy; 3) Trong tư duy

mà có mâu thuẫn là tư duy sai lầm Đứng về quan điểm biện chứng thì tất cả các quan điểm này là sai Nhưng trong lô-gích học hình thức thì yếu tố 2, 3 là đúng

- Các mặt đối lập tạo ra mâu thuẫn có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự chuyển hóa có hai hình thức:

+ Chuyển hóa cái chung – cái riêng

+ Sự chuyển hóa nguyên nhân và kết quả: Ông đã chỉ ra nguyên nhân là những sự tác động lẫn nhau…

Tư tưởng về sự thống nhất của phép biện chứng, lô-gích học và lý luận nhận thức, Gi.V.Ph.Hêghen trình bày tư tưởng về quy luật “Phủ định của phủ định”

Điểm xuất phát nghiên cứu phải có những đặc tính sau: 1) Là cái đơn giản nhất; 2) Cái phổ biến nhất; 3) Mọi sự vật phức tạp hơn đều từ nó tiến hóa mà

Trang 24

thành; 4) Nó được bảo toàn trong sự vật tiến hóa; 5) Nó chứa đựng mọi mầm mống của mọi mâu thuẫn trong quá trình tiến hóa tiếp theo.

VD: C.Mác đã xuất phát từ “tế bào” của chủ nghĩa tư bản đó là “hàng hóa” Hàng hóa mang đầy đủ năm thuộc tính trên Trước C.Mác cũng đã có nhiều nàh nghiên cứu chủ nghĩa tư bản nhưng không thành công do không xác định được “tế bào nghiên cứu”

2.4 Phép biện chứng mácxít

Phép biện chứng mácxít ra đời từ thực tiễn và là kết quả của sự phát triển của khoa học tự nhiên

Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật là nhận thức thế giới như

một chỉnh thể toàn vẹn và các bộ phận của nó ngày càng được nhận thức hơn Phép biện chứng mácxít mang tầm khái quát cao hơn là nó nghiên cứu những quy luật

“chung nhất” của cả tự nhiên, xã hội và tư duy

III NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Vì sao nguyên lý phát triển và nguyên lý mối liên hệ phổ biến là hai nguyên

lý cơ bản? Bởi sự phát triển và sự phát triển là mang tính phổ biến trong mọi lĩnh vực Là những nguyên lý bao trùm nhất, tổng quan nhất mà mọi bộ phận còn lại chỉ làm rõ hơn những phương diện, khía cạnh của nó mà thôi Nó còn có lý do nữa, bởi nó là điểm xuất phát của toàn bộ hệ thống lý luận này; chi phối mọi việc nghiên cứu các vấn đề khác của hệ thống lý luận

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

4.1 Định nghĩa liên hệ phổ biến là gì?

Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?

Trong lịch sử triết học, để trả lời những câu hỏi đó ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn

Trang 25

nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Tuy vậy trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau Chẳng hạn, giới vô cơ và giới hữu cơ không có liên hệ gì với nhau; tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ tạo thành xã hội, v.v

Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau

Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trả lời rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở

ý thức, cảm giác của con người

Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất - thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng

khẳng định rằng, liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau, sự thâm nhập vào nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật và hiện tượng

Liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau, sự thâm nhập vào nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau của tất cả mọi sự vật hiện tượng, tồn tại

ở mọi sự vật, hiện tượng.

4.2 Tính chất của mối liên hệ

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

Trang 26

- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức của con người.

- Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào;

ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những

sự vật, hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác

- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau Có thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, v.v Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật

Tuy sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, nhưng

sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình

Phép biện chứng duy vật nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến chi phối sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

4.3 Quan điểm phương pháp luận rút ra từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến:

cần phải quán triệt “Quan điểm toàn diện” trong nhận thức và hoạt động thực tiễn; phải chống lại những sai lầm của quan điểm phiến diện, thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung

- Quan điểm toàn diện đòi hỏi :

Trang 27

+ Đối với nhận thức: Khi xem xét sự vật, hiện tượng phải xem xét tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ của sự vật hiện tượng, kể cả các mắt, khâu trung gian và nhận thức trong sự vận động và phát triển Từ đó, rút ra được những mối liên hệ mang tính bản chất quyết định sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng Tránh tuyệt đối hoá tri thức đã có về sự vật, hiện tượng trong một thời điểm, một giai đoạn nhất định Khi xem xét các mối liên hệ phải xác định vai trò cụ thể của từng mối liên hệ.

Từ những điều vừa trình bày trên đây có thể rút ra kết luận rằng, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là: đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể -> đến nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật -> đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó -> và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật

+ Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Chẳng hạn, để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh", một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại

- Chống “Quan điểm phiến diện”: Xem xét một mặt, một khía cạnh của sự vật, hiện tượng rồi rút ra kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng đó Hoặc tuyệt đối hóa một mặt nào đó của sự vật, hiện tượng

- Chống thuật ngụy biện: Thuật ngụy biện cũng để ý đến nhiều mặt, nhiều

mối liên hệ khác nhau của sự vật, nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất

Trang 28

- Chống chủ nghĩa chiết trung: Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới

nhiều mặt khác nhau, nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật

Vận dụng vào Việt Nam hiện nay: Kết hợp hài hòa giữa “chính sách dàn

đều” và “chính sách có trọng điểm”

2 Nguyên lý về sự phát triển

2.1 Phát triển là gì? (Định nghĩa sự phát triển)

Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau Quan điểm sau đây được sử dụng phổ biến:

Phát triển là khái niệm dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn

2.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm về sự phát triển

Khi trả lời câu hỏi về nguồn gốc, nguyên nhân của sự vận động phát triển:

- Duy tâm khách quan: do các lực lượng siêu tự nhiên

- Duy tâm chủ quan: do ý muốn chủ quan của con người, do sự phát triển của ý niệm

- Duy vật siêu hình: Phủ nhận sự vận động, phát triển

Các nhà triết học thừa nhận sự phát triển thì cho nguyên nhân của vận động, phát triển là do yếu tố bên ngoài

1) Phát triển chỉ là sự tăng lên về lượng

2) Phát triển là quá trình phi mâu thuẫn

3) Phát triển là quá trình đơn tuyến

Trang 29

- Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc của sự phát triển Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân

sự vật, do đó, cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật

2.3 Quan điểm biện chứng và quan điểm siêu hình về sự phát triển

Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không

có những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp

Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời

Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy

ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn

sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người

Trang 30

- Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển.

- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của

sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi Chẳng hạn, nói chung, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở các thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại Trong thời đại hiện nay, thời gian công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước của các quốc gia chậm phát triển và kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã thực hiện chúng do đã thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước Song vấn đề còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước chậm phát triển và kém phát triển

Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật, hiện tượng có thể có những giai đoạn vận động đi lên như thế này hoặc như thế khác, nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh hướng chung

2.5 Ý nghĩa phương pháp luận: “Quan điểm phát triển”

Quan điểm duy vật biện chứng đã cung cấp cho ta phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới

- Nhận thức:

Trang 31

Tự nhiên, xã hội và tư duy nằm trong quá trình phát triển không ngừng Bản chất khách quan của quá trình đó đòi hỏi chúng ta, để phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có quan điểm phát triển.

- Quan điểm phát triển đòi hỏi, khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt

nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng

- Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến, tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật

- Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang có, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó

- Trong quá trình phát triển, sự vật đồng thời có những sự biến đổi tiến lên

và có cả những biến đổi thụt lùi Do đó, trước khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, có niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai Phải biết phát hiện cái mới đích thực, phải có thái độ ủng hộ cái mới, vun đắp cái mới, tạo điều kiện thuận lợi cho cái mới ra đời và phát triển

Sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong những giai đoạn khác nhau là hết sức khác nhau, do vậy, khi quán triệt quan điểm phát triển phải gắn chặt với quan điểm lịch sử - cụ thể:

Quan điểm lịch sử cụ thể, phải nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể, cặn kẽ từng mặt, từng mối liên hệ của sự vật Phải nghiên cứu toàn bộ quá trình vận động của nó trong quá khứ, hiện tại và phải dự đoán tương lai của nó nữa, để từ đó có thể rút ra được những kết luận cụ thể về tính chất và phương hướng cải tạo sự vật hiện tượng

Ví dụ: Đánh giá mô hình hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc những năm

60 – 70 của thế kỷ XX Nếu chúng ta không đặt nó vào trong hoàn cảnh lịch sử -

cụ thể của miền Bắc lúc đó Thì chúng ta, một là không thấy được một số giá trị tích cực của nó trong điều kiện lịch sử lúc đó; hai là, sẽ không thấy được hết những nguyên nhân bên trong và bên ngoài dẫn đến việc duy trì quá lâu cách làm ăn như vậy, khi hoàn cảnh đất nước đã thay đổi

Trang 32

- Hoạt động thực tiễn: Để có phát triển trong hiện thực chúng ta cần phát

hiện ra đúng những quy luật nội tại của sự vật, tìm ra những phương thức, những phương tiện, những điều kiện để thúc đẩy sự vật phát triển theo đúng quy luật của nó

Từ hai nguyên lý trên cần phải rút ra “Quan điểm lịch sử - cụ thể”:

IV PHẠM TRÙ VÀ CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG

1 Phạm trù là gì?

- Định nghĩa: Phạm trù là một từ dùng để chỉ những khái niệm rộng nhất bao quát những cái chung của lớp sự vật, hiện tượng cùng loại

- Phạm trù triết học là phạm trù rộng nhất bao quát những cái chung của tất

cả những sự vật, hiện tượng trong hiện thực và tư duy

- Tính chất của phạm trù:

1) Tính khách quan của các phạm trù: Không được hiểu là độc lập hoàn toàn, không phụ thuộc vào con người…Mọi phạm trù đều là sản phẩm của tư duy nên nó mang tính chủ quan Nội dung được phản ánh và phạm trù đó là do đối tượng khách quan được phản ánh quy định;

2) Tính biện chứng của các phạm trù:

- Phạm trù vận động và phát triển thể hiện:

+ Nội dung được phản vào phạm trù đó biến đổi, trong đó có phát triển; + Số lượng các phạm trù nhìn chung ngày càng đa dạng và phát triển hơn… Nguyên nhân của sự phát triển là do:

+ Sự phát triển nhận thức của con người về các phạm trù đó;

+ Do sự phát triển của hiện thực khách quan dẫn đến các sự vật, hiện tượng mới…

- Các phạm trù khác nhau có thể thâm nhập vào nhau, chuyển hóa cho nhau

2 Về một số cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

NB: Trong Giáo trình chuẩn quốc gia đưa thêm cặp “Nhân tố và hệ thống”NB: Cặp phạm trù: Gồm hai phạm trù đối lập nhau (là một mâu thuẫn)…

2.1 Cái riêng và cái chung

Trang 33

- Cái riêng: Là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình hay một chỉnh thể các sự vật, các hiện tượng, các quá trình tồn tại tương đối độc lập với các cái riêng khác.

- Cái chung: Là một phạm trù dùng để chỉ sự giống nhau, cái đồng nhất, cái lặp lại ở hai hay hay nhiều cái riêng

Ví dụ: Anh A và lớp A này không phải là cái chung và cái riêng

Cái chung và cái phổ biến, có mặt đồng nhất: lặp lại; khác nhau là ở cái chung có thể là hai hoặc nhiều; còn ở cái phổ biến phải là nhiều

Cái đơn nhất (chỉ có ở một sự vật, hiện tượng, quá trình nào đó, không lặp lại ở bất cứ sự vật, hiện tượng, quá trình nào đó) – Cái đặc thù (Lặp lại ơt một số

sự vật, hiện tượng cùng loại) – Cái phổ biến (Lặp lại ở tất cả các sự vật, hiện tượng)…

Đặc thù còn hiểu hai nghĩa khi tách khỏi “cặp ba” là: 1) Lặp lại ở nhiều sự vật, hiện tượng… 2) Biểu hiện cụ thể của cái chung, cái phổ biến tồn tại trong cái riêng

Cái riêng luôn bao hàm ba bộ phận cấu thành: cái đơn nhất, cái đặc thù, cái phổ biến

NB: Trong thực tế tìm ra được cái đơn nhất là rất khó khăn Bởi hạn chế bởi điều kiện lịch sử, tầm “quan sát” của con người

Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:

- Cái riêng là cái toàn thể, cái chung là cái bộ phận, do vậy cái riêng phong phú hơn cái chung…

- Bất kỳ cái riêng nào cũng bao hàm cái chung và thông qua hàng ngàn mối liên hệ mà dẫn tới cái chung

- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng, khi đó nó biểu hiện ra là cái đặc thù

- Cái chung tuy là cái “nghèo nàn” hơn cái riêng, nhưng nếu là cái chung mang tầm bản chất nó là cái sâu sắc nhất quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của cái riêng Cái chung mang tầm bản chất = quy luật (bản chất và quy luật

Ngày đăng: 24/09/2013, 00:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w