Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều thay đổi về nhận thức cũng nhưhành động trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo, nên hiện tượng phục hồi, pháttriển của đạo Tin Lành trong vùng dân tộc
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo là vấn đề được các quốc gia trên thếgiới đặc biệt quan tâm và được xác định là một trong các quyền của conngười Tuy nhiên cũng phải thấy rằng tôn giáo không chỉ là hiện tượng xã hội,văn hóa, đạo đức, tâm linh mà còn là những vấn đề chính trị, xã hội phức tạp,phản ánh đời sống xã hội của con người Nhất là khi tôn giáo, dân tộc và chính trị
là những vấn đề luôn có sự đan xen, thẩm thấu vào nhau Chính vì vậy, việc ổnđịnh đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và tạo thêm điều kiện cho các tôn giáo cốnghiến khả năng xây dựng, phát triển đất nước là không ngoài quy luật mà tư tưởng
Hồ Chí Minh đã chỉ ra: luôn luôn duy trì và phát triển xu hướng tôn giáo đồnghành với dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết dân tộc tôn giáo trước hết bằngmục tiêu chung, điểm tương đồng giữa lý tưởng tốt đẹp vốn có của các tôn giáovới chủ nghĩa xã hội, khai thác những giá trị tích cực của các tôn giáo trước hết làcác giá trị văn hoá và đạo đức, đồng thời luôn cảnh giác với những âm mưu lợidụng các tôn giáo vào mục đích chính trị phản dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Thời gian gần đây, những cuộc xung đột mang màu sắc dân tộc, tôn giáodiễn ra ngày càng phức tạp ở các nước trên thế giới cũng như trong khu vực,trong đó có ảnh hưởng đến Việt Nam Các cuộc xung đột này dẫn đến tình hìnhmất ổn định trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội thực hiện mục tiêu chủnghĩa xã hội ở nước ta Vì vậy, hơn lúc nào hết chúng ta cần nắm vững nhữngquan điểm có tính định hướng được nêu trong các nghị quyết của Đảng và Nhànước là: “Phải quan tâm đặc biệt đến các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, nhất
là các dân tộc đặc biệt khó khăn Phải quan tâm nhu cầu hợp lý về tín ngưỡngcủa quần chúng; đồng thời đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôngiáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Việt Nam”
Với quan điểm và cách nhìn nhận đó, việc nghiên cứu về vấn đề tôn giáonói chung và đạo Tin lành nói riêng xuất phát từ những ý nghĩa sau đây:
Trang 2Về lý luận: Tôn giáo (cả phương diện giáo lý, tổ chức, sinh hoạt) đều lànhững yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng Sự ảnh hưởng của tôn giáo đến cơ
sở hạ tầng trên cả phương diện tích cực và tiêu cực Do đó nghiên cứu vấn đề này
sẽ giúp cho công tác lý luận về vấn đề dân tộc - tôn giáo và chỉ đạo thực tiễn việcgiải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo một cách phù hợp, đúng đắn, có tính qui luật
và phản ánh mối quan hệ phát triển biện chứng giữa dân tộc và tôn giáo trongđiều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay ở Việt Nam
Về ý nghĩa thực tiễn: Đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay đang có xuhướng bị lợi dụng ảnh hưởng xấu đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Từ Đại hội VII (1991) đến nay Đảng ta luôn khẳng định “đạo đức tôn giáo cónhững điểm phù hợp với đạo đức mới Tôn giáo còn tồn tại lâu dài trong quátrình xây dựng, phát triển chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Từ đó, việc địnhhướng tốt cho công tác tôn giáo nói chung, cho hoạt động của đạo Tin Lànhnói riêng là nhu cầu thực tiễn hướng tới giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáovừa đáp ứng yêu cầu mang tính chiến lược, vừa đáp ứng yêu cầu có tính tìnhthế, góp phần làm cho tình hình dân tộc và tôn giáo ở nước ta nói chung và ởtừng địa phương nói riêng đi vào ổn định, hướng tới xây dựng và phát triểnkinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, tư tưởng cao đẹp, thống nhất vớimục tiêu cách mạng
Với ý nghĩa đó, thì hiện nay vấn đề dân tộc thiểu số trên cả nước nóichung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, vốn đã rất phức tạp, từ sau thời kỳ đổimới (1986) đến nay thêm sự phục hồi, phát triển của các tôn giáo một cáchmạnh mẽ cho thấy tính bất thường trong điều kiện đi lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội Đặc biệt sự phát triển của đạo Tin Lành đã làm cho tình hình càng trởnên phức tạp hơn Sự phục hồi, phát triển của đạo Tin Lành có tính chất độtbiến ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi đã tác động không nhỏ đến mọimặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất
ổn định trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương miền núi Trong
Trang 3những năm qua, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo cho các cơ quanchức năng ở địa phương tham gia giải quyết, hạn chế sự phát triển và tác độngtiêu cực của đạo Tin lành vào vùng dân tộc thiểu số và đã đạt được những kếtquả rất đáng phấn khởi Tuy nhiên công tác giải quyết ở hầu hết các địaphương vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định và chưa mang tính triệt để.Tình hình phục hồi, phát triển của đạo Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số vẫnchưa được giải quyết hợp lý và có phần diễn biến ngày càng phức tạp TỉnhQuảng Ngãi đang rất cần lời giải đáp cho vấn đề này
Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều thay đổi về nhận thức cũng nhưhành động trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo, nên hiện tượng phục hồi, pháttriển của đạo Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số càng cần phải đặt ra nghiêncứu để có cách nhìn nhận và hướng giải quyết đúng đắn, phù hợp nhằm đạthiệu quả cao hơn, góp phần thúc đẩy sự ổn định, xây dựng và phát triển kinh
tế, chính trị - xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, hướng đến thực hiện mục tiêuchủ nghĩa xã hội ở nước ta
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, cũng như ý nghĩa sâusắc trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta Nên tác giả đãchọn vấn đề này để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học, chuyên ngành TriếtHọc khóa năm 2010 - 2012, trường Đại học Khoa học Huế, với đề tài:
"TIẾP CẬN VẤN ĐỀ ĐẠO TIN LÀNH Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH QUẢNG NGÃI HIỆN NAY TỪ LẬP TRƯỜNG DUY VẬT LỊCH SỬ".
Trang 4bản có tính qui định về tôn giáo như: Nghị quyết số 25-NQ/TƯ ngày
12-3-2003 về Công tác tôn giáo; Pháp Lệnh của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Số21/2004/PL-UBTVQH11 Ngày 18 Tháng 6 Năm 2004 Về Tín ngưỡng, TônGiáo; Nghị định 22/NĐ của Chính phủ, ngày 1 tháng 3 năm 2005 “Hướng dẫnthi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”; Chỉ thị số
01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Một số công tác đối với đạo Tin lành Bên cạnh đó những nhà nghiên cứu lý luận cũng đã quan tâm đến vấn
đề dân tộc, tôn giáo với nhiều công trình nghiên cứu, bài viết và đề tài khoahọc như:
1- Vấn đề tôn giáo và dân tộc của GS.TS Đỗ Quang Hưng.
2- Lê thị Lan: Biện chứng của tư tưởng dung hòa trong văn hóa - Tôn giáo Việt Nam - lịch sử và hiện tại Tạp chí Triết học, số 02 (2006).
3- GS Đặng Nghiêm Vạn: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb CTQG, HN - 2003.
4- Đặng Nghiêm Vạn(cb): Về tôn giáo tín ngưỡng Việt nam hiện nay,
7- Mai Thị Quý, Bùi Thị Hằng: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin
về tôn giáo và sự vận dụng để giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Tạp chí Triết học số 03 (2011).
8- Trần Thanh Giang: Đạo Tin lành ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra hiện nay Tạp chí NCVH, Số 03.
9- Nguyễn Xuân Hùng: Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hoá truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, TC
NCTG, Số 01
Trang 510- Nguyễn Thanh Xuân: Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới
và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự phục hồi và phát triển củađạo Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số, thì một số nhà khoa học, nhà nghiêncứu lý luận cũng đã đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Đã có một sốcông trình tiêu biểu nghiên cứu về sự phục hồi, xâm nhập và phát triển của đạoTin Lành vào vùng dân tộc thiểu số và những ảnh hưởng tác động đến nhiều khía
cạnh của nó; cụ thể như: Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Khắc Đức về: “Vấn
đề đạo Tin Lành trong đồng bào dân tộc H’mông và Dao ở các tỉnh miền núi
phía Bắc Việt Nam” và công trình nghiên cứu của một nhóm tác giả về vấn đề:
“Đạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác phòng – chống địch lợi dụng đạo Tin Lành ở Gia Lai”….
Đối với sự phục hồi, phát triển đạo Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu sốtỉnh Quảng Ngãi và sự tác động của nó đến tình hình ổn định đời sống chính trị
tư tưởng, kinh tế, xã hội thì chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu với tưcách là một đề tài nghiên cứu khoa học Do vậy luận văn không trùng với bất
kỳ công trình khoa học nào
3 Mục đích, và đối tượng nghiên cứu:
* Mục đích:
Nghiên cứu đề tài này nhằm trên cơ sở đánh giá đúng và làm rõ thựctrạng đạo Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi hiện nay, qua đótìm ra những nguyên nhân và xu hướng biến động của nó, đồng thời làm rõnhững ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với các vùng dân tộc thiểu số ở tỉnhQuảng Ngãi Từ đó đưa ra hệ thống giải pháp phương pháp luận nhằm đưa đạoTin Lành hoạt động theo hướng ổn định để đảm bảo tính hiệu lực của chínhsách đối với tôn giáo này ở các vùng dân tộc thiểu số Quảng Ngãi
* Đối tượng:
Đạo Tin lành ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
Trang 64 Phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích và đối tượng như trên, nên phạm vi nghiên cứu của đề tài
là nghiên cứu vấn đề đạo Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi vàcông tác giải quyết vấn đề này trong tình hình hiện nay trên địa bàn ở các vùngdân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận của đề tài: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôngiáo và công tác tôn giáo - dân tộc, và pháp luật của Nhà nước đối với vấn đềdân tộc và tôn giáo
Phương pháp nghiên cứu: dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Đặc biệt coi trọng đúngmức phương pháp logíc và lịch sử, so sánh đối chiếu Ngoài ra đề tài còn sửdụng các phương pháp cụ thể như: của xã hội học, tiếp cận hệ thống, phân tích,thống kê, tổng kết thực tế
6 Đóng góp của đề tài:
Đóng góp của luận văn là: trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng tình hìnhđạo Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi, luận văn sẽ trình bày mộtcách có hệ thống những vấn đề tiếp cận ở trình độ luận văn thạc sỹ khoa học triếthọc Qua đó, đề xuất hệ thống những giải pháp phương pháp luận đảm bảo tínhkhoa học, tính khả thi Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết vấn
đề này ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi trong tình hình hiện nay
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảotrong công tác giảng dạy về tôn giáo, cũng như định hướng cho đội ngũ cán bộquản lý và những người làm công tác tôn giáo ở Quảng Ngãi Và những aiquan tâm đến vấn đề này từ lập trường duy vật lịch sử
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết cấu luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 7Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO
1.1 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về tôn giáo.
Tất cả các nhà triết học trước Mác, kể cả những nhà duy vật, khi luậngiải, đưa ra những quan niệm và cách giải quyết những vấn đề về đời sống xãhội đều biểu hiện khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm, vì họ mới dừng lại ởchỗ xác nhận một sự thật là: khác với tự nhiên - nơi mà những lực lượng vô tri
vô giác đang hoạt động, thì trong xã hội, con người lại là một trong những thựcthể tự nhiên – xã hội có ý thức, có khả năng tự kiểm soát các hoạt động củabản thân mình Từ đó mà họ đều cho rằng: xã hội vận hành theo một cáchriêng của nó, hoặc theo ý chí của một thế lực siêu tự nhiên có nhân tính, hoặctheo ý chí chủ quan của chính loài người
Xuất phát từ cái nhìn duy tâm đó, tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội,
đã có cơ sở để phát triển trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ cuối thời kỳcông xã nguyên thuỷ cho đến tận ngày nay Vậy đâu là nguyên nhân cho sứcsống dai dẳng của tôn giáo trong xã hội ? Và trong xã hội xã hội chủ nghĩa,liệu tôn giáo có còn tồn tại ? Việc giải quyết vấn đề này theo quan điểm củaChủ nghĩa Mác - Lênin như thế nào ?
Đứng trên lập trường duy vật lịch sử và những căn cứ khoa học, các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã từng bước làm rõ những vấn đề nguồngốc, bản chất, lịch sử và vai trò xã hội của tôn giáo
Trong hệ thống học thuyết của chủ nghĩa Mác; nếu chủ nghĩa duy vậtlịch sử được coi là một trong ba phát minh quan trọng, thì trong đó những quanđiểm về tôn giáo là một trong những biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật
về lịch sử của học thuyết này Nó thể hiện thông qua các quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin cả về bản chất, nguồn gốc lẫn chức năng của tôn giáo Nếunhư các nhà duy tâm, thần học trong suốt thời kỳ cổ đại và trung cổ đều cho
Trang 8rằng tôn giáo có nguồn gốc siêu nhiên, từ những lực lượng siêu tự nhiên có sứcmạnh vô biên tác động, chi phối thế giới tự nhiên, đến xã hội loài người cũngnhư toàn bộ hoạt động của mỗi cá nhân con người thì các nhà duy vật, vô thần
đã có quan điểm hoàn toàn đối lập L.Feuerbach - nhà triết học duy vật người
Đức, trong tác phẩm “Bản chất đạo Cơ đốc”, đã khẳng định rằng: không phải thần thánh sáng tạo ra con người mà con người sáng tạo ra thần thánh theo hình mẫu và trí tưởng tượng của mình; rằng: “Thượng đế siêu hình không phải
là cái gì khác mà là sự tập hợp, là toàn bộ những đặc tính chung nhất rút ra từ giới tự nhiên, song con người, nhờ vào sức tưởng tượng… lại đem giới tự nhiên biến thành một chủ thể hay một thực thể độc lập”[51, tr71] Tuy nhiên,
L.Feuerbach chưa chỉ ra được bản chất của tôn giáo và ở khía cạnh xã hội ôngvẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm khi chỉ phê phán thứ tôn giáo hiện thờichứ không phê phán tôn giáo nói chung, càng chưa hề đề cập đến sự phê phánnhững điều kiện hiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo Mặc khác, khi trình bàyquan điểm giải phóng con người khỏi những bất công, tha hóa trong xã hội thìông lại rằng người ta vẫn rất cần một thứ tôn giáo khác thay thế, đó là “tôngiáo tình yêu” để xoá bỏ đi những áp bức, bất công trong xã hội
Kế thừa và vượt lên trên quan điểm của L.Feuerbach và các nhà duy vậttrước đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã đứng vững trên lậptrường duy vật lịch sử để lý giải vấn đề bản chất của tôn giáo Theo đó, ý thức
xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định Mặc dù cótính độc lập tương đối nhưng mọi hiện tượng trong đời sống tinh thần, xét đếncùng, đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất Tôn giáo cũng vậy, là một hiệntượng tinh thần của xã hội và vì vậy, nó là một trong những hình thái ý thức xãhội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Nhưngkhác với những hình thái ý thức xã hội khác, sự phản ánh của tôn giáo đối vớihiện thực là sự phản ánh đặc thù, đó là sự phản ánh “lộn ngược”, “hoangđường” thế giới khách quan Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “tôn giáo là những
Trang 9sự rút hết toàn bộ nội dung của con người và giới tự nhiên, là việc chuyển nộidung đó sang cho bóng ma Thượng đế ở bên kia thế giới, Thượng đế này, sau
đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho con người và giới tự nhiên một chút ân huệcủa mình” [34, tr.815]
Với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, tôn giáo là sự phản ánh mộtcách sai lệch, hư ảo về giới tự nhiên và con người, về các quan hệ xã hội Haynói cách khác, tôn giáo là sự nhân cách hoá giới tự nhiên, là sự “đánh mất bảnchất người” Chính con người đã khoác cho thần thánh những sức mạnh siêunhiên khác với bản chất của mình để rồi từ đó con người có chỗ dựa, được chởche, an ủi - dù đó chỉ là chỗ dựa “hư ảo” Chỉ ra bản chất sâu xa của hiện tượng
đó, Ph.Ăngghen đã viết: “Con người vẫn chưa hiểu rằng họ đã nghiêng mìnhtrước bản chất của chính mình và đã thần thánh hoá nó như một bản chất xa lạnào đó” [34, tr.815] Lột tả bản chất của tôn giáo, ông cho rằng, “tôn giáochẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào đầu óc của con người – của nhữnglực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánhtrong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực lượng siêu trầnthế” [36, tr.437]
Vấn đề đặt ra ở đây là, nguyên nhân nào dẫn đến sự phản ánh “hoangđường”, “hư ảo” của tôn giáo? Tại sao con người lại có nhu cầu tôn giáo và đặtniềm tin lớn lao vào tôn giáo như vậy? Đứng vững trên lập trường duy vật lịch
sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải rằng sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáoxuất phát từ hiện thực khách quan và nguồn gốc quan trọng nhất của tôn giáochính là điều kiện kinh tế – xã hội Trong lịch sử tiến hoá của mình, trước hếtcon người có nhu cầu cải tạo tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhucầu ngày càng cao của mình Nhưng do trình độ và khả năng cải tạo tự nhiêncòn thấp kém, con người luôn cảm thấy yếu đuối, bất lực trước các hiện tượng
tự nhiên và đã gắn cho tự nhiên những sức mạnh siêu nhiên Đó chính là cơ sởcho sự nảy sinh các hiện tượng thờ cúng Đặc biệt, khi xã hội có sự phân chia
Trang 10và áp bức giai cấp thì các mối quan hệ xã hội càng phức tạp, một bộ phậnngười dân rơi vào tình thế cùng quẫn, bất lực trước các thế lực thống trị Thêmvào đó, những yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, rủi ro bất ngờ nằm ngoài ý muốn củacon người gây ra cho họ sự sợ hãi, lo lắng, mất cảm giác an toàn Đó cũng lànguyên nhân khiến người ta tìm đến và dựa vào sự che chở của tôn giáo
Lý giải về nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo, Ph.Ăngghen viết:
“Trong những thời kỳ đầu của lịch sử chính những lực lượng thiên nhiên lànhững cái trước tiên được phản ánh như thế, và trong quá trình phát triển hơnnữa thì ở những dân tộc khác nhau, những lực lượng thiên nhiên ấy đã đượcnhân cách hóa một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp Nhưng chẳngbao lâu, bên cạnh những lực lượng thiên nhiên lại còn có cả những lực lượng
xã hội tác động - những lực lượng này đối lập với con người, một cách cũng xa
lạ lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ với cái vẻtất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy” [36, tr.437-438] Bàn về vấn đề này, V.I.Lênin cũng khẳng định: “Sự bất lực của giai cấp
bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vàocuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dãman trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, maquỷ và những phép màu” [48, tr.169-170]
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo có nguồngốc từ trong hiện thực và phản ánh chính hiện thực đó – một hiện thực cần cótôn giáo và có điều kiện để tôn giáo xuất hiện và tồn tại Trong Phê phán triếthọc pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa làbiểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèonàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái timcủa thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tựkhông có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [36, tr.437] Luận
Trang 11điểm trên của C.Mác đã thể hiện rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng của tôngiáo trên lập trường duy vật lịch sử
Với C.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vònghoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng vàđiểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trướccuộc sống hiện thực Vì, trong cuộc sống hiện thực, khi con người bất lựctrước tự nhiên, bất lực trước các hiện tượng áp bức, bất công của xã hội thì họchỉ còn biết “thở dài” và âm thầm chịu đựng Cũng trong cuộc sống hiện thực
ấy, họ không thể tìm thấy “một trái tim” để yêu thương, che chở nên phải tìmđến một “trái tim” trong tưởng tượng nơi tôn giáo Trái tim đó sẽ sẵn sàng baodung, tha thứ, chở che và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ để họ có thểvượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống
Khi quan niệm rằng: “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, C.Máckhông chỉ muốn nói đến tính hạn chế hay tiêu cực của tôn giáo, mà còn nhấnmạnh đến sự tồn tại tất yếu của tôn giáo với tư cách một thứ thuốc giảm đauđược dùng để xoa dịu những nỗi đau trần thế của con người ở trong xã hộiphân chia giai cấp với đầy rẫy những áp bức, bất công, tai họa cùng với sự bấtlực của con người Thực tế, người ta dùng thuốc giảm đau khi người ta bị đauđớn và chừng nào còn đau đớn, thì chừng đó còn có nhu cầu dùng nó Đóchính là lý do để lý giải tại sao con người hướng tới, hy vọng và coi tôn giáonhư chiếc “phao cứu sinh” cho cuộc sống của mình, cho dù đó chỉ là nhữnghạnh phúc ảo tưởng, chỉ là “sự đền bù hư ảo” Nếu không có thứ “thuốc giảmđau” ấy thì con người sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầyrẫy những áp bức, bất công và bạo lực
Điều vĩ đại của C.Mác, quan điểm duy vật lịch sử và tính cách mạngtrong học thuyết Mác về tôn giáo chính là ở chỗ đó Trong khi các nhà duy vật
vô thần chỉ biết phê phán bản thân tôn giáo thì C.Mác lại không phê phán tôngiáo mà phê phán chính cái hiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo, tức là phê phán
Trang 12sự áp bức, bất công, bạo lực… trong xã hội đã đẩy con người phải tìm đến vớitôn giáo và ru ngủ mình trong tôn giáo C.Mác đã nhận thấy rất rõ quan hệnhân – quả trong vấn đề này Vì tôn giáo là một hiện tượng tinh thần cónguyên nhân từ trong đời sống hiện thực nên muốn xoá bỏ tôn giáo, không cócách nào khác là phải xoá bỏ cái hiện thực đã làm nó nảy sinh Từ đó, C.Mác
đã khẳng định rằng, muốn xoá bỏ tôn giáo và giải phóng con người khỏi sự nôdịch của tôn giáo thì trước hết phải đấu tranh giải phóng con người khỏi nhữngthế lực của trần thế, xoá bỏ chế độ áp bức bất công, nâng cao trình độ nhậnthức cho người dân và xây dựng một xã hội mới không còn tình trạng ngườibóc lột người, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa
Từ những điều trên, có thể thấy rằng tôn giáo là một hiện tượng kháchquan của xã hội loài người Đối tượng của tôn giáo tựu trung lại chỉ có thể làthế giới của các lực lượng vô hình, mang tính thiêng liêng được chấp nhận mộtcách trực giác và tác động một cách siêu thực với con người nhằm lý giảinhững vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia
Tôn giáo được biểu hiện và thay đổi theo quá trình xuyên thời kỳ lịch
sử, xuyên thời gian và đa dạng tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý, môi trườngvăn hóa của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác nhau Đó là bản chấtcủa tôn giáo, đã được những nguyên lý của C.Mác và Ph.Ăngghen khẳngđịnh dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Diễn trìnhcủa tôn giáo qua lịch sử rất phức tạp, vừa có tính phản ánh, vừa có tính phảnkháng xã hội đã nảy sinh và cho tôn giáo mãnh đất để tồn tại, C.Mác viết:
“Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo” [37, tr.3] Vì thế, qua thời
gian và không gian tôn giáo không thể không thay đổi, mặc dù bản chất cơbản của nó có thể vẫn giữ nguyên
Những người theo chủ nghĩa duy tâm, các nhà thần học, những ngườitheo tôn giáo, tuy còn nhiều điểm cách biệt, song cũng đi đến một số vấn đề
Trang 13chung nhất, có thể khái quát như sau: coi tôn giáo là siêu nhiên, thiêng liêng, bí
ẩn Tôn giáo là sự truyền dạy của đấng chí tôn với loài người muôn đời đaukhổ, bế tắc Số phận đời người ở trần thế đều đã được an bài, con người phảibiết ơn đến đấng chí tôn, siêu nhiên ấy
Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử, một sản phẩm của con người, docon người sáng tạo ra và lại bị nó chi phối C.Mác nêu lên quan điểm của
mình: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” [41, tr.465] Sau khi tổng kết nhiều ý kiến đúng đắn của nhiều học giả
hiện nay cũng đều chấp nhận điều đó Song sự khác nhau của các nhà khoa học
đó là ở chỗ nhấn mạnh cái quyết định của sự phát triển xã hội loài người nóichung, tôn giáo nói riêng, mà chủ yếu là yếu tố kinh tế hay tinh thần Tuynhiên, cũng cần chú ý C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: cái quyết định sự pháttriển xã hội là yếu tố kinh tế, nhưng hai ông cho đó không phải là yếu tố duynhất Chính trong bộ “Tư bản”, khi giải thích tại sao trong thời kỳ cổ đại HyLạp, chính trị đóng vai trò chủ yếu, còn bước sang thời kỳ trung cổ ở Châu Âuthì vai trò ấy lại do đạo Kytô nắm giữ C.Mác cho rằng chỉ có phân tích điềukiện kinh tế mới giải đáp được câu hỏi đó Trong “Bức thư trả lời J.Bloch”(1890), Ph.Ăngghen còn chỉ ra trong một số trường hợp lịch sử cụ thể nhấtđịnh như ở Phổ, tôn giáo có lúc, có nơi đóng vai trò quan trọng, nhưng khôngquyết định đối với sự phát triển xã hội
Nếu đi sâu vào bản chất tôn giáo, ta có thể dẫn câu của L.Feuerbachtrình bày trong tác phẩm nổi tiếng của ông “Bản chất của đạo Kytô” (1841):
“Con người tư duy thế nào, con người được sắp đặt thế nào, thì Chúa của họ cũng thế Ý thức về chúa là ý thức mà Con người rút ra từ bản thân nó Sự hiểu biết về Chúa là ý thức mà Con người rút ra từ bản thân nó Từ Chúa của
nó anh hiểu ra Con người, và lại từ Con người anh hiểu Chúa của nó Hai là một….Chúa là tuyên ngôn của nội tâm, là cái bản thân biện minh từ Con
Trang 14người Tôn giáo là sự khám phá trang trọng nhất của những cái giấu trong Con người, là sự thừa nhận những tư tưởng thân thiết nhất của Con người, là
sự thừa nhận công khai nhất những tình cảm bí mật của Con người” [35, tr102
– 114] Định nghĩa này được C.Mác đồng tình, nhưng ông cho rằngL.Feuerbach chỉ nói con người trừu tượng, chung chung, chứ không đề cập đến
“con người lịch sử sự thật”, chưa thấy được tinh thần tôn giáo bản thân nó làsản phẩm xã hội và con người trừu tượng mà ông phân tích, trên thực tế baogiờ cũng thuộc về một hình thái xã hội nhất định, một cộng đồng người nhấtđịnh Nên C.Mác đã nhấn mạnh: “Con người không phải là một sinh vật trừutượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, lànhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy đã sản sinh ra tôn giáo” [50,tr.569] Cái từ “ấy” tưởng như đơn giãn đó lại thể hiện một phương pháp luậnbiện chứng và lịch sử cực kỳ khoa học Tôn giáo chỉ là một sản phẩm của xãhội, mang tính xã hội văn hóa Nó như một hình thái xã hội gồm những quanniệm dựa trên cơ sở niềm tin và sự sùng bái những lực lượng siêu nhiên, chorằng có những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người, con ngườiphải phục tùng và tôn trọng nó
Ph.Ăngghen viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư
ảo vào đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức của những lực lượng siêu trần thế Trong những thời kỳ đầu của lịch sử, chính những lực lượng siêu nhiên là những cái trước tiên được phản ánh như thế, và trong quá trình phát triển hơn nữa thì ở những dân tộc khác nhau, những lực lượng siêu nhiên ấy đã được nhân cách hóa một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hổn hợp….Nhưng chẳng bao lâu, bên cạnh những lực lượng siêu nhiên lại còn có cả những lực lượng xã hội tác động – những lực lượng này đối lập với con người một cách cũng xa lạ, lúc đầu cũng không hiểu nỗi đối với họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngoài
Trang 15giống như bản thân lực lượng siêu nhiên vậy Những nhân vật ảo tưởng, lúc đầu chỉ phản ánh những sức mạnh huyền bí của các lực lượng tự nhiên, thì nay lại vì thế, có cả những thuộc tính xã hội và trở thành những đại biểu cho các lực lượng lịch sử.” [49, tr.447].
Gần đây, các nhà nghiên cứu tôn giáo cố gắng đưa ra định nghĩa tôngiáo dưới dạng các thành tố cấu tạo tôn giáo Đây là hướng nghiên cứu có ýnghĩa thiết thực đối với các quốc gia trong việc quản lý hành chính nhà nướcđối với tôn giáo Có ý kiến cho rằng, được coi là tôn giáo phải hội đủ ba tiêuchí tối thiểu: (1) Sự tồn tại như giả định của các vật thể, các lực lượng hay cácthực thể nằm ngoài những giới hạn khách quan, trong điều kiện của con người;(2) Sự tồn tại những hình thức quản lý chung của cộng đồng; (3) Tồn tại củanhững phương tiện, biểu tượng để giao tiếp với những sức mạnh đó Và chorằng, tiêu chí thứ nhất là quan trọng nhất, là bản chất của tôn giáo, nếu cần chỉgiữ một tiêu chí thì đó là tiêu chí thứ nhất Hoặc cho rằng tôn giáo là một hệthống ít nhiều được sắp đặt bởi ý thức vật linh, những tình cảm và hành vi,những tư tưởng, những biểu tượng hợp thành bởi yếu tố thần thoại; những cảmxúc mang lại những tình cảm tôn giáo, những hành vi trong lĩnh vực thờ cúng
là các nghi thức Hoặc để hình thành và được coi là một tôn giáo phải đảm bảocác điều kiện: (1) Niềm tin vào một đấng siêu nhiên có vai trò quyết định đốivới vận mệnh của con người trong cuộc sống hiện tại cũng như cuộc sống ởbên kia; (2) Một hệ thống lễ nghi đôi khi đơn giãn, đôi khi phức tạp, cầu kỳnhằm giúp tín đồ thường xuyên gắn bó với niềm tin; (3) Một tổ chức nhân sự ítnhiều qui mô và hệ thống điều hành việc hành đạo của các tín đồ, là nhữngngười được đào tạo và có uy tín với tín đồ….; (4) Hệ thống luân lý đạo đứccho người tu hành, đây là thành tố được coi là quan trọng nhất
Vận dụng những nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác – Lênin về vấn
đề tôn giáo và từ thực tiễn tôn giáo ở nước ta, chúng ta có thể nhận thức về tôngiáo với các thành tố hợp thành sau đây:
Trang 16Niềm tin bất tử vào đấng siêu nhiên – đấng tôn thờ Theo quan điểm củatín đồ tôn giáo, đấng siêu nhiên, đấng mà họ tôn thời là đấng tối cao hoàn thiệntoàn năng sáng tạo ra thế giới, có quyền ban phúc, giáng họa, quyết định vậnmệnh của con người trong cuộc sống hiện tại cũng như trong cõi vĩnh hằng ởthế giới bên kia Mỗi tôn giáo thường có một hoặc một số đấng tôn thờ, có thể
là Trời, Phật, Thánh, Thần, Chúa…hay một sức mạnh huyền bí vô hình, hư ảonào đó
Hệ thống biểu tượng, nghi thức tôn giáo để biểu thị sự ngưỡng mộ, sựcầu xin đấng tôn thờ che chở ban phúc và nhận được ơn ích từ đấng tôn thờ,dần dần mỗi tôn giáo đã xây dựng được cho mình một hệ thống biểu tượng,nghi thức mang sắc thái riêng biệt cho từng tôn giáo Hệ thống biểu tượng,nghi thức tôn giáo thường được thể hiện ra bằng mắt thấy, tai nghe bằng cácnghi lễ, phẩm thực, trang trí, kiến trúc, tượng đài, trước sách, nhạc hát…
Hệ thống giáo thuyết Mỗi tôn giáo đều có một hệ thống giáo thuyết riêngbiệt Có tôn giáo giáo thuyết đơn giãn, có tôn giáo giáo thuyết hết sức phức tạp,nhất là với các tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo…Hệ thống giáothuyết tôn giáo thường có giáo lý, giáo lễ, giáo luật phản ánh thế giới quan, nhânsinh quan và luân lý đạo đức của tôn giáo đó Hệ thống giáo thuyết khi mới ra đờithường đơn giãn, song trải qua lịch sử, hệ thống giáo thuyết tôn giáo không ngừngđược bổ sung, sửa đổi và khi du nhập vào quốc gia, dân tộc nào thì thường có sựthích nghi với phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa, đạo đức của quốc gia,dân tộc đó Đặc biệt khi tôn giáo mang sắc màu giai cấp và được các giai cấpthống trị lợi dụng biến thành công cụ thống trị về mặt đời sống tinh thần trong xãhội thì thuyết giáo của tôn giáo đó cũng biến màu theo xu hướng chính trị và trởthành một sự độc tôn tôn giáo, tôn giáo lúc này đứng vào kiến trúc thượng tầngcủa xã hội, nhà thờ là nhà nước và ngược lại Lịch sử Kytô giáo là một minhchứng về vấn đề này
Trang 17Tổ chức nhân sự quản lý và điều hành việc đạo là những người thay mặtđấng siêu nhiên quản lý, hướng dẫn, giáo dục tín đồ thực hiện các nhu cầu tínngưỡng của tín đồ và giải quyết các công việc hành chính của Giáo hội tôn giáo.Đáng chú ý trong bộ máy tổ chức nhân sự quản lý và điều hành việc đạo, đa số lànhững chức sắc tôn giáo Mỗi tôn giáo thường có một hệ thống chức sắc riêng, cósắc phục riêng, có chức bậc, phẩm trật theo tôn ty chặt chẽ Hệ thống tổ chức nhân
sự tôn giáo thường được tổ chức chặt chẽ, mang màu sắc riêng của từng tôn giáo
và gọi chung là “Giáo hội” Một khi tôn giáo bị các giai cấp thống trị lợi dụng thì
tổ chức này trở thành công cụ cai trị tín đồ tôn giáo
Tín đồ tôn giáo Người theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo côngnhận gọi là tín đồ tôn giáo Được thừa nhận là một tôn giáo nhất thiết phải cómột bộ phận quần chúng tín đồ nhất định Không có tín đồ bất thành tôn giáo
Để xem xét một người có phải là tín đồ tôn giáo hay không hoặc là tín đồ củatôn giáo nào người ta thường căn cứ vào tín ngưỡng của họ Niềm tin của mộtngười vào một tôn giáo gọi là tín ngưỡng tôn giáo
Từ những quan niệm ở trên về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, việcgiải quyết vấn đề tôn giáo trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi phải có sựnhận thức sâu sắc, đúng bản chất và vận dụng sáng tạo những quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin về việc giải quyết vấn đề tôn giáo trên lập trường duyvật lịch sử
Đứng trên lập trường duy vật lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác - Lênin đã kịch liệt phản đối những quan điểm, thái độ, hành vi cựcđoan, tấn công vào tôn giáo một cách thô bạo Xét trên nhiều phương diện thìbản thân tôn giáo cũng xuất phát từ những nguồn gốc hiện thực; vì thế khôngnên phê phán tôn giáo mà điều quan trọng và trước tiên là cần phê phán cáihiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo Việc phê phán tôn giáo không phải bằngchủ quan, duy ý chí mà cần phải làm cho con người tự mình bước ra khỏi cáithế giới ảo tưởng, để từ đó con người tư duy, hành động, xây dựng tính hiệnthực của mình với tư cách một con người vừa thoát khỏi ảo tưởng và đạt đến
Trang 18trình độ tư duy, hành động có lý trí; để con người vận động xung quanh bản thânmình, nghĩa là vận động xung quanh cái mặt trời thật sự của mình chứ khôngphải mặt trời ảo tưởng của tôn giáo Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, tôngiáo chỉ thật sự mất đi khi con người ta tự nhận thức được về bản thân mình, từ
bỏ những ảo tưởng thần thánh để quay trở về với cuộc sống hiện thực, dũng cảmsuy nghĩ và đấu tranh cho chính cuộc sống hiện thực của mình
Trên cơ sở phê phán các nhà duy vật vô thần trước đó, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định, thật sai lầm nếu chúng ta cho rằng sẽ đánh tan được nhữngthiên kiến tôn giáo chỉ bằng tuyên truyền, giáo dục hay mệnh lệnh hành chính
-Về nguyên tắc, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nên chỉ thay đổi khi bảnthân tồn tại xã hội được thay đổi, nó chỉ được giải quyết khi bản thân hiện thựcnảy sinh tôn giáo được cải tạo Trong “Phê phán triết học pháp quyền củaHêghen”, C.Mác đã nêu rõ nguyên tắc này: “Xoá bỏ tôn giáo, coi là hạnh phúc
ảo tưởng của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân.Đòi hỏi nhân dân từ bỏ những ảo tưởng về tình cảnh của mình nghĩa là đòi hỏinhân dân từ bỏ một tình cảnh đang cần có ảo tưởng Do đó, việc phê phán tôngiáo là hình thức manh nha của sự phê phán cái biển khổ ấy, cái biển khổ màtôn giáo là vòng hào quang thần thánh” [34, tr.570] Từ đó C.Mác cho rằng:
“nhiệm vụ của lịch sử, sau khi thế giới bên kia của chân lý đã mất đi, là xác lậpchân lý của thế giới bên này… Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phêphán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phánthần học biến thành phê phán chính trị” [38, tr.15]
Vì vậy, muốn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, trước hếtcần phải tạo lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèođói, thất học…, một thế giới hiện thực không còn cần đến “sự đền bù hư ảo” củatôn giáo mà người ta có thể tìm thấy những hạnh phúc thật sự ngay trong cuộcsống, một xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh Đó là một quá trình cách mạnglâu dài, gian khổ gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Trang 19Xuất phát từ nhận thức tôn giáo là nhu cầu sinh hoạt tinh thần hoàn toànchính đáng của một bộ phận nhân dân, Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải tôntrọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không được đấu tranh vớitôn giáo (vì đó là hành động đi ngược lại nhu cầu chính đáng của nhân dân) màchỉ đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phácách mạng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc Tuyệt đối không được nóngvội, chủ quan, duy ý chí trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Khi bàn về điềunày, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Những lời tuyên chiến ầm ĩ với chủ nghĩa duytâm, những mệnh lệnh ngăn cấm tín ngưỡng, tôn giáo là những hành vi dại dột,
vô chính phủ, làm cho kẻ thù lợi dụng để kích động tình cảm tôn giáo của tín đồ,làm cho họ ngày càng gắn bó với tôn giáo, xa lánh thậm chí đi đến chống lạicông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đương nhiên, như vậy không có nghĩa làcoi nhẹ việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học, thế giới quan duy vật chotoàn dân, trong đó có những tín đồ tôn giáo, việc làm đó góp phần nâng caotrình độ kiến thức cho toàn dân”[20, tr.236]
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội, mà còn là một thiếtchế xã hội, nó biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử ở từng thời kỳ lịch sử,vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội không giống nhau Quan điểm, thái
độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn
có sự khác biệt Do đó, cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, trong nhữngđiều kiện cụ thể mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa xác định thái độ, cách ứng xửphù hợp
1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo.
Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tôn giáo là vấn đềđược Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc, thể
Trang 20hiện sự vận dụng sáng tạo cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc giải quyếtvấn đề tôn giáo gắn liền với quá trình thực hiện cách mạng dân tộc và cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Những quan điểm về tôn giáo luôn thểhiện sự nhất quán, xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng củaĐảng ta và đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Bắt đầu từ sự đổi mới tưduy, đổi mới nhận thức; tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáongày càng được thể hiện một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn theo quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Một điều có thể khẳng định là tronglịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có thời kỳ nào Đảng, Nhà nước ta lại xâydựng đựơc hệ thống quan điểm chủ trương, chính sách và pháp luật tôn giáo đầy
đủ và hoàn thiện như hiện nay Quá trình đổi mới đó được đánh dấu bắt đầu từNghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1990 Trải qua các kỳ Đại hội VIIđến Đại hội VIII, IX, X và Đại hội XI vừa qua, những quan điểm mới về tôn giáođựợc bổ sung, từng bước hoàn thiện và đi vào cuộc sống
Bước ngoặt trong sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về vấn đề tôngiáo được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị ngày
16/10/1990 "Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” Về nhận thức lý luận, Đảng ta đã nêu lên "3 luận đề" có tính đột phá về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng: Một là, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; Hai là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và Ba là, đạo đức tôn
giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới Đồng thời nêulên “3 quan điểm” đổi mới về công tác tôn giáo:
Một là, công tác tôn giáo vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín
ngưỡng của quần chúng, vừa cảnh giác kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụngtôn giáo phá hoại cách mạng
Hai là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động
quần chúng
Ba là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị
Trang 21Những tư tưởng đổi mới có tính "đột phá” nêu trên, được Đảng ta khôngngừng tìm tòi, phát triển trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo vào tình hình tôn giáo ở nước ta Trongquá trình đổi mới, tư duy lý luận của Đảng ta về vấn đề tôn giáo tiếp tục được
bổ sung, hoàn thiện trong các chỉ thị, nghị quyết tiếp theo Chỉ thị 37 của BộChính trị (2/7/1998) chỉ rõ: "Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôngiáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy" [71, tr.323] Nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) về Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc (16/7/1998), thể hiện trong quan điểm thứ 8 về “Chính sách văn hóa đối với tôn giáo", khẳng định:
"Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện trong tôn giáo” [14,
tr.67] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóaIX) cũng chỉ rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phậnnhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàndân tộc” [15, tr.48]
Từ những nhận thức mới về vấn đề tôn giáo, Đảng ta đã nêu lên nhữngquan điểm mới về công tác tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộinhư sau:
Trước hết, công tác tôn giáo vừa phải quan tâm hợp lý nhu cầu tín
ngưỡng của quần chúng, vừa phải kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôngiáo để phá hoại cách mạng Trong quan điểm này, Đảng ta nhấn mạnh đến hainội dung rất quan trọng của công tác tôn giáo Đó là chăm lo đến đời sống tôngiáo của nhân dân và đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thùđịch Trên cơ sở xác định tôn giáo là tình cảm, nhu cầu tinh thần của một bộphận nhân dân, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng
và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Mọi người được tự
Trang 22do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, "khắc phục nhận thức thiển cận đốivới tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào cóđạo” Đặc biệt, Nghị quyết 24 đã mở ra việc giải quyết, công nhận về mặt tổchức các tôn giáo nếu hội đủ các điều kiện: có đường hướng hành đạo gắn bóvới dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp và luật pháp, chuẩn bị tốt về
mặt nhân sự,… Sau khi đã được công nhận, tổ chức tôn giáo được thực hiện
đầy đủ theo Hiến chương, Điều lệ (hoặc giáo luật), như tổ chức đại hội, hộinghị, việc đào tạo, phong chức, bổ nhiệm chức sắc, xuất bản kinh sách, xây sửa
cơ sở thờ tự, quan hệ đối ngoại, Đây là quan điểm có ý nghĩa rất quan trọng
để ứng xử cụ thể đối với từng tôn giáo, một mặt tạo điều kiện cho các tôn giáohợp pháp chăm lo đời sống sinh hoạt của tín đồ, mặt khác đưa sinh hoạt tôngiáo vào khuôn khổ quản lý nhà nước, góp phần loại bỏ các tà đạo nhằm làmlành mạnh hóa sinh hoạt tôn giáo
Bên cạnh việc chăm lo đời sống mọi mặt của đồng bào các tôn giáo,phải đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chốngphá sự nghiệp cách mạng Vì vậy trong khi tôn trọng và đảm bảo quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Đảng ta chủ trương phải cảnh giác đấutranh với những hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch Hainhiệm vụ này có mối quan hệ gắn bó hữu cơ mật thiết với nhau
Thứ hai, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng Đây là quan điểm thể hiện tư duy lý luận sâu sắc của Đảng ta về công tácquần chúng nói chung, công tác tôn giáo nói riêng Khi nói nội dung cốt lõi củacông tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, Đảng ta muốn nhấn mạnhđến bản chất và vai trò quyết định của công tác vận động quần chúng trong côngtác tôn giáo Suy cho cùng, công tác vận động quần chúng có đạo là công tác đối
với con người, đó là những con người – công dân - tín đồ Họ là một đối tượng
quần chúng đặc thù, có điểm giống, nhưng cũng có điểm khác với các đối tượngquần chúng khác Trong họ, quyền lợi và nghĩa vụ song trùng giữa con người
Trang 23công dân có quyền lợi, nghĩa vụ với Tổ quốc và con người tín đồ có quyền lợi,bổn phận với đạo, với giáo hội của mình Bởi vậy, công tác vận động quầnchúng có đạo không đơn thuần chỉ là công tác tuyên truyền giáo dục mà còn làcông tác tập hợp tín đồ các tôn giáo trong các đoàn thể quần chúng Công tácvận động quần chúng còn là "tăng cường công tác giáo dục, y tế văn hóa, khoahọc, kỹ thuật, nâng cao dân trí, nhất là ở những vùng đông đồng bào có đạo",tức là phải chăm lo việc ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, y tế, hưởng thụ văn hóa,
để nâng cao đời sống dân sinh, trình độ dân trí cho quần chúng Về khía cạnhtôn giáo, công tác vận động quần chúng có đạo phải thực hiện tốt chính sách tôntrọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chứ không phải là tuyêntruyền thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng để "giải phóng" quầnchúng khỏi "đám mây mù” tôn giáo Làm được điều đó cũng chính là đã tạođiều kiện để đồng bào có đạo tích cực tham gia xây dựng cuộc sống "tốt đời,đẹp đạo", góp phần cùng toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu: "dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"
Thứ ba, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống
chính trị do Đảng lãnh đạo Toàn bộ hệ thống chính trị tham gia làm công táctôn giáo, nhưng mỗi ngành tuỳ theo chức năng có những nhiệm vụ cụ thể.Đồng thời, các cấp chính quyền còn phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinhthần của tín đồ các tôn giáo bằng các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội và đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng tôn giáo nhằm làm lành mạnhhóa các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền,vận động quần chúng, đưa quần chúng tín đồ các tôn giáo theo từng giới, từnglứa tuổi tham gia các đoàn thể chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội và cácđoàn thể nghề nghiệp khác
Thứ tư, việc theo đạo, truyền đạo và hoạt động tôn giáo (sinh hoạt, truyền
đạo và quản đạo) phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật Đây là quan điểm có vịtrí đặc biệt quan trọng phản ánh rõ đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở
Trang 24nước ta ngày càng được mở rộng cùng với quá trình đổi mới, dân chủ hóa đờisống xã hội Nhưng đồng thời cũng xuất hiện những vấn đế phức tạp trong đờisống sinh hoạt tôn giáo cần được chấn chỉnh Cùng với việc khẳng định quyền
tự do hoạt động tôn giáo của tín đồ và các tổ chức tôn giáo hợp pháp, cầnnghiêm cấm các tổ chức, cá nhân chưa được nhà nước thừa nhận tư cách phápnhân truyền đạo, nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để tuyên truyền
tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi cá nhân hay ép buộc người khác theođạo Điều đó không chỉ bảo đảm cho hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ phápluật, giữ vững tình hình chính trị - xã hội mà còn bảo vệ các tôn giáo chân chính,làm lành mạnh hoá môi trường sinh hoạt tôn giáo theo nhu cầu, nguyện vọngchính đáng của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo
Có thể nói, những quan điểm đổi mới nêu trên đã từng bước được thểchế hóa bằng chính sách, pháp luật của nhà nước, như Nghị định 69/HĐBTnăm 1991 của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ); Nghị định 26
CP năm 1999 của Chính phủ, đặc biệt Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo củaUBTV Quốc hội (2004); Chỉ thị số 01 (năm 2005) của Thủ tướng Chính phủ
về một số công tác đối với đạo Tin lành Đó là những văn bản tạo cơ sở pháp
lý quan trọng nhằm giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Những năm gần đây, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã có những thay đổi quantrọng trong nhận thức về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, đưa ra nhiềuchủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp
-Quan điểm đổi mới về giải quyết vấn đề tôn giáo cũng được Đảng ta thểhiện lần lượt trong nhiều văn kiện của các kỳ Đại hội và được cụ thể hoá bằngcác nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, như Nghị quyết số 24/NQ-TW (ngày16/10/1990) của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hìnhmới… Chỉ thị số 37 CT-TW (ngày 2/7/1998) của Bộ Chính trị về công tác tôngiáo trong tình hình mới… Ngoài ra, còn có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của
Trang 25Đảng về các mặt công tác đối với tôn giáo nói chung và từng tôn giáo nói riêngtrong từng thời kỳ Đặc biệt, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ươngkhóa IX đã ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TW (ngày 12/3/2003) về công táctôn giáo Những quan điểm của Đảng ta về công tác tôn giáo được cụ thể hoátrong Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH 11 ra ngày18/6/2004 quy định về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Chính phủ cũng đãban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP (ngày 01/03/2005) hướng dẫn thi hànhmột số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Thủ tướng Chính phủ đã banhành chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 “Về nhà, đất liên quan đến tôngiáo” và nhiều văn bản hướng dẫn của Nhà nước và các bộ, ban, ngành liênquan, tiếp tục khẳng định rõ “công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáotheo hoặc không theo một tôn giáo nào” Các chính sách, pháp luật đã thể hiện
sự quan tâm đặc biệt, sâu sắc của Đảng, Nhà nước Việt Nam đến nhu cầu tínngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, làm cho quần chúng nhân dân, tín đồ
và các chức sắc tôn giáo yên tâm, phấn khởi tích cực thực hiện tốt cả “việcđạo, việc đời”, tin tưởng vào chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, lao độngsản xuất phát triển tín đồ và các chức sắc tôn giáo yên tâm, tin tưởng vào chínhsách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, tích cực tham giacác phong trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội,đấu tranh ngăn chặn những hoạt động lợi dụng tôn giáo góp phần bảo đảm anninh chính trị, ổn định đời sống tư tưởng, trật tự và an toàn xã hội
Tất cả các chỉ thị, nghị quyết, pháp lệnh nêu trên đều thể hiện nhất quánmột số quan điểm và chính sách sau đây:
- Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhândân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta Thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theomột tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật
Trang 26Các tôn giáo hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳngtrước pháp luật
- Hai là, thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, khôngphân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Trong Báo cáo chính trị của BanChấp hành Trung ương khoá VI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,Đảng ta khảng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhândân, Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tínngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa cácdân tộc Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồngbào có đạo, chống những hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng”[13, tr.78] Quanđiểm của Đảng nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tínngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đểhoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước,kích động, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
- Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động quần chúng.Công tác vận động quần chúng phải động viên được đồng bào nêu cao tinh thầnyêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiệntốt các chính sách kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo lợi ích vật chất
và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo
- Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị doĐảng lãnh đạo, trong đó, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo làlực lượng nòng cốt
- Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo Mọi tín đồ có quyền tự do hànhđạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật Việctheo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủHiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tà đạo,hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo Nghiêm
Trang 27cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và cách thức truyền đạo tráiphép, vi phạm các quy định của pháp luật
- Sáu là, về chính sách thực tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tổ chứctriển khai nhiều chương trình, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội,đầu tư các yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hóa, nâng cao các giá trị mớitrong đời sống văn hóa, tinh thần ở các vùng miền núi; đảm bảo an ninh quốcphòng tại các vùng tại các vùng đồng bào các tôn giáo, nâng cao đời sống vậtchất tinh thần cho đồng bào có đạo
Bên cạnh những vấn đề đã được khẳng định, Đại hội lần thứ XI của Đảngchỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, động viên các tổchức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cựccho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm và tạo điều kiện cho các
tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đãđược nhà nước thừa nhận, đúng quy định của pháp luật Đồng thời chủ độngphòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” [16, tr.245]
Tại Đại hội XI, vấn đề tôn giáo tiếp tục được đề cập ở hai văn kiện quantrọng, đó là: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) và Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI Cương lĩnh ghi: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [16, tr.81] Còn trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho
Trang 28công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã đựơc Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc” [16, tr.245]
Như vậy, về tôn giáo và công tác tôn giáo, các văn kiện Đại hội XI đãnêu lên một số quan điểm cơ bản sau:
Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và khôngtín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật
Hai là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vilợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kếtdân tộc
Ba là, tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp củacác tôn giáo
Bốn là, động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹpđạo, tham gia đóng góp tích cực cho cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Năm là, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinhhoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã đựơc Nhà nướccông nhận, đúng quy định của pháp luật
Sáu là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáophù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước
Như vậy có thể thấy, quan điểm của Đảng ta về tôn giáo là rõ ràng, thựchiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng, đảm bảo quyền tự do, dân chủ.Trong khi đó, hiện nay, có những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước vẫncho rằng ở Việt Nam người dân không có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Từ
đó, chúng dùng nhiều thủ đoạn để kích động đồng bào có đạo gây rối, chốngphá cách mạng, rơi vào âm mưu “diễn biến hoà bình” vô cùng thâm độc củachúng Đó là những luận điệu sai lầm, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng,
Trang 29Nhà nước ta cũng như xuyên tạc tình hình tôn giáo và các hoạt động tôn giáo ởnước ta hiện nay mà chúng ta cần kiên quyết bác bỏ Đồng thời, cần phải đưachính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước hướng vào việcgóp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo Trong giai đoạncách mạng hiện nay, đồng bào các tôn giáo là một trong những lực lượng
hưởng ứng rất sớm các phong trào thi đua yêu nước, các tổ chức, cá nhân tôn
giáo đã tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, thông qua việc thăm vàtặng quà cho các hộ nghèo nhân dịp lễ, tết…xây dựng nhà tình thương, khám,chữa bệnh từ thiện, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo Những nghĩa cử caođẹp ấy của những hoạt động tôn giáo thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc phátphát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫnnhau…của con người Việt Nam được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử
Từ những quan điểm nhìn nhận mới đó cho thấy Đảng ta không chỉ bóhẹp tôn giáo trong khuôn khổ của tư tưởng triết học và chính trị mà đa diệnhơn đúng với sự tồn tại và phản ánh của nó Đây là một vấn đề có tầm quantrọng đặc biệt, thể hiện tầm sâu trong tư duy nhận thức lý luận của Đảng ta vềvấn đề tôn giáo Điều đó đã khẳng định rõ quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về sự tôn trọng nhu cầu đời sống tâm linh của nhân dân, một nhu cầuđích thực chính đáng của quần chúng có đạo, thể hiện sự quan tâm và bảo đảmcho những lợi ích thiết thực nhất của đồng bào các tôn giáo Việc tôn trọng,đảm bảo và thỏa mãn nhu cầu đời sống tín ngưỡng lành mạnh, chính đáng của
họ cũng giống như việc bảo đảm các quyền lợi khác của con người như ăn, ở,mặc, bảo vệ sức khỏe, tự do, nhân quyền, dân chủ v.v
Tóm lại, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dân chủ hóađời sống xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng từng bước xây dựng hoàn thiệnchính sách đổi mới về công tác tôn giáo theo quan điểm thống nhất giữa lýluận và thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho công tác tôn giáo cũng như phù hợpvới tình hình thực tế cũng như tạo điều kiện cho các tôn giáo tích cực tham gia
Trang 30vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,góp phần vào sự ổn định và phát triển đất nước trong điều kiện mới
Những kết quả trong thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng,Nhà nước là thực tiễn sinh động khẳng định đường lối đổi mới của đất nước,của Đảng đã đi vào cuộc sống, phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổquốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu mạnh
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự thể hiện quá trìnhlĩnh hội đầy đủ, sâu sắc thực chất quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác –Lênin về tôn giáo, và vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào thực tiễn cách mạngViệt Nam; nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Qua đó tiếp tục bổ sung vào kho tàng lý luậncủa chủ nghĩa Mác – Lênin
Toàn bộ quan điểm về vấn đề tôn giáo của Hồ Chí Minh được xây dựngtrên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm lịch sử văn hóa Việt Nam - một quốc gia đadân tộc, đa tôn giáo, các tín ngưỡng, tôn giáo có lịch sử hình thành, phát triển
và có những đặc điểm riêng, nhưng lại tồn tại trong xã hội Việt Nam với xuhướng hòa đồng, tồn tại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau
Tự do tín ngưỡng và đại đoàn kết dân tộc là những nguyên tắc cơ bảncủa tư tưởng Hồ Chí Minh khi giải quyết vấn đề tôn giáo Quan điểm nhấtquán của Người thể hiện qua một số điểm cơ bản sau:
Tự do tín ngưỡng tôn giáo Trong các văn bản quan trọng cũng như sắc
lệnh mà Người trực tiếp soạn thảo và tuyên bố, Hồ Chí Minh luôn khẳng định
tư tưởng nhất quán lâu dài, trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Hồ Chí Minh không chỉ nêu lênnhững quan điểm của mình mà còn giáo dục cán bộ, Đảng viên cũng như đồngbào lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của quần chúng nhândân Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện bằng văn bản, lời nói mà cả trên hànhđộng thực tiễn của Người
Trang 31Là một nhà cách mạng - một nhà văn hóa lớn đồng thời cũng là ngườicộng sản chân chính theo chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính
là mẫu mực của sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tínngưỡng; sinh thời Hồ Chí Minh không bao giờ phản đối, bài xích các tôn giáo.Người luôn luôn tỏ thái độ tôn trọng và đề cao vai trò của các tôn giáo, không
có sự phân biệt đối xử giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, giữa người có đạo
và người không có đạo Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, khôngphân biệt tín ngưỡng tôn giáo là tư tưởng nhất quán và trở thành chính sách lớncủa Người
Với thái độ tôn trọng các tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn dành sự trân trọngkhông chỉ đối với đức tin của tín đồ mà ngay cả đối với các tín đồ, chức sắc.Ngay sau ngày giành độc lập, Người đã đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tínngưỡng tự do - lương giáo đoàn kết Trong buổi ra mắt Đảng Lao động ViệtNam (1951) Người một lần nữa đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng củanhân dân, phê phán nghiêm khắc những thái độ, hành vi xâm phạm, hoặc làmphương hại đến quyền tự do chính đáng đó của nhân dân Cuối năm 1946, Chủtịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến Pháp, chương II, mục
B của Hiến pháp khẳng định: mọi công dân Việt Nam có các quyền, trong đó
có quyền tự do tín ngưỡng Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện viphạm tự do tín ngưỡng và đã ban hành 12 điều răn để dặn dò cán bộ “khôngnên xúc phạm đến tín ngưỡng, phong tục tập quán của nhân dân” và đưa ramệnh lệnh “Bảo vệ đền thờ, nhà chùa chính quyền, quân đội và đoàn thể phảitôn trọng tín ngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào” Sắc lệnh về vấn đềtôn giáo ngày 14/06/1955 do Người ký, ở điều I, chương I cũng ghi rõ: Chínhphủ phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do thờ cúng của nhândân Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy Mỗi người dân Việt Namđều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các nhà tu hành được tự
do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường
Trang 32giáo lý ) Theo Hồ Chí Minh, quyền tự do tôn giáo phải được khẳng định vềmặt pháp lý, được đảm bảo trên thực tế Cả hệ thống chính trị, trong đó Đảng
và Nhà nước là nhân tố có vai trò quan trọng nhất trong việc đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng
Đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc Chủ tịch Hồ Chí
Minh xem đoàn kết dân tộc (bao hàm cả đoàn kết lương – giáo) là nhân tố thànhcông của cách mạng Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào lương hay giáo đều
là người Việt Nam, sống trên lãnh thổ Việt Nam, đều là người lao động; và sựnghiệp cách mạng là sự nghiệp lớn, sự nghiệp chung của cả dân tộc Việt Nam.Chính vì vậy, Người luôn nhất quán quan điểm lương – giáo đoàn kết, toàn dânđoàn kết, cả nước một lòng nhất định cách mạng sẽ đi đến thắng lợi Tư tưởngnày đã thể hiện ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày03/9/1945, Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽđồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ tatuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” [11, tr.3]
Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc theo Hồ Chí Minh phảihướng đến mục tiêu chung, phục vụ cho mẫu số chung là chiến lược đại đoànkết dân tộc Người cho rằng giữa niềm tin tôn giáo và lòng yêu dân tộc khôngloại trừ nhau, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không có gì là mâu thuẫn
Đoàn kết tôn giáo theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phảithực hiện chính sách dân tộc, chính sách xã hội vì con người Đảm bảo cho conngười có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cánhân Chính sách tôn giáo phải là bộ phận của chính sách xã hội, phát huy sứcmạnh của nhân tố con người và vì con người mà ở đây là những công dân cótín ngưỡng, tôn giáo
Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong khối đoàn kết dân tộc, kể
cả đoàn kết tôn giáo, nhưng không phải đoàn kết với bất kỳ điều kiện nào màcần phải phân biệt rõ để đấu tranh với hòa hợp, phân biệt tín đồ tu hành chân
Trang 33chính với những kẻ giả danh tôn giáo, làm vẫn đục cái “thiêng liêng” hoặc biếntôn giáo thành công cụ để thực hiện ý đồ chính trị không tốt và phải đấu tranhthẳng thắn, cương quyết với âm mưu, thủ đoạn ấy Người nói: “Chúng ta phảitạo ra lực lượng tiến bộ trong các tôn giáo, đồng thời chống lại các hoạt độnglợi dụng tôn giáo chúng ta phải làm cho giáo hội Việt Nam ngày càng tiến
bộ hơn, có tinh thần dân tộc, yêu nước, yêu hòa bình và đoàn kết dân tộc hơn”
Trên cơ sở lập trường duy vật triệt để, Hồ Chí Minh đã có một tầm nhìnkhá bao quát và rộng rãi Điều đó đã đưa Người vượt qua thành kiến hẹp hòiđối với tôn giáo, thực hiện thắng lợi chiến lược đoàn kết toàn dân, góp phầnđưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng Qua tư tưởng đoàn kết tôn giáo của
Hồ Chí Minh, chúng ta thấy nỗi lên quan điểm là bỏ qua những dị biệt nhỏ đểlấy cái tương đồng lớn Đó là vượt qua những khác biệt về đức tin, về lốisống để giữ lấy tình đoàn kết dân tộc, giữ lấy mục tiêu độc lập, đem lại sự tự
do, hạnh phúc cho con người
Kiên quyết chống lại những biểu hiện lợi dụng tôn giáo Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn coi công tác vận động đối với các chức sắc tôn giáo và đồng
bào tôn giáo Người luôn biểu lộ sự tôn trọng, quan tâm đối với các chức sắc
tôn giáo và tìm cách tốt nhất để tranh thủ họ; song cũng có thái độ xử sự dứtkhoát, kiên quyết trừng trị những kẻ mượn tiếng đạo, làm nhục Chúa, làm hạidân Đối với kẻ lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bàochống lại Tổ quốc, Người chỉ rõ: "Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp,cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cựckhổ về phần xác cũng như phần hồn"
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc lợi dụng và sử dụng tôn giáo vào cácmục đích mưu đồ chính trị không đúng hay những mục đích khác ngoài tôngiáo là những hành động làm phá vỡ đi giá trị của các tôn giáo, đi ngược lạinhững gì mà giáo lý đề ra đối với việc tu hành và thực hành đạo của tín đồ.Mặt khác nó làm cho những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của tôn giáo,của dân tộc ngày càng khủng hoảng, đi ngược lại mục đích chung của cả dân
Trang 34tộc trong việc xây dựng những giá trị hạnh phúc cho con người Do đó, đòi hỏicông tác tôn giáo phải đảm bảo làm sao vừa đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡngchính đáng của nhân dân, vừa phải thận trọng, kiên quyết đấu tranh loại bỏnhững xu hướng, những biểu hiện lợi dụng tôn giáo để chống lại sự nghiệpcách mạng chung của cả dân tộc; hướng đồng bào theo đạo thực hành phươngchân sống “tốt đời – đẹp đạo”, “phụng sự chúa – phụng sự tổ quốc”, “đạo phápdân tộc và chủ nghĩa xã hội” đem tất cả những giá trị tốt đẹp của tôn giáo vàomục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam giàu mạnh
1.3 Vài nét về tôn giáo và đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay.
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, quá trình ra đời, tồn tại và pháttriển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xãhội, đến tâm lý, đạo đức, phong tục tập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia
Ở Việt Nam, tôn giáo cũng có một quá trình ra đời và phát triển từ rất sớm vàtồn tại cho đến ngày nay Với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, văn hóa, xãhội và truyền thống có thể khái quát về tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiệnnay qua bốn đặc điểm sau:
Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, đa dạng về hình thức tín ngưỡng, nhưng không có tôn giáo chủ đạo
Nước ta là nơi giao lưu của nhiều luồng văn hóa trên thế giới, lại chịuảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, dân tộcViệt Nam do nhiều tộc người hợp lại, mỗi tộc người có một tôn giáo riêng.Quá trình hợp lại đó không thể không có sự hòa trộn về tôn giáo Tâm thức củangười Việt Nam là tâm thức thiên về phiếm thần, coi tất cả những cái vô hìnhnào đó mà họ không giải thích được đều là thần Nhưng do điều kiện tự nhiên
và tín ngưỡng cổ truyền, họ chủ yếu thờ Nhiên thần và Nhân thần Vì vậy, cóthể giải thích cho câu hỏi vì sao ở nước ta có nhiều tôn giáo và nhân dân dễchấp nhận đi theo tín ngưỡng, tôn giáo với số lượng đông đảo như vậy
Trang 35Từ những hình thức tôn giáo sơ khai đến hiện đại, từ tôn giáo phươngĐông cổ đại đến tôn giáo phương Tây cận hiện đại, từ tôn giáo thế giới, khuvực cho đến tôn giáo dân tộc, từ tôn giáo du nhập từ đầu công nguyên đến tôngiáo mới nội sinh vào đầu thế kỷ XX, từ tôn giáo có hàng triệu tín đồ đếnnhững tôn giáo có số lượng tín đồ không đáng kể đã cùng nhau tồn tại bêncạnh tín ngưỡng dân gian bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc muôn màu muôn
vẽ Có thể khẳng định rằng: ở Việt Nam hầu như có tất cả các hình thức tôngiáo từ Tôtem giáo, Ma thuật giáo, Vật linh giáo, Saman giáo đến các tôn giáo
có tổ chức – Việt Nam gần như là một bảo tàng tôn giáo Tính đến nay, tín đồcủa các tôn giáo ở nước ta chiếm khoảng 31% dân số toàn quốc Sự hìnhthành, tồn tại và phát triển của các tôn giáo, sự kế thừa, bảo lưu, ảnh hưởng tácđộng lẫn nhau đã trở thành xu hướng chung và cũng có thể coi là một qui luậtđiển hình về tôn giáo ở Việt Nam Lịch sử Việt Nam đã chứng minh các tôngiáo ở nước ta dù là ngoại nhập hay nội sinh, dù tồn tại lâu đời hay mới hìnhthành muốn bám rễ được trên mãnh đất Việt Nam đều phải tự chuyển hóa, tựđiều chỉnh và phải chủ động hòa nhập vào lối sống, văn hóa truyền thống củadân tộc Việt Nam, phải được khảo nghiệm qua lịch sử dựng nước và giữ nướccủa dân tộc Việt Nam, tôn trọng tôn giáo truyền thống và hòa đồng với tínngưỡng bản địa Ở nước ta, vấn đề Việt Nam hóa các tôn giáo ngoại nhập vàcải biến các tôn giáo nội sinh trở thành một yếu tố văn hóa dân tộc đã diễn rahàng ngàn năm và vẫn đang diễn ra có tính qui luật Thực tế cho thấy không cómột tôn giáo nào du nhập vào Việt Nam mà không mang dấu ấn của văn hóaViệt Nam
Bản tính của người Việt Nam là cởi mở, bao dung, không hẹp hòi, kỳ thị,sẵn sàng chấp nhận dù tôn giáo gì, tín ngưỡng nào miễn là nó không vi phạm đếnlợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống dân tộc Vì vậy, đối với người ViệtNam rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo cụ thể của họ, không ít người sẵn sàngchấp nhận cả Thần, Thánh, Tiên, Phật lẫn ma quỷ, thổ công, hà bá
Trang 36Tuy giáo lý của các tôn giáo ở Việt Nam vẫn còn không ít những điềukhác biệt và lịch sử tồn tại của nó cũng không có ít mâu thuẫn, thậm chí cảhiện tượng phê phán, bài bác lẫn nhau, nhưng nhìn chung chưa có đối đầu dẫnđến chiến tranh tôn giáo Nếu có mâu thuẫn dẫn đến xung đột bước đầu thì đó
là vì lý do chính trị mà tôn giáo như là một hình thức biểu hiện Vì thế ở nước
ta cho dù Khổng giáo, Đạo giáo từ Trung Quốc lan xuống; Phật giáo từ Ấn Độtruyền sang, Thiên Chúa giáo, Tin Lành từ phương Tây nhập vào; tuy nền vănhóa xa lạ nhưng đều sống chung hòa bình với các tôn giáo nội sinh và các tínngưỡng bản địa, nước ta thật sự không có chiến tranh tôn giáo
Trên thế giới cũng có nhiều quốc gia mà ở đó có một thời tôn giáo thốngtrị hàng thế kỷ, bắt Thế quyền phải phụ thuộc vào Thần quyền, khoa học, triếthọc trở thành nô lệ của thần học Nhưng ngược lại, ở Việt Nam trong quá khứ,hiện tại chưa có bất cứ một tôn giáo nào trở thành Quốc đạo thật sự Mặc dùtrong lịch sử, có thời kỳ Phật giáo cực thịnh (Thời Đinh – Lý – Trần) đã ảnhhưởng mạnh mẽ, sâu sắc đến tư tưởng, đạo đức, văn học, kiến trúc, điêu khắc,
âm nhạc và kể cả chính trị, nhưng Phật giáo vẫn chưa thể trở thành Quốc đạo.Các triều đại phong kiến Việt Nam, trải qua các giai đoạn lịch sử cũng đã biếtchắc lọc những yếu tố thích hợp của từng tôn giáo để làm nền tảng tư tưởngcho chế độ phong kiến tập quyền, nhưng chưa bao giờ coi tôn giáo nào là Quốcđạo Thời kỳ Pháp thuộc cũng như thời kỳ Mỹ - ngụy xâm chiếm miền Nam,đạo Thiên Chúa mặc dù được ưu ái, mặc dù chính quyền phản động âm mưuđưa lên thành Quốc đạo nhưng vẫn không thể thực hiện được ý định của mình.Điều đó khẳng định rõ ràng là trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có một tôngiáo nào có thể trở thành nền tảng tư tưởng cho xã hội Việt Nam Và trong thờiđại hiện nay chỉ có chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mới duynhất trở thành nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho dân tộc Việt Nam xâydựng một nước Việt Nam độc lập, dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ,văn minh theo con đường xã hội chủ nghĩa
Trang 37Tín đồ các tôn giáo phần lớn là nhân dân lao động, tín ngưỡng không sâu sắc, thường cư trú thành từng vùng, toàn tòng Hàng ngũ chức sắc đông đảo có vai trò, vị trí quan trọng trong giáo hội, có uy tín, ảnh hưởng với tín đồ.
Về tín đồ các tôn giáo: ở nước ta, đa số các đồng bào có đạo là nhân
dân lao động Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, có 80 – 85% tín đồPhật giáo, Thiên Chúa giáo là người lao động, nông dân; của Cao Đài, HòaHảo là 95%, của Tin Lành là 65% Do đó, cũng như truyền thống của ngườidân lao động Việt Nam từ xưa đến nay, họ luôn có tinh thần yêu nước, chốnggiặc ngoại xâm, tôn trọng công lý, gắn bó với dân tộc, đi theo Đảng, theo cáchmạng, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc Cần cù lao động, chịukhó, chịu đựng gian khổ hy sinh và đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau,cùng chia sẽ khi khó khăn hoạn nạn Sống hòa đồng với những người khôngtheo tôn giáo, đoàn kết với người ngoài tôn giáo, tạo thành một truyền thốngđoàn kết lương giáo lâu đời, bền vững Đó là những đức tính quí báu, nhữngtruyền thống tốt đẹp của quần chúng tín đồ tôn giáo nước ta Những đức tính
và truyền thống quý báu đó là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các tín đồ tôngiáo ở nước ta vượt qua mọi rào cản của tín ngưỡng, tôn giáo dám đứng lênđấu tranh quyết liệt với bất cứ thế lực thù địch nào lợi dụng tôn giáo chống lạiquốc gia, dân tôc
Tín ngưỡng của tín đồ tôn giáo nước ta nhìn chung không sâu sắc Tâmlinh tôn giáo của họ mang tính thực dụng Sự hiểu biết về giáo lý tôn giáo rấthạn chế, theo đạo nhưng hiểu về đạo mà mình đang theo như thế nào rất sơlược Các hoạt động tín ngưỡng thường ngày chủ yếu là làm theo xu hướngchung của cộng đồng, của người thân và của gia đình hoặc làm theo thói quen
do lan truyền tâm lý, do rủ rê lôi kéo hoặc do o ép thành tập tục
Thực tế cho thấy, từ lâu ở nước ta đã hình thành các vùng định cư mà cưdân chủ yếu là tín đồ của một tôn giáo Nhân dân ta thường gọi những vùng
Trang 38này là vùng giáo toàn tòng Có vùng giáo toàn tòng nằm trên địa giới hànhchính của nhiều xã, huyện, thành phố, cũng có vùng giáo toàn tòng nằm gọntrong địa bàn một xã, huyện Điển hình là các vùng tôn giáo toàn tòng của đạoThiên Chúa ở miền Nam sau 1954 với chiến lược cưỡng bức di giáo dân làm
lá chắn, chính quyền miền Nam đã hình thành các vùng giáo toàn tòng như:vùng giáo toàn tòng Gia Tân 98,87%; Gia Kiệm 99,2% (tỉnh Đồng Nai); CáiSắn (tỉnh Kiên Giang)…Trong các vùng giáo, nhất là các vùng giáo toàn tòngnói chung đời sống giáo dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp vàcòn lệ thuộc chủ yếu vào các tổ chức Giáo hội ở cơ sở Hệ thống chính trị cơ
sở làm công tác tôn giáo trong các vùng giáo còn rất mỏng và chưa phát huytác dụng, chưa đủ sức lôi cuốn được quần chúng giáo dân tham gia các hoạtđộng cách mạng, các chức sắc tôn giáo, các tổ chức giáo hội cơ sở, các tổ chứchội đoàn tôn giáo ngày càng gia tăng hoạt động và chi phối hầu hết các giáodân trong vùng
Về hàng ngũ chức sắc: theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ,
hiện nay ở nước ta có khoảng gần 60.000 chức sắc, nhà tu hành và gần 200.000chức việc hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Theođánh giá của chương trình KX-07 năm 1999, có khoảng 60% đến 65% chứcsắc tôn giáo có thái độ chính trị tốt, có lòng yêu nước, gắn bó với dân tộc, hoạtđộng tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật, chấp hành tốt đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn giáo dân thực hiện nghĩa
vụ công dân, sống theo phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”
Các chức sắc, nhà tu hành chuyên nghiệp thường nắm các vị trí trọngyếu và giữ quyền lãnh đạo, điều hành các tổ chức giáo hội, giáo dục tín đồ thựchiện các nhu cầu tín ngưỡng và giải quyết các công việc hành chính của từngtôn giáo Trong đời sống tín ngưỡng, họ được tín đồ nghe, có quyền bính “thầnlinh” ban phúc hoặc giáng họa cho tín đồ Chính vì điều này, một khi các thế
Trang 39lực chính trị muốn lợi dụng tôn giáo thì vấn đề có tính quyết định là phải nắmđược tổ chức bộ máy giáo hội, nhất là nắm được các chức sắc tôn giáo, để qua
đó nắm giữ quần chúng tín đồ nhằm lôi kéo, điều khiển họ vào các mục đíchchính trị
Tôn giáo ở Việt Nam đang phát triển mạnh, nhất là trong các vùng dân tộc thiểu số.
Hiện nay ở nước ta có khoảng 1/3 dân số là tín đồ thuộc các tôn giáolớn Trước năm 1986, nói chung tín đồ của các tôn giáo gia tăng theo huynhhướng tăng dân số tự nhiên, hiện tượng tân đạo, đổi đạo xảy ra không đáng kể.Đạo Thiên Chúa phát triển ở vùng Tây Nguyên từ năm 1842, tính đến trướcnăm 1975 có khoảng 41.600 người dân tộc thiểu số theo đạo Vùng biên giớiphía Bắc đạo Thiên Chúa phát triển chậm, tính đến năm 1975 mới có 70 hộ,
500 người H’mông theo đạo Đạo Tin Lành hình thành ở Tây Nguyên từ năm
1929 đến trước năm 1975 phát triển được 36.000 tín đồ; vùng dân tộc phía Bắcđạo Tin lành hầu như phát triển không đáng kể, ngoại trừ chi hội Tin lànhngười Dao ở Bắc Sơn còn tồn tại theo sư tăng dân số tự nhiên Nhưng từ sau
1986 trở lại đây các tôn giáo tăng cường hoạt động phát triển đạo, số ngườitheo đạo ngày càng gia tăng, số tín đồ tân đạo xuất hiện ngày càng nhiều, nhất
là những vùng gần biên giới, ở vùng sâu, vùng xa và trong các vùng dân tộcthiểu số
Từ thực tiễn cho thấy rằng, các tôn giáo lớn ở nước ta không những tồntại, phát triển trong các vùng dân tộc Kinh mà còn tồn tại, phát triển mạnh mẽhơn trong các vùng dân tộc thiểu số Cộng đồng Khmer ở Việt Nam khoảng1,2 triệu sống tập trung chủ yếu ở Nam Bộ, sát biên giới Việt Nam –Campuchia chủ yếu theo Phật giáo Tiểu thừa Đạo Hồi rất thịnh hành trong cácvùng dân tộc Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, còn đạo Tin lành,đạo Thiên Chúa phát triển hầu hết khắp nơi trong các vùng dân tộc ở phía
Trang 40Nam, phía Bắc, làm cho bức tranh tôn giáo ở Việt Nam vốn đã phức tạp càngtrở nên phức tạp hơn khi vấn đề tôn giáo lại được gắn kết chặt chẽ với vấn đềdân tộc
Qua nghiên cứu cho thấy, tôn giáo đang phát triển mạnh mẽ vào cácvùng dân tộc thiểu số là do một số nguyên nhân sau:
Một là, hoạt động phát triển tôn giáo, nhất là hoạt động tôn giáo trái phéptrong vùng dân tộc thiểu số nằm trong âm mưu của các thế lực thù địch nhằm lợidụng vấn đề tôn giáo, dân tộc thực hiện diễn biến hòa bình ở Việt Nam
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, một trong những động lực chủyếu thúc đẩy các tôn giáo có những bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ trongcác vùng dân tộc thiểu số là sự hổ trợ cả về vật chất và tinh thần từ các thế lực
từ bên ngoài Liên tục qua các thời kỳ từ sau 1975 đến nay, sự xuất hiện củacác yếu tố nước ngoài trong hoạt động phát triển đạo luôn để lại những dấu ấn
rõ nét
Trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng chính trị bên ngoài luôn tìmcách phát triển đạo trái phép vào các vùng dân tộc thiểu số bằng cách lấy pháttriển tín đồ làm nền tảng cho hoạt động phát triển đạo; gắn chặt vấn đề tôn giáovới dân tộc, thay thế dần các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống; xâydựng đội ngũ truyền đạo cốt cán tăng cả về số lượng và chất lượng, tạo nênnguồn nhân lực dồi dào cho việc phát triển đạo
Hai là, thực trạng kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội trong các vùng dân tộcthiểu số còn nhiều hạn chế là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo phát triển
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sáchchiến lược nhằm phát triển các vùng dân tộc thiểu số về mọi mặt Tuy nhiên,hiệu quả thực tế chưa cao, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở còn nhiềuhạn chế, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào vẫn còn nhiều khó khăn,các giá trị văn hóa - xã hội, giá trị truyền thống bị suy đồi….đây chính lànhững yếu tố nguyên nhân cho tôn giáo phát triển