1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GHI CHÉP về các CHUYÊN đề DUY vật LỊCH sử

93 451 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ghi Chép Về Các Chuyên Đề Duy Vật Lịch Sử
Tác giả Bùi Đức Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Hồng Sơn
Trường học Trường Chính trị tỉnh Hòa Bình
Chuyên ngành Lịch sử Duy vật
Thể loại Bài ghi chép
Thành phố Hòa Bình
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ghi chép các bài giảng về các chuyên đề duy vật lịch sử

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ: LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

PGS.TS Vũ Hồng Sơn Phó Viện trưởng Viện Triết học

Đối với việc nghiên cứu lịch sử loài người đã có nhiều cách tiếp cận:

-*-Gi.V.Ph.Hêghen cũng đã nghiên cứu lịch sử, chia lịch sử thành ba thời đại:

Cổ đại, Phương đông; Giécmanh

Phuriê (1772 – 1837: Mông muội; Dã man; Gia trưởng; Văn minh

Moócgan: Mông muội; Gia trưởng; Văn minh

Thông sử: Đồ đá – Đồ đồng – Cối xay gió - …

A.Toffler: Tiếp cận theo nền văn minh: Nông nghiệp – Công nghiệp – Hậu công nghiệp Cách tiếp cận này chỉ nhấn mạnh đến yếu tố khoa học, kỹ thuật, chưa chú ý đến sự khác nhau về con người, về xã hội… Nhiều quan điểm cho cách tiếp cận này là tiến bộ, cao hơn cách tiếp cận theo hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác… đặc biệt là sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ

Một vấn đề nữa, theo tinh thần Nghị quyết của Đại hội VIII, IX, X, XI… con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ hơn = chưa rõ Vấn đề sở hữu công cộng (Những tập đoàn nhà nước) còn nhiều vấn đề phải bàn rõ hơn Đặc biệt vấn đề công hữu hiện nay gần như “vô chủ”

NB: Doanh nghiệp nhà nước không đồng nhất với công hữu = chưa hẳn… Doanh nghiệp nào Nhà nước nắm từ 51% đã được coi là doanh nghiệp nhà nước

Tóm lại, lý luận hình thái kinh tế - xã hội cần phải được nghiên cứu một cách có hệ thống và trên cơ sở khoa học thực sự…

I SẢN XUẤT VẬT CHẤT LÀ CƠ SỞ CỦA SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

Sản xuất vật chất là gì? Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người

Lao động: Chính là quá trình trao đổi giữa con người với tự nhiên… (C.Mác)

2

Trang 3

Phân biệt sản xuất vật chất với sản xuất xã hội: Sản xuất xã hội là phạm trù bao gồm: sản xuất vật chất; sản xuất trí tuệ (sản xuất tinh thần); sản xuất ra con người.

C.Mác cho: sản xuất vật chất là cơ sở nảy sinh, tồn tại và phát triển của con người:

1) Làm cho quá trình tiến hóa từ vượn người thành người diễn ra

2) Chính sản xuất vật chất là nguồn gốc của mọi của cải vật chất

3) Sản xuất vật chất không chỉ là cơ sở của đời sống vật chất mà còn là

cơ sở của mọi mặt đời sống xã hội

Hay diễn đạt một cách khác: sản xuất vật chất là nguyên nhân; còn kết quả là

sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Khi nói đến sự nảy sinh, tồn tại và phát triển của xã hội loài người, thực chất

là nói đến lịch sử loài người => Nghiên cứu lịch sử loài người cần trước tiên phải nghiên cứu lịch sử sản xuất vật chất

II BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

Vẫn còn tranh luận: có phải là quy luật hay không phải là quy luật?

Đa số nhất trí đây là nội dung của quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất”

1 Các khái niệm

1.1 Phương thức sản xuất

- Định nghĩa: Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để sản xuất ra của cải vật chất trong từng giai đoạn lịch sử nhất định mà theo cách ấy thì con người có những mối quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau trong sản xuất vật chất

- Kết cấu: Phương thức sản xuất được kết cấu bởi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1.2 Lực lượng sản xuất

- Định nghĩa:

Trang 4

Có những mệnh đề: Lực lượng sản xuất là thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên…

Định nghĩa được các nhà nghiên cứu Liên Xô trong thời kỳ giúp chúng ta

tiếp cận di sản kinh điển: Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất mà trước hết là với công cụ lao động

- Kết cấu của lực lượng sản xuất: Người lao động và Tư liệu sản xuất

+ Người lao động phải gồm đầy đủ những đặc trưng: 1) Có tri thức kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo lao động (trí lực); 2) Phải có sức lao động (thể lực) Đây

là hai yếu tố cần và đủ của “Người lao động”

Trong đó, tùy từng điều kiện lịch sử cụ thể thì hai yếu tố này giữ vai trò khác nhau: Khi còn ở giai đoạn lao động thủ công thì thể lực giữ vai trò quan trọng; Trong giai đoạn lao động máy móc, lao động trí óc chiếm ưu thế: yếu tố trí lực chiếm ưu thế

+ Tư liệu sản xuất: Công cụ lao động; đối tượng lao động; phương tiện sản xuất (kết cấu hạ tầng của sản xuất)

Công cụ lao động: là vật, tổ hợp lao động mà con người dùng để chuyển tác động của người lao động đến đối tượng lao động

Đối tượng lao động: Là tất cả những cái mà lao động của con người hướng đến nó cải tạo nó, biến đổi nó, tái tạo nó Gồm hai loại: có sẵn và loại đã qua chế biến (sơ chế)… Đối tượng ngày càng mở rộng cùng với sự phát triển của khoa học, công cụ lao động…

Phương tiện lao động: bao gồm đường xá, bến bãi, kho tàng… trước kia được coi là phương tiện chuyển dịch giá trị hàng hóa Ngày nay được coi là yếu tố góp phần tạo nên giá trị mới của hàng hóa…

- Khoa học: Ngày nay không chỉ là khoa học tự nhiên, mà cả khoa học xã hội trong chừng mực nhất định đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Vì:

+ Ngày nay khoa học đã trở thành điểm xuất phát trực tiếp của những biến đổi to lớn về kỹ thuật tạo nên những ngành sản xuất mới ngày càng hiện đại Tức

là, khoa học ngày nay không tách rời kỹ thuật

4

Trang 5

+ Ngày nay, thời gian để áp dụng những phát minh khoa học vào sản xuất ngày càng được rút ngắn Tức là, ngày nay để chuyển khoa học thành kỹ thuật rất ngắn

+ Ngày nay khoa học đã kết tinh, thẩm thấu vào các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất và làm biến đổi về chất tất cả những yếu tố ấy Tức là, khoa học đã không đứng ngoài lực lượng sản xuất…

+ Ngày nay khoa học không còn đứng ở trên cao và bên ngoài lực lượng sản xuất mà đã là mắt khâu bên trong của lực lượng sản xuất, nó liên kết thống nhất các yếu tố của lực lượng sản xuất lại với nhau, nâng sức mạnh và hiệu quả của chúng lên

+ Nền sản xuất mang tính xã hội hóa trong phạm vi một quốc gia dân tộc sẽ trở nên mang tính chất quốc tế hóa do yếu tố phát triển khoa học đem lại

+ Khoa học đã tạo nên những kỹ thuật mới với năng suất lao động cao, có thể tạo ra một khối lượng của cải khổng lồ trong một thời gian ngắn với chất lượng cao

+ Khoa học đã góp phần rút ngắn con đường phát triển của lực lượng sản xuất bằng cách rút ngắn quy trình công nghệ

+ Khoa học đã góp làm biến đổi người lao động, chuyển từ lao động cơ bắp sang lao động trí lực Khoa học phát triển thâm nhập vào người lao động làm cho hiệu quả lao động tăng lên nhanh chóng

Tóm lại, khi nói đến lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố như trên, có thể thấy, yếu tố khoa học đã thâm nhập trực tiếp vào các yếu tố của lực lượng sản xuất góp phần làm cho lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng

- Vị trí của các yếu tố:

+ Trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vị trí hàng đầu trong lực lượng sản xuất Vì họ không chỉ là người sáng tạo ra hầu hết mọi tư liệu sản xuất mà còn là người trực tiếp sử dụng chúng để tạo ra của cải vật chất cho xã hội

+ Công cụ lao động giữ vị trí quyết định trong tư liệu sản xuất vì:

1) Công cụ lao động là “khí quan vật chất” nối dài “khí quan nhục thể” của con người, nâng sức mạnh và hiệu quả của nó lên

Trang 6

2) Nói lên thực chất của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, đó là quan hệ “nhìn ngắm” mà là quan hệ “chiếm hữu”, chinh phục và cải tạo, chế ngự

3) Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong tư liệu sản xuất Sự biến đổi của nó sẽ dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trong toàn

bộ tư liệu sản xuất

- Sự tác động lẫn nhau của các yếu tố của lực lượng sản xuất làm cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng Sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính khách quan Vì:

1) Lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm của một cá nhân mà là kết quả của sự hợp tác và phân công lao động của những người sản xuất

mà sự hợp tác và phân công lao động ấy không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ ai, nó phụ thuộc vào yêu cầu phát triển khách quan của sản xuất (C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 3, - Hệ tư tưởng Đức)

2) Mỗi một người, một thế hệ không thể tự lựa chọn lực lượng sản xuất cho mình mà kế thừa một cách tự nhiên toàn bộ lực lượng sản xuất do thế hệ trước để lại

Vì hai lý do trên, được C.Mác khái quát thành “lực lượng sản xuất là kết quả năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn ấy bị quyết định… do thế hệ trước tạo ra” Tức là, lực lượng sản xuất do con người tạo ra, nhưng điều kiện để con người tạo ra lực lượng sản xuất đó là khách quan (do các thế

hệ trước đã tạo ra) => Sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính khách quan Ngày nay trong lực lượng sản xuất, thì khoa học giữ vị trí ngày càng quan trọng

- Lực lượng sản xuất tuy do con người sáng tạo ra nhưng nó tồn tại, phát triển mang tính khách quan vì thế nó vừa có thuộc tính xã hội vừa có thuộc tính tự nhiên

+ Thuộc tính xã hội của lực lượng sản xuất là sự biến đổi, phát triển của lực lượng sản xuất chịu sự ảnh hưởng, thẩm thấu của nhãn quan chính trị của giai cấp tiêu biểu cho xã hội

6

Trang 7

+ Thuộc tính tự nhiên của lực lượng: xét đến cùng là sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính khách quan theo quy luật vốn có của nó, không phụ thuộc vào bất kỳ tư duy chính trị nào.

1.3 Quan hệ sản xuất

- Định nghĩa: Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất thể hiện ở: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất và trao đổi hoạt động với nhau; quan hệ trong phân phối sản phẩm do xã hội tạo ra

+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất Như vậy, có thể thấy khi nói đến sở hữu, mới đầu có thể thấy đó là quan hệ giữa người với vật Nhưng nghiên cứu sâu thì đó là quan hệ giữa người với người trong xã hội

Sở hữu là một tổ hợp gồm nhiều quyền: chiếm hữu, sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, mở rộng hay thu hẹp, phá hủy (tùy từng vật sở hữu), hiến tặng… (Chiếm hữu + Sử dụng + Định đoạt)

Sở hữu gồm hai bộ phận cấu thành:

1) Chủ thể: một người, một nhóm người, tập thể, nhà nước…;

2) Đối tượng: Là vật, người, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, tư liệu tiêu dùng; hiện nay còn có sở hữu kinh nghiệm, tri thức, trí tuệ…

+ Quan hệ quản lý trong quá trình sản xuất:

Quản lý là quan hệ giữa người với trong việc điều hành nền sản xuất của xã hội Theo quan điểm mácxít thì ai nắm quyền sở hữu sẽ là người chi phối quyền quản lý sản xuất

Thực tế đã chứng minh, vào thập kỷ 70 thế kỷ XX, nền kinh tế Mỹ trì trệ, nên người ta thấy cần phải thay đổi phương pháp quản lý, các chủ sở hữu đã học tập phương pháp quản lý của nước Nhật (quản lý dân chủ) Ở Mỹ đã hình thành nên nhóm chất lượng, nhóm nâng cao chất lượng quản lý Chính điều đó đã làm cho hiệu quả kinh tế tăng 20% Sau một thời gian, người công nhân nhận thấy sự tăng lên đó họ không được hưởng mà các nhà quản lý, người sở hữu được hưởng,

Trang 8

từ đó họ biểu tình, đình công => Quan điểm biến công nhân thành “đồng sở hữu”

đã lại tạo ra sự phát triển mới

K.Gan: cho sở hữu không có mục đích tự thân

Giohn Lagie: ở Mỹ xuất hiện chương trình “E sop” = chia cổ phần cho công nhân => Xuất hiện công ty cổ phần trong đó công nhân có cổ phần 80% công ty theo chương trình E Sop đều chịu sự chi phối của người nắm quyền sở hữu chi phối

+ Quan hệ phân phối sản phẩm xã hội:

Phân phối là quan hệ giữa người với người trong việc phân chia của cải do

xã hội tạo ra

- Quan hệ biện chứng giữa các mặt của quan hệ sản xuất:

+ Trong các mặt (các yếu tố) của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu là quan

hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của quan hệ sản xuất Nó quy định tính chất của quan hệ sản xuất và nó giữ vai trò quyết định đối với quan hệ quản lý, quan hệ phân phối

+ Quản lý giữ vai trò quan trọng trong quan hệ sản xuất vì nó quy định quy

mô, tốc độ, nhịp điệu phát triển của sản xuất bằng cách nó nắm những nhân tố xác định của nền sản xuất Thông qua đó nó tổ chức điều hành nền sản xuất Từ đó hình thành một hệ thống những nhân tố chi phối sự phát triển của sản xuất và ảnh hưởng đến quan hệ sở hữu cũng như phân phối

+ Phân phối do tác động bằng yếu tố lợi ích, nó có vai trò tác động rất lớn đối với sở hữu và quản lý

Như vậy, sở hữu xét đến cùng không có mục đích tự thân (không phải vì bản thân cái sở hữu ấy) mà sở hữu bao giờ cũng nhằm đạt được đến một lợi ích nào đó Nhưng để đạt được lợi ích ấy phải thông qua khâu trung gian là quản lý Quản lý nhằm đưa các yếu tố sở hữu vào trong quá trình vận động để đạt được đến một lợi ích xác định… Ngược lại, lợi ích cũng lại tác động ngược trở lại đối với sở hữu và quản lý

2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất

2.1 Các khái niệm

8

Trang 9

- Trình độ của lực lượng sản xuất: Là khái niệm dùng để chỉ năng lực, mức

độ, hiệu quả chinh phục giới tự nhiên thông qua việc sử dụng công cụ lao động nhằm cải biến giới tự nhiên tạo ra những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của

xã hội loài người

- Tính chất của lực lượng sản xuất: Là khái niệm dùng để chỉ đặc trưng xã hội của lực lượng sản xuất, nghĩa là, lực lượng sản xuất diễn ra dưới hình thức cá nhân hay diễn ra dưới hình thức những tập đoàn người nối tiếp nhau Nếu một người có thể sử dụng được nhiều công cụ lao động để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh thì khi đó lực lượng sản xuất mang tính chất cá nhân Nếu để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh mà đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều người, mà mỗi người chỉ có thể sử dụng được một bộ phận, một chi tiết của công cụ lao động thì khi đó lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa

Giữa trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất thì trình độ quyết định tính chất Nếu trình độ thủ công, tính chất của lực lượng sản xuất mang tính cá nhân Nếu trình độ của lực lượng sản xuất là cơ khí (tự động hóa) thì tính chất của lực lượng sản xuất là xã hội hóa

- Sự phù hợp của quan hệ với trình độ của lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất đem lại phương thức kết hợp có hiệu quả cao giữa người lao động với tư liệu sản xuất

2.2 Nội dung quy luật

- Lực lượng sản xuất là nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức của quá trình sản xuất (phương thức sản xuất), mà nội dung quyết định hình thức Điều đó

có nghĩa là lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất

- Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi phát triển, sự phát triển bao giờ cũng bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất Nguyên nhân sâu xa của nó bắt nguồn từ nhu cầu của con người Con người không bao giờ thỏa mãn với những cái đã có mà thường xuyên nảy sinh những nhu cầu mới cao hơn

Để đáp ứng nhu cầu ấy buộc con người phải không ngừng khám phá tự nhiên,

Trang 10

chinh phục tự nhiên qua đó làm phong phú tri thức kinh nghiệm, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo lao động Trên cơ sở ấy sáng tạo ra những công cụ sản xuất mới Quá trình đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng Lực lượng sản xuất phát triển sẽ buộc quan hệ sản xuất phải biến đổi theo phù hợp với nó.

- Khi nghiên cứu sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất, chúng ta cần chú ý:

+ Sự phù hợp này là do yêu cầu của lực lượng sản xuất đặt ra, đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất và lấy lực lượng sản xuất làm tiêu chuẩn

+ Sự phù hợp này không phải sự phù hợp chung chung, trừu tượng mà là sự phù hợp hết sức xác định C.Mác – Ph.Ăngghen: “Những giai đoạn phát triển khác nhau của sự phân công lao động xã hội, đồng thời nó quyết định những hình thức

sở hữu”

+ Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất có nghĩa

là quan hệ sản xuất tạo địa bàn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất còn là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển của lực lượng sản xuất

- Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là sự phù hợp của những mặt đối lập, thể hiện ở chỗ: Lực lượng sản xuất biến đổi, phát triển không ngừng, còn quan hệ sản xuất lại có tính ổn định tương đối (do sự chi phối của lợi ích, của thể chế, của luật pháp…) Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ trở nên không còn phù hợp với

nó nữa, quan hệ sản xuất từ chỗ là địa bàn phát triển của lực lượng sản xuất, sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt, tất yếu lực lượng sản xuất đòi hỏi phải phá vỡ quan hệ sản xuất

cũ, thay bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với nó Quan hệ sản xuất mới lại tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, rồi đến một giai đoạn nhất định mâu thuẫn giữa chúng lại trở nên gay gắt, lực lượng sản xuất mới lại đòi hỏi phải phá

vỡ quan hệ sản xuất cũ thay bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với sự phát triển của nó… Cứ như vậy, tình trạng phù hợp rồi không phù hợp rồi lại phù hợp… đan xen lẫn nhau, thay thế lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau Quá trình này diễn ra trong suốt quá trình tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan

10

Trang 11

hệ sản xuất thúc đẩy nền sản xuất vật chất cũng như xã hội phát triển không ngừng

từ phương thức sản xuất này lên phương thức sản xuất khác, từ hình thái kinh tế -

xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác ngày một cao hơn

- Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và do đó kéo theo sự phát triển của phương thức sản xuất diễn ra thông qua hoạt động của con người Trong xã hội có giai cấp sự biến đổi ấy được thực hiện thông qua cuộc đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội

3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất tuy bị quyết định bởi trình độ của lực lượng sản xuất, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối Vì nó quy định mục đích xã hội của sản xuất, quy định khuynh hướng phát triển của các nhu cầu về lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, quy định hình thức tổ chức quản lý sản xuất, quản lý xã hội Do đó có thể hình thành một hệ thống những nhân tố tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất vật chất (cũng tức là của phương thức sản xuất), vì thế nó có thể tác động trở lại lực lượng sản xuất (tức nội dung) theo hai xu hướng sau:

Thứ nhất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất

thì sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, vì nó đưa ra được phương thức kết hợp tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất, đưa ra được hình thức tổ chức quản lý, cách thức phân phối hợp lý hơn Thông qua đòn bẩy lợi ích, nó thúc đẩy người lao động hăng hái làm việc, qua đó nó thúc đẩy nền sản xuất, cũng như lực lượng sản xuất phát triển

Tiêu chuẩn xác định sự phù hợp:

1) Nền sản xuất phát triển;

2) Năng suất lao động cao;

3) Người lao động hăng hái làm việc…

Thứ hai, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản

xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất trở nên không phù hợp và kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất khi:

Trang 12

2) Năng suất lao động thấp;

3) Người lao động không hăng hái làm việc…

4 Liên hệ thực tiễn Việt Nam

4.1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất nước ta có trình độ thấp, hơn nữa lại có trình độ phát triển không đều (đa dạng trình độ: thủ công, cơ khí, nửa cơ khí) giữa các vùng, các miền,các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế

Trình độ thấp là do

1) Xuất phát điểm của của chúng ta thấp (miền Bắc là tiền tư bản chủ nghĩa, ở miền Nam là đầu tư bản chủ nghĩa)

2) Bên cạnh đó, nước ta trải qua chiến tranh kéo dài (chống Pháp, chống

Mỹ, chiến tranh Tây Nam, chiến tranh phía Bắc)

Sự phát triển không đều là do:

1) Lịch sử tự nhiên để lại: điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử của Việt Nam (chiến tranh, tư duy…)

20%; tam giác: Sài Gòn – Đồng Nai – Vũng Tàu = 49%; các vùng khác chỉ chiếm khoảng 30%), miền, ngành, lĩnh vực có lợi cho họ

3) Nước ta còn nghèo nên ngân sách không thể đầu tư trải khắp, bắt buộc phải đầu tư trọng điểm

Để thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta cần áp dụng đồng bộ những nhóm giải pháp cơ bản sau:

1) Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2) Phát huy nguồn lực con người => Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo…

12

Trang 13

3) Đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế… (Cơ sở triết học: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến) Trước đổi mới chỉ mới hội nhập với các nước

xã hội chủ nghĩa…

4) Đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật…

5) Đẩy mạnh phát triển kinh tế nhiều thành phần, dựa trên đa dạng hóa các loại hình quan hệ sản xuất nhằm tạo nên sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

NB: Công ước quốc tế về vùng lãnh thổ trên biển: sau năm mươi năm không khởi kiện, quần đảo tranh chấp sẽ thuộc chủ quyền của nước đang chiếm giữ

NB: Đại hội XI, ba đột phá lớn: 1) Nguồn nhân lực chất lượng cao (lực lượng sản xuất); 2) Kết cấu hạ tầng (lực lượng sản xuất); 3) Cải cách hành chính (kiến trúc thượng tầng)

4.2 Quan hệ sản xuất

Trước đổi mới do tư tưởng nóng vội chủ quan, duy ý chí, chúng ta đã đồng nhất việc cải tạo các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa với việc xóa bỏ chúng, thiết lập ngay nền kinh tế một thành phần, dựa trên một loại quan hệ sản xuất thuần nhất xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế hiện vật, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ Mô hình kinh tế ấy phần nào phù hợp với điều kiện chiến tranh, nhưng sau khi hòa bình lập lại chúng ta duy trì quá lâu mô hình ấy, làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng

Trước tình hình ấy Đảng và nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, từ đó dẫn đến đổi mới cơ cấu kinh tế, chuyển từ nền kinh tế một thành phần dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa thuần nhất (kinh tế xã hội chủ nghĩa) sang cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên đa dạng các loại hình sở hữu, phù hợp với trình độ vừa thấp, vừa không đều của lực lượng sản xuất Chuyển từ nền kinh tế hiện vật sang nền kinh tế hàng hóa; từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ sang nền kinh tế thị trường Nhưng trong nền kinh tế nhiều thành phần, do chủ thể của các thành phần kinh tế chạy theo những lợi ích khác nhau nên dẫn đến cuộc đấu tranh định

Trang 14

hướng gay gắt Để đưa nền kinh tế ấy phát triển theo đúng con đường xã hội chủ nghĩa thì đòi hỏi không ngừng nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước Trong quá trình ấy từng bước làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân

5 Nghiên cứu quy luật này cần chú ý

Khắc phục một số quan niệm sai lầm sau đây:

1) Hiểu sự phù hợp với sự “đồng nhất tuyệt đối” giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

2) Cho lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất tự nó sẽ được củng cố và hoàn thiện Bởi quan hệ sản xuất thay đổi còn chịu sự quy định của yếu tố chủ quan của con người

3) Khắc phục cách hiểu sai lầm trước đây cho rằng: quan hệ sản xuất có thể đi trước mở đường, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

4) Khắc phục quan niệm sai lầm cho rằng: dưới sự chủ nghĩa tư bản luôn luôn diễn ra sự không phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất; còn trong chủ nghĩa xã hội luôn luôn diễn ra sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

III BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

Về cơ bản là mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị

Khi nghiên cứu C.Mác thấy trong bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại vô vàn các mối quan hệ (dân tộc, quốc gia, …) Nhưng chung quy lại, theo C.Mác có thể quy

về hai nhóm mối quan hệ: mối quan hệ kinh tế và mối quan hệ về chính trị, tư tưởng Mối quan hệ về kinh tế C.Mác gọi là cơ sở hạ tầng; mối quan hệ về chính trị, tư tưởng là kiến trúc thượng tầng (Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, tập 13)

1 Các khái niệm

1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng

- Định nghĩa: Cơ sở hạ tầng là tổng hợp toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội ấy

14

Trang 15

- Từ “tổng hợp” trong định nghĩa được hiểu theo hai nghĩa:

1) Tổng hợp những yếu tố, những quan hệ cấu thành quan hệ sản xuất (Đây là cách xem xét xã hội đã trưởng thành);

2) Được hiểu là những quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất mầm mống (Đây là cách xem xét xã hội đang trong quá trình hình thành)

- Tính chất đặc trưng của cơ sở tầng được quyết định bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội ấy

- Phân biệt cơ sở hạ tầng và kết cấu hạ tầng cơ sở: Kết cấu hạ tầng cơ sở là phương tiện sản xuất là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Còn cơ sở hạ tầng

là nói đến quan hệ sản xuất

1.2 Kiến trúc thượng tầng

- Định nghĩa: Kiến trúc thượng tầng là tổng hợp toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật… cùng với những thể chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định

- Sức mạnh của kiến trúc thượng tầng được tập trung ở những yếu tố được vật hóa (thể chế: nhà nước, đảng phái…)

- Những hiện tượng xã hội nảy sinh từ cơ sở hạ tầng thì thuộc kiến trúc thượng tầng

- Những hiện tượng như ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, lô-gích hình thức… không nảy sinh từ cơ sở hạ tầng nên chúng không thuộc kiến trúc thượng tầng…

- Trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng không chỉ gồm những bộ phận chủ yếu là công cụ của giai cấp thống trị dùng để bảo vệ cơ sở kinh

tế của nó mà nó còn bao gồm cả những yếu tố đối lập với bộ phận đó Đó là những

tư tưởng, quan điểm, những tổ chức chính trị của giai cấp bị trị

2 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng

- Cơ sở là tổng hợp toàn bộ những quan hệ sản xuất trong xã hội, quan hệ sản xuất lại là yếu tố vật chất của xã hội Còn kiến trúc thượng tầng là yếu tố ý

Trang 16

thức tinh thần của xã hội Mà vật chất quyết định ý thức, nghĩa là cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng.

- Cơ sở hạ tầng quy định những mâu thuẫn trong kinh tế, do đó, nó quyết định tất cả những mâu thuẫn khác trong đời sống chính trị, tinh thần của xã hội

NB: Trong quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất => Mâu thuẫn kinh tế giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị (mâu thuẫn kinh tế) => Mâu thuẫn về quan điểm chính trị, tư tưởng của hai giai cấp (mâu thuẫn chính trị, tư tưởng)

- Mọi bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều có nguồn gốc, nguyên nhân từ

cơ sở hạ tầng Chẳng hạn như sự nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong của nhà nước, của pháp luật, cũng như sự biến đổi của những quan điểm chính trị, tư tưởng, triết học, đạo đức… đều có nguyên nhân từ cơ sở hạ tầng

- Cơ sở hạ tầng với tính cách là cơ cấu kinh tế của xã hội quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng Giai cấp nào thống trị trong cơ sở hạ tầng thì cũng thống trị trong kiến trúc thượng tầng

C.Mác: “trong mọi thời đại tư tưởng thống trị trong xã hội là tư tưởng của giai cấp thống trị, giai cấp nào ”

- Cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng thay đổi theo Sự biến đổi ấy không chỉ diễn ra khi hình thái kinh tế - xã hội này bị thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội khác mà còn diễn ra ngay trong nội bộ từng hình thái kinh tế - xã hội

Chú ý: Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và

kiến trúc thượng tầng diễn ra do kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt, phức tạp giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Trong sự biến đổi ấy không phải cứ cơ sở hạ tầng mới ra đời thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũ mất đi ngay tức khắc Theo quy luật phủ định biện chứng trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ nhiều khi những tàn dư của cái cũ còn tồn tại rất lâu dài Mặt khác, cũng có những yếu tố, những hình thức nào đó của kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp mới duy trì, cải tạo, sử dụng trong công cuộc xây dựng xã hội mới

3 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

16

Trang 17

Kiến trúc thượng tầng tuy bị quyết định bởi cơ sở hạ tầng, nhưng kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối, có quy luật vận động riêng của nó, có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng.

- Mọi bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều tác động trở lại cơ sở hạ tầng, trong đó, nhà nước là bộ phận tác động mạnh nhất, trực tiếp nhất Vì nhà nước là công cụ bạo lực tập trung trong tay nó toàn bộ kinh tế và chính trị của giai cấp thống trị, Ph.Ăngghen viết: “Bạo lực nghĩa là quyền lực nhà nước cũng là lực lượng kinh tế” (Tuyển tập, tập 2, trang 604)

- Kiến trúc thượng tầng trong những điều kiện nhất định có thể thay đổi trật

tự kinh tế cũ, thiết lập trật tự kinh tế mới, thay đổi cơ sở hạ tầng cũ, thiết lập cơ sở

hạ tầng mới

- Kiến trúc thượng tầng khi có lý luận khoa học dẫn đường thì nó có thể nhận thức được, nắm bắt được, khái quát được những quy luật vận động của nền kinh tế xã hội Do đó, nó có thể định hướng được cho sự phát triển của cơ sở hạ tầng Nó có thể chuẩn bị những tiền đề cần thiết về vật chất xã hội tư tưởng cho sự

ra đời của hạ tầng cơ sở mới

Để xây dựng được cơ sở hạ tầng mới hiện nay phải định hướng nó như thế nào? Nghĩa là phải xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Để làm được điều này, trước hết cần phải phát triển lực lượng sản xuất Muốn phát triển lực lượng sản xuất phải:

1) Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2) Phát huy nguồn lực con người => Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo…

3) Đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế… (Cơ sở triết học: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến) Trước đổi mới chỉ mới hội nhập với các nước

xã hội chủ nghĩa…

4) Đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật…

5) Đẩy mạnh phát triển kinh tế nhiều thành phần, dựa trên đa dạng hóa các loại hình quan hệ sản xuất nhằm tạo nên sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Trang 18

- Kiến trúc thượng tầng tuy bị quyết định bởi cơ sở hạ tầng, nhưng nó cũng

có tính độc lập tương đối Vì thế nó có thể tác động trở lại cơ sở hạ tầng theo các

4 Liên hệ với Việt Nam

- Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thực chất cũng là biện chứng giữa kinh tế và chính trị

- Vì kinh tế giữ vai trò quyết định đối với chính trị, nên công cuộc đổi mới phải được bắt đầu từ đổi mới kinh tế Nhưng chính trị cũng có tác động hết sức to lớn đối với kinh tế vì thế, cùng với đổi mới kinh tế phải tiến hành từng bước đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế là cơ sở, là nền tảng để đổi mới chính trị, còn đổi mới chính trị tạo môi trường, điều kiện và giữ vai trò định hướng đối với đổi mới kinh tế Nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, cơ sở hạ tầng của nước ta là kết cấu kinh tế đa thành phần, bên cạnh kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể còn có các thành phần kinh tế khác, kết cấu kinh tế ấy vừa làm cho nền kinh tế sống động, vừa đặt ra nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nó đòi hỏi kiến trúc thượng tầng phải đổi mới tương ứng Tuy nhiên cần chú ý, không phải đa thành phần kinh tế thì tất yếu phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập Nhưng kiến trúc thượng tầng nhất định phải được đổi mới theo hướng đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo của Đảng; đổi mới tư duy, đổi mới tư duy lý luận; đa dạng hóa các tổ chức

18

Trang 19

chính trị xã hội nhằm quy tụ sức mạnh để xây dựng xã hội mới Có đổi mới kiến trúc thượng tầng nh thế nó mới đáp ứng được yêu cầu của cơ sở hạ tầng.

IV SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI LÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ - TỰ NHIÊN

1 Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội

- Định nghĩa: Là một khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ một xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu QHSX đặc trưng cho

xã hội đó phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của LLSX và một KTTT tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy

- Kết cấu

2 Vì sao nói là quá trình lịch sử - tự nhiên

3 Quá trình lịch sử - tự nhiên không chỉ bao sự phát triển tuần tự qua các

hình thái kinh tế - xã hội mà còn bao hàm cả quá trình phát triển “rút ngắn”, “bỏ qua” một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội ở một số quốc gia nhất định (Nếu

sự bỏ qua không trái quy luật khách quan)

4 Liên hệ Việt Nam

- Nước qua đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Nội hàm “bỏ qua” phải được hiểu như thế nào?

1) Quá độ lên CNXH “bỏ qua” chế độ TBCN là phạm trù chỉ việc không trải qua một giai đoạn lịch sử, trong đó duy trì sự thống trị của QHSX

và KTTT TBCN

khách quan, nhưng để hiện thực hoá khả năng đó còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan

- Điều kiện khách quan nào cho “bỏ qua”:

1) Một là, lực lượng sản xuất của thời đại đã mang tính chất quốc tế hóa ngày càng cao, toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu khách quan

2) Hai là, chúng ta có khả năng khai thác, sử dụng thành phần kinh tế tư bản như một khâu trung gian để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 20

- Nhân tố chủ quan (điều kiện chính trị):

1) Phải có tư duy đúng đắn về sự phát triển “bỏ qua”

2) Phải phát huy vai trò nhân tố chủ quan:

 Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

 Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

 Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa …

- Giải pháp mang tính định hướng trong quá trình đổi mới:

1) Kinh tế: Đổi mới kinh tế là trọng tâm; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế…

2) Chính trị: Giữ vững sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân…

3) Văn hóa: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

4) Xã hội: Thực hiện việc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

5) Tư tưởng: Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng

-*-VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀO PHÂN

TÍCH SỰ PHÂN KỲ CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM

GS.TS Nguyễn Hùng Hậu

Theo các nhà kinh điển về đại thể xã hội loài người trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản, cộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng trải qua đầy đủ cả năm hình thái kinh tế - xã hội đó

Vấn đề đặt ra: Xã hội Việt Nam đã trải qua những hình thái kinh tế - xã hội nào? Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội có vận dụng vào để phân kỳ xã hội Việt Nam được hay không? Nghiên cứu các giai đoạn phát triển xã hội ở Việt Nam có những đặc thù gì?

Hiện nay, sự phân kỳ xã hội Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau GS Phan Huy Lê tổng kết thành 5 quan điểm:

20

Trang 21

1) Đào Duy Anh – Trương Hữu Quýnh: Việt Nam trong lịch sử trải qua hai hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy phong kiến.

2) Minh Tranh – Nguyễn Lương Bích – Văn Tân: Có ba hình thái kinh tế xã hội: cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến

3) Một số học giả nước ngoài (M.A.Tchechkov người Nga, Thomat Hodgkin), Phan Huy Lê, Hồng Phong…: Có ba hình thái xã hội: cộng sản nguyên thủy, phương thức sản xuất châu Á, phong kiến

4) Trần Quốc Vượng, Pierie Richard người Pháp, cho có hai hình thái kinh

tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, phương thức sản xuất châu Á

5) Lê Thanh Khôi: Chuyển từ cộng sản nguyên thủy chuyển lên xã hội tiền

tư bản chủ nghĩa

Điều này cho thấy việc nghiên cứu xã hội Việt Nam khá phức tạp Hơn nữa,

có thể chúng ta cũng chưa hiểu được chính chúng ta

Tóm lại, từ 700 năm tr.CN (Kinh Dương Vương 2878 tr.CN Sau đó đến Lạc Long Quân, Âu cơ…) hắt về trước hầu hết mọi người cho Việt Nam ở thời kỳ cộng sản nguyên thủy Kéo dài hàng chục vạn năm với những nền văn hóa tiền sử từ sơ

kỳ đồ đá cũ, đến sơ kỳ thời đại kim khí Từ 700 năm tr.CN cho đến thời kỳ Bắc thuộc (có thể lấy mốc từ nhà Hán 110 tr.CN – đa số, cũng có người cho tính từ Triệu Đà) Trước 110 tr.CN, trong sử sách chia làm ba giai đoạn nhỏ: 1) 700 đến

258 tr.CN là thời đại các Vua Hùng (18 đời vua Hùng…) 2) 257 – 258 tr.CN An Dương Vương; 3) 207 là thời kỳ Triệu Đà…

Từ 700 tr.CN cho đến trước thời kỳ Bắc thuộc sau khi phân tích văn hóa, xã hội, nhà nước Phan Huy Lê cho rằng rất khó quy thời kỳ này vào chế độ chiếm hữu

nô lệ hay phong kiến Ông cho rằng thời Bắc thuộc, mặc dù ta bị mất nước, nhưng chính quyền đô hộ chỉ nắm được một số hương, xã quanh các trị sở, còn khắp vùng nông thôn rộng lớn (công xã nông thôn) vẫn tự trị, vẫn là thế giới riêng của người Việt, và do đó, bản sắc văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn Hình thái kinh tế - xã hội thời kỳ này vẫn là hình thái kinh tế - xã hội trước đó với một số biến đổi nhất định

do tự thân hoặc do tác động từ bên ngoài Như vậy, theo ông từ 700 tr.CN, đến thế

kỷ X Việt Nam không thể xếp vào nô lệ hay phong kiến, ông tạm gọi là phương

Trang 22

thức sản xuất châu Á, trong lúc chưa xác lập một thuật ngữ khoa học thật chính xác Từ đó, ông cho Việt Nam không có chế độ chiếm hữu nô lệ, không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ Những tàn dư của xã hội nô lệ trong xã hội phong kiến Việt Nam không thể chứng minh được rằng nước ta trước kia đã trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ Cụ thể, các tài liệu sử học đã chứng minh, từ thế kỷ X – XV đã tồn tại lớp người nô lệ trong xã hội phong kiến Việt Nam và họ tham gia vào những công việc và được gọi bằng những tên khác nhau: nô lệ trong các gia đình vương hầu quý tộc = nô tỳ (gia nô, gia đồng, gia thuộc); trong bộ máy hành chính

nô tỳ được gọi là quan nô, chung quan khách; ngoài ra còn những người bị tội đày được gọi là “hoành” “sai sử hoành”… ngoài ra còn những người cày ruộng quốc khố, ruộng nhà chùa: điền nô, điền nông… Hiện tượng bán nô lệ cũng tương đối phổ biến… Tóm lại, nguồn cung cấp nô tỳ: tù binh, tội nhân… Đến thế kỷ XV sau chính sách hạn nô của Hồ Quý Ly, phong trào đấu tranh chống quân Minh thì chế

độ nô tỳ mới tan rã Nô tỳ: không có tư liệu sản xuất, phụ thuộc

Khác với Hy Lạp, La Mã, không để lại tàn dư nô lệ trong thời kỳ phong kiến sau đó, ở nước ta chế độ phong kiến trong một thời kỳ dài đã kết hợp phương thức sản xuất phong kiến với quan hệ bóc lột nô lệ Cuối cộng sản nguyên thủy xuất hiện chế độ nô lệ gia trưởng, chế độ này chưa phát triển thành quan hệ chi phối thì quan hệ sản xuất phong kiến đồng thời xuất hiện Theo Phan Huy Lê, dưới thời Bắc thuộc vẫn tồn tại một lớp người nô lệ nào đấy Các quan lại Trung Quốc vẫn duy trì quan hệ bóc lột nô lệ nhất định, nhưng nô lệ không phải là sức sản xuất chủ yếu, mà sức sản xuất chủ yếu là nông dân công xã (khác Hy Lạp, La Mã, khác với Trung Quốc) Khác với Trung Quốc, thời Thương – Chu, ngoài nô lệ trong nhà thì nông dân công xã bị bóc lột như nô lệ Theo đó, Phan Huy Lê cho Việt Nam không

có chế độ nô lệ Thời Bắc thuộc, xã hội Việt Nam bao gồm nhiều quan hệ phức tạp

Ví dụ: quan hệ cộng đồng nguyên thủy đang tan rã, quan hệ nô lệ tiếp tục phát triển, quan hệ phong kiến bắt đầu nảy nở… Nhưng quan hệ bóc lột nô lệ chưa lúc nào trở thành chi phối, do đó nước ta không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ

Như vậy từ 700 tr.CN đến thế kỷ X theo Phan Huy Lê là phương thức sản xuất châu Á

22

Trang 23

Cũng có ý kiến cho đây là thời kỳ chiếm hữu nô lệ.

Từ thế kỷ X – thế kỷ XV, theo Phan Huy Lê là thời kỳ hình thành, phát triển xác lập chế độ phong kiến Việt Nam Chế độ phong kiến Việt Nam không giống như ở phương Tây Năm 1135, nhà Lý ban hành quy định mua bán ruộng đất… Có

ý kiến cho đây là thời kỳ quá độ từ xã hội nô lệ sang phong kiến Cũng có ý kiến cho đây là thời kỳ quá độ từ phương thức sản xuất châu Á sang phong kiến Khuynh hướng nữa cho đây là thời kỳ phương thức sản xuất châu Á

Từ thế kỷ XV – thế kỷ XIX, hầu hết đều cho là thời kỳ phát triển, suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam

Thế kỷ XVII – XVIII: theo Phan Huy Lê, ruộng đất tư hữu đã chiếm ưu thế

rõ rệt (đặc biệt ở miền Nam), kinh tế hàng hóa phát triển, mầm mống tư bản chủ nghĩa bắt đầu nảy nở Nhưng không gây được chuyển biến gì đáng kêt trong kết cấu kinh tế - xã hội

Tóm lại, ở Việt Nam các hình thái kinh tế - xã hội trên kế tiếp nhau thay thế nhau nhưng không hoàn toàn loại trừ nhau Hình thái xã hội sau vẫn bảo tòn hình thái xã hội cũ và chỉ biến đổi dần cho phù hợp với lợi ích và sự tồn tại của hình thái xã hội mới Do đó tạo nên sự tồn tại chồng chéo, đan xen của nhiều hình thái kinh tế - xã hội thuộc nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau Mỗi thời kỳ lịch sử có một hình thái kinh tế - xã hội chiếm vị trí chủ đạo, chi phối, nhưng đồng thời bảo tồn tàn dư của hình thái cũ và mầm mống của những hình thái cũ Cấu trúc tầng bậc đó tạo nên sự phát triển bền vững, cân bằng, nhưng cũng nặng nền, lỗi thời, bảo thủ, ngăn cản sự phân công lao động xã hội, sự phân hóa xã hội

II PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á

Trang 24

CHUYÊN ĐỀ: GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP

PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt

TÀI LIỆU

1- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

2- Lời tựa Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị

3- Thư “C.Mác gửi J Vaydmayer” ngày 5/3/1852

4- Đấu tranh giai cấp ở Pháp

5- Ngày 18 tháng sương mù của L.Bôn-na-pác-tơ

6- Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh

7- Vấn đề nông dân ở Pháp, Đức

8- Chống Đuyrinh Chương I, II, III

9- Nguồn gốc gia đình chương IV

10- Lênin – Sáng kiến vĩ đại T.39

11- Gửi nông dân nghèo Tập 7 tr.109-249

12- Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết

13- Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản T.39

14- Khái niệm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa tự do và của chủ nghĩa C.Mác T 23

20- Văn kiện Đại hội Đảng, VI, IX, X, XI

21- Tạp chí Cộng Sản số 16-2002 Đấu tranh giai cấp dưới ánh sáng Đại hội Đảng IX

I PHẠM TRÙ GIAI CẤP, NGUỒN GỐC GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP

1 Nguồn gốc giai cấp

Đọc lại thông sử, thì chúng ta thấy sản xuất phát triển đến mức độ nhất định thì có thặng dư (có nghĩa là có một số người không lao động trực tiếp vẫn sống được), từ đó hình thành phân công lao động (người này làm việc này, người làm việc khác…); những người có quyền hành nhất trong công xã (bộ tộc, bộ lạc) chi phối đời sống bộ tộc, bộ lạc được cung phụng nhiều, chiếm hữu tư liệu sản xuất

24

Trang 25

ruộng đất, tài sản công xã (kể cả tù binh) và tư hữu ra đời Đây là cách phổ biến, ở phương Đông, phương Tây thể hiện cụ thể khác nhau nhưng bản chất là một.

Từ PCLĐ dẫn đến công nghiệp tách khỏi nông nghiệp

Sản xuất phát triển > SP thặng dư >PCLĐ > Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp > Chế độ Tư hữu > Giai cấp > ĐTGC > Chuyên chính vô sản > không còn giai cấp

Giai đoạn chế độ tư hữu đến xuất hiện giai cấp Có quan niệm cho rằng theo con đường thứ nhất dùng bạo lực để chiếm đoạt; còn con đường thứ hai là thuần túy kinh tế, do kinh tế phát triển nhóm này tách ra khỏi, hình thành giai cấp thống trị Trong hai con đường thì con đường thứ nhất là phổ biến

Từ đây suy ra, khả năng những người có chức quyền dễ xảy ra chiếm đoạt lao động của người khác bằng cách này cách khác thông qua quyền lực trong tay, điều này mang tính tự phát khách quan Bởi vì, quyền bính gắn liền với chiếm hữu,

có quyền bính là có chiếm hữu, quyền bính đi đôi với chiếm hữu, vì vậy người ta khao khát quyền bính để có chiếm hữu Chính vì thế trong lịch sử nhân loại người

ta nghĩ cách để kiểm soát quyền lực, đừng để cho những con người cụ thể ấy lạm dụng quyền lực

Vậy phải đặt ra cơ chế gì để ngăn chặn yếu tố tự phát khách quan này?

Xã hội ta ngày nay có sự bất bình đẳng về thu nhập ngoài lao động hết sức lớn, nếu để kéo dài một cách tự phát sẽ dẫn đến phân hóa lớn, kéo theo bất ổn định

xã hội Phân hóa này không do thuần túy kinh tế mà do chiếm hữu, từ đây hình thành phân hóa giai cấp, xung đột Làm thế nào để hạn chế sự lạm quyền?

Trang 26

với một phương thức sản xuất, với một hệ thống sản xuất nhất định (Chương IX của Tư bản; Thư “C.Mác gửi J Vaydmayer” ngày 5/3/1852)

Mác và Ăngghen chưa đưa ra được định nghĩa hoàn chỉnh về giai cấp, mới đưa ra phương pháp tiếp cận, đưa ra khẳng định đấu tranh giai cấp sẽ dẫn đến giai cấp vô sản đấu tranh giành chính quyền, đưa ra mục tiêu tiến tới xã hội không có giai cấp

Sau này V.I.Lênin kế thừa hai ông đưa ra định nghĩa về giai cấp

Nguyên văn định nghĩa trong kinh điển: “Người ta gọi là giai cấp, những

tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy

là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”1

Xét giai cấp là xét những tập đoàn người khác nhau về địa vị trong hệ thống

sản xuất nhất định

Ba yếu tố này được xem xét gắn với một phương thức sản xuất nhất định, Trong đó, mặt thứ nhất giữ vai trò quyết định Thực chất quan hệ giai cấp là quan

hệ bóc lột, là tập đoàn người này chiếm đoạt lao động của người khác

2.3 Chú ý từ việc nghiên cứu định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin

- Xét giai cấp là xét ba mặt trong sản xuất, và trong một phương thức sản xuất nhất định, gắn với một hệ thống sản xuất nhất định

Ví dụ: Xét bóc lột thì phải gắn với phương thức sản xuất, hay xét nghèo thì phải xét nó gắn với một phương thức sản xuất nhất định, gắn với điều kiện nhất định

- So quan hệ giai cấp là so quan hệ kinh tế của ngay nước đó, qua đó mới thấy được quan hệ giai cấp, quan hệ bóc lột

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1977, t.39, tr 17-18.

26

Trang 27

- Không phân chia giai cấp theo quan điểm giàu – nghèo

Trong lịch sử tư tưởng có quan niệm: Giàu đồng nhất với hành vi ác.

Nghèo đồng nhất hành vi thiện.

Hiện nay quan niệm này không còn đúng nữa, mà phải tùy vào hoàn cảnh cụ thể

- Phân biệt giai cấp với đẳng cấp:

Đẳng cấp tiêu biểu cho những tập đoàn người giữ địa vị xã hội nhất định được pháp luật thừa nhận trong nhà nước; hay nói cách khác là những tập đoàn

người khác nhau về địa vị trong xã hội được pháp luật thừa nhận trong nhà nước.

Còn giai cấp là những tập đoàn người khác nhau về địa vị trong hệ thống

sản xuất

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin giai cấp nào nắm địa vị thống trị trong kinh tế sẽ nắm quyền thống trị trong lĩnh vực tinh thần xã hội Do đó, địa vị

xã hội chỉ là hệ quả của địa vị trong hệ thống sản xuất xã hội

Còn cơ sở kinh tế thì còn giai cấp, hết cơ sở kinh tế thì không còn giai cấp

- Phân biệt giai cấp với tầng lớp: …

Tầng lớp: Giai cấp tham gia trực tiếp hệ thống sản xuất; tầng lớp không trực

tiếp tham gia hệ thống sản xuất; hoặc có chỉ là bộ phận nhỏ, chưa đủ lượng để chuyển biến về chất

(1) Vì sao tầng lớp trí thức không gọi là giai cấp?

Giai đoạn thế kỷ XIX: lao động trí óc, thầy thuốc, luật sư, nhà giáo, hoạt động nghệ thuật… = Tầng lớp trung gian

Sau này, nhiều công nhân có trình độ đại học, nhiều trí thức tham gia sản xuất => Quan niệm khác về trí thức

Không là giai cấp bởi: 1) Không giữ vị trí độc lập trong hệ thống sản xuất xã hội 2) Trừ trí thức kỹ thuật đều hoạt động ngoài phạm vi hoạt động sản xuất của cải vật chất 3) Xuất thân từ những giai cấp khác nhau và phục vụ cho những giai cấp khác nhau 4) Bộ mặt trí thức chỉ được khẳng định khi gắn với giai cấp khác và phục vụ giai cấp khác

(2) Định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin hiện nay còn đúng không?

Trang 28

- Các nước tư bản chủ yếu dựa vào sự biến đổi của giai cấp công nhân:

+ Công nhân truyền thống giảm; Công nhân kỹ thuật mới và Công nhân dịch

vụ tăng lên

+ Việc công nhân có sở hữu, cổ phần, cổ phiếu tạo ra cho giai cấp tư sản

hai cái lợi: một là, tạo cho giai cấp tư sản có nguồn vốn càng lớn thêm (huy động được thêm vốn nghỉ); hai là, tạo cho công nhân tư tưởng, tâm lý mình có sở hữu

(xí nghiệp như của mình) nên không còn đấu tranh, tạo ra sự hòa đồng

Chúng ta thấy rằng, việc có cổ phần, cổ phiếu nhưng về thực chất là chưa đủ

độ giữ địa vị “thống trị” trong hệ thống sản xuất xã hội; số lượng cổ phiếu của công nhân chỉ chiếm một phần nhỏ… Thực chất người công nhân vẫn bị bóc lột một cách tinh vi…

+ Cuộc sống của công nhân được cải thiện; do sự phát triển của sản xuất, nhà tư bản đã trích một phần lợi nhuận để nâng cao đời sống công nhân, hạn chế sự phản kháng của công nhân; tuy nhiên, sự chênh lệch về mức sống giữa tư sản và công nhân ngày càng giãn rộng

- Định nghĩa của V.I.Lênin vẫn hoàn toàn đúng đắn, vẫn là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận để các Đảng Cộng sản, trong đó có Đảng ta đề ra chiến lược, sách lược (đại đoàn kết xây dựng đất nước; đoàn kết toàn dân; đối ngoại…)

II ĐẤU TRANH GIAI CẤP

1 Các quan điểm trước Mác

- Các quan niệm thời cổ đại của Trung Quốc;

- Các quan điểm của Tômát More, Rútxô, Xanh Xi-mông – quyền sở hữu là

cơ sở của kiến trúc xã hội, ;

- Nguồn gốc sâu xa là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trực tiếp là sự đối lập nhau về mặt lợi ích không thể điều hòa được

Trang 29

thống trị, bảo thủ) là nguyên nhân sâu xa; nguyên nhân trực tiếp là mâu thuẫn về mặt lợi ích cơ bản của các giai cấp cơ bản trong xã hội có giai cấp

2.2 Định nghĩa (Lênin đưa ra trong xã hội có giai cấp đối kháng).

C.Mác đã đưa ra trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “Lịch sử tất cả

các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp

Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả

và phường hội và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau”2

V.I.Lênin định nghĩa: “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống lại một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền đặc lợi, bọn áp bức và bọn

ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”3

“một bộ phận nhân dân này” = Quần chúng nhân dân = Những người bị áp bức bóc lột, lao động, làm thuê…

Như vậy, cuộc đấu tranh giai cấp thực chất là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau V.I.Lênin có công hệ thống hóa và nhấn mạnh mặt đối lập chủ yếu trong mâu thuẫn Chính mặt này là động lực của xã hội

2 C.Mác – Ph.Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG – ST, Hà Nội, trang 596.

3 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1979, t.7, tr 237-238.

Trang 30

Nông dân với công nhân cũng có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn không cơ bản, chỉ đối lập nhau về lợi ích không cơ bản, nên không dẫn đến đấu tranh giai cấp.

Khái quát lại, không phải là hai giai cấp khác nhau là đấu tranh với nhau, mà

là hai giai cấp đối lập nhau về lợi ích không thể điều hòa được

Vậy từ đây suy ra, thực chất đấu tranh giai cấp là đấu tranh của những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không điều hòa được

2.3 Chú ý

- Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp Với nghĩa

là, đấu tranh giai cấp là nhằm thay đổi phương thức sản xuất, và từ thay đổi (đổi mới) phương thức sản xuất dẫn đến thay đổi (đổi mới) toàn bộ những quan hệ trong đời sống xã hội làm cho xã hội phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái kinh tế

- xã hội xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội cao hơn

Về động lực:

1) Nói đấu tranh giai cấp mà không dẫn đến kết quả khách quan là đổi mới phương thức sản xuất, là phát triển sản xuất thì chẳng có nghĩa gì Động lực ở đây được hiểu là “một trong những động lực”

2) Nói động lực của xã hội phát triển, thì phát triển trước hết là sản xuất phát triển, hay nói cách khác sản xuất phát triển đến đâu thì cơ sở cho xã hội phát triển đến đó

3) Hiểu động lực phải gắn với điều kiện lịch sử cụ thể Chủ nô dân chủ chống chủ nô quý tộc bị chi phối bởi cuộc đấu tranh của người nô lệ chống chủ nô, cuộc đấu tranh này không phải là động lực

- Đấu tranh giai cấp không phải là trừu tượng, mà là thông qua những hành động cụ thể của những con người cụ thể Tuy nhiên, những hành động cụ thể ấy chỉ

là đấu tranh giai cấp khi nó gắn với cái chung nhằm lật đổ giai cấp thống trị thì nó mới nằm trong phạm trù đấu tranh giai cấp

- Đấu tranh giai cấp từ thấp đến cao, trong đó đấu tranh chính trị là cao nhất.+ Đấu tranh kinh tế

+ Đấu tranh tư tưởng – chống tư tưởng tư sản, bảo vệ chủ nghĩa Mác

30

Trang 31

họ theo con đường xã hội chủ nghĩa.

3) Đấu tranh để phân hóa giai cấp tư sản và sử dụng những chuyên gia, trí thức tư sản vào xây dựng xã hội mới để chiến thắng xã hội cũ, thì nó đều nằm trong phạm trù đấu tranh giai cấp

- Chống lại quan điểm sai cho đấu tranh giai cấp là: kích động, âm mưu, đấu

đá, trả thù Đặc biệt là các nước đang phát triển, chưa phát triển thường có quan điểm cực đoan

- Trong tư tưởng của cán bộ nói chung (cả các nước xã hội chủ nghĩa) nhấn mạnh sự trả thù, lòng căm thù trong đấu tranh giai cấp mà quên, hoặc coi nhẹ mục tiêu đổi mới phương thức sản xuất

- Sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền, đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục nhưng với hình thức và nội dung mới

Như vậy có thể định nghĩa đấu tranh giai cấp sau khi giành chính quyền như sau:

Đấu tranh giai cấp đây là đấu tranh của những giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau, sự phát triển của giai cấp này là sự vi phạm lợi ích của giai cấp khác (theo nghĩa hẹp).

Trang 32

Theo nghĩa rộng, đấu tranh giai cấp (của giai cấp vô sản) là tất cả những hành vi nào gắn với cái chung nhằm xây dựng, xác lập, bảo vệ, phát triển một chế độ xã hội mới chiến thắng chế độ cũ (chế độ tư bản chủ nghĩa) thì đều nằm trong phạm trù đấu tranh giai cấp.

Ví dụ: chống tệ nạn xã hội có phải đấu tranh giai cấp không? chống tham nhũng có phải đấu tranh giai cấp không? chống tội phạm, chống ma túy?

Thời gian qua trong đấu tranh giai cấp có những lệch lạc gì?

- Một thời gian dài hiểu chung chung đấu tranh giai cấp, hiểu chung chung giáo điều, chỉ nhấn mạnh chống kẻ thù, mà mục tiêu kinh tế không rõ, ta có nhiều sai lầm cơ bản trong lĩnh vực này Nói đấu tranh giai cấp nhưng sản xuất không phát triển, số lượng hàng hóa tăng nhưng chất lượng không tăng, không hiệu quả

- Một thời gian dài sự hoài nghi mất tin tưởng của người dân một cách nghiêm trọng

V.I.Lênin khẳng định, suy cho cùng chiến thắng của đấu tranh giai cấp là chiến thắng của cách tổ chức lao động đem lại năng suất lao động cao hơn => Khi năng suất lao động chưa thắng được năng suất lao động của chủ nghĩa tư bản thì khả năng phục hồi của chủ nghĩa tư bản vẫn diễn ra

Kiểm điểm lại trong quá trình đấu tranh giai cấp, ta chỉ chú ý đến kẻ thù của giai cấp, không chú ý xây dựng bộ máy để bộ máy yếu từ bên trong, điều mà bệnh kêu ngạo cộng sản V.I.Lênin đã nhắc đến

2.4 Liên minh giai cấp

Cơ sở của liên minh là lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc Ở Việt Nam liên minh giai cấp để đấu tranh giai cấp; có những liên minh không bao hàm đấu tranh giai cấp, có những liên minh bao hàm đấu tranh giai cấp Từ nhận thức như vậy mới có thể đưa ra được những phương pháp đấu tranh thích hợp

III QUAN HỆ GIAI CẤP, DÂN TỘC, NHÂN LOẠI

1 Khái niệm dân tộc

1.1 Khái niệm

32

Trang 33

Dân tộc có nhiều khoa học nghiên cứu, dân tộc học, khoa học quản lý, khoa học giáo dục, xã hội học, chủ nghĩa xã hội , mỗi khoa học có cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau Dân tộc với nghĩa dân tộc quốc gia thuộc vấn đề duy vật lịch sử

Dân tộc là cộng đồng dân cư gồm những đặc điểm chung thống nhất chặt chẽ: Cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng kinh tế, cộng đồng về ngôn ngữ, cộng đồng văn hóa, tâm lý tính cách, có sự quản lý chung về nhà nước thống nhất

- Cộng đồng ngôn ngữ: có một ngôn ngữ chung thống nhất giao tiếp Có nhiều tộc người có những ngôn ngữ riêng Thống nhất ở cấu trúc ngữ pháp và kho

từ vựng

- Cộng đồng lãnh thổ: Lãnh thổ là địa bàn sinh tồn của dân tộc; khi không có lãnh thổ không có lãnh thổ, quốc gia dân tộc Gồm có vùng đất, vùng trời, vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia dân tộc (mang tính pháp lý)

Dân tộc là cộng đồng xã hội tộc người ổn định, bền vững, lãnh thổ - là nơi sinh tồn phát triển của dân tộc, không có lãnh thổ thì không có khái niệm Tổ quốc (thuộc chủ quyền quốc gia dân tộc), chống quan điểm biên giới mềm (Thôi Húc Thần)– 1) Tác giả Trung Quốc cho rằng kiều dân Trung Quốc ở đâu thì biên giới ở đó; 2) Mỹ đưa ra quan điểm cực đoan hơn, hàng hóa ở đâu thì lãnh thổ ở đó;

- Kinh tế - có nền kinh tế thống nhất;

- Văn hóa, tâm lý, tính cách – mỗi dân tộc có nền văn hóa độc đáo của mình tạo ra bản sắc văn hóa riêng

Gần đây một tác giả Trung Quốc bổ sung thêm 2 đặc trưng:

1) Họ cho rằng cộng đồng huyết thống (ở trên nói là cội nguồn), tức là phân biệt dân tộc này với dân tộc khác là lấy huyết thống

2) Họ cho rằng mỗi dân tộc có một tôn giáo của mình cả tích cực lẫn tiêu cực Họ cho rằng mỗi dân tộc đều có sự phồn vinh của mình, khẳng định dân tộc

và phồn vinh dân tộc

2.2 Chú ý

Cho đến nay nhân loại đã trải qua bốn hình thức cộng đồng dân tộc khác nhau: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Tuy nhiên, sự hình thành dân tộc còn phụ

Trang 34

thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội của mỗi nước Trong hình thức thị tộc, bộ lạc là chưa có giai cấp.

Tây Âu: Do nghiên cứu các tài liệu Tây Âu nên C.Mác – Ph.Ăngghen đều cho rằng dân tộc ra đời gắn với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản Vì trước chủ nghĩa tư bản Tây Âu là phong kiến phân quyền, nên yếu tố lãnh thổ, kinh tế, văn hóa chưa trở thành cộng đồng

Phương Đông: Dân tộc ra đời sớm trước chủ nghĩa tư bản, vì trước chủ nghĩa tư bản, phương Đông có sự cố kết cộng đồng sớm (do quá trình đấu tranh chống thiên tai, địch họa), phong kiến tập quyền hình thành sớm Trung Quốc thế

kỷ thứ III tr.CN (Tần Thủy Hoàng diệt 6 nước trong thời kỳ Chiến Quốc thành lập quốc gia phong kiến tập quyền), Ấn Độ thế kỷ thứ IV tr.CN, nên giải quyết được vấn đề lãnh thổ, kinh tế, văn hóa Còn ở Mỹ, sự hình thành dân tộc chịu tác động trực tiếp của giai cấp tư sản, sự hình thành dân tộc thường bằng bạo lực, cưỡng bức, thông qua di dân từ Tây Âu sang

Ở Việt Nam giống các dân tộc phương Đông khác hình thành sớm, không gắn phương thức sản xuất tư bản, động lực hình thành dân tộc không gắn giai cấp

tư sản mà gắn với phong kiến và giai cấp phong kiến Sự hình thành sớm do truyền thống chống ngoại xâm và thiên tai, tạo nên tính bền chặt của cộng đồng người Việt

Ở ta 4000 năm tính thời Hùng Vương (2000 năm tr.CN) Gần đây một số nhà khoa học được tính 2700 năm – căn cứ vào trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Đông Sơn sau này

Có quan niệm dựa vào thời kỳ Nguyễn Trải, dân tộc được hình thành từ hình nhà nước Đại Việt

Sự hình thành dân tộc Việt Nam có những đặc trưng sau:

- Hình thành sớm do điều kiện chống ngoại xâm và thiên tai

- Không có sự phân hóa giai cấp, không có giai đoạn phát triển hình thái chiếm hữu nô lệ

- Không có sự đối lập gay gắt giữa giai cấp công nhân và giai cấp vô sản, bởi vì giai cấp vô sản ra đời chế độ thuộc địa nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX

34

Trang 35

- Sự phân hóa giai tầng không rõ rệt.

2 Quan hệ giai cấp, dân tộc

- Chủ nghĩa Mác quan niệm cái giai cấp chi phối cái dân tộc, và giải quyết vấn đề giai cấp với ý nghĩa quyết định đối với vấn đề giải quyết dân tộc, và vấn đề dân tộc bao giờ cũng được chỉ đạo bởi một giai cấp nhất định

Giai cấp quyết định ở đây là giai cấp thống trị về kinh tế, thể hiện ba khía cạnh:

1) Sắc thái dân tộc – trong quá trình phát triển dân tộc, giai cấp thống trị kinh tế chi phối tâm tư, tình cảm, thói quen cho sự phát triển dân tộc, đồng thời đại diện cho lợi ích của dân tộc

2) Tâm lý dân tộc – Trong quá trình phát triển thì giai cấp thống trị về kinh

tế chi phối Tâm tư, tình cảm, thói quen của giai cấp thống trị chi phối đời sống tâm lý dân tộc

3) Xu hướng phát triển dân tộc – Nếu chính sách của giai cấp cầm quyền đúng đắn thì nó thúc đẩy dân tộc phát triển, còn chính sách sai thì nó cản trở

- Vai trò dân tộc: Khi khẳng định vai trò quyết định của nhân tố giai cấp trong quan hệ giai cấp – dân tộc, thì chủ nghĩa Mác không tuyệt đối hóa giai cấp

mà trái lại vấn đề dân tộc là rất quan trọng, tác động mạnh mẽ vấn đề giai cấp ở mấy điểm sau:

+ Đặc điểm dân tộc ảnh hưởng đặc điểm giai cấp Dù là giai cấp cầm quyền thống trị, nhưng sinh ra trong môi trường dân tộc nên chịu ảnh hưởng của môi trường dân tộc

+ Trình độ phát triển dân tộc là cơ sở cho trình độ phát triển giai cấp Có dân tộc mạnh thì giai cấp đại diện mạnh

+ Dân tộc là môi trường sống, là địa bàn trực tiếp tạo nên kết cấu giai cấp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp và diễn ra mọi cuộc cách mạng xã hội Vấn đề này

trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cũng đã nêu rõ: coi cuộc đấu tranh giai

cấp của giai cấp vô sản không phải là đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu mang hình thức dân tộc Bởi mục tiêu lúc đầu là phải thanh toán xong giai cấp tư sản ở nước diễn ra cách mạng

Trang 36

NB: 3 lần thất bại trong lịch sử Việt Nam: 1) An Dương Vương; 2) Hồ Quý Ly; 3) Nhà Nguyễn

Sự vận dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta: Vận dụng sáng tạo

mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp:

1) Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản (Hồ Chí Minh)

2) Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường xuyên suốt của cách mạng Việt Nam

quốc; cách mạng ở thuộc địa có thể thành công trước cách mạng ở chính quốc (Hồ Chí Minh)

4) Sau khi dân tộc được giải phóng thì phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội

5) Sự nổi trội của tính dân tộc trong quan hệ giai cấp – dân tộc (Thắng ngoại bang bằng sức mạnh đoàn kết dân tộc; Đấu tranh giai cấp hòa vào đấu tranh giải phóng dân tộc)

Hạn chế:

- Một thời gian dài trong quan hệ giai cấp – dân tộc chúng ta coi nhẹ dân tộc, tuyệt đối hóa giai cấp, nhiều quan niệm mơ hồ hòa nhập các dân tộc theo xu hướng chủ quan, biểu hiện là nhấn mạnh tính thống nhất chung mà bỏ qua các đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội, bỏ qua những tình cảm ý thức dân tộc, bỏ qua tâm lý, tập quán, nguyện vọng, ý thích, thói quen của các dân tộc, chính trị hóa các quan hệ xã hội dẫn đến tuyệt đối cái chung, cái chính trị, cái giai cấp

- Ít chú ý chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, ít chú ý phát triển giao thông, lưu thông hàng hóa, ít chú ý đào tạo cán bộ dân tộc ít người

Từ đây dẫn đến hậu quả không phát huy được sức mạnh dân tộc, không phát huy được nhân tố con người

3 Quan hệ giai cấp nhân loại

3.1 Khái niệm

NB: Trong triết học mới chỉ có khái niệm “tính nhân loại”, chưa có khái niệm “nhân loại”

36

Trang 37

Nhân loại là khái niệm chỉ toàn thể cộng đồng người sống trên trái đất hàng triệu năm nay (Từ điển Việt Nam).

Chú ý:

Trong lịch sử loài người thì con người phải phát triển đến một trình độ nhất định (trình độ lực lượng sản xuất, trình độ nhận thức) lúc đó con người mới có ý thức xã hội về mình

Thời kỳ cổ đại, một bộ phận lớn của nhân loại (nô lệ) bị giai cấp chủ nô xem không cùng loài với mình, xem đây chỉ là những công cụ biết nói

Thời Phục Hưng rồi đến cách mạng tư sản, thì đề cao con người, xem con người là trung tâm (trong xem xét mối quan hệ con người với tự nhiên) Quyền của con người như quyền tự nhiên đối lập với chế độ đẳng cấp thần quyền Đây là bước tiến mới của nhân loại, của con người

Thế kỷ XVII – XVIII: nhấn mạnh đến sự phát triển con người, tự do, bình đẳng, bác ái…

Hạn chế:

Do xuất phát từ giai cấp, hạn chế về khoa học, vì thế những quan niệm về con người, tính nhân loại của con người của những nhà tư tưởng trước Mác còn tính phiến diện, siêu hình, ngay cả L.Phoi-ơ-bắc (xuất phát từ con người tự nhiên, sinh học)

Những mục tiêu, mong muốn giải phóng con người không thực hiện được trên thực tế Điều này nguyên nhân chính là do bởi cơ sở khách quan của nó không cho phép thực hiện những mong muốn đó – chính là tư hữu về tư liệu sản xuất

Triết học Mác đã chỉ ra được con người và bản chất con người một cách khoa học, và là cơ sở để phân biệt loài người với loài vật, và cộng đồng người trên trái đất này chính là cộng đồng của những thực thể sinh vật xã hội Cộng đồng sinh vật xã hội này dù ở những giai cấp khác nhau, những nước khác nhau, tầng lớp khác nhau nhưng có cái chung đó chính là tính nhân loại (tính người, tính tộc loài)

Tính nhân loại là tính loài (người) là thuộc tính vốn có của con người để phân biệt với con vật Cụ thể là cha thương con, ghét chiến tranh, yêu hòa bình,

Trang 38

V.I.Lênin nói đó là “các quy tắc sơ thiểu của đời sống chung trong xã hội, - các quy tắc này vẫn có từ bao thế kỷ, vẫn được nhắc đi nhắc lại suốt trong mấy nghìn năm trong tất cả mọi châm ngôn, tôn trọng mà không cần có bạo lực, không cần có cưỡng bức, không cần có sự phục tùng…”4

3.2 Quan hệ

- Tính nhân loại tồn tại biểu hiện ra những giá trị phổ biến của nhân loại, và những giá trị này hoàn toàn vượt lên mọi thời đại, mọi giai cấp, trở thành tài sản chung của nhân loại Ví dụ như những giá trị chân – thiện – mỹ

- Trong mỗi thời kỳ lịch sử thì ý thức và lợi ích của giai cấp tiến bộ thường đại diện cho ý thức lợi ích nhân loại chung gắn với thời kỳ lịch sử đó, vì thế nhân loại chiến đấu theo ngọn cờ ý thức của giai cấp tiến bộ, thực chất là chiến đấu cho lợi ích, cho ý thức của chính mình

- Lợi ích nhân loại không tồn tại độc lập ngoài lợi ích giai cấp, mà những vấn

đề nhân loại được xem xét giải quyết khác nhau vì sự chi phối của lợi ích giai cấp

Đối với chúng ta:

Thời gian qua (trước đổi mới) trong quan hệ giai cấp với nhân loại, thì chúng ta tuyệt đối hóa tính giai cấp, coi nhẹ tính nhân loại Biểu hiện đóng cửa giao lưu quốc tế, với cái nhìn thiển cận về chủ nghĩa tư bản theo xu hướng cực đoan, thực chất đối nghịch với tất cả những gì là của chủ nghĩa tư bản

Quy kết chủ nghĩa tư bản tạo phúc lợi thì cho là mị dân, đành rằng chủ nghĩa

tư bản có mị dân, nhưng không phải mọi hành động về phúc lợi của chủ nghĩa tư bản đều là mị dân

Chính hạn chế trên nên không tiếp cận được văn minh nhân loại, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc không tiếp thu được những nhân tố mới

4 Quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại trong thời đại ngày nay

4.1 Khái niệm thời đại

Có nhiều cách tiếp cận:

- Nếu tiếp cận dưới góc độ khoa học là thời đại văn minh tin học

- Theo Việt Phương, thời đại hiện nay là thời đại trí tuệ sáng tạo

4 V.I.Lênin (1976): Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, trang 110.

38

Trang 39

- Dưới góc độ chính trị: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đánh dấu bằng Cách mạng tháng Mười Nga.

+ Brêzinxki định nghĩa thời đại: Là thời đại bước vào ngưỡng cửa của giai đoạn thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản, có lẽ chủ nghĩa cộng sản là sai lầm lớn nhất về chính trị và tư tưởng ở thế kỷ XX

+ Trung Quốc chia thời đại thành thời đại lớn và thời đại nhỏ:

Thời đại lớn: Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đánh dấu bằng Cách mạng tháng Mười Nga

Thời đại nhỏ: 1) Từ 1917 – 1945 là thời đại chiến tranh và cách mạng 2) Từ

1945 – nay là thời đại hòa bình và phát triển Đặng Tiểu Bình cho thời đại này không có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới và chỉ có chiến tranh cục bộ

+ Cu-Ba: Phi-đen Ca-xtơ-rô (Fidel Castro) viết cuốn sách “Cải tổ - Lịch sử

của sự phản bội” Trong cuốn sách này, ông cho rằng thất bại của Liên Xô bị tan rã

là tự mình

+ Việt Nam: Sau Đại hội VII, không bàn về thời đại là gì mà chỉ nêu đặc điểm thời đại: đây là thời đại của cuộc đấu tranh gay go quyết liệt Đến Đại hội VIII, chúng ta khẳng định thời đại là: Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đánh dấu bằng Cách mạng tháng Mười Nga Đó là thời đại vì độc lập, hòa bình và tiến bộ xã hội (Văn kiện Đại hội VIII tr.16, 76)

4.2 Một số nhận xét chung

Có nhiều nhận xét khác nhau, nhưng khái quát lại có 3 quan điểm chủ yếu:1) Cho rằng thời đại chúng ta vấn đề nhân loại bao trùm nhất, chi phối mọi mặt của đời sống xã hội, chi phối quan hệ cơ bản giữa người và người, đặc biệt là quan hệ giữa các dân tộc, giữa các quốc gia

I-a-cốp-lép – với tác phẩm “Xóa bỏ hiện tượng kẻ thù” Tác phẩm định

hướng toàn bộ cho việc cải tổ Liên Xô là xóa bỏ hiện tượng kẻ thù Tự đặt ra kẻ thù để chạy đua vũ trang, mục tiêu xóa bỏ kẻ thù Cuốn sách này đã làm cho Ia-cốp-lép trở thành “kiến trúc sư” của quá trình cải tổ

2) Cho rằng thời đại ngày nay vấn đề dân tộc là cơ bản nhất, mâu thuẫn dân tộc là cơ bản nhất, chi phối hoạt động của các tổ chức, các lực lượng xã hội

Trang 40

Quan điểm này chủ yếu là của Đặng Tiểu Bình – 6 đặc điểm trong tư tưởng của ông về quan hệ quốc tế, đặc điểm 5 – lấy lợi ích quốc gia làm tiêu chuẩn phán đoán, chứ không lấy sự giống khác nhau về chế độ xã hội và ý thức hệ để xử lý quan hệ quốc tế trong nhiệm vụ toàn cầu

- Thế giới ngày nay bắt đầu thời kỳ nội dung đấu tranh, nội dung quan hệ các nước trên lĩnh vực kinh tế mang màu sắc khá thực dụng, vì thế cần phải có chính sách đúng đắn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

- Xu hướng ngày nay các dân tộc đều muốn tự khẳng định mình, sức mạnh tiềm ẩn các dân tộc ngày càng được phát huy trong thế giới đa dạng Dân tộc nào

có khả năng chuyển hóa được tri thức nhân loại thì dân tộc đó thành công, đặc biết

là các nước đang phát triển

- Ngày nay vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo một số nơi đan xen nhau và diễn biến phức tạp, vì thế cần phải có những chính sách thích hợp, đúng đắn để phát huy sức mạnh dân tộc, đoàn kết dân tộc

Tôn giáo có 4 xu hướng chính:

1) Tôn giáo chia địa bàn

2) Xu hướng xuất hiện tôn giáo mới

3) Chiến tranh tôn giáo gắn với chủ nghĩa ly khai, chiến tranh sắc tộc (Tây Á).4) Tôn giáo tham gia chính trị (ở Tây Âu – đêm trường Trung cổ) Đây là xu hướng nguy hiểm nhất trong đời sống chính trị hiện nay

40

Ngày đăng: 24/09/2013, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w