Để nắm được bản chất của quá trình đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng phân tích, tư duy tổng hợp dưới sự hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập tích cực ở học sinh do giáo viên tổ chức bằng
Trang 1SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỊ XÃ
QUẢNG TRỊ
ĐỀ TÀI :
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ ĐỂ KHAI THÁC KIẾN THỨC NHẰM RÈN LUYỆN TƯ DUY VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC
CHO HỌC SINH
Người thực hiện : PHAN THỊ
THẢO
Tổ : SINH
Trang 2
Thị xã Quảng trị, tháng 5 năm 2008
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong phưong pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy” đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”, được cuốn hút vào hoạt động học do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt sẵn Đựơc đặt vào những tình huống thực tế của đời sống, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết các vấn đề do người dạy đặt ra theo suy nghĩ của mình từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn máy móc theo những khuôn mẫu đã có sẵn, được bộc lộ và phát triển tiềm năng sáng tạo
Khi mà lượng thông tin ngày càng nhiều mà thời gian học tập ở nhà trường lại có hạn.Giáo viên không thể truyền đạt hết tất cả những gì mà học sinh cần cho cuộc sống sau này, chỉ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức, phương pháp tự học để có thể tự học suốt đời Phải tạo điều kiện đẻ học sinh được suy nghĩ tích cực và bộc lộ những suy nghĩ của mình trong quá trình thảo luận, tranh luận trong nhóm đồng thời tích cực tìm ra tri thức dưới sự chỉ dẫn của giáo viên Cố gắng khắc phục tình trạng “truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” là tư tưởng chỉ đạo cho việc đổi mới phương pháp đang đặt ra cho toàn Ngành giáo dục ( Nghị quyết Trung ương II khoá VIII )
Tôi đã cố gắng thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên trong quá trình giảng dạy của mình, đặc biệt trong việc dạy chương trình sinh học lớp 10 phân ban Để rèn luyện tư duy và nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh có thể có nhiều phương pháp khác nhau phụ thuộc vào nội dung của từng bài, từng
Trang 3phần và đối tượng học sinh Trong bài 22 và bài 23:
Hô hấp tế bào - của chương : Chuyển hoá vật chất và năng lượng trong tế bào (Sinh học lớp 10 ban KHTN) tôi đã sử dụng sơ đồ để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức và đã dem lại hiệu quả thiết thực
PHẦN II :
QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY BÀI 22 VÀ BÀI 23 ( CHƯƠNG III -SINH HỌC LỚP 10 BAN KHTN)
I Cơ sở của việc sử dụng sơ đồ trong việc
giảng dạy bài 22 và bài 23
Hô hấp tế bào là một trong những quá trình sinh
lí trung tâm của tế bào Kiến thức về quá trình sinh
lí là kiến thức khó, có nhiều phản ứng sinh hoá phức tạp mang tính chất trừu tượng, học sinh sẽ rất khó tiếp thu nếu chỉ nghe thầy giáo giảng giải một chiều
Để nắm được bản chất của quá trình đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng phân tích, tư duy tổng hợp dưới sự hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập tích cực ở học sinh do giáo viên tổ chức bằng các hình thức như : phân tích sơ đồ, dùng phiếu học tập, tổ chức hoạt động nhóm, cho học sinh làm bài tập tại lớp
Mục tiêu của bài này là học sinh phải:
+ Trình bày được khái niệm về hô hấp tế bào
+ Mô tả được các giai đoạn chính của quá trình đường phân, chu trình Crep, nắm được khái quát quá trình chuyển hoá vật chất hữu cơ qua sơ đồ Và từ đó hiểu được bản chất của hô hấp tế bào và ứng dụng vào cuộc sống
Để đạt được mục tiêu trên, việc sử dụng sơ đồ và từ sơ đồ dưới sự hướng dẫn và định hướng
Trang 4của giáo viên để khai thác kiến thức, học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, tích cực
II Qúa trình tiến hành bài dạy:
Rèn luyện tư duy và nâng cao năng lực
nhận thức cho học sinh như thế nào ?
1 Để nắm khái niệm hô hấp tế bào thì trước hết
học sinh phải hiểu được khái niệm hô hấp Ở phần này giáo viên thường cung cấp khái niệm một cách áp đặt Với cách dạy này học sinh nhận thức khái niệm rất mơ hồ và do đó các em khó để hiểu được bản chất của hô hấp tế bào, một số em sẽ nhầm
lẫn giữa hô hấp và đốt cháy Không tạo được tiền
đề cho việc nắm cơ chế của quá trình
Khi dạy phần khái niệm, giáo viên đưa ra sơ đồ của quá trình hô hấp, hướng dẫn học sinh quan sát sơ đồ, yêu cầu học sinh giải thích các giai đoạn tương ứng và từ đó đi tới khái niệm “Hô hấp tế bào”
Trang 5Tat Qua Trinh Ho Hap Te Bao
ATP
Đườngphân
Pyruvic
NADH
2 Axetyl CoA
NADH
CHU TRÌNH CREP
TỬ
Ti Thể
NADH
Từ sơ đồ học sinh rút ra được :
+ Hô hâïp tế bào là một quá trình chuyển hoá năng lượng diễn ra trong tế bào sống
+ Qua quá trình, các hợp chất hữu cơ (Gluxit) được phân giải qua nhiều sản phẩm trung gian và
chúng được giải phóng và chuyển hoá thành dạng năng lượng rất dễ sử dụng chứa trong các phân tử ATP Ở tế bào nhân thực quá trình này diễn ra trong
ti thể
2 Khi dạy phần các giai đoạn chính của quá trình hô
hấp tế bào (cơ chế hô hấp), đểí học sinh có thể
nắm được khái quát toàn bộ quá trình; bao gồm:
- Các giai đoạn
- Vị trí diễn ra của từng giai đoạn trong tế bào
Giáo viên sử dụng lại sơ đồ của quá trình hô
hấp :
Trang 6Trinh Ho Hap Te Bao
ATP
Đườngphân
Glucozo2 Axit
Pyruvic
NADH
2 Axetyl CoA
NADH FADH 2
CHU TRÌNH CREP
TRYỀ N ĐIỆ N TỬ
Ti Thể
NADH
S Ơ ĐỒ TO Ï M TẮ Õ T QUÁ T QUA TRÌ NH H Ô HẤ P
Giáo viên giới thiệu và yêu cầu học sinh quan sát sơ đồ, từ sơ đồ hãy cho biết:
+ Hô hấp tế bào gồm những giai đoạn nào ? + Vị trí diễn ra của từng giai đoạn
Từ sơ đồ học sinh sẽ nêu được hô hấp tế bào có 3 giai đoạn chính:
Đường phân: diễn ra ở tế bào chất
Chu trình Crep: diễn ra ở chất nền của ti thể
Chuỗi truyền điện tử: diễn ra trên màng trong của tế bào
a Đường phân:
Ở giai đoạn đường phân gồm nhiều phản ứng hoá sinh phức tạp, thực chất của giai đoạn này là bẻ gãy dần đường glucô (6c) thành sản phẩm cuối cùng của giai đoạn là axit pyruvic (3các bon) qua một loạt các phản ứng trung gian Đây là kiến thức tương đối trừu tượng, để học sinh nắm được bản chất của quá trình, giáo viên đưa ra sơ đồ chặng đường phân (sơ đồ tóm tắt những phản ứng cơ bản), hướng dẫn học sinh quan sát sơ đồ sau:
Trang 7SƠ ĐỒ TÓM TẮT QUÁ TRÌNH ĐƯỜNG PHÂN
Duong Phan
Ph ươ ng tr ì nh pha í n ứ ng
C 6 H 12 O 6 MEN 2 Axít pyruvic + 2ATP + 2NADH
ATP ADP
ATP ADP
NADH
NADH
A2PG
Sau khi quan sát và phân tích sơ đồ yêu cầu học sinh cho biết:
+ Đường phân gồm những giai đoạn nào? (phần này có thể yêu cầu học sinh đặt tên cho từng giai đoạn trên sơ đồ: từ glucôzơ đến fructô ?, từ fructô 6c đến A2PG ? )
+ Những biến đổi cơ bản của mỗi giai đoạn
+ Sản phẩm của giai đoạn đường phân
Phần này giáo viên dành thời gian để học sinh nghiên cứu sơ đồ kết hợp với sách giáo khoa và thảo luận nhóm để trả lời các nội dung trên Khi nghiên cứu sơ đồ yêu cầu học sinh chú ý năng lượng được sử dụng và giải phóng ở mỗi giai đoạn, sau đó giáo viên yêu cầu một em đại diện cho nhóm để trình bày, các nhóm khác theo dõi và bổ sung sau đó giáo viên hoàn chỉnh lại kiến thức:
Biến đổi1: Hoạt hoá phân tử đường glucôzơ
Trang 8Glucôzơ kết hợp với 2 phân tử ATP thành Frúc tôzơ 1,6
di phốt phát
Biến đổi 2: Cắt mạch các bon
Fructôzơ 1,6 di phốt phát bị cắt thành 2 phân tử 3 cac bon (Alđêhit 3 phốt phát và dihiđôxiaxêtôn- phốt phát)
Biến đổi 3: Từ A2PG tạo axit piruvic
Sản phẩm tạo ra? Yêu cầu học sinh viết phương trình phản ứng của giai đoạn đường phân:
MEN
C 6 H 12 O 6 2Axit piruvic + 2ATP + 2NADH
Như vậy từ sơ đồ học sinh thấy được sản phẩm của đường phân gồm:
2Axit piruvic, 2ATP, 2NADH
(Thực tế đã tạo được 4 phân tử ATP nhưng dùng 2 phân tử ATP để hoạt hoá phân tử glucôzơ)
Để kích thích suy nghĩ của học sinh, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát sơ đồ và giải thích tại sao phải có 2ATP trong phản ứng đầu tiên (năng lượng cần cho sự hoạt hoá glucôzơ thành fructôzơ 1,6 điphốt phát), 4ATP được giải phóng cùng với 2NADH và sản phẩm cuối cùng của giai đoạn đường phân là 2 Axit piruvic
* A xit pyruvic tiếp tục bị biến đổi như thế nào? Sản phẩm đựơc tạo thành trong giai đoạn tiếp theo là gì?
b Chu trình Crep:
Sơ đồ về chu trình Crep đã có ở sách giáo khoa, trước hết giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu chu trình ở sách giáo khoa để học sinh có thể định hướng được những biến đổi cơ bản trong chu trình Hình vẽ ở sách giáo khoa
phức tạp, phần này yêu cầu học sinh phải nắm được những biến đổi cơ bản nhất của từng giai đoạn trong chu trình Giáo viên giới thiệu: trước khi đi vào chu trình Crep, axit pyruvic biến đổi thành
quá trình này được thực hiện trên màng kép của ti thể (thông qua sơ dồ học sinh đã quan sát) sau đó giáo viên sử dụng sơ đồ sau:
Trang 9
SƠ ĐỒ CHU TRÌNH CREP
Ph ươ ngtr ì nh pha í n ứ ng
MEN
oxy ho ï a
2 AxêtylAxêtyl-CoA 4CO4CO2 + 2ATP + 6NADH+ 2FADH2
2 axêtyl- CoA (2 cacbon)
CREP
2FAD+
6NAD+
6NADH
2FADH2 2ATP
2ADP
4CO2
2 axêtyl- CoA (2 cacbon)
CREP
2FAD+
6NAD+
6NADH
2FADH2 2ATP
2ADP
4CO2
2 axêtyl- CoA (2 cacbon)
CREP
2FAD+
6NAD+
6NADH
2FADH2 2ATP
2ADP
4CO2
2 axêtyl- CoA (2 cacbon)
CREP
2FAD+
6NAD+
6NADH
2FADH 2
2ATP
2ADP
Hướng dẫn học sinh quan sát chu trình, từ sơ đồ học
sinh cho biết : + Chu trình Crep qua những giai đoạn nào?
+ Những biến đổi cơ bản trong chu trình
+ Sản phẩm của chu trình
Tương tự, phần này giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm, mỗi nhóm là 1bàn, rồi cho đại diện của một nhóm báo cáo, các nhóm khác bổ sung Sau đó giáo viên có thể phân tích cho học sinh rõ thêm 5 giai đoạn của chu trình Crep:
a Từ Axêtyl- CoA kết hợp với Ôxalô axêtictạo thành axit xitric (6C)
b Từ axit xitric (6C) qua 3 phản ứng loại được 1
CO2 và tạo ra 1NADH cùng với axêtô glutaric (5C)
c Từ axit xêtô glutaric (5C) loại 1 CO2 tạo ra 1 NADH cùng với a xit (4C)
d Từ axit (4C) qua phản ứng tạo 1 phân tử ATP và
Trang 10e Cuối cùng qua 2 phản ứng tạo được 1NADH và giải phóng ôxalô axêtic (4C)
Sau khi phân tích các giai đoạn, để kích thích tư duy của học sinh giáo viên đặt vấn đề :
Ý nghĩa của chu trình Crep là gi? (phân giải chất hữu
cơ giải phóng năng lượng một phần tích luỹ trong ATP, một phần tạo nhiệt cho tế bào.Tạo nguồn cacbon cho quá trình tổng hợp, có rất nhiều chất hữu cơ la ìsản phẩm trung gian cho quá trình chuyển hoá các chất)
Trên cơ sở kiến thức đó yêu cầu học sinh viết phương trình của chu trình Crep :
Ôxi hoá
2 Axêtyl - CoA 4CO2 + 2ATP +
MEN
Để học sinh nắm kiến thức hai giai đoạn này chắc chắn, giáo viên sử dụng sơ đồ chung của 2 giai đoạn: đường phân và chu trình Crep :
Duong Phan
- CREP
CREP
2 axêtyl- CoA (2 cacbon)
2FAD+
6NAD+ 6NADH
2FADH 2 2ATP
2ADP
4CO 2
Fruct ô
A2PG Gluc ô z ơ(6 cacbon cacbon )
2ATP
ATP
ADP
ATP ADP
NADH
NADH 2ATP
Axit
Axit pyruvíc 3
cac bon bon
Axit pyruvic 3 cac bon bon
Học sinh quan sát sơ đồ và kiến thức vừa học, yêu cầu các em hoàn chỉnh bảng sau (phiếu học tập) :
Trang 11Các giai
đoạn
Đặc điểm phân biệt
Đường
phân
Chu trình
Crep
được tạo thành trong 2 quá trình đường phân và chu trình Crep:
Đường phân: 2ATP, 2NADH
Chu trình Crep: + Giai đoạn chuẩn bị : 2NADH
+ Chu trình : 2ATP, 6NADH,
c Chuỗi truyền điện tử :
Cho học sinh đọc thông tin ở sách giáo khoa, sau đó sử dụng sơ đồ chung của quá trình hô hấp, trên cơ sở các sản phẩm được tạo thành ở 2 giai đoạn trên đã được học, giáo viên đặt câu hỏi gợi ý: Năng lượng dùng trong hoạt động sống là dạng năng lượng gì?
tạo thành phải qua một quá trình chuyền điện tử
ứng ôxy hoá khử kế tiếp để giải phóng năng lượng ATP
Để học sinh hiểu rõ hơn về mặt năng lượng được tạo ra, giáo viên cung cấp thông tin : Qua quá trình chuyền điện tử đến chất nhận cuối cùng là
học sinh tính tổng năng lượng được tạothành trong
Trang 12quá trình chuyển điện tử và viết phương trình của chuỗi truyền điện tử
Phương trình :
6O2
6H2O
Từ sơ đồ học sinh tính được tổng năng lượng giải phóng trong quá trình hô hấp: 4 phân tử ATP được tạo thành trực tiếp và 34 phân tử ATP tạo thành do
So Do
ATP
Đườngphân
Glucozo 2 Axit
Pyruvic
NADH
2 Axetyl CoA
NADH FADH 2
CHU TRÌNH CREP
TRYỀ N ĐIỆ N TỬ
Ti Thể
2
6
34
2
38 ATP
NADH 2
Cũng từ sơ đồ học sinh nêu được mối quan hệ giữa đường phân, chu trình Crep và chuỗi truyền điện tử
3 Dạy phần phân giải các chất khác :
Giáo viên đặt vấn đề để học sinh định hướng, suy nghĩ: Nguyên liệu chủ yếu của quá trình hô hấp là Glucô (sản phẩm chủ yếu của quá trình quang hợp), các sản phẩm khác do quá trình quang hợp tạo ra như prôtêin, lipit có được sử dụng để làm nguồn
Trang 13nguyên liệu của quá trình hô hấp không? Quá trình phân giaií các nguyên liệu này diễn ra như thế nào?
Sử dụng sơ đồ tóm tắt quá trình phân giải các chất trong tế bào:
SƠ ĐỒ SỰ PHÂN GIẢI CÁC CHẤT KHÁC
SO DO
AXÍT PYRUVIC
AXETIN COENZIM A
H2O
C5
CO2
ĐƯỜNG PHÂN
Chu
Chu trì nh CREP
Giáo viên giải thích sơ đô,ö yêu cầu học sinh quan sát và nhận xét sự giống và khác nhau trong quá trình phân giải prôtêin, lipit, cacbon hiđrat
Đường phân :
Prôtêin A xit amin Axêtyl - CoA
Lipit Glixêrol + axit béo
A xêtil - CoA
Trang 14Sau đó đi vào chu trình Crep Như vậy sự phân giải các nguyên liệu chỉ khác nhau ở chặng đường phân sau đó đều tạo thành axêtyl - CoA và đi vào chu trình Crep cuối cùng giải phóng CO2, H2O và năng lượng Tất cả các kiến thức đó được học sinh tự rút ra từ quan sát sơ đồ
Trong bài chỉ giới hạn ở phần sự phân giải các chất
tư duy của học sinh giỏi, giáo viên đặt vấn đề: Điều
sinh suy nghĩ rồi giải thích để học sinh thấy sự
không có O2 ( kịñ khí ) Có thể liên hệ lại kiến thức của bài enzim để học sinh tự suy luận : Khi không có
O2 thì không xãy ra phản ứng H+ với OH- do đó phản ứng trong chu trình Crep không xãy ra
Sau đó sử dụng sơ đồ :
So Do
Đườngphân Axít pyruvic
Glucô
Trang 15Hướng dẫn học sinh nghiên cứu thêm quá trình lên men ở vi sinh vật
PHẦN III : KẾT LUẬN
Qua hai tiết dạy được tiến hành như trên, học sinh học tập rất hào hứng, tham gia một cách tích cực vào bài giảng
Học sinh tích cực suy nghĩ và được bộc lộ suy nghĩ của mình qua trao đổi nhóm và tranh luận trước lớp
Rèn cho học sinh được kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp kiến thức qua việc phân tích sơ đồ, kỹ năng hợp tác nhóm và làm việc độc lập Trong cách dạy này học sinh không chỉ tích cực thu nhận kiến thức mà nâng dần năng
lực tư duy bằng lập luận, phân tích, tổng hợp và trên cơ sở đó các em có thể suy luận kiến thức ở mức cao hơn Đây là cơ hội để học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo Các em được tích cực hoạt động trong quá trình lĩnh hội kiến thức chắc chắn sẽ nắm vững kiến thức và nhớ lâu hơn, khả năng vận dụng sẽ tốt hơn Kết quả đó được phản
( năm học 2007 - 2008):
100% học sinh nắm được kiến thức cơ bản của hai bài, trong đó có:
21 em dạt điểm giỏi chiếm : 45,7%
16 em đạt điểm khá chiếm : 35,8%
9 em đạt điểm trung bình chiếm : 9,5%
Trên đây là một số kinh nghiệm trong việc sử dụng
sơ đồ trong quá trình dạy bài 22 và bài 23 ( sinh học
10 ban KHTN ) để khai thác kiến thức, nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh mà tôi đã áp dụng trong