THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: ……………………………………………… 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Sinh học Lớp 10. 3. Tác giả: Họ và tên: ……………. Giới tính: …… Ngày thángnăm sinh: ………………………………….. Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm ngành Sinh học. Đơn vị công tác: Trường THPT ……………………………. Điện thoại: ………………………………… 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường .......................... – …………………………………………………………………………………. 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường .......................... Địa chỉ: ............................................................... Điện thoại: 03203 736 397 6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Sự quan tâm nghiên cứu kĩ các kiến thức về phương pháp bàn tay nặn bột giáo viên, sự tích cực chủ động, ham học hỏi của học sinh. Cơ sở vật chất của nhà trường: Có đầy đủ các điều kiện đảm bảo việc dạy học theo chương trình sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013 2014 HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN) ............. XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG KINH NGHIỆM TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt về khoa học – công nghệ giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, quốc gia nào không phát triển được năng lực khoa học – công nghệ của mình thì quốc gia đó khó tránh khỏi sự tụt hậu, chậm phát triển. Do vậy, một nền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng đóng góp cho sự phát triển năng lực khoa học – công nghệ quốc gia, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế bền vững là cái đích mà tất cả các quốc gia đều nhắm tới. Mục tiêu của nền giáo dục là mang đến cho học sinh niềm say mê học tập, khát khao được vươn tới những chân trời mới của tri thức. Như vậy, một nền giáo dục tiên tiến không đặt trọng tâm vào giúp người học tiếp thu các tri thức khoa học mà là giúp người học nhận ra được những năng lực trí tuệ của mình để đi tìm tiếp những lời giải cho những vấn đề chưa hẳn hoàn toàn đã biết theo con đường phù hợp nhất với năng lực trí tuệ của cá nhân. Sự hiện diện của một nền giáo dục như vậy phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quyết định nhất đó là quan niệm về vai trò của người thầy. Quan niệm không đúng về vai trò của người thầy đối với chất lượng giáo dục rất dễ đưa nền giáo dục đến chỗ sai lệch. Đặt người thầy lên vị trí quyền uy tuyệt đối về chân lí khoa học là một sai lầm, nhưng sai lầm sẽ lớn hơn nếu hạ thấp thậm chí phủ nhận vai trò của người thầy đối với chất lượng giáo dục. Lấy khả năng sáng tạo kiến thức mới của người học làm mục tiêu của giáo dục không phải là hạ thấp vai trò của người thầy vì không có học trò sáng tạo nếu không có những người thầy sáng tạo. Người thầy sáng tạo là người thầy biết hướng dẫn người học phát hiện vấn đề, đặt ra các giả thuyết, so sánh các giả thuyết và cuối cùng chọn ra một giả thuyết thích hợp. Cũng giống như các môn học khác, Sinh học đã và đang thể hiện vai trò của mình trong việc đào tạo thế hệ mới phát triển toàn diện. Là một môn khoa học thực nghiệm, Sinh học cần lắm những bài giảng phát huy được tính tích cực, năng lực cũng như khả năng sáng tạo của học sinh trên cơ sở đó nâng cao chất lượng dạy học. Để thực hiện được mục tiêu trên cần phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên, các phương pháp tích cực mà đại bộ phận các giáo viên cũng như bản thân tôi đang áp dụng như: Vấn đáp gợi mở, thực hành thí nghiệm, hỏi đáp…mặc dù tạo nên hứng thú đáng kể cho học sinh nhưng vẫn chỉ chú trọng tới phát huy kiến thức hơn các kĩ năng và các năng lực. Giờ học tuy có sôi nổi nhưng các em vẫn bị động, gò bó theo một lối mòn mà giáo viên đã định sẵn nên chưa phát huy tối đa được sự sáng tạo, chưa làm học sinh say mê tìm tòi và hứng thú với môn học. Từ những suy nghĩ trên, thông qua sự tìm tòi, học hỏi, tôi mạnh dạn đề xuất và áp dụng sáng kiến: Sử dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” trong giảng dạy Sinh học 10 nhằm lỗ lực phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh 2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến. Thời gian: Người viết sáng kiến đã tiến hành áp dụng sáng kiến từ tháng 9 năm 2015 Đối tượng áp dụng sáng kiến: học sinh lớp 10 THPT Điều kiện áp dụng sáng kiến: Phòng bộ môn, đồ dung học tập, phương tiện dạy học… 3. Nội dung của sáng kiến Về tính mới, tính sáng tạo: Bàn tay nặn bột là phương pháp dạy học tích cực do Giáo sư Georger Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm 1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu. Đây là phương pháp dạy học được tổng hợp của nhiều phương pháp dạy học tích cực khác nhau. Phương pháp “ Bàn tay nặn bột” giúp tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp này còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS. Điểm nổi trội của phương pháp” Bàn tay nặn bột” là rèn cho học sinh có cách tư duy của nhà khoa học, cách làm việc của nhà khoa học chứ không hoạt động thụ động theo hướng dẫn của giáo viên. Con đường tìm ra kiến thức của học sinh cũng tương tự như quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học. Là phương pháp dạy học tích cực, có hiệu quả hơn so với những phương pháp dạy học tích cựa đang được áp dụng thể hiện: + Học sinh hoàn toàn chủ động trong các hoạt động học tập. + Phát huy được tối đa nội lực học tập của học sinh vì nó tạo nên tính tò mò, ham muốn, say mê nghiên cứu khoa học của học sinh. + Học sinh được chú trọng rèn luyện các kĩ năng đặc biệt là kĩ năng nghiên cứu và diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết. Về khả năng áp dụng, tính khả thi của sáng kiến. Phương pháp bàn tay nặn bột có thể sử dụng để giảng dạy cho nhiều môn khoa học khác nhau và đặc biệt thuận lợi với các môn khoa học tự nhiên như Lí, Hóa, Sinh,… từ cấp tiểu học cho đến THPT bởi, với phương pháp này HS tự lĩnh hội kiến thức mới xuất phát từ một sự vật, hiện tượng thực tế gần gũi với các em. Về giá trị, hiệu quả của sáng kiến. Sử dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng giúp thực hiện được mục tiêu giáo dục, tăng hiệu quả và chất lượng dạy học, giúp học sinh tích cưc, chủ động trong hoạt động học tập, tự học đồng thời rèn kĩ năng và các năng lực. Áp dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” giúp học sinh biết cách tự thu thập và xử lý thông tin, thông qua hoạt động nhóm các em học được cách trao đổi, phát triển năng lực ngôn ngữ, cách hoạt động tập thể cũng như hợp tác sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở đó hình thành thói quen và phương pháp làm việc khoa học. 4. Kết quả đạt được của sáng kiến. Qua quá trình nghiên cứu cũng như thực nghiệm đã chứng tỏ vai trò của phương pháp “ Bàn tay nặn bột” đối với học tập của học sinh cũng như việc rèn kĩ năng và phát triển năng lực của người học. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần chỉ ra rằng phương pháp bàn tay nặn bột không chỉ áp dụng có hiệu quả ở bậc tiểu học mà còn phù hợp với các bậc học cao hơn như THCS và THPT. Nếu được triển khai một cách đồng bộ có thể giúp học sinh quen với phương pháp học tập khoa học, kích thích sự tìm tòi, tích cực chủ động sáng tạo trong học tập. 5. Đề xuất và kiến nghị. Từ những giá trị đạt được, chúng ta đều nhận thấy vai trò cũng như tầm quan trọng của phương pháp “ bàn tay nặn bột” trong hệ thống các phương pháp giảng dạy tích cực, tôi xin mạnh dạn đề xuất với các cấp lãnh đạo ủng hộ và tạo điều kiện để phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong dạy học ở các trường phổ thông, tổ chức cho giáo viên tiếp cận, học tập phương pháp luận của bàn tay nặn bột, giao lưu, học hỏi rút kinh nghiệm thông qua các đợt sinh hoạt chuyên đề ở tổ, nhóm, trường hoặc cụm trường… Tổ chức hội thảo, rút kinh nghiệm, tập huần, đưa nội dung phương pháp “ Bàn tay nặn bột” vào chương trình giáo dục thường xuyên cho giáo viên bộ môn Sinh học. MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 1.1. Cơ sở lí luận Đảng ta xác định con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Để thực hiện thành công công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, ta cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng người học năng lực tự học, năng lực thực hành, lòng say mê học tập và khả năng nghiên cứu khoa học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Thông thường một học thuyết khoa học được hình thành theo logic đó là: Nhà khoa học phát hiện ra vấn đề cần nghiên cứu, sau đó bằng những hiểu biết của mình đưa ra các giả thuyết để chứng minh, tiếp đến là chứng minh bằng thực nghiệm, và cuối cùng là hình thành học thuyết khoa học. Với phương pháp bàn tay nặn bột cũng dạy học sinh tiếp thu kiến thức theo trình tự như vậy. Đó là học sinh nêu vấn đề, tìm cách lí giải, tìm cách chứng minh những lập luận của mình bằng thực nghiệm. Phương pháp bàn tay nặn bột tạo cho học sinh môi trường học tập độc lập sáng tạo trong sự tương tác với các bạn trong nhóm và trong lớp nên đòi hỏi cần có sự trao đổi qua lại giữa các thành viên trong nhóm và trong lớp. Do vậy, ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp bàn tay nặn bột còn chú trọng đến việc rèn kĩ năng, năng lực cho người học như ngôn ngữ nói, viết Bàn tay nặn bột phát huy có hiệu quả các thí nghiệm, thực hành khi dạy học các môn khoa học thực nghiệm đặc biệt là môn Sinh học. Thông qua thực hành, làm thí nghiệm, học sinh tư tìm ra kết quả và rút ra kết luận. Cách học như vậy không chỉ giúp học sinh hình thành kĩ năng thực hành, thí nghiệm mà còn giúp các em hiểu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn. Như vậy với phương pháp bàn tay nặn bột vận dụng trong giảng dạy Sinh học, giáo viên giúp học sinh của mình biết cách thu thập và xử lí thông
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: ………
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Sinh học - Lớp 10 3 Tác giả: Họ và tên: ……… Giới tính: ……
Ngày tháng/năm sinh: ………
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm ngành Sinh học Đơn vị công tác: Trường THPT ………
Điện thoại: ………
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường –
………
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường
Địa chỉ:
Điện thoại: 03203 736 397 6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Sự quan tâm nghiên cứu kĩ các kiến thức về phương pháp bàn tay nặn bột giáo viên, sự tích cực chủ động, ham học hỏi của học sinh - Cơ sở vật chất của nhà trường: Có đầy đủ các điều kiện đảm bảo việc dạy học theo chương trình sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo 7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013 - 2014 HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG KINH NGHIỆM
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Trang 2Thời đại chúng ta đang sống là thời đại diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt vềkhoa học – công nghệ giữa các quốc gia Trong bối cảnh đó, quốc gia nàokhông phát triển được năng lực khoa học – công nghệ của mình thì quốc gia đókhó tránh khỏi sự tụt hậu, chậm phát triển Do vậy, một nền giáo dục tiên tiếntạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng đóng góp cho sự pháttriển năng lực khoa học – công nghệ quốc gia, thúc đẩy sự phát triển của nềnkinh tế bền vững là cái đích mà tất cả các quốc gia đều nhắm tới Mục tiêu củanền giáo dục là mang đến cho học sinh niềm say mê học tập, khát khao đượcvươn tới những chân trời mới của tri thức Như vậy, một nền giáo dục tiên tiếnkhông đặt trọng tâm vào giúp người học tiếp thu các tri thức khoa học mà làgiúp người học nhận ra được những năng lực trí tuệ của mình để đi tìm tiếpnhững lời giải cho những vấn đề chưa hẳn hoàn toàn đã biết theo con đườngphù hợp nhất với năng lực trí tuệ của cá nhân.
Sự hiện diện của một nền giáo dục như vậy phụ thuộc vào nhiều yếu tố,nhưng yếu tố quyết định nhất đó là quan niệm về vai trò của người thầy Quanniệm không đúng về vai trò của người thầy đối với chất lượng giáo dục rất dễđưa nền giáo dục đến chỗ sai lệch Đặt người thầy lên vị trí quyền uy tuyệt đối
về chân lí khoa học là một sai lầm, nhưng sai lầm sẽ lớn hơn nếu hạ thấp thậmchí phủ nhận vai trò của người thầy đối với chất lượng giáo dục Lấy khả năngsáng tạo kiến thức mới của người học làm mục tiêu của giáo dục không phải là
hạ thấp vai trò của người thầy vì không có học trò sáng tạo nếu không có nhữngngười thầy sáng tạo Người thầy sáng tạo là người thầy biết hướng dẫn ngườihọc phát hiện vấn đề, đặt ra các giả thuyết, so sánh các giả thuyết và cuối cùngchọn ra một giả thuyết thích hợp
Cũng giống như các môn học khác, Sinh học đã và đang thể hiện vai trò củamình trong việc đào tạo thế hệ mới phát triển toàn diện Là một môn khoa họcthực nghiệm, Sinh học cần lắm những bài giảng phát huy được tính tích cực,năng lực cũng như khả năng sáng tạo của học sinh trên cơ sở đó nâng cao chấtlượng dạy học Để thực hiện được mục tiêu trên cần phải tích cực đổi mớiphương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
Trang 3Tuy nhiên, các phương pháp tích cực mà đại bộ phận các giáo viên cũng nhưbản thân tôi đang áp dụng như: Vấn đáp gợi mở, thực hành thí nghiệm, hỏiđáp…mặc dù tạo nên hứng thú đáng kể cho học sinh nhưng vẫn chỉ chú trọngtới phát huy kiến thức hơn các kĩ năng và các năng lực Giờ học tuy có sôi nổinhưng các em vẫn bị động, gò bó theo một lối mòn mà giáo viên đã định sẵnnên chưa phát huy tối đa được sự sáng tạo, chưa làm học sinh say mê tìm tòi vàhứng thú với môn học.
Từ những suy nghĩ trên, thông qua sự tìm tòi, học hỏi, tôi mạnh dạn đề xuất
và áp dụng sáng kiến: Sử dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” trong giảng dạy Sinh học 10 nhằm lỗ lực phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
học sinh
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
- Thời gian: Người viết sáng kiến đã tiến hành áp dụng sáng kiến từ tháng 9năm 2015
- Đối tượng áp dụng sáng kiến: học sinh lớp 10 THPT
- Điều kiện áp dụng sáng kiến: Phòng bộ môn, đồ dung học tập, phương tiệndạy học…
3 Nội dung của sáng kiến
- Điểm nổi trội của phương pháp” Bàn tay nặn bột” là rèn cho học sinh có cách
tư duy của nhà khoa học, cách làm việc của nhà khoa học chứ không hoạt độngthụ động theo hướng dẫn của giáo viên Con đường tìm ra kiến thức của họcsinh cũng tương tự như quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học
Trang 4- Là phương pháp dạy học tích cực, có hiệu quả hơn so với những phương phápdạy học tích cựa đang được áp dụng thể hiện:
+ Học sinh hoàn toàn chủ động trong các hoạt động học tập
+ Phát huy được tối đa nội lực học tập của học sinh vì nó tạo nên tính tò mò,ham muốn, say mê nghiên cứu khoa học của học sinh
+ Học sinh được chú trọng rèn luyện các kĩ năng đặc biệt là kĩ năng nghiên cứu
và diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết
* Về khả năng áp dụng, tính khả thi của sáng kiến.
Phương pháp bàn tay nặn bột có thể sử dụng để giảng dạy cho nhiều mônkhoa học khác nhau và đặc biệt thuận lợi với các môn khoa học tự nhiên như
Lí, Hóa, Sinh,… từ cấp tiểu học cho đến THPT bởi, với phương pháp này HS
tự lĩnh hội kiến thức mới xuất phát từ một sự vật, hiện tượng thực tế gần gũivới các em
* Về giá trị, hiệu quả của sáng kiến.
Sử dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” trong dạy học nói chung và dạy họcSinh học nói riêng giúp thực hiện được mục tiêu giáo dục, tăng hiệu quả vàchất lượng dạy học, giúp học sinh tích cưc, chủ động trong hoạt động học tập,
tự học đồng thời rèn kĩ năng và các năng lực
Áp dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” giúp học sinh biết cách tự thu thập
và xử lý thông tin, thông qua hoạt động nhóm các em học được cách trao đổi,phát triển năng lực ngôn ngữ, cách hoạt động tập thể cũng như hợp tác sao cho
có hiệu quả nhất trên cơ sở đó hình thành thói quen và phương pháp làm việckhoa học
4 Kết quả đạt được của sáng kiến.
Qua quá trình nghiên cứu cũng như thực nghiệm đã chứng tỏ vai trò củaphương pháp “ Bàn tay nặn bột” đối với học tập của học sinh cũng như việc rèn
kĩ năng và phát triển năng lực của người học
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần chỉ ra rằng phương pháp bàn tay nặn bộtkhông chỉ áp dụng có hiệu quả ở bậc tiểu học mà còn phù hợp với các bậc họccao hơn như THCS và THPT Nếu được triển khai một cách đồng bộ có thể
Trang 5giúp học sinh quen với phương pháp học tập khoa học, kích thích sự tìm tòi,tích cực chủ động sáng tạo trong học tập.
5 Đề xuất và kiến nghị.
Từ những giá trị đạt được, chúng ta đều nhận thấy vai trò cũng như tầm quantrọng của phương pháp “ bàn tay nặn bột” trong hệ thống các phương phápgiảng dạy tích cực, tôi xin mạnh dạn đề xuất với các cấp lãnh đạo ủng hộ và tạođiều kiện để phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong dạy học ở cáctrường phổ thông, tổ chức cho giáo viên tiếp cận, học tập phương pháp luận củabàn tay nặn bột, giao lưu, học hỏi rút kinh nghiệm thông qua các đợt sinh hoạtchuyên đề ở tổ, nhóm, trường hoặc cụm trường…
Tổ chức hội thảo, rút kinh nghiệm, tập huần, đưa nội dung phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào chương trình giáo dục thường xuyên cho giáo viên bộmôn Sinh học
Trang 6Đảng ta xác định con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự pháttriển xã hội Để thực hiện thành công công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tacần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổimới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng Phương phápgiáo dục phổ thông cũng được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng người học năng lực tựhọc, năng lực thực hành, lòng say mê học tập và khả năng nghiên cứu khoa họcngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Thông thường một học thuyết khoa học được hình thành theo logic đó là:Nhà khoa học phát hiện ra vấn đề cần nghiên cứu, sau đó bằng những hiểu biếtcủa mình đưa ra các giả thuyết để chứng minh, tiếp đến là chứng minh bằngthực nghiệm, và cuối cùng là hình thành học thuyết khoa học Với phương phápbàn tay nặn bột cũng dạy học sinh tiếp thu kiến thức theo trình tự như vậy Đó
là học sinh nêu vấn đề, tìm cách lí giải, tìm cách chứng minh những lập luậncủa mình bằng thực nghiệm
Phương pháp bàn tay nặn bột tạo cho học sinh môi trường học tập độclập sáng tạo trong sự tương tác với các bạn trong nhóm và trong lớp nên đòi hỏicần có sự trao đổi qua lại giữa các thành viên trong nhóm và trong lớp Do vậy,ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp bàn tay nặn bột cònchú trọng đến việc rèn kĩ năng, năng lực cho người học như ngôn ngữ nói, viết
Bàn tay nặn bột phát huy có hiệu quả các thí nghiệm, thực hành khi dạyhọc các môn khoa học thực nghiệm đặc biệt là môn Sinh học Thông qua thựchành, làm thí nghiệm, học sinh tư tìm ra kết quả và rút ra kết luận Cách họcnhư vậy không chỉ giúp học sinh hình thành kĩ năng thực hành, thí nghiệm màcòn giúp các em hiểu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn
Như vậy với phương pháp bàn tay nặn bột vận dụng trong giảng dạySinh học, giáo viên giúp học sinh của mình biết cách thu thập và xử lí thôngtin, phát triển các năng lực đồng thời hình thành phương pháp nghiên cứu khoahọc
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 71.2.1 Giáo viên
Qua hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn ở trường cũng như sinhhoạt chuyên môn qua mạng bằng những chuyên đề, thảo luận nhóm, tôi đã tiếnhành tìm hiểu nhận thức của các giáo viên khác về đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng tích cực nói chung và phương pháp bàn tay nặn bột nói riêngthu được những nhận định như sau:
- Đa số giáo viên nhận thức đúng về phương pháp dạy học tích cực cũng nhưvai trò của dạy học tích cực đối với sự phát triển toàn diện của học sinh
- Nhiều giáo viên trong quá trình giảng dạy đã quan tâm nhiều tới việc thiết kếcác câu hỏi, bài tập, phiếu học tập để học sinh được hoạt động tích cực chủđộng đặc biệt là trong các tiết thực hành giúp phát triển ở các em các kĩ năng,năng lực Đây là những nền tảng để áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột
- Nhiều giáo viên đã nghe nói về phương pháp bàn tay nặn bột nhưng chưatừng áp dụng vào trong bài giảng của mình và nghĩ rằng phương pháp này chỉ
áp dụng đối với học sinh ở bậc tiểu học
- Một số khác nhầm lẫn giữa phương pháp bàn tay nặn bột với các phươngpháp dạy học tích cực khác như: dạy học nêu và giải quyết vấn đề, thực hànhthí nghiệm, vấn đáp gợi mở…
- Một bộ phận giáo viên được hỏi nếu áp dụng phương pháp bàn tay nặn bộtvào giảng dạy còn lưỡng lự do lo ngại khi áp dụng gặp nhiều khó khăn
- Phần lớn các giáo viên được hỏi về triển vọng khi áp dụng phương pháp bàntay nặn bột vào giảng dạy
1.2.2 Học sinh
Hiện nay, việc học các bộ môn nói chung và môn Sinh học nói riêng ở đại
bộ phận học sinh rất thụ động chủ yếu nghe giảng, ghi chép và học thuộcnhững kiến thức thầy cô truyền thụnên đa số các em không đọc bài và chuẩn bịtrước bài ở nhà do đó hầu như các em không có những thắc mắc muốn hỏi giáoviên trong giờ học, không đọc thêm các tài liệu gì để giải đáp các thắc mắc.Chính vì vậy khi giáo viên tổ chức hoạt động thảo luận, học sinh ngại phát biểu
vì sợ trả lời sai hoặc chỉ chờ các bạn và giáo viên chữa bài để chép
Trang 8Bên cạnh thực trạng đại bộ phận các lớp học sinh được phân công giảngdạy có thái độ học tập như vậy, bản thân tôi đã trao đổi với học sinh của mình
và được biết hầu hết các em đều muốn những giờ học được tự mình khám phá
ra kiến thức, được tự mình tổ chức hoạt động tìm tòi khám phá để giải quyếtvấn đề và đó là bản chất của phương pháp bàn tay nặn bột
Như vậy qua điều tra thực tiễn về giáo viên cũng như học sinh, tôi nhậnthấy việc áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực nói chung và theophương pháp bàn tay nặn bột nói riêng là hoàn toàn phù hợp để đổi mới dạy –học trong giai đoạn mới, tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của họcsinh, nâng cao nhận thức, kĩ năng cho người học Đáp ứng yêu cầu giáo dụctoàn diện con người trong thời đại mới Đây là cơ sở quan trọng trong việcnghiên cứu của tôi nhằm vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy họcSinh học 10
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Nguyên tắc cơ bản của bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học.
Mục đích của phương pháp bàn tay nặn bột là: học sinh tự nghiên cứu,hoạt động bằng tranh luận và trao đổi với nhau Học sinh tự xây dựng các bàithực hành, các nghiên cứu với tư cách là tác giả của những hoạt động khoa học
đó Muốn đạt được mục tiêu đó, cần thực hiện theo một số những nguyên tắc
cơ bản sau đây:
- Đảm bảo tính hiện thực của đối tượng nghiên cứu Nghĩa là học sinh quan sátmột sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, đễcảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó
- Khuyến khích học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến cá nhân, nhấn mạnh đến vai tròcủa hoạt động nhóm trong học tập
- Đảm bảo nâng dần mức độ học tập: Những hoạt động do giáo viên đề xuấtcho học sinh được tiến hành theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức
độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng caolên và dành cho học sinh phần tự chủ
Trang 9- Đảm bảo tính liên tục và tính kế thừa: Các kiến thức trong chương trình cácbậc học, các lớp học đều có sự kế thừa, liên quan với nhau Khi thiết kế hoạtđộng dạy học, giáo viên cần chú ý đến tính kế thừa của các vấn đề đã được đưa
ra ở cấp học dưới Càng có sự trao đổi thông tin, thống nhất giữa các giáo viêncủa các bậc học, các lớp học thì hoạt động dạy học càng có hiệu quả
- Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghichép theo cách thức, suy nghĩ và ngôn ngữ của các em
- Đảm bảo mối liên hệ giữa dạy học kiến thức và rèn ngôn ngữ ( nói và viết)cho học sinh
- Phối hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội, các cấp quản lí để thực hiện tốtquá trình giáo dục học sinh
2.2 Các bước của tiến trình dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột.
Qua nghiên cứu tôi xin đưa ra các bước dạy học môn Sinh theo phươngpháp bàn tay nặn bột như sau:
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống dogiáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huốngxuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuấtphát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thìviệc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợpkhông nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn
đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể)
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay kiến thức mà học sinh
sẽ được học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ,gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, tìm tòi, nghiên cứu của họcsinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiếnthức Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng(trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng
Trang 10đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thựchiện thành công.
Bước 2: Hình thành quan niệm ban đầu của học sinh
Làm bộc lộ quan niệm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của họcsinh là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp bàn tay nặn bột Trongbước này, giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức banđầu của mình trước khi được học kiến thức mới Để làm bộc lộ quan niệm banđầu của học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học
có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bàyquan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiệncủa học sinh như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằngcách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Từ những quan niệm ban đầu của họcsinh, giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi Chú ý xoáy sâu vào nhữngquan niệm liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học
Giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số quan niệm ban đầu khác biệttrong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quanđến nội dung bài học Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phảichọn lựa các quan niệm ban đầu tiêu biểu trong số hàng chục quan niệm củahọc sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạtđiều khiển sự thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từnhững sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học Việc chọn lựa các quan niệm ban đầukhông tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của học sinh gặp khókhăn
Bước 3: Xây dựng giả thuyết và đề xuất phương án thực nghiệm
Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghịcác em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi -nghiên cứu để để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câuhỏi đó Các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây là các phương
Trang 11án để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tàiliệu…
Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà học sinh có thể đề xuất cácphương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu khác nhau Trong quá trình đề xuấtphương án thực nghiệm, nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn
từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bướcgiúp học sinh hoàn thiện diễn đạt Giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinhkhác chỉnh sửa cho rõ ý Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyệnngôn ngữ cho học sinh Trường hợp học sinh đưa ra ngay phương án đúngnhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi cáchọc sinh khác để làm phong phú các phương án tìm câu trả lời Giáo viên có thểnhận xét trực tiếp nhưng yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương pháp
mà học sinh đó nêu ra thì tốt hơn Phương pháp BTNB khuyến khích học sinh
tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là của giáo viên nhận xét
Sau khi học sinh đề xuất được phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiêncứu, giáo viên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án với cácdụng cụ đã chuẩn bị sẵn
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra,giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạyhọc thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu Nếu phải làm thí nghiệm thì ưutiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thểtiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho học sinhquan sát tranh vẽ Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quansát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay môhình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật
Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thínghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiếnhành Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng
Trang 12với hoạt động Nếu để sẵn các vật dụng thí nghiệm trên bàn học sinh sẽ nghịchcác đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật khác trong lớp; hoặc học sinh tự ýthực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên được ban ra; hoặchọc sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm (trường hợp nàymặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ dạy học của giáoviên không đạt).
Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng môđun kiếnthức Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinhrút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng) Giáo viênlưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm(mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luậnsau thí nghiệm vào vở thực hành Phần ghi chép này giáo viên để học sinh ghichép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với nhữnglớp mới làm quen với phương pháp bàn tay nặn bột Đối với các thí nghiệmphức tạp và nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinhđiền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm Ví dụ như các thí nghiệm phải ghi
số liệu theo thời gian, lặp lại thí nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau…
Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từngnhóm Nếu thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉnhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớntiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đếncông việc của các nhóm học sinh khác Giáo viên chú ý yêu cầu học sinh thựchiện độc lập các thí nghiệm trong trường hợp các thí nghiệm được thực hiệntheo từng cá nhân Nếu thực hiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy.Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm để tránh việc học sinh nhìn và làmtheo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho giáo viên pháthiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu,đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệmgiống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kếtquả thí nghiệm như ý
Trang 13Bước 5: Kết luận và hệ thống hóa kiến thức
Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dầndần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hìnhthành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học
Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghivào vở coi như là kiến thức của bài học Trước khi kết luận chung, giáo viênnên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm (rút
ra kiến thức của bài học) Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cáchcho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu)trước khi học kiến thức Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quátrình thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình saihay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt Chính học sinh
tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cáchchủ động Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiếnthức Nếu kiến thức phức tạp và dài giáo viên có thể in sẵn tờ rời để học sinhkẹp vào vở học để tập tránh mất nhiều thời gian cho việc ghi chép các kiến thức
cơ bản của nội dung bài học
2.3 Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Sinh học 10 2.3.1 Lựa chọn nội dung và đề xuất phương án thực nghiệm
Bàn tay nặn bột là phương pháp dạy học với nhiều ưu điểm và hiệu quả như
đã thể hiện ở trên tuy nhiên cũng giống như các phương pháp dạy học tích cựckhác, bàn tay nặn bột không phải là phương pháp dạy học vạn năng và phù hợp vớimọi bài, các đơn vị kiến thức Qua nghiên cứu, tác giả xin được giới thiệu cácnội dung trong chương trình Sinh học lớp 10 có thể áp dụng được phương phápdạy học bàn tay nặn bột một cách hiệu quả
Nội dung dạy học
Trang 14hóa học và nước
I Các nguyên tố hóa
học
II Nước và vai trò của
nước trong tế bào
1 Cấu trúc và đặc tính
hóa lí của nước
2 Vai trò của nước đối
với tế bào
Bài 5: Protein
I Cấu trúc của protein
học cấu tạo nên cơ thể sống, phân tích hàm lượng đểphân biệt nhóm nguyên tố đa lượng và vi lượng
- Liên hệ, kết hợp với vốn hiểu biết thực tế và thamkhảo tài liệu HS tự tìm hiểu về vai trò của mỗi nhómnguyên tố đối với sự sồng
- HS nghiên cứu hình ảnh cấu trúc của phân tử nước
để tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo, tính phân cực và vaitrò của liên kết hidro với sự sống
- HS tự làm thí nghiệm sau để kiểm chứng đặc tính líhóa của nước
+ Thí nghiệm hòa tan muối hoặc đường với nướcthường, nước đá từ đó rút ra nhận xét về mức độ hòatan
+ Thí nghiệm đưa tế bào sống vào ngăn đá trong tủlạnh, sau đó làm nguội học sinh quan sát so sánh vềđặc điểm của tế bào sống trước và sau khi đưa vàongăn đá của tủ lạnh
Từ thí nghiệm, liên hệ HS rút ra nội dung đặc tính líhóa của phân tử nước
- HS nghiên cứu bảng số liệu về thành phần chính cấutạo nên tế bào, kết hợp với kết quả thí nghiệm đưa tếbào sống vào ngăn đá của tủ lạnh, HS rút ra vai tròcủa nước trong tế bào sống và đối với cơ thể
- HS làm thí nghiệm với sợi dây kim loại ( dây đồng),
so sánh và rút ra đặc điểm của từng bậc cấu trúc củaphân tử protein
Trang 15Bài 6: Axit Nucleic
- HS nghiên cứu tài liệu, kết hợp với kiến thức về đặcđiểm của ADN để làm sáng tỏ chức năng của ADN:đặc biệt là liên kết hóa trị và liên kết hidro trong phân
tử ADN
- HS tự nghiên cứu các tư liệu, hình ảnh về vi khuẩndưới kính hiển vi, một số bệnh do vi khuẩn Từ đó rút
ra kết luận về đặc điểm chung của của tế bào nhân sơ
- HS làm thí nghiệm với khoai tây để chứng minh sựtrao đổi chất ở tế bào có kích thước càng nhỏ thì diễn
ra càng nhanh Hoặc có thể HS làm thí nghiệm vớicùng một lượng nước nóng cho vào 1 cốc lớn haycho vào nhiều cốc nhỏ để xem thí nghiệm nào hơinóng thoát nhanh hơn, từ đó HS tự chứng minh đặcđiểm của tế bào nhân sơ
- HS tự phân tích thí nghiệm về thành tế bào để tìm ravai trò của thành tế bào
- HS nghiên cứu tranh ( hoặc mô hình nếu có) về cấutạo tế bào động vật, thực vật, HS tự tìm ra đặc điểmchung của tế bào nhân thực và phân biệt được tế bàothực vật và động vật, phân biệt được tế bào nhân sơ