Đây là một quá trìnhsong song với sự phát triển công nghiệp hóa và cách mạng khoa học công nghệ.Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trongnền kinh tế quốc
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Đất đai
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Theo hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de janerio, Brazil, 1993: “Đấtđai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành củamôi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổnhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nướcngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cưcủa con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại(san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sắt, nhà cửa…)”
1.1.1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiêncứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mụcđích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đấtlâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đíchnuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, nước mặn và đấtchuyên nuôi trồng nước ngọt
- Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
- Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính(vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của
hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
1.1.1.3 Khái niệm về đất phi nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
Trang 2- Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức
sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dụcthể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụmcông nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nôngnghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng,làm đồ gốm
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàngkhông, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệthống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trícông cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đấtchợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác
- Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng
- Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người laođộng trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo
vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp vàđất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinhdoanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở
1.1.2 Đô thị hóa
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm về đô thị
a) Khái niệm về đô thị
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạtđộng trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa ViệtNam, NXB Hà Nội, 1995)
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống vàlàm việc theo kiểu thành thị (Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH Kiến trúc, Hà Nội)
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nôngnghiệp, cơ sơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyênngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của mộtvùng trong tỉnh hoặc trong huyện (Thông tư 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên
Bộ Xây dựng và ban tổ chức cán bộ chính phủ)
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là laođộng phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay
Trang 3chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của
cả một miền đo thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện
b) Những đặc điểm kinh tế xã hội của đô thị
Thứ nhất, đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và có tính toàn cầu:
- Vấn đề môi trường: Tốc độ tăng quá nhanh về công nghiệp hoá và đô thịhoá dấn đến phá huỷ một phần môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môitrường trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, không đầy đủ vì nhiềunguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng là tài chính hạn chế, nhận thứcchưa đầy đủ
- Vấn đề dân số: Tốc độ gia tăng quá nhanh về dân số và dân số đô thị, haihướng chuyển dịch dân cư là chuyển dịch theo chiều rộng và theo chiều sâu diễn ra song song
- Vấn đề tổ chức không gian và môi trường: Quy mô dân số đô thị tập trungquá lớn so với trình độ quản lý, dẫn đến không điều hoà gây bế tắc trong tổ chứcmôi trường sống đô thị
Thứ hai, quan hệ thành thị và nông thôn luôn tồn tại, ngày càng trở nên
quan trọng
Thứ ba, hệ thống thị trường đô thị với những đặc trưng riêng biệt:
- Thị trường đô thị là một hệ thống hoặc địa điểm, ở đó diẽn ra việc muabán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ
- Những thị trường chủ yếu của đô thị bao gồm: Thị trường lao động, thịtrường đất và bất động sản, thị trường giao thông, thị trường hạ tầng đô thị, thịtrường dịch vụ, thị trường tài chính
Thứ tư, đô thị như một nền kinh tế quốc dân: Vì đô thị cũng được giới hạn
về mặt hành chính, hoạt động của nó có tính độc lập tương đối
Thứ năm, đô thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất,
kinh tế và văn hóa Nền văn hoá được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộcViệt Nam
1.1.2.2 Khái niệm về đô thị hoá
Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa
và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quantrọng và dự báo tương lai của quá trình này
“Đô thị hoá” được hiểu theo chiều rộng là sự phát triển của thành phố vàviệc nâng cao vai trò của đô thị trong đời sống của mỗi quốc gia với những dấuhiệu đặc trưng như: tổng số thành phố và tổng số cư dân đô thị Theo khái niệmnày thì quá trình ĐTH chính là sự di cư từ nông thôn vào thành thị Đó cũng làquá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia
Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học như trên thì
sẽ không thể nào giải thích được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của ĐTH
Trang 4cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà khoahọc ngày càng ngả sang cách hiểu ĐTH như một phạm trù kinh tế - xã hội, phảnánh quá trình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phương thức sản xuất vàtiêu dùng, lối sống và sinh hoạt mới - phương thức đô thị Đây là một quá trìnhsong song với sự phát triển công nghiệp hóa và cách mạng khoa học công nghệ.Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trongnền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điềukiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên
cơ sở HĐH cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
a) Phân loại quá trình đô thị hóa
Quá trình ĐTH diễn ra trên thế giới có thể phân chia thành 2 loại:
- Quá trình ĐTH ở các nước đã phát triển: đặc trưng cho sự phát triển này
là nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế những ảnhhưởng xấu của quá trình ĐTH ĐTH diễn ra do nhu cầu công nghiệp phát triển,mang tính tự nhiên
- Quá trình ĐTH ở các nước đang phát triển: có đặc trưng là ĐTH không điđôi với CNH (trừ một số nước công nghiệp mới - NIC) Sự bùng nổ dân số đôthị quá tải không mang tính tự nhiên mà do sức hấp dẫn từ sự cách biệt sâu sắc
về chất lượng cuộc sống giữa đô thị và nông thôn
b) Quá trình đô thị hóa diễn ra theo 2 xu hướng
- ĐTH tập trung (ĐTH “hướng tâm”): đó chính là sự tích tụ các nguồn lực
tư bản và chất xám hình thành nên các trung tâm đô thị công nghiệp tập trungcao độ, những thành phố toàn cầu như Tokyo, Seoul, Điều này sẽ dẫn đến xuhướng “CNH co cụm”, khi đó, chỉ những khu vực đô thị trung tâm là nơi thu hútvốn đầu tư, tập trung các hoạt động công nghiệp, trong khi các lĩnh vực vẫn chỉ
là nông thôn và sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo tạo ra sự đối lậpgiữa đô thị và nông thôn, đồng thời gây ra mất cân bằng sinh thái
- ĐTH phân tán (ĐTH “ly tâm”): là xu hướng dịch chuyển đầu tư và hoạtđộng sản xuất công nghiệp từ các lĩnh vực trung tâm ra các vùng ngoại vi, tạonên hiệu ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình thành các trung tâm vệ tinhcông nghiệp Điều này dẫn đến tiến trình “CNH lan toả”, các hoạt động côngnghiệp ở đô thị trung tâm có xu hướng dịch chuyển ra ngoại vi để chuyển sangcác hoạt động công nghiệp mức cao hơn, hay chuyên môn hoá các lĩnh vực kinhdoanh, thương mại, dịch vụ Xu hướng này sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, tạođiều kiện việc làm, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân đô thị và nông thôn
1.1.2.3 Tính tất yếu của đô thị hoá
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyểnbiến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đườngCNH thì đều gắn liền với ĐTH
Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình côngnghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các
Trang 5nền kinh tế theo hướng hiện đại hoá: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp vàdịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP.Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển.Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hìnhchung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và khôngthể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh côngnghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới.
1.1.2.4 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá và quá trình công nghiệp hoá
ĐTH là một quá trình song song với sự phát triển CNH và cách mạng khoahọc kỹ thuật Quá trình ĐTH phản ánh tiến trình CNH, HĐH trong nền kinh tếthị trường Không ai phủ nhận rằng một quốc gia được coi là CNH thành cônglại không có tỷ lệ cư dân đô thị ngày càng chiếm vị trí áp đảo so với cư dân nôngthôn Đó cũng là lý do mà kinh tế học phát triển đã coi sự gia tăng tỷ lệ cư dân
đô thị như một trong những chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình trạng “có phát triển”của nền kinh tế chậm phát triển đang tiến hành CNH hiện nay ĐTH trước hết là
hệ quả trực tiếp của quá trình CNH và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lạinền kinh tế theo hướng HĐH: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch
vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP
Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, ĐTH giữ vaitrò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảmbảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường ĐTH xúc tiến tối đa CNH - HĐHđất nước Sự nghiệp CNH - HĐH muốn thực hiện thành công cần phải chuyểnđổi căn bản cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệpvới kỹ thuật cao, thay đổi cơ cấu lao động Trước hết có sự tập trung cao cácđiểm dân cư, kết hợp với xây dựng đồng bộ và khoa học các cơ quan và các xínghiệp trung tâm Quá trình này là bước chuẩn bị lực lượng ban đầu cho CNH -HĐH đất nước Khi đó máy móc hiện đại được đưa vào sản xuất nhiều hơn kéotheo việc nâng cao trình độ tay nghề công nhân, đồng thời nâng cao năng lựccho cán bộ quản lý ĐTH sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới của tiến trìnhCNH, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ đạo của nền kinh
tế, không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong GDP mà còn cả vềphương diện phân bố nguồn lao động xã hội
1.1.2.5 Những biểu hiện cơ bản của quá trình đô thị hoá
a) Tỉ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh
Đô thị trên thế giới đang tăng nhanh chóng cả về dân số, số lượng đô thị và
tỉ lệ dân đô thị Dân số đô thị tại các nước phát triển đạt tỉ lệ cao như Anh 80%,Australia 82%, Hoa kì 81%, Nhật Bản 91% … Ngược lại tại các nước đang pháttriển tỉ lệ dân số đô thị thấp như Trung Quốc 53%, Thái Lan 46%, Ấn Độ 31%, Một số nước NICs có tỉ lệ dân số đô thị cao như Singapore đạt 100%, Đài Loan78%, Hàn Quốc 82%, … trong khi đó ở nước ta là 33,1%
b) Dân cư tập trung vào các thành phố lớn
Trang 6Trong những năm gần đây, xu hướng dân nông thôn đổ xô về các thành phốlớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội cực kì đông Theo kết quả điều tra dân
số gần đây ở TPHCM cho thấy ở tại đây có khoảng 3 triệu người thuộc diệnKT3, KT4 đến từ các tỉnh trong nước chiếm khoảng 30,0% dân số của toànThành Phố Theo số liệu thống kê năm 2000, số dân thuộc diện này chỉ chiếm15.2% (730.878 người), và số lượng này đang có xu hướng tăng dần đều
c) Lãnh thổ đô thị mở rộng
Quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển, dân cư tập trung tập về càngnhiều, các đô thị ngày càng phát triển các tuyến đường giao thông khu côngnghiệp, khu dân cư, khu thương mại, khu giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu sinhhoạt và giải trí ngày càng cao của người dân Nhu cầu mở rộng diện tích đất ở,đất làm việc, đất công trình công cộng cũng tăng cao Do đó, diện tích đất đô thịkhông ngừng mở rộng để đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số và sản xuất
Hiện nay, nhu cầu sử dụng đất của dân đô thị đã tăng gấp 2 lần so với thế kỉ
XX Đó là nhu cầu về diện tích nhà ở, công viên, cây xanh, khu vui chơi ngàycàng phát triển khi chất lượng cuộc sống của người dân đô thị tăng lên Như vậy,chỉ tiêu sử dụng đất và gia tăng diện tích đất đô thị là biểu hiện nét đặc trung củaquá trình đô thị hóa Với đà phát triển như vậy, diện tích đất đô thị sẽ càng tăngtrong nhiều năm tới
1.1.2.6 Tác động của đô thị hoá
ĐTH là một quá trình đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra một cách phổ biến trênthế giới ĐTH từng bước đưa con người tiếp cận cuộc sống văn minh, đồng thờicũng đặt ra không ít vấn đề tiêu cực, khó khăn - những vấn đề ảnh hưởng xấuđối với quá trình ĐTH một cách bền vững
a) Mặt tích cực
Một là, ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa và dịch vụthường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân sốtương đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn
do các doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên mộtkhông gian đô thị nhất định Đồng thời khi kinh tế của các đô thị lớn đạt tới độtăng trưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu ứng lan toả kích thích mạnh tới tăng trưởngkinh tế của cả nước
Hai là, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷtrọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực côngnghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp phần làmthay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây cógiá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diệntích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang đượctăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệpthì xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọngngành chăn nuôi
Trang 7Ba là, cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng ĐTH tạo ra sự tập trung sản xuấtcông nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa vàthông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu hạ tầng,nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó mà hệ thốnggiao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽđược cải tiến về quy mô và chất lượng.
Ở nông thôn, việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang được thực hiện với chủtrương “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân
Bốn là, ĐTH nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Các đô thịngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuấthiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm
Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ thuậtcần thiết cho người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinhhọc hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chấtlượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chếbiến và thị trường trong ngoài nước
Năm là, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng lâncận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ranhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nângcao thu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/ tháng tăng lên thì nhucầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêudùng cá nhân Điều đó cho thấy ĐTH làm mức sống của dân cư được cải thiệnđáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
Sáu là, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi thọtrung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ
lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,
ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhaitruyền thống
Thứ hai, tăng khoảng cách giàu nghèo Quá trình ĐTH nhanh đã làm chokhoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị, giữa nông thôn và
Trang 8thành thị trở nên trầm trọng hơn.
Thứ ba, gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về mức sống, điềukiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và đang đượccoi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận lớnngười dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị Lực lượng laođộng ở nông thôn chỉ còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứngđược những công việc nhà nông vất vả Cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn
bị thay đổi theo hướng suy kiệt nguồn lực lao động Đồng thời thị trường laođộng ở thành thị lại bị ứ đọng
Thứ tư, môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suy thoáikhá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triểnmạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày cànggia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn
Thứ năm, phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đời sống đôthị hay của cả quá trình ĐTH Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóatruyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang ngự trịtrong lối sống đô thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đềuđược phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn
Tóm lại, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước thì quá trình ĐTH ngàycàng gia tăng Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình ĐTH phát triển lànhmạnh và bền vững Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem lại phải được chútrọng đồng thời việc phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồn nhân lực conngười làm trọng tâm
1.1.3 Viễn thám
1.1.3.1 Khái niệm về Viễn thám
Định nghĩa tổng quát: Viễn thám được định nghĩa như một khoa học nghiên
cứu các phương pháp thu nhận, đo lương và phân tích thông tin của đối tượng
(vật thể) mà không có những tiếp xúc trực tiếp với chúng
Định nghĩa chi tiết: Viễn thám có thể được định nghĩa như là kỹ thuật thuthập dữ liệu bức xạ điện từ phản chiếu hoặc phát ra từ đối tượng trên mặt đấtbằng cách sử dụng (Remote sensor) và từ đó rút ra thông tin về đối tượng thôngqua quá trình phân tích các bức xạ điện từ
Như vậy, Viễn thám có thể được định nghĩa là một môn khoa học nghệthuật, nhờ nó mà các tính chất của đối tượng quan sát được xác định, đo đạc, thuthập và phân tích mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp với đối tượng
1.1.3.2 Phân loại Viễn thám
Viễn thám sử dụng các phản xạ, bức xạ điện từ để đo đạc xác địnhthông tin về đối tượng Sóng điện từ có thể được coi như nguồn năng lượngchính trong Viễn thám Viễn thám có thể được phân làm 3 loại cơ bản ứngvới vùng bước sóng sử dụng
Trang 9a)Viễn thám trong dãi sóng nhìn thấy và hồng ngoại phản xạ
Nguồn năng lượng sử dụng là bức xạ mặt trời và ảnh Viễn thám nhận đượcdựa vào sự đo lường năng lượng vùng ánh sáng khả kiến và hồng ngoại đượcphản xạ từ vật thể và bề mặt trái đất Ảnh thu được bởi kỹ thuật Viễn thám nàyđược gọi chung là ảnh quang học
b) Viễn thám hồng ngoại nhiệt
Nguồn năng lượng sử dụng là bức xạ nhiệt do chính vật thể sản sinh ra, hầunhư mỗi vật thể trong nhiệt độ bình thường đều tự phát ra một bức xạ Ảnh thuđược bởi kỹ thuật Viễn thám này được gọi là ảnh nhiệt
c) Viễn thám siêu cao tần
Trong Viễn thám siêu cao tần, hai loại kỹ thuật chủ động và bị động đều được áp dụng Kỹ thuật Viễn thám chủ động vệ tinh cung cấp cho các vật thể một nguồn năng lượng riêng, rồi thu lại nguồn năng lượng phản xạ lại từ các vật thể Còn kỹ thuật Viễn thám bị động ghi lại năng lượng sóng vô tuyến cao tần với bước sóng lớn hơn 1mm mà được bức xạ tự nhiên hoặc phản xạ từ một số đối tượng
1.1.3.3 Nguyên lý cơ bản của Viễn thám
a) Nguyên lý cơ bản trong Viễn thám.
Nguyên lý hoạt động cơ bản của Viễn thám dựa vào sóng điện từ được phản
xạ hoặc bức xạ từ vật thể là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về đối tượng
- Mỗi một đối tượng thực phủ khác nhau sẽ cho các phản xạ hoặc bức xạkhác nhau trong cùng một kênh phổ
- Cùng một đối tượng thực phủ nhưng ở các bước sóng khác nhau sẽ chocác phản xạ khác nhau
- Nguồn năng lượng phản xạ hay bức xạ của các vật thể sau khi được thunhận bởi bộ cảm biến và sau đó được chuyển hóa thành dữ liệu ảnh số
a) Nguyên lý thu chụp và xử lý ảnh Viễn thám
Sóng điện từ được phản xạ hoặc bức xạ từ vật thể là nguồn cung cấp thôngtin chủ yếu về đặc tính của đối tượng Ảnh Viễn thám sẽ cung cấp thông tin chủyếu về các vật thể tương đương với năng lượng bức xạ ứng với từng bước sóng
đã xác định Đo lường và phân tích năng lượng phản xạ phổ ghi nhận bởi ảnhViễn thám cho phép tách thông tin hữu ích về từng loại lớp phủ mặt đất khácnhau do sự tương tác giữa bức xạ điện từ và vật thể
Một thiết bị dùng để cảm nhận sóng điện từ phản xạ hay bức xạ từ vật thểđược gọi là bộ cảm biến Bộ cảm biến có thể là các máy chụp ảnh hoặc máyquét Phương tiện mang các máy thu được gọi là vật mang có thể là máy bay,khinh khí cầu, tàu con thoi hoặc vệ tinh… Hình 1.1 thể hiện sơ đồ nguyên lý thunhận dữ liệu ảnh Viễn thám
Trang 10Hình 1.1 Nguyên lý thu thập dữ liệu ảnh Viễn thám
Nguồn năng lượng chính thường sử dụng trong Viễn thám là bức xạ mặttrời, năng lượng của sóng điện từ do các vật thể phản xạ hay bức xạ thu nhận bởi
bộ cảm biến đặt trên vật mang
Thông tin về năng lượng phản xạ của các vật thể được ghi nhận bởi ảnhViễn thám và thông qua xử lý tự động trên máy hoặc giải đoán trực tiếp từ ảnhdựa trên kinh nghiệm của chuyên gia Cuối cùng, các dữ liệu hoặc thông tin liênquan đến các vật thể và hiện tượng khác nhau trên mặt đất sẽ được ứng dụng vàotrong nhiều lĩnh vực khác nhau như: nông lâm nghiệp, địa chất, khí tượng, môitrường…
Hình 1.2 thể hiện sơ đồ quy trình công nghệ cơ bản được sử dụng trongviệc tách thông tin hữu ích từ ảnh Viễn thám
Hình 1.2 Nguyên lý thu nhận và quy trình xử lý dữ liệu Viễn thám
Toàn bộ quá trình thu nhận và xử lý ảnh Viễn thám có thể chia thành 5thành phần cơ bản như sau:
- Nguồn cung cấp năng lượng
- Sự tương tác của năng lượng với khí quyển
- Sự tương tác với các vật thể trên bề mặt đất
- Chuyển đổi năng lượng phản xạ từ vật thể thành dữ liệu ảnh số bởi bộ cảm biến
- Hiển thị ảnh số cho việc giải đoán và xử lý
Hình 1.3 minh họa những thành phần cơ bản của một hệ thống Viễn thám
Trang 11A – năng lượng sống điện từ được bức xạ từ nguồn cung cấp
B – năng lượng này tương tác với các phân tử trong khí quyển
C – khi đến mặt đất, năng lượng tương tác với bề mặt vật thể
D – năng lượng phản xạ được tách và ghi nhận bởi bộ cảm biến
E – truyền dữ liệu về các trạm thu để xử lý
F – giải đoán và phân tích ảnh Viễn thám
G – ứng dụng ảnh Viễn thám vào các lĩnh vực liên quan
Hình 1.3 Thu nhận, xử lý và ứng dụng dữ liệu Viễn thám
Năng lượng của sóng điện từ khi lan truyền qua môi trường khí quyển sẽ bịcác phần tử khí hấp thụ dưới các hình thức khác nhau tùy thuộc vào từng vùngbước sóng cụ thể Trục ngang trong hình 2.4 thể hiện giá trị bước sóng và trụcđứng thể hiện % năng lượng ứng với từng bước sóng cụ thể khi truyền qua khíquyển Các vùng phổ mà không bị ảnh hưởng mạnh bởi môi trường khí quyển(còn được gọi là cửa sổ khí quyển) sẽ được chọn để sử dụng cho việc thu nhậnảnh Viễn thám Các bước sóng ngắn hơn 0,3µm hầu như bị hấp thụ bởi tầngôzôn, nhưng vùng ánh sáng khả kiến do mặt trời cung cấp rất ít bị hấp thu bởikhí quyển và năng lượng sóng điện từ ứng với bước sóng 0,5µm có ưu thế choviệc thu nhận ảnh Viễn thám Bức xạ nhiệt của trái đất có năng lượng cao nhấttại bước sóng 10µm trong vùng cửa sổ khí quyển và sóng vô tuyến cao tần vớibước sóng lớn hơn 1mm cũng rất ít bị hấp thu bởi khí quyển Do đó, ảnh Viễnthám nhận được thường dựa vào sự đo lường năng lượng phản xạ của sóng điện
từ nằm trong vùng khả kiến và hồng ngoại nhiệt (ảnh quang học) và vùng sóng
vô tuyến cao tần (ảnh rada) là trường hợp ngoại lệ không sử dụng năng lượngmặt trời
Trang 12Hình 1.4 Vùng phổ sử dụng trong Viễn thám ít bị hấp thu năng lượng bởi khí quyển
Trong Viễn thám, người ta thường quan tâm đến khả năng lan truyềnsóng điện từ trong khí quyển, vì các hiện tượng và cơ chế tương tác giữasóng điện từ với khí quyển sẽ có tác động mạnh đến thông tin được thu nhậnbởi bộ cảm biến Khí quyển có đặc điểm quan trọng đó là tương tác khácnhau đối với bức xạ điện từ có bước sóng khác nhau Đối với Viễn thámquang học, nguồn năng lượng cung cấp chủ yếu là do mặt trời và sự có mặtcũng như thay đổi các phân tử nước và khí (theo không gian và thời gian) cótrong lớp khí quyển là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự biến đổi năng lượngphản xạ từ mặt đất đến bộ cảm biến Khoảng 75% năng lượng mặt trời khichạm đến lớp ngoài của khí quyển được truyền xuống mặt đất và trong quátrình lan truyền sóng điện từ luôn bị hấp thu, tán xạ và khúc xạ bởi khíquyển trước khi đến bộ cảm biến Các loại khí như oxy (O2), nitơ (N2),cacbonic (CO2), ôzôn (O3), hơi nước (H2O)… và các phần tử lơ lửng trongkhí quyển là tác nhân chính ảnh hưởng đến sự suy giảm năng lượng sóngđiện từ trong quá trình lan truyền
Để hiểu rõ cơ chế tương tác giữa sóng điện từ và khí quyển, và việc chọn phổ điện từ để sử dụng cho việc thu nhận ảnh Viễn thám, bảng 1.1 thể hiện đặc điểm của dải phổ điện từ thường được sử dụng trong kỹ thuật Viễn thám
1.1.4 Ảnh Viễn thám
1.1.4.1 Khái niệm về ảnh Viễn thám
Ảnh Viễn thám (còn gọi là ảnh vệ tinh) là ảnh số thể hiện các vật thể trên bềmặt trái đất được thu nhận bởi các bộ cảm biến đặt trên vệ tinh
1.1.4.2 Phân loại ảnh Viễn thám
Tùy thuộc vào vùng bước sóng được sử dụng để thu nhận, ảnh Viễn thám có thể
Trang 13được phân thành ba loại cơ bản:
- Ảnh quang học: Nguồn năng lượng chính là bức xạ mặt trời
- Ảnh nhiệt: Nguồn năng lượng chính là bức xạ nhiệt của các vật thể
- Ảnh rada: Nguồn năng lượng chính là sóng rada phản xạ từ các vật thể do
vệ tinh tự phát xuống theo những bước sóng đã được xác định
a) Ảnh quang học
Ảnh quang học là ảnh Viễn thám nhận được dựa vào sự đo lường nănglượng sóng điện từ có bước sóng nằm trong dải tần từ ánh sáng khả kiến đếnhồng ngoại phản xạ, do các vật thể trên bề mặt trái đất phản xạ hay bức xạ.Nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho việc thu nhận ảnh quang học là bức
xạ của mặt trời
Bảng 1.1 Đặc điểm của dải phổ điện từ sử dụng trong kỹ thuật Viễn thám
(Viễn thám - Lê Văn Trung, 2012)
STT Giải phổ điện từ Bước sóng Đặc điểm
1 Tia cực tím 0,3 ÷ 0,4 µm
Hấp thụ mạnh bởi khí quyển ở tầng cao,không thể thu nhận năng lượng do dải sóngnày cung cấp nhưng hiện tượng này lại bảo vệcon người tránh bị tác động bởi tia cực tím
2 Khả kiến 0,4 ÷ 0,76 µm
Rất ít bị hấp thụ bởi O2, H2O, năng lượng phản
xạ cực đại với bước sóng 0,5 µm trong khíquyển Năng lượng do dải sóng này cung cấpgiữ vai trò quan trọng trong Viễn thám
Năng lượng phản xạ mạnh ứng với các bướcsóng hồng ngoại gần từ 0,77 – 0,9 µm Sử dụngtrong chụp ảnh hồng ngoại theo dõi sự biến đổithực vật từ 1,55 ÷ 2,4 µm
5 Vô tuyến rada 1mm ÷ 30 cm
Khí quyển không hấp thụ năng lượng bướcsóng lớn hơn 2cm, cho phép thu nhận nănglượng cả ngày lẫn đêm, không ảnh hưởng bởimây, sương mù hay mưa
b) Ảnh rada