LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG: KHÁI NIỆM PHÂN LOẠI NỘI DUNG CHÍNH
Trang 6Lăng mộ Taj Mahal
Trang 7Lăng mộ Shankara
Trang 81.Hoàn cảnh ra đời
Đất nước rộng lớn thuộc bán đảo Nam Á, có điều kiện tự nhiên & điều kiện xã hội đa dạng
Cư dân đa dạng: Ng Đraviđien (ở m.Nam), ng Arien (ở
m.Bắc);
Ng.Arien sớm xây dựng các công xã nông thôn (ruộng đất thuộc nhà nước) trên nền tảng XH 4 đẳng cấp (tăng lữ, quý tộc, bình dân & nô lệ) tồn tại dai dẳng & khắc nghiệt;
Nhà nước kết hợp với tôn giáo thống trị, bóc lột nô lệ tôn giáo bao trùm đời sống XH CN sống nặng về tâm linh, luôn khao khát được giải thoát;
Lịch sử trãi qua 4 thời kỳ : Văn minh Sông Aán Văn minh Vêđa Các vương triều độc lập Các vương triều lệ thuộc…
Ng.Aán Độ đã đạt được những thành tựu khá rực rỡ (vật chất & tinh thần) trong đó có nền triết học thâm trầm, sâu sắc.
Trang 92.Các đặc điểm
Nó được chia thành chính thống & không chính thống (dựa trên cơ sở phân chia là thái đội đối với kinh Vêđa);
Nó thường là giáo lý của các tôn giáo; nó lý giải đời sống tâm linh, tìm kiếm sức mạnh của linh hồn CN nền TH này mang tính DT chủ quan & thần bí;
Là nền triết học đồ sộ, thâm trầm, nó đã đặt ra và cố giải quyết nhiều vấn đề, song những vấn đề được ưu tiên giải quyết là nhóm các vấn đề thuộc về nhân sinh , nhằm tìm kiếm con đường giải thoát chúng sinh ra khỏi thực tế XH đẳng cấp khắc nghiệt của
Trang 10Các TP triết học Aán Độ
cổ-trung đại
Các TP không chính thống Các TP chính
thống
Trang 11 Nguồn gốc hình thành Upanisad
Các TT cơ bản trong Upanisad:
TT về brátman, átman, nghiệp báo, luân hồi, số kiếp;
TT về tính bất biến của chế độ đẳng cấp;
TT về thượng trí & hạ trí.
Tư tưởng TH trong Upanisad là mạch suối ngầm phát nguyên ra các dòng chảy tư tưởng của các trường phái
TH Aân Độ sau này.
Trang 12 Coi átman là hiện thân của brátman nơi thể xác CN, luôn
bị vây hãm bởi sự ham muốn nhục dục Để giải thoát cho átman CN phải dốc lòng tu luyện, suy tư, chiêm nghiệm tâm linh để nhận ra bản tính thần thánh của mình mà quay về với brátman
Coi TG vật chất là ảo ảnh , do vô minh mang lại.
V êđanta,TP ch.thống tiêu biểu là giáo lý đạo Bàlamôn-Hinđu.
Vào thời trung đại, Vêđanta chuyển dần từ lập trường nhất nguyên DT sang nhị nguyên.
Trang 13 Adi Shankara: TG này không thể là thật và
không thật cùng một lúc; do đó TG này là
không thể miêu tả được.
TG này chỉ là một ảo ảnh, không có thực Bởi vì:
ST là vĩnh cửu, những gì không vĩnh cửu là không có thật Bởi TG
được tạo ra và bị hủy diệt, nó là không có thật
ST là thứ không thay đổi Vì TG luôn thay đổi, nó là không có thật
ST là không phụ thuộc vào không gian và thời gian, TG luôn có
(tồn tại trong) không gian và thời gian nên nó không có thật
(Giống như là một người thấy các giấc mơ lúc ngủ, anh ta thấy một loại
siêu giấc mơ khi anh ta thức TG này được so sánh với giấc mơ lúc tỉnh
này)
TG này là một sự áp đặt của Brahman Sự áp đặt làm cho cái bị áp
đặt không thể là cái có thực TG này không có thật.
Trang 14TG này cũng không phải tuyệt đối là không có thực Nó chỉ không thật khi đem so sánh với Brahman Trong trạng thái thực
tế, TG này là hoàn toàn có thật - điều này xảy ra miễn là chúng
ta vẫn ở dưới ảnh hưởng của Maya TG này có thật, vì:
Nếu TG là không có thật, thì với sự giải thoát của CN đầu tiên, TG
này hoàn toàn sẽ phải bị xóa bỏ Tuy nhiên, TG tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi một người đạt tới sự giải thoát
Có Karma - đặc điểm của TG này Do đó, TG này không thể là
không có thật
Có Brahman - cơ sở cho TG này;TG này như là sự phản chiếu của
nó Như vậy, TG này không hoàn toàn là giả tạo
Giả tạo là một thứ không tồn tại TG này có thể cảm nhận được
bằng các giác quan của chúng ta Nó có thật
(TG này giống như ảnh một cây bút được đặt trước một tấm gương Ta
có thể thấy được ảnh phản chiếu của nó Đối với mắt, ảnh của cây bút được cảm nhận Bây giờ, ảnh đó được gọi như là thế nào? Nó không thể là có thật, vì nó chỉ là bức ảnh Sự thật là cây bút Nó không thể
Trang 15hạn, phi cảm) Coi vạn vật là thể thống nhất, tác
động, chuyển hóa giữa 3 yếu tố sativa (nhẹ
nhàng, thuần khiết), razas (tích cực, năng động), tamas
(nặng, ỳ) & bị chi phối bởi luật nhân quả :
Prakriti→ngũ hành (không khí, lửa, nước, đất & ête);
Prakriti→ngũ quan tác động (cuống họng, bàn tay,
bàn chân, CQ bài tiết, CQ sinh dục) & ngũ quan cảm
giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, da)→ ngũ giác (thị, thính,
khứu, vị, xúc)→trí tuệ (năng lực nhận thức);
Prakriti→purusa (tinh thần phổ quát, bất biến của cá
tính trong các sinh vật; giúp thực hiện việc truyền sinh khí, đẩy mạnh sự biến hóa của các yếu tố vật chất)
Thời trung đại nó đã chuyển lập trường từ DV nhất nguyên sang nhị nguyên [thừa nhận 2 bản nguyên prakriti & purusa (gắn liền với các yếu tố
Trang 16 Do đạo sĩ Patanjali sáng lập (tk.2,TCN)
Tư tưởng cốt lõi: Thừa nhận nguyên lý hợp nhất của vũ trụ nơi mỗi cá thể; thông qua các ph.pháp yôga mà mỗi cá thể có thể khai thác được sức mạnh vũ trụ tiềm ẩn trong mình để làm chủ mình, môi trường, và vươn tới sự giải thoát
Ph.pháp yôga đòi hỏi sự kiên trì, tính tích cực tự giác kết hợp giữa rèn luyện thể xác & rèn luyện tư duy qua Bát bảo tu pháp:
Cấm chế (giữ đúng điều răn);
Khuyến chế (thanh tịnh trong học tập kinh điển);
Tọa pháp (giữ đúng vị trí thân thể);
Điều tức (điều chỉnh hơi thở hợp lý);
Chế cảm (chế ngự, kiểm soát, làm chủ cảm giác);
Chấp trì (tập trung tư tưởng, trí tuệ vào một chỗ);
Thiềân định (giữ tâm thống nhất);
Tuệ (trạng thái xuất thần, bừng sáng tư duy hoà nhập
vào đại ngã)
Trang 17 Do Gaimini khởi xướng (tk.2,TCN), phát triển mạnh vào thời trung đại; nó biện hộ, củng cố cho các nghi thức được đề cặp đến trong Vêđa, trong giáo lý đạo Bàlamôn-Hinđu
Tư tưởng chủ đạo:
Coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận
thức; tồn tại là cảm giác được (không có thần
linh)
Coi bản thân những nghi thức, lời kinh tự chúng
đã có sức mạnh huyền bí đối với người tu hành để giúp họ trên con đường hành đạo
(không cần đến thần linh)
Muốn giải thoát khỏi trạng thái hiện hữu phải
thực hiện đúng mọi nghi thức được nêu ra trong Vêđa, trong giáo lý Bàlamôn – Hinđu, phải thực hiện mọi nghĩa vụ, bổn phận mà trật tự xã hội quy định
Vào thời trung đại, nó đã chuyển lập trường
Trang 18e)Niaja
Do Gôtama sáng lập (tk.3,TCN), Vátsiaiana (tk.4) &
Yđiatakara (tk.7) ph.triển
Tư tưởng cơ bản:
Nguyên tử luận : Coi nguyên tử (Anu) là bản nguyên vật chất duy nhất của TG, tuy nhiên cũng thừa nhận sự tồn tại linh hồn (Ya) & thần Isvara;
Lôgích học: Xây dựng ngũ đoạn luận (luận đề,
nguyên nhân, ví dụ, suy đoán, kết luận);
Nhận thức luận : Coi đối tượng NT tồn tại khách quan; Cảm giác, kết luận, tương tự & bằng chứng là 4 phương thức NT đáng tin cậy; Đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi NT là đúng khi nó phù hợp với bản chất của đối tượng và giúp CN đạt được mục đích; còn nếu ngược lại, thì đó là NT sai lầm
Niaja & Vaisêsika liên kết với nhau Sang thời trung đại, chúng chuyển lập trường từ vô thần sang hữu thần (coi thần đã dùng nguyên tử để tạo nên
thế giới).
Trang 19f)Vaisêsika
Do Kanađa sáng lập (tk.2 TCN), Parasatapađa ph.triển
(tk.5)
Tư tưởng cơ bản:
Nguyên tử luận: Coi nguyên tử là bản nguyên duy nhất trong thế giới, khi chúng kết hợp với nhau tạo nên vạn vật, đồng thời thừa nhận sự tồn tại của một lực lượng vô hình không cảm giác được điều khiển sự kết hợp đó;
Lôgích học: Xây dựng lý luận về phạm trù Họ nêu
ra 7 phạm trù cơ bản để phản ánh sự tồn tại của thế giới (thực thể, quan hệ, hoạt động, tính phổ biến, tính
đặc thù, tính vốn có & cái hư vô)
Nhận thức luận: Coi đối tượng NT tồn tại khách quan;
NT chỉ tin cậy được khi nó phản ánh trung thành với bản thân đối tượng, trong đó, thực tiễn là thước đo độ tin cậy của tri thức; Ký ức, nghi ngờ, sai lầm & giả thuyết là 4 hình thức NT không đáng tin cậy.
Niaja & Vaisêsika liên kết với nhau Sang thời trung đại, chúng chuyển lập trường từ vô thần sang hữu
Trang 20a)Lokayatta
Do Brihaspati sáng lập trong cuộc đấu tranh chống Vêđa & chế độ đẳng cấp ở Đông Aán; nó đầy tính duy vật, vô thần, khoái lạc
Tư tưởng cơ bản:
CN & v.vật tồn tại rất đa dạng được tạo thành từ 4 yếu tố (đất, nước, lửa, gió) Linh hồn (ý thức) khả tử là thuộc tính của cơ thể, do thể xác (vật chất) sinh ra
Không có luân hồi, nghiệp báo, giải thoát…; CN chỉ sống có một lần trên thế gian, vì vậy, cần sống cho chính cuộc đời này (không có cuộc đời nào khác)
Cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của nhận thức; Suy lý không đáng tin cậy; Phê phán những suy luận trong Vêđa hay những kết luận được rút ra từ nó
Không có thần thánh, thiên đường, điạ ngục,…; chủ trương thỏa mãn ham muốn, sống khoái lạc, tận hưởng đầy đủ những gì mong muốn
Do xa lạ với truyền thống tôn giáo & chế độ đẳng cấp nên nó bị công kích dữ dội, và chỉ tồn tại
Trang 21b)Jaina
Do Mahavira sáng lập (tk.5,TCN)
Tư tưởng cơ bản là thuyết về cái tương đối,
dung hòa quan niệm về thực thể bất biến (Upanisát) với quan niệm vô thường (Phật giáo):
Thực thể bất biến có 2 trạng thái cơ bản là jiva
(quỷ, thần, người, chim, thú, cây, cỏ… có lý trí, linh
hồn, sống) & ajiva (không gian, thời gian, vận động, vật chất… không sống) luôn liên kết tác động lẫn
nhau tạo nên vạn vật không ngừng biến chuyển
Linh hồn là sức mạnh toàn năng, nó tồn tại đa
dạng, nhưng năng lực của nó bị hạn chế bởi thân xác mà nó liên kết;
Để giải phóng & phát huy sức mạnh của linh
hồn, cần phải tu luyện theo giới luật của đạo Jaina: bất sát sinh, bất bạo lực, không hại sinh linh, sống khổ hạnh, không của riêng, ăn chay trường, không dùng vải che thân…
Trang 22c) Phật giáo
Phật giáo & kinh điển
Truyền thuyết về Đức Phật & sự xuất hiện Phật giáo
Sự phân hóa Phật giáo và các đợt kết tập
Thượng tọa bộ (Tiểu thừa)
Đại chúng bộ (Đại thừa)
Trang 23 Thế giới quan PGNT
Duyên khởi: Các pháp (sự vật VC/TT) đều do
nhân (nguyên nhân) duyên (điều kiện) mà có; Duyên giúp cho nhân biến thành quả; Duyên khởi từ tâm; Tâm là cội nguồn của vạn vật
Do đó, thế giới là vô tạo giả, vô ngã, vô thường
Vô ngã: Không có đại ngã, tiểu ngã (thực thể
tối thượng vĩnh hằng); vạn vật & con người được cấu tạo từ 2 yếu tố: sắc (cái vật chất [đất,
nước, lửa, gió]) & danh (cái tinh thần [thụ, tưởng, hành, thức])
Vô thường: Không có cái gì vĩnh cửu; khi sắc &
danh tụ, vạn vật, con người x.hiện; khi sắc & danh tan, chúng sẽ mất đi; tức chúng luôn nằm trong chu trình sinh - trụ - dị - diệt, bị cuốn vào dòng
biến hóa hư ảo vô cùng theo luật nhân quả
TGQ PGNT mang tính vô thần, nhị nguyên luận
ngả về phía DTCQ, có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác.
Trang 24 Nhân sinh quan PGNT
Thể hiện trong th Tứ diệu đế :
Khổ đế : Lý luận về nỗi khổ bất tận ở thế gian,
được thể hiện trong th Bát khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái
biệt ly, sở cầu bất đắc, oán tăng hội, ngũ uẩn)
Nhân đế : Lý luận về ng.nhân của nỗi khổ, được
thể hiện trong:
Th Tam độc (tham, sân, si) nghiệp luân hồi bể
khổ
Th Thập nhị nhân duyên (vô minh hành thức
danh-sắc lục nhập xúc thụ ái thủ hữu sinh
tấn, ch.niệm, ch.định [định]) Tam độc được khắc phục
Trang 25 Phật giáo khuyên thực hành Ngũ giới
(k.sát sinh, k.trộm cắp, k k.tà dâm, k.nói dối, k.ẩm tửu); rèn luyện Tứ đẳng (từ,
bi, hỉ, xả); phản đối chế độ đẳng cấp,
tố cáo bất công, đòi công bằng bình đẳng xã hội, hướng chúng sinh suy nghĩ về điều thiện & làm việc thiện.…
NSQ PGNT dù mang tính duy tâm chủ quan,
thần bí, không tưởng nhưng chứa đầy tính nhân bản, nhân đạo sâu sắc;
Thượng tọa bộ (PG nam truyền), khác biệt với Đại chúng bộ (PG bắc truyền/đại thừa)
- khuynh hướng cấp tiến muốn tìm kiếm, bổ sung, phát triển những cơ sở giáo lý
Trang 27Sau 49 ngày tọa thiền dưới gốc
cây Bồđề, Tất Đạt Đa đã thành
Trang 31Tề
Lô Tống
Trang 33Vạn lý trường thành
Trang 341 Hoàn cảnh ra đời
Trung Hoa - đất nước rộng lớn thuộc vùng Đông Á có 2 con sông lớn (Hoàng Hà & Trường
Giang) Vào tk 21 TCN, chỉ là một vùng đất
nhỏ ở trung lưu Hoàng Hà, lãnh thổ được mở rộng dần cho đến thế kỷ 18
Cư dân phía bắc Trường Giang là dân tộc Hán , có nguồn gốc Mông Cổ (Hoa/Hạ) sống
du mục (thích săn bắn, chinh phục) Cư dân phía nam Trường Giang là các dân tộc Bách Việt , sống nông nghiệp (định canh, định cư) có nền văn hóa riêng, nhưng dần dần bị dân tộc Hán đồng hóa XH chia làm 2 lọai người (quân
tử & tiểu nhân),…
Lịch sử Trung Hoa cổ-trung đại đầy biến động, với các vương triều khác nhau đã để lại một
nền văn hóa rực rỡ với nhiều trường phái
Trang 352 Các đặc điểm
Nền triết học đồ sộ, nhưng tập trung giải
quyết những vấn đề do thực tiễn đạo đức - chính trị - xã hội của thời đại đặt ra
Xuất phát từ quan hệ giữa Thiên - Địa -
Nhân mà CNDV & CNDT xung đột nhau xung quanh vấn đề cội nguồn, số phận, bản tính,
… của CN ; nhằm xây dựng một quan niệm nhân sinh vững chắc, giúp CN vươn lên trong điều kiện XH phức tạp & đầy biến động
Các trường phái triết học khác nhau vừa
phê phán, xung đột, vừa hấp thụ tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình, & chịu ảnh hưởng tư tưởng biện chứng trong kinh Dịch.
Trang 371.Aâm dương gia
Tư tưởng triết học của Âm dương gia
& Lý luận Ngũ hành
Trang 38a) Lý luận Âm Dương
Phạm trù Aâm, Dương
 (đối lập với D) phản ánh những yếu tố, khuynh hướng như giống cái, đất, mẹ, vợ, nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn , tĩnh, tiêu cực…
D (đối lập với Â) phản ánh những yếu tố, khuynh hướng như giống đực, trời, cha, chồng, cương, cường, sáng, khô, phía trên, bên trái, số lẻ , động, tích cực…
Nguyên lý Â-D thống nhất, tác động, chuyển hóa lẫn nhau
Trong D có Â, D cực thì Â sinh, D tiến thì Â lùi, D thịnh thì Â suy…; & ngược lại.
Trong Â&D đều có tĩnh & động; bản tính của D là động, của  là tĩnh…; Â&D giao cảm với nhau
động biến hóa thông vạn vật tồn tại
Sự thống nhất-tác động của Â&Dsự sinh thành & biến hóa của vạn vật; V.vật biến tận cùng sẽ quay trở lại cái ban đầu .