1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

66 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn ôn thi cao học lịch sử triết học phương đông
Tác giả Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Hướng dẫn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 371,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG KHÁI LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ TRUNG ĐẠI CƠ BẢN KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI TRUNG CỔ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI LƯỠNG HÁN

Trang 1

I KHÁI LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ - TRUNG ĐẠI.

1 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT

VỀ SỰ PHÂN KỲ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ.

Triết học Ấn Độ ra đời trên cơ sở của một nền văn minh cổ nhất củaloài người, những truyền thống hàng ngàn năm của nó bắt nguồn từ thế kỷ

XV TCN - X SCN vẫn được bảo tồn cho đến ngày nay Có thể chia Lịch sửcác học thuyết Ấn Độ thành bốn thời kỳ:

- Thời kỳ Vệđà (XV TCN - VII TCN)

- Thời kỳ cổ điển hay còn gọi là thời kỳ Phật giáo - Balamôn (VI TCNđến thế kỷ X SCN)

- Thời kỳ sau cổ điển (X - XVIII)

- Triết học Ấn Độ cận đại và hiện đại

Cũng có quan niệm triết học Ấn Độ cổ-trung đại là phát triển trongkhoảng từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XV SCN

1.1 - Thời kỳ văn hóa Veda (XV -VII TCN):

Veda bắt nguồn từ căn tự “vid” có nghĩa đen là “hiểu biết”, “tri thức”.Veda cũng được dùng chung với ý nghĩa là “kinh thánh” Đối với các trườngphái chính thống Veda là những tri thức cao cả, thiêng liêng Trong cụ thể,Veda là một khối lượng các tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảngthời gian trên dưới 2000 năm, không đồng nhất về nội dung và văn phong.Cùng với sự hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ, từ thế kỷ X TCN Thánh kinhVêda là triết lý tôn giáo đa thần, mà bộ phận mang tính triết học nhiều nhất làUpansát Đạo Bàlamôn dựa trên triết lý của Upanisát và chế độ phân biệtđẳng cấp nghiệt ngã của Ấn Độ cổ, là tôn giáo thờ một thần: Tinh thần tốicao, toàn năng, tuyệt đối, sáng tạo ra tất cả và chi phối tất cả - Thần Brahman.Đây là hình thức ban đầu của đạo Hinđu và ảnh hưởng lớn đến thế giới quantriết học Ấn Độ cổ đại

Kinh Veda là bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và cũng là cổ nhất của loàingười Nó được soạn từ thế kỷ XII đến thế kỷ V TCN Người ta cho rằng, vềnguồn gốc thần học, kinh Veda là những chân lý do Thượng đế mặc khải choloài người ở đầu mỗi chu kỳ của vũ trụ (Mỗi chu kỳ là 4320 triệu năm).Những chân lý ấy tự tồn tại, tuyệt đối và tiên thiên siêu thời gian Con người

Trang 2

chỉ nhận thức được nó bằng trực giác Người thấu thị được nó phải có mộtquá trình tu luyện, chiêm nghiệm nội tâm lâu dài cả về hành động lẫn tri thức.

Về lịch sử nó không là tác phẩm của một người, mà là sự tổng hợp, thu lượmtất cả những câu ca dao, vịnh phú, tư tưởng, quan niệm, tập tục lễ nghi củanhiều bộ lạc người Aryan ở nhiều địa phương thuộc sông Inđus, Gangơ vàchân núi Hymalaya Từ thế kỷ X đến thế kỷ VIII TCN nó mới được sưu tập,biên chép thành sách bằng tiếng Phạn cổ

Thời tiền Veda có 4 tập Bộ phận sớm nhất của Veda là những khúc háttụng ca truyền miệng của dân du mục Arya, những khúc hát này được truyềnqua ký ức và truyền miệng, nó chỉ được in thành sách từ thế kỷ XIV là Rig-Veda Sau đó là Sama-Veda, Yajur-Veda, Atharva-Veda

+ Rig-veda: Rig có nghĩa là tán ca Đây là bộ phận cổ nhất nó có

1028 khúc hát với 10552 khổ, nó ra đời vào khoảng thế kỷ XXV - XX TCN,được phổ biến ở Ấn Độ vào thế kỷ XV TCN Những khúc ca ở đây dùng đểcầu nguyện, chúc tụng công đức các thần thánh Hai vị thánh được nhắc đếnnhiều nhất là thần Sấm Indra và thần Lửa Agni Bộ kinh này chuyên dùng chocác bậc Khuyến thỉnh sư (Hotri)

Rig-veda không có tư duy triết học mà chỉ nêu lên những nguyện vọnghàng ngày của nhân dân như thức ăn, gia súc, mưa, an cư, mạnh khỏe, nhiềucon cái Tuy vậy, các nhà triết học về sau thường cố gắng trích dẫn Rig-veda

để chứng minh nó có ảnh hưởng đến quan điểm triết học, xác nhận quyền uycủa Rig-veda với học thuyết của mình Thật ra việc làm này là miễn cưỡng và

vô nghĩa

+ Sama-Veda còn gọi là ca vịnh Veda: Là tuyển tập các đoạntrích của Rig-veda, gồm 1549 bài Nó là những câu hát dành cho các tư tế(udgtri) trong tiến trình nghi lễ Trong lễ hiến tế người ta đồng thanh hát ngânnga những bài ca có vần dài tới 9 giây và thường kết thúc bằng từ UM (ôm)huyền bí Nó chuyên dùng cho các bậc Ca vịnh sư (Udgrat) Nó còn được coinhư những quyết định về luật lệ cho sinh hoạt thị tộc Chính điểm này, làm

Ấn Độ trở nên một quốc gia khó cách tân về phong tục, tập quán Bởi vì, nếucách tân là phạm lời dạy của thánh

+ Yajur-Veda gọi là Tế tự Veda Nó là sự tập hợp những côngthức khấn bái dùng trong lễ nghi hiến tế Đây là bộ kinh dành cho Hành lễ sư(Adhvaryu) Bộ này gồm 2 bộ (Đen: Krispa và Trắng: Sukla) Bộ Trắng chỉ

Trang 3

có các thần chú và các công thức sử dụng cho các nghi lễ Bộ Đen là những ýkiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó.

Thần chú trong Yajur-Veda bao gồm cả thơ và văn xuôi mang tínhcông thức khấn bái dùng trong nghi lễ hiến tế Các công thức này thườngkhông có nghĩa Nếu có thì là sự vô lý hỗn loạn nên được coi là có sức mạnh

ma thuật

Các hành lễ sư phải thuộc lòng các công thức trong thánh kinh này.Thánh kinh này dạy những thể thức hành lễ, cúng bái, cách bày các loại tếkhí, các đồ lễ lên bàn thờ và cách dâng đồ lễ khi cúng tế

+ Atharva-Veda là tập các thần chú ma thuật dùng cho các sựkhẩn cầu khác nhau, tách riêng với ba bộ kinh trên Nó gồm 731 bài văn vần

là những lời khấn bái mang tính bùa chúa, phù phép, ma thuật nhằm đem lạinhững điều tốt lành cho bản thân và người thân, gây tai họa cho kẻ thù.Atharva-Veda buổi sơ khai của đạo Balamôn được coi là thánh kinh quantrọng nhất Về sau, Rig-Veda thay thế vị trí của nó, nó dược xếp xuống hàngthứ tư trong thánh kinh Veda chuyên dùng cho giới thầy pháp, thầy tu

Trên cơ sở của thánh kinh Veda, đặc biệt là Rig-veda, Veda giáo đãhình thành, đây là hình thức tôn giáo cổ nhất của Ấn Độ Tôn giáo này thờcúng thiên nhiên với các vị thần tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên đadạng, huyền diệu biểu hiện những tín ngưỡng, phù phép, lễ nghi, truyềnthuyết của thổ dân Dravidian mà chủ yếu là những tộc người Arian hệ Ấn-Âu.Tôn giáo này tin và giải thích rằng trong vũ trụ đồng thời tồn tại ba lực lượngliên quan nhau là Thần linh, Con người và Ac quỷ tương ứng với ba thế giớicủa vũ trụ là Thiên giới, Trần thế và Địa ngục Thần linh trong Veda ngụ khắp

ba cõi của vũ trụ Thần linh rất phong phú đa dạng và chia nhau chi phối mọihoạt động của vũ trụ theo nguyên lý Rita (nghĩa đen là chân xác, thích hợp, làtrật tự vận hành của vũ trụ vạn vật) Theo họ, hiện thân của Thượng đế toànnăng là Trời hay thiên giới (Dyaus), không giới hạn, chứa đựng toàn vũ trụ.Cùng với Trời là cha, là khí dương, là tinh thần có Aditi là mẹ, là khí âm, làvật chất (vô tận) Do nguyên lý âm dương, Trời cha Đất mẹ giao hợp mà sinh

ra, nuôi dưỡng, điều hành toàn bộ vạn vật trong vũ trụ Thần cai quản trần thế

là thần lửa Agni, thần cai quản không trung là thần gió Vâyu, thần cai quảnthiên giới là thần mặt trời Surya Đây là ba vị thần tối cao trong thánh kinhVeda Ngoài ra Veda còn nhắc nhiều đến thần sấm sét Indra Người Ấn Độ cổ

Trang 4

còn tôn thờ thần mặt trăng Mosa, thần mưa Parjanya, thần không trung công

lý Varuna, thần điều khiển trật tự Rita, thần nước Apas, thần bão Rudra, thầnrạng đông Ushas, thần hoàng hôn Apasra, thần hạn hán Vittra, thần trí thứcSamjnâ, thần ánh sáng Prabhâ, thần bóng tối Châyâ, thần tài sản Kubera, thầnchiến tranh Kârtikuya v.v

Trong kinh Veda còn đưa ra quan niệm về sự sản sinh ra chư thần, vạnvật, muôn loài từ một đấng nguyên nhân đầu tiên và duy nhất Purusha Vịthần này có ngàn đầu, ngàn tay, ngàn mắt, ngàn chân phân ra khắp vũ trụ bao

la Từ miệng Ngài sinh ra dòng họ Balamôn, từ đùi Ngài sinh ra thứ dânVaishya và từ bàn chan của Ngài sinh ra bầy nô lệ Shudra, từ tâm trạng Ngàisinh ra thần mặt trăng Mosa, từ mắt Ngài sinh ra mặt trời Pusan hay Surya, từmiệng Ngài cũng sinh ra thần sấm sét Indra, thần lửa Agni, bằng hơi thở củamình Ngài sinh ra cõi Trời, chân làm cõi Đất, Tay làm bốn phương trời đất

Mỗi bộ kinh trên, đều có những quyển chủ yếu và những quyển khôngchủ yếu Loại chủ yếu gọi là Samhita Những quyển kinh thuộc Samhita gọi

là thánh kinh Veda Những thánh kinh căn bản, trọng yếu, thông dụngSamhita có ba loại: Tế nghi thư (Brahmana), Sâm lâm thư (Aranyaka), Áonghĩa thư (Upanishad) quen gọi là các bộ kinh Hậu Veda Thời Hậu Vedagồm 3 bộ: Brahmana-Veda, Aranyaka-Veda, Upanisát

+ Brahmana-Veda (Tế nghi thư) là kinh Balamôn Bộ này nói vềnghi lễ tế tự (có sách nói là nó bàn về cách thức hiến tế) Tức, nó ghi chép, chỉdẫn cách thức và quy định lễ nghi tế tự Bộ này thường dùng cho những người

có chức sắc cao cấp gần như những giáo chủ, tăng lữ Balamôn Khi các caotăng hành lễ với thánh kinh Brahmana thì được coi là sự thực hành những bíquyết, phù phép với những thần chú mầu nhiệm có thể sai khiến thần linh

Theo thánh kinh Brhmanna, các đồ khí tế và lễ vật cũng có năng lực tựnhiên mạnh mẽ, vô hình, mầu nhiệm có thể chuyển lay được ý muốn, hànhđộng của thần linh Bởi thế, với tấm lòng thành thanh khiết, tế lễ đúng phép,bày đồ tế lễ và dâng lễ vật đúng ý thần linh sẽ được thần linh chấp nhận lễ vàban ân huệ đúng như cầu nguyện Tất cả những linh nghiệm, ứng báo đó đều

do nguyên lý tối cao mà ra

Dưới cái vỏ thần bí, đầy ắp các yếu tố thần thoại - tôn giáo, kinhBrahmanna cũng chỉ ra cách lý giải căn nguyên và quá trình hình thành vũtrụ: Đi từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Vạn vật sinh, diệt, nóng,

Trang 5

lạnh đều do âm - dương, đực - cái giao hợp trong không gian, thời gian màtồn tại mãi mãi Căn nguyên của sự tồn tại mãi mãi này đều được quy về

“nguyên lý chủ đề tối cao” - Thần Brahman Tưởng rằng nhất thần nhưng trênthực tế họ tôn sùng ba vị thần đại diện cho một lực lượng tối cao, trừu tương,khái quát chi phối sự hình thành, tồn tại, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ Ba

vị thần ba xu hướng, nhưng chỉ là sự thể hiện của một quá trình thống nhấtcủa vũ trụ: Thần sáng tạo Brahma, thần hủy diệt Shiva còn gọi là Tamas, thầnbảo vệ Vishnu còn gọi là thần Sattava (thuần khiết, tính tĩnh)

Khi bàn về con người, kinh Brahmanna cho rằng, giữa mỗi kiếp ngườiluôn có cái duyên ràng buộc Càng tu nhân, tích đức, làm nhiều điều thiện thìcàng tạo ra nhiều những nhân duyên tốt của hạnh phúc, cực lạc cho kiếp sau.Điều đó chỉ có thể thực hiện và đạt được hiệu quả ứng nghiệm hiện tại nếucon người kính cẩn, tôn sùng, siêng năng khấn bái, chiêm nghiệm sự linh báo

ở thần linh

+ Aranyaka-Veda là sự kế tiếp sự phát triển của Brahmanna Nó

có tên gọi là “Kinh rừng” (Sâm lâm thư) Tập này tính triết học còn rất ít Nóchủ yếu giải thích ý nghĩa huyền bí, bí truyền của những lễ nghi và phát hiệnnhững ý nghĩa triết lý cao siêu Muốn được bí truyền các tăng đồ phải vào sâutrong rừng, núi rậm, u tịch, vắng lặng và đem hết tâm trí ra mà suy tư trongnhiều năm Những cao tăng thấu đạt nghĩa lý siêu hình, uyên thâm của thánhkinh Vêđa được tôn trọng ngang gần giới Balamôn

+ Upanishad là tập muộn nhất và có nhiều tri thức triết học hơn

cả Nó là những lời bình giải tôn giáo - triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩacủa từng cuộc tế lễ, về những lẽ huyền bí sâu kín trong các kinh cầu nguyện,các bài thần chú và về những điều chủ yếu trong các bài thần chú Upanishadnghĩa là tư tưởng bí mật, là ngồi xung quanh ai đó để trao đổi riêng Nó có 18tập với 200 bài kinh, được biên soạn qua những niên đại khác nhau từ thế kỷ

X đến thế kỷ VI TCN Trong đó có các bộ kinh quan trọng như: Brithdaâranyaka, Chândogya, Isha, Katha

Nội dung Upanishad là sự giải phóng tư duy người Ấn Độ cổ, nó biểuhiện những tinh thần mới: Giải phóng tư duy tư biện khỏi ma thuật Mặc dùngây thơ đơn giản, vẫn có những ảnh hưởng của tư biện về nghi lễ, nhưngUpanishad đã đặt ra và trả lời được câu hỏi triết học: Cái gì là nguyên nhân?Brahman là gì? Nguyên nhân của sự xuất hiện con người như thế nào? Nó lý

Trang 6

giải những vấn đề tối cao, mục đích tối cao của kinh Vêda nên nó còn đượcgọi là kinh Vêdanta (Anta tiếng Phạn có nghĩa là kết thúc, hoàn tất, mụcđích)

Upanishad chia nhận thức của con người thành hai trình độ: Hạ trí(apara - viday) và Thượng trí (para - viday) Hạ trí là tri thức phản ánh những

sự vật, hiện tượng cụ thể, riêng lẻ có hình tướng, danh sắc, phong phú, đadạng, hiện thực Ngay cả việc nhận thức kinh Vêda cũng được xếp vào nhậnthức hạ trí Thượng trí là trình độ nhận thức vượt qua tất cả thế giới hữu hình,

có hạn thường xuyên biến đổi từ hình thức tồn tại này sang hình thức tồn tạikhác, để nhận thức một thực tại tuyệt đối, duy nhất, bất diệt (akasara), thườnghằng, vô hình ẩn dấu đằng sau tất cả những cụ thể, hữu hình, hữu hạn Nósáng tạo và chi phối tất cả thế giới hiện tượng ấy

Theo Upanishad, hạ trí là phương tiện cần thiết để hiểu biết thượng trí.Thượng trí là mục đích tối cao của nhận thức Khi có hiểu biết thượng trí sẽđưa con người tới giải thoát Cái thực tại tối cao căn nguyên của sáng tạo màchỉ thượng trí mới nhận thức được ấy, theo Upanishad là bản chất nội tại của

vũ trụ và muôn vật, nó ở ngoài tất cả mọi giới hạn của không gian, thời gian

và nhân quả Đó là “tinh thần vũ trụ tối cao”, là “thượng đế”, là thầnBrahman

Theo Upanishad, Brahman là thực tại tuyệt đối, tinh khiết, hằng cửu,toàn thiện; là tinh thần vũ trụ đại đồng, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ;

là thực thể duy nhất, trước nhất, tuyệt đối, vĩnh viễn, chung nhất, phổ biếnnhất ẩn sau toàn bộ thế giới hữu hình Brahman biểu hiện trong con người làAtman (linh hồn), sự sống của con người Atman đồng nhất với Brahman nênAtman cũng tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt Do ý chí, ham muốn, dụcvọng mà gây ra những hậu quả đau khổ cho linh hồn và thể xác (nghiệp báo -Karma) ở kiếp này và cả kiếp sau (luân hồi - Samshara) Vậy, chỉ bằng tuluyện để Atman đồng nhất với Brahman thì con người mới được giải thoátkhỏi luân hồi, nghiệp báo

Upanishad không là công trình của một người mà là kết quả của sự tưbiện hình thành qua nhiều thế hệ Với nội dung phong phú, đa dạng,Upanishad trở thành nguồn gốc lý luận cho tất cả các trường phái triết họcduy tâm và tôn giáo của Ấn Độ sau này, đặc biệt là đối với đạo Balamôn vàHindu

Trang 7

Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, thậm chí trái ngược nhau khicho rằng Upanisadd là cơ sở của những quan điểm khác nhau của các trườngphái triết học khác nhau Chẳng hạn: Vedanta chỉ dựa vào Upanishad, nókhông nghi ngờ Sama-veda và Brahmanna-veda nhưng đã lờ đi Mimansa cốđưa những chứng cớ phức tạp để chứng minh Upanishad là đúng, là vĩnhhằng nhưng trên thực tế nó ủng hộ những quan điểm triết học mà Upanishadchống lại Cái say mê của Mimansa là nghi lễ, là những điều cấm kỵ Điềunày đúng ở Yajur-veda và Brahmanna-veda chứ không thể là của Rig-veda vàUpanishad Tuy vậy, triết lý Veda và Upanishad cùng với đạo Balamôn là hệ

tư tưởng thống trị trong đời sống tinh thần người Ấn Độ cổ đại Uy thế của nómạnh đến mức nó được mệnh danh là tư tưởng triết học chính thống của Ấn

cổ Tất cả những trào lưu vô thần, duy vật, chống lại uy thế của nó đều bị coi

+ Không thừa nhận sự tồn tại của thần, vì theo họ thần không cảm giácđược

+ Về nhận thức, họ đề cao nhận thức cảm tính nhất là cảm giác Ví dụ,

họ quan niệm người thợ gốm là nguyên nhân của cái bình, thì thượng đếkhông là nguyên nhân nữa, do đó không có cơ sở nào để nói thượng đế lànguyên nhân của mọi vật

+ Họ cũng cho rằng, thượng đế không nhận thức được sự hướng dẫn

“tập hợp các phẩm chất” Bởi lẽ, mọi nhận thức phải nảy sinh thông qua tiếpxúc với thân thể, trong khi đó thượng đế không có thân thể Giả sử có thân thể

đi nữa thì thượng đế cũng không hướng dẫn được “tập hợp các phẩm chất”, vì

Trang 8

muốn hướng dẫn thì phải có mối liên hệ giữa thượng đế với sự hướng dẫn

“tập hợp các phẩm chất”, mối liên hệ này chỉ có được giữa hai thực thể;nhưng sự hướng dẫn “tập hợp các phẩm chất” chỉ là thuộc tính chứ không làthực thể nên thượng đế không tiếp xúc được với “tập hợp các phẩm chất”

+ Bác bỏ sự tồn tại của thượng đê, của thần, nhưng trên thực tế khôngphản đối thần linh Thần linh được họ coi như một tên, hay âm thanh cầnthiết cho các câu thần chú của nghi lễ Như vậy là họ chấp nhận những hànhđộng ma thuật Tức họ là hữu thần

Tóm lại, Mimànsa sơ kỳ không chỉ chống lại duy tâm mà còn chống cảhữu thần Họ là những nhà duy cảm khách quan vì đã cho rằng: Nếu đặt tấmvải trước mặt thì người ta cảm nhận được đó là tấm vải chứ không phải làbình gốm Tức đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới sự vật hiệntượng có trước, ngoài ý thức, không phải là ý thức Nhưng thời hậu kỳMimànsa thừa nhận sự tồn tại vĩnh viễn của thế giới vật chất là do nguyên tửtạo thành và những nguyên tử này do luật Karma điều khiển, ở đây họ thểhiện lập trường duy tâm Mặt khác họ cũng thừa nhận tất cả những nghi lễ vớinhững hiệu quả của nó là tồn tại, là có nghĩa, mà trong nghi lễ là sự chấp nhậnthần chú với những hành động ma thuật thì họ là hữu thần

2.2 TRIẾT HỌC SAMKHYA (số luận).

Kinh điển của trường phái này cho đến nay chỉ còn hai tập làSamkhuya-sutra của Kapila và Samkhuya-Karika của Isvarakrsna Truyềnthuyết cho rằng, người sáng lập trường phái này là Kapila Tiểu sử của Kapilađến nay vẫn chưa rõ Hiện nhiều học giả cho rằng trường phái này xuất hiệnkhoảng thế kỷ VII TCN, có ảnh hưởng rất lớn ở Ấn Độ

Nội dung triết học nhìn một cách khái quát là nhị nguyên luận Nhưngthời sơ kỳ họ là duy vật có tính biện chứng vô thần:

+ Những người Samkhuya gạt bỏ Brahman “tinh thần vũ trụ” vàphủ nhận tồn tại của thần Họ đưa ra học thuyết “tồn tại của kết quả trongnguyên nhân” (Satikaryavada) trước khi đưa ra học thuyết “sự chuyển hóathực tế của nguyên nhân trong kết quả” (parinama - vada) Họ cho rằng trồng

gì được nấy, từ tính chất của kết quả ta tìm được chìa khóa để đi vào tính chấtcủa nguyên nhân

+ Samkhuya theo tiếng Ấn cổ là số, đếm Người Trung Quốcdịch là số luận Thời sơ kỳ Samkhuya cho rằng thế giới là thế giới vật chất,

Trang 9

nguyên nhân của thế giới vì thế cũng là vật chất Dạng vật chất đầu tiên củathế giới là prakrikiti (hay pradhana) Theo họ prakrikiti là tinh tế, tiềm ẩnkhông thể cảm giác trực tiếp, nó không hành, không khu biệt, không giới hạn(họ gần tới quan niệm vật chất vô cùng, vô tận) nhưng tính vật chất là rõ ràng.

+ Prakrikiti ở trạng thái aryakta (không biểu hiện) thì nó cânbằng, ổn định Sự phá hoại cân bằng là điểm xuất phát của tiến hóa thế giới

Sự phát triển của thế giới đi từ không biểu hiện đến biểu hiện Họ cũng chorằng, vật chất là vĩnh hằng nhưng không đứng yên, mà luôn biến dị từ dạngnày sang dạng khác (Họ có tư tưởng vật chất vận động không ngừng - tưtưởng biện chứng)

+ Theo họ, chính sự vận động biến dị không ngừng của Prakrititrong không gian - thời gian mà dẫn đến sự phong phú đa dạng của tự nhiên.Mọi vật thể, theo họ bao giờ cũng là thể thống nhất không ổn định của 3 yếutố: Trí tuệ, trí năng (Sativa) với các thuộc tính nhẹ, sáng, tươi vui Nănglượng (Rajas) với những thuộc tính động, kích thích Khối lượng, quán tính(Tamas) với những thuộc tính nặng, khó khăn Cả ba yếu tố này ở Prakrikiti làcân bằng, ổn định Ở đây, họ rơi vào siêu hình vì đã quy vận động của vậtchất về một số thuộc tính vận động cụ thể

Chính những quan điểm trên, mà Samkhya được coi là học thuyết đốilập với Vedanta Bởi lẽ, Samkhya đã coi vật chất là nguyên nhân đầu tiên, vậtchất phi ý thức là nguyên nhân đầu tiên của thế giới, trong khi đó Vedanta coiBrahman, ý thức là nguyên nhân đầu tiên của thế giới

Thời hậu kỳ, trong Samkhya-karika đã thừa nhận thêm một nguyên thểkhác của thế giới là linh hồn “Purusa” Purusa không là thượng đế, không làtinh thần thế giới mà là nguyên lý tinh thần phổ quát, bất biến, vĩnh hằng TựPurusa không làm được gì nhưng Purusa truyền sinh khí, truyền khả năngbiến hóa của nó vào Prakrikiti làm cho các yếu tố của nó hoạt động phá vỡthế cân bằng Như vậy, họ cho rằng chính mối quan hệ giữa Purusa vàPrakrikiti quyết định sự bắt đầu tiến hóa của thế giới Ở đây, họ đã chấp nhậnmột cú hích ban đầu của linh hồn (truyền sinh khí ) cho vũ trụ vận động,cũng như họ đã thừa nhận tính quyết định của Purusa trong sự vận động của

vũ trụ vậy họ là duy tâm

Khi bàn về con người, Sam khuya cho rằng “mục đích tối hậu của conngười là diệt đau khổ”, trong diệt đau khổ theo họ mọi phương diện vật chất

Trang 10

đều không thích hợp Muốn diệt được khổ phải đạt được sự hiểu biết trực giáccao nhất về linh hồn và tâm lý của con người Họ là những nhà giải thoátluận.

2.3 TRIẾT HỌC NYAYA - VAISÊSIKA

Ngay từ đầu hai hệ thống này có liên quan nhau và về sau hòa vào nhaulàm một nên gọi chung là Nyaya-Vaisesika

Kinh điển cơ bản là Nyaya-sutra của Gauxtama với các nội dung bàn

về nguyên tử luận, lôgic học và lý luận nhận thức Vaisesika-Sutra củaKanada cũng với nội dung trên Cho đến nay vẫn chưa có dẫn liệu lịch sử nào

về các tác giả này và thời gian biên tập của các bộ kinh cả Mọi mốc thời gianliên quan đến điều này đều chỉ là suy đoán Quan điểm của Vaisesika lần đầutiên được trình bày rõ ràng ở thế kỷ V TCN còn đối với Nyaya là ở thế kỷ IVTCN

Nội dung triết học Nyaya-Vaisesika

+ Lý luận nhận thức: Họthừa nhận tính khách quan của khách thểnhận thức Họ đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa duy tâm trongtriết học Họ chống lại quan điểm cho rằng nhận thức không thể kiểm trađược Theo họ, nhận thức có thể tin cậy, cũng có thể không tin cậy Tiêuchuẩn của tin cậy là phản ánh không nghi ngờ, trung thành với hình ảnh củađối tượng

Theo họ, có bốn loại nhận thức không tin cậy vì không đáp ứng tiêuchuẩn đó là ký ức (amrti); nghi ngờ (samsaya); sai lầm (bhrama hayVipatyaya), mới là giả thiết, chưa có chứng cớ chắc chắn (Tarka); Nhận thứckhông tin cậy theo họ, không nhất thiết là nhận thức giả Nhận thức đúng đắnkhi nó phù hợp với bản chất đối tượng Nhận thức là giả khi nó không phùhợp với bản chất của đối tượng (Họ đã đi đến quan điểm thực tiễn là thước

đo duy nhất để kiểm tra nhận thức)

Họ thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới được nhận thức Cáiđược nhận thức (Padartha) theo họ có 7 loại: Thực thể (dravya); tính chất (guna), nghiệp (Krama), cái chung, cái khái quát (samaya), thuộc tính đầu tiên(visesa); quan hệ tồn tại (samvaya), cái phi tồn tại (abhva) Ba phạm trù đầu

là tồn tại hiện thực Ba phạm trù sau là sản phẩm của hoạt động tư duy trítuệ

Trang 11

Theo họ, thực thể là phạm trù cơ bản phản ánh bản chất của các sự vật.Vật thể có 9 dạng: đất, nước, lửa, gió, không khí, thời gian, không gian, linhhồn và trí tuệ; Họ cũng chia nhận thức thành 4 loại là: Tri giác, kết luận, ký

ức và trực giác, trong đó trực giác đem lại cho ta chân lý

Như vậy về nhận thức luận, họ là duy vật nhưng siêu hình không biệnchứng, về sau là duy cảm chủ quan - tức rơi vào duy tâm

+ Thế giới quan (nguyên tử luận): Họ thừa nhận thế giới donguyên tử tạo nên Nguyên tử là phân tử nhỏ nhất, không thể phân chia,không có đơn vị kích thước, nguyên tử là vĩnh hằng, vô thủy vô chung Thếgiới có nhiều nguyên tử Quan điểm này của họ gần giống quan điểm vềnguyên tử của Đêmôcrit; Nguyên tử là vĩnh hằng bất biến, nhưng sự vật donguyên tử tạo nên là nhất thời, luôn biến đổi, luôn vận động Họ chia nguyên

tử thành 4 loại theo 4 loại cảm giác là xúc giác, vị giác, thị giác, khứu giác.Dừng ở đây họ là những nhà triết học duy vật cổ đại (hay là trường pháinguyên tử luận)

Trong khi thừa nhận thế giới do nguyên tử tạo nên, Nyaya còn thừanhận trong thế giới có vô số linh hồn ở thể tự do hoặc gắn liền với nguyên tửvật chất (Ya) Đồng thời trong thế giới cũng tồn tại lực lượng siêu nhiên làthần Isvasa Tuy không là đấng sáng tạo, nhưng Isvasa chỉ đạo sự phối hợpgiữa các nguyên tử với nhau gây ra mối liên hệ giữa linh hồn với nguyên tử.Isvasa có quyền năng vô hình, tối cao của vũ trụ Còn Vaisêsika giai đoạnđầu thừa nhận có hai loại linh hồn là linh hồn cá biệt và linh hồn tối cao, vềsau họ cho chỉ có một linh hồn tối cao, toàn năng sáng tạo và chỉ huy thế giới.Lúc đầu họ cho sự tác động kết hợp giữa các nguyên tử tạo nên vạn vật không

do thần thánh mà do một năng lực vô hình, vô kiến, về sau họ coi năng lực ấy

là linh hồn thế giới Vậy họ là duy tâm hữu thần

+ Lôgíc học: Đóng góp lớn nhất của trường phái này cho lý luậnnhận thức là lôgíc hình thức theo ngũ đoạn luận Tác giả là Gauxtama Ngũđoạn luận với các đoạn như sau: Luận đề (pratijna); nguyên nhân (hetu); Ví

dụ (Udaharana), suy đoán (Uparaya); Kết luận (Nigamana) Ngũ đoạn nàygần giống tam đoạn luận của Arixtốt

Arixtốt : 1 - Tất cả những gì bốc khói đều có lửa

2 - Đồi bốc khói

3 - Do đó đồi có lửa

Trang 12

Gaxtama: 1 - Đồi có lửa cháy

2 - Vì đồi bốc khói

3 - Tất cả những gì bốc khói đều có lửa cháy Ví dụ: Bếp

4 - Đồi bốc khói thì không thể không có lửa cháy

5 - Do đó đồi có lửa cháy

Từ ngũ đoạn luận, về sau do tính hữu thần như đã nêu trên, họ rơi vàohữu thần luận Họ chứng minh có thần và thần đã dùng nguyên tử để cấu tạonên thế giới

2 4 TRIẾT HỌC YOGA.

Kinh điển của Yoga là Yoga-sutra được coi là của Patạnjali, nhà ngữpháp Ấn Đô nổi tiếng ở thế kỷ II TCN Nhưng cũng có tác giả cho là củaPanini Thậm chí có tác giả còn cho Yoga-sutra được soạn vào khoảng năm

450 SCN

Về triết học, Yoga có nghĩa là liên kết, là hợp nhất tâm-thể thành mộtmối Nhìn tổng thể, Yoga là nhị nguyên hữu thần theo kiểu Yoga = Samkhuya+ Thượng đế

Sự thừa nhận thần trong Yoga không có ý nghĩa mấy về triết học:Người ta đưa vào một cách máy móc, mâu thuẫn với toàn hệ thống của nó.Thần không là đấng sáng tạo không dẫn dắt thế giới, không thưởng khôngphạt mà chỉ là linh hồn đặc biệt không khác gì mấy so với các linh hồn cá thểkhác

Triết học Yoga là lý luận về phương pháp tu luyện mà người tu hànhchấp nhận nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ảnh hưởng của giác quan và mọi

sự ràng buộc với cơ thể xác thịt

Theo Yoga, thế giới vật chất là vô minh, là nguồn gốc của đau khổ.Muốn vượt qua được vô minh con người phải đạt được sự hiểu biết và phải

có một năng lực siêu nhân

Phương pháp tu luyện của Yoga có ở nhiều tôn giáo khác Theo Yoga,

để đạt được trạng thái nhập thần thần bí, con người phải tu luyện kiên trì, lâudài và thường phải qua 8 phương pháp mà họ gọi là “Bát bảo tu pháp”: 1-Yama: Tình yêu thương rộng rãi, hòa ái

Trang 13

2- Niyama: tiết dục, tự ức chế, dấn thân vào tu hành khổ luyện mộtcách tự nguyện, kính cẩn

3- Asama: Giữ thân theo những vị trí nhất định (tọa pháp bằng nhữngquy tắc tập luyện)

4- Pranayama: Điều khiển, kiểm tra sự thở (Điều tức pháp)

5- Pratyahara: Điều khiển tư duy (chế cảm pháp bằng kiểm soát cácgiác quan, chế ngự mọi cảm xúc)

6- Dharana: tập trung trí tuệ, tập trung tư duy (tổng trì pháp)

7- Dhyana: Thiền định - tập trung tư tưởng tinh thần cao độ, đạt tớitrạng thái như thôi miên

8- Samadhi: thiền định đến cao độ còn gọi là tuệ, hay tam muội pháp

Là trạng thái nhập thần thần bí, làm chủ được tâm ý

Về sau Yoga có nhiều hệ phái khác nhau

2.5 TRIẾT HỌC VÊDANTA.

Vêdanta có nghĩa là kết thúc veda Nó được coi như là sự kế tục giaiđoạn cuối vùng của veda Vedanta đã phát huy những tư tưởng triết học trongUpanishad, kinh chủ yếu của Vedanta là Vedanta-sutra được coi là củaBadarayana, nhưng cho đến nay ta vẫn chưa có tiểu sử của người này Bộ chúgiải kinh này có nhiều tác giả, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau Ta chỉ biết nóđược xếp là đối lập với Samkhuya, như vậy rất có thể nó ra đời từ thế kỷ VIITCN

Nội dung triết học của Vedanta nhìn chung là duy tâm rất trung thànhvới Upanitshad Cụ thể :

Do nội dung của Upanishat không thống nhất nên trước hết Vedanta là

sự hệ thống hóa, thống nhất các quan điểm triết học chứa đựng trongUpaníshad Điều này thể hiện rõ trong kinh vedanta-sutra (còn gọi là Brahma-sutra) Nói chung có thể chia thành hai thuyết chính :

2.5.1 Thuyết nhất nguyên của Vedanta (Vedanta - Advaita).

Phái này còn gọi là lý thuyết ảo ảnh, coi Brahman là tồn tại tuyệt đối,

nó đồng nhất với cái “tôi” (Atman) với nghĩa là ý thức thuần túy Theo họ, thếgiới vật chất tuyệt đối không hiện thực, hình ảnh của nó là ảo ảnh do vô minh(Avidya) sinh ra Thuyết này (nhất nguyên, duy nhất (Advaita) tuyết đối)

Trang 14

không thừa nhận sự tồn tại của bất cứ cái gì ngoài Brahaman hay ý thức thuầntúy.

Thuyết duy nhất (Advaita) được coi là của Samkara (700 - 750) sánglập Các tác phẩm của Samkara thường có tính lôgic sắc bén, văn phong trongsáng Cụ thể :

+ Trên thế giới không có thực tại nào ngoài bản chất tinh thần tốicao duy nhất, vĩnh cửu, dị dạng nhưng đồng tính là Brahman Brahman làthực thể tinh thần thuần túy thực hữu, nó vô cùng, vô tận, tự biến mất nhưngvẫn hiện hữu, tồn tại, ở ngoài vô tận nhưng có ở khắp trong những cái hữuhạn, là chất liệu và động lực của mọi cái cũng như thế giới, là cái sinh ra vạnvật và thế giới, cũng đồng thời là cái để thế giới và vạn vật quy về nó

+ Họ quan niệm, do vô minh mà con người đã ngộ nhận sựphong phú đa dạng của sự vật hiện tượng là tồn tại chân thực, vô hạn Thực rachúng chỉ là những hữu hạn biến đổi vô thường và chỉ là những ảo tưởng, ảogiác thuần túy mà thôi Họ thừa nhận nguyên nhân của thế giới là từ hư không

do Brahman tạo ra

+ Theo họ con người luôn sống giữa những ảo ảnh tự huyễn, giảtưởng và luôn bị nó quyến rũ rồi mê muội đi, nhầm tưởng là ý chí của mìnhsống ở đời Trên thực tế như vậy, con người chỉ thấy cái hữu hạn, hữu hình

mà không thấy được cái vô hình tuyệt đối, cái vô hạn và cái vĩnh viễn thực sựcủa bản tính của mình đồng nhất với Brahman

+ Họ đưa ra 4 phương pháp nhận thức là trực giác, khải thị, kếtluận và cảm giác Theo họ, kết luận và cảm giác là nhận thức hạ trí chỉ biếtđược cái hữu hình, hữu hạn, ảo ảnh Chỉ có trực giác mới nhận thức đượcmột cách đích thực thế giới Từ đó, theo họ, mọi cố gắng và mục đích tối caocủa con người là phải đạt cái trực giác để có được sự đồng nhất giữa linh hồn

cá thể với linh hồn tối cao Là nhằm giải thoát con người khỏi thế giới ảo,thoát khỏi nghiệp báo, luân hồi (Đây là giải thoát luận của họ)

+ Những người theo nhất nguyên (Advaita) bên cạnh thờ thầnsáng tạo tối cao là Brahma họ còn thờ thần hủy diệt (shiva) Về thực chất 2thần này nhất thể

2.5.2 Thuyết không nhị nguyên có phân lập (Visistadvaita).

Trang 15

Thuyết này do Ramanuja (1016 - 1091) sáng lập Ông là một triết gianổi tiếng vùng Nam Ấn lúc ấy Về nguyên tắc, triết học của phái này khôngkhác mấy so với phái nhất nguyên Nếu có điều khác biệt thì là ở chỗ: nếunhất nguyên chỉ thừa nhận duy nhất Brahman tồn tại, hiện hữu thì họ thừanhận có 3 thực thể tồn tại là Brahman, linh hồn cá thể (Atman) và thế giới vạnvật Cụ thể.

+ Theo họ, Brahman là đấng sáng tạo tối cao duy nhất, toànnăng, toàn đức mà ngoài Vishnu (thần bảo vệ tồn tại, thuần khiết còn gọi làSattva) không có thần nào sánh kịp Brahman sáng tạo ra tinh thần, kết hợptinh thần thành linh hồn cá thể (thực thể linh hồn) sau đó tạo ra thế giới vậtchất Brahman là cái có trước thế giới, là cái tạo ra thế giới Mọi sự vật hiệntượng và thế giới đều là hiện thực của Brahman

+ Theo họ, 3 thực thể luôn tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộcquy định nhau Trong đó, thực thể tối cao là Brahman, có quyền uy toàn năng,vừa sáng tạo duy nhất đối với linh hồn và thế giới vạn vật Thế giới vật chất,thể xác là thực thể thấp nhất, luôn thụ động Còn linh hồn là hiện thân củaBrahman nó trú ngụ hội nhập trong thể xác và làm chủ thể xác

+ Khi bàn về con người, nội dung tư tưởng triết học của phái nàyvẫn là giải thoát luận Theo họ, linh hồn cá biệt là một bộ phận và cùng mộtthể với Brahman Nhưng linh hồn có tư duy ý tưởng để sinh ra ý thức, nhậnthức chỉ huy hành vi, hành động của thể xác Từ đó, họ cho rằng ý thức, hành

vi cũng như hành vi có ý thức của con người đều phải nhận biết rõ bản chất,nguồn gốc của mình là thành tâm, thiện ý, tôn sùng, kính yêu đấng sáng tạoBrahman Tức phải nổ lực để linh hồn của mình hòa nhập với Brahman, làgiải thoát linh hồn khỏi thực thể thấp nhất - vật chất

+ Nhìn chung, tư tưởng triết học của phái không nhị nguyênphân lập hướng con người vào quy y, vào “tín ngưỡng tâm” thờ hai thần nhấtthể Brahma (sáng tạo, toàn năng) và Vishnu (bảo vệ, thuần nhất)

2.5.3 Về sau Vedanta được phân thành nhiều hệ phái:

+ Phái đồng nhất trong sự khác nhau, coi Brahman và Atman là thống

nhất về bản chất, đều là tinh thần Nhưng Atman trú ngụ trong vạn vật cònBrahman khách quan, độc lập với con người, giữa Brahman và Atman được

ví như biển và sóng biển

Trang 16

+ Nhất nguyên có giới hạn (không nhị nguyên có phân lập ở thế kỷ

IX) coi Brahman là cái tồn tại tuyệt đối, toàn năng, sáng tạo Đồng thời tồntại linh hồn (cit), và vật chất (a cít) nhưng sự tồn tại của chúng là tồn tại trongBrahman

+ Phái nhất nguyên nhị phân (thế kỷ XII) phái này cho rằng Brahman

và Atman vừa phân đôi vừa không phân đôi Nó chỉ phân đôi khi đượcBrahman tạo ra thế giới tinh thần với vật chất dưới dạng các thể thô Khi nó ởtrong Brahman chúng đều ở dạng tinh tế

+ Thuyết nhị nguyên (thế kỷ XIII) chỉ rõ sự khác nhau giữa Brahman

với Atman (tinh thần cá thể) Ở đây không phải là nhị nguyên về hai bản thểvật chất - ý thức Phái này chỉ ra 5 sự khác nhau giữa Brahman với tinh thần

cá thể Đó là những sự khác giữa: 1) Brahman với Atman, 2) giữa Atman vớivật chất; 3) giữa hai Atman; 4) giữa hai dạng vật chất ; 5) giữa Brahman vớivật chất Phái này kịch liệt chống lại phái nhất nguyên, họ coi phái nhấtnguyên sakara là Phật giáo trá hình

+ Phái nhị nguyên thuần túy (thế kỷ XV) đưa ra quan niệm so sánh

thượng đế với linh hồn cá thể có quan hệ như vàng và đồ trang sức bằng vàng,còn linh hồn cá thể được coi là tia lửa của linh hồn tối cao (Brahman) Họ chorằng linh hồn cá thể là một bộ phận của linh hồn tối cao nên cũng phải đượctôn trọng Họ chống lại việc tu khổ hạnh đầy đọa linh hồn cá thể Thực chất

họ theo chủ nghĩa khoái lạc

+ Thuyết sự đồng nhất trong sự khác biệt không hiện rõ Theo phái

này thì mọi người đều bình đẳng trước Brahman và trước các bàn cầunguyện

Tóm lại, dù có nhiều hình thức, nhưng Vedanta đều chung nhau ở quan

điểm coi linh hồn cá biệt (Atman) là hiện thân của linh hồn tuyệt đối toànnăng tối cao (Brahman) Họ duy tâm hữu thần (đa thần nhất thể), khá trungthành với Upanishad Họ đều giải thoát linh hồn con người khỏi thế giới hiệnthực bằng trực giác Triết học Vedanta có vị trí quan trọng trong triết họcHinđu sau này

2.6 TRIẾT HỌC LÔKAYATA (còn gọi là triết học duy vật - khoái

lạc)

Tên Lokayata được hiểu là phổ biến cũng có lẽ do tư tưởng của trườngphái này khá phổ biến rộng rãi trong nhân dân (Lokesu = nhân dân; yatah =

Trang 17

phổ biến) Tư tưởng triết học của nó được hình thành qua nhiều thế kỷ, chođến nay người ta chỉ biết nó thông qua sự phê phán của các trường phái khác,

mà vẫn chưa có một văn bản nào làm gốc của nó cả Những tư liệu sớm nhất

về Lokayata có từ thời sử thi Ấn độ cổ đại, nhưng nó được trình bày đầy đủ,

có hệ thống hơn là trong các khảo luận phê phán của phái Vedanta, đặc biệtcủa các tác giả của phái này từ thế kỷ IX - XIII Nổi bật là Madhava (nhịnguyên thế kỷ XIII)

Phái này chuyên mặc áo Kà-sa dệt bằng tóc Họ chủ trương chống lạicái gọi là linh hồn bất tử và sự siêu thoát cuối cùng của linh hồn Họ chủtrương sống, hoạt động, và hưởng thụ tất cả những lạc thú trên thế gian, trên

cơ sở thừa nhận bản nguyên thế giới là đất, nước, lửa, không khí Họ làtrường phái có tính duy tâm vô thần triệt để nhất Cụ thể :

+ Về nhận thức: Họ được coi là những nhà logic xuất hiện sớm trong

lịch sử triết học Ấn Độ Họ là những nhà biện luận, suy lý chống lại nhữngkết luận về thế giới siêu nghiệm, về cuộc sống sau khi chết và chống lại lýluận về nghiệp (karma) Theo họ những điều đó không thể cảm nhận bằngnhững kinh nghiệm thông thường nên chúng không có giá trị Chỉ những gìliên hệ với thế giới được nhận thức một cách kinh nghiệm mới có giá trị Họ

là những nhà triết học duy cảm khách quan và cực đoan

+ Về đạo đức: Họ bị coi là những người theo chủ nghĩa khoái lạc: “hãy

ăn đi cho dù ngày mai chết”, “chủ nghĩa nhai”, “bợm nhậu” Thật ra, đó chỉ

là những lời thóa mạ đối với họ Trên thực tế, đạo đức của họ gắn liền với đạođức có trong xã hội thị tộc Họ phê phán chống lại những học thuyết tuyêntruyền cho sự khổ tu, kìm chế mọi ham muốn, dục vọng ở đời thực Họ phêphán những quan niệm về sự siêu thoát của linh hồn, về đấng sáng tạo tối caov.v là những điều bịa đặt lừa gạt nhân dân Theo họ, không có thiên đườngcũng không có địa ngục Trong cuộc sống hiện thực mọi lạc thú là thiênđường, mọi đau khổ, áp bức, bất bình đẳng là địa ngục Theo họ, hãy để chomọi người sống, hoạt động, hưởng thụ trên cõi đời với những gian truân, cựckhổ, niềm vui hạnh phúc, với những cay đắng và ngọt ngào Đừng ru ngủ vàlừa bịp con người bằng những lý tưởng ảo vọng, hão huyền và cõi hoangđường phi hiện thực Bởi thế, với quan điểm duy vật, vô thần này, họ bị coi

là “thuận thể ngoại đạo” - tà giáo Tư tưởng này của họ có ảnh hưởng lớn đếnJai na

Trang 18

+ Về bản thể luận: Các quan điểm của Lokayata bị các trường phái

chính thống coi là luận điểm của quỷ Virocana Bởi lẽ, trong một tập củaUpanishad người ta đã nhắc đến con quỷ Virocana với quan điểm của nó

”Atman chỉ có trong thân thể không có Atman ở ngoài thân thể”

Theo Lakayata, bản nguyên thế giới gồm 4 yếu tố đất, nước, lửa, khôngkhí (tứ đại) Bốn yếu tố này độc lập, tự nó và thường hằng Mọi sự vật, hiệntượng, thế giới và con người đều do sự tự hoạt, tự thành của 4 yếu tố này kếthợp mà có Theo họ, tương ứng với 4 loại đó là 4 loại nguyên tử của nó Cácnguyên tử này không thay đổi, không bị tiêu diệt, tồn tại ngay từ đầu Mọi đặctính của sự vật hiện tượng đều phụ thuộc vào sự kết hợp khác nhau của cácnguyên tử ấy với nhau (số lượng, tỷ lệ kết hợp) Khi 4 yếu tố này hợp lại thìthành sự vật, hiện tượng Ngược lại khi chết nó tan ra thành 4 nguyên tố ấy

Từ quan điểm đó, họ cho rằng con người sống chết là sự thể hiện tựđộng tính của 4 yếu tố ấy Linh hồn, sinh mệnh, ý thức, cảm giác của conngười xuất hiện hay không là do có sự kết hợp hay không của 4 yếu tố đó Bởivậy, họ cho rằng không có cuộc sống sau chết, không có linh hồn vĩnh cửu

Dù địa táng, thiên táng, hỏa táng thì khi chết con người trở về với tro bụikhông còn chỗ nào cho linh hồn trú ngụ cả Theo họ, hiền, ngu v.v phải gắnliền với thể xác cụ thể Khi chết thể xác tiêu tan, do thế chẳng còn hiền, ngu

Vì thế không có cái gọi là kiếp trước, kiếp sau, luân hồi, quả báo, nghiệp,thiên đường và địa ngục Những điều đó chỉ là bịa đặt Không có linh hồn,sinh mệnh hay ý thức ở những yếu tố riêng lẻ Chỉ có linh hồn, sinh mệnh gắnliền với thể xác, ý thức được nẩy sinh trên thể xác của con người Theo họ

“thân thể có trí khôn mới là Atman” “Lý trí” chỉ có ở nơi nào có thân thể vàkhông bao giờ tìm thấy nếu không có thân thể “Lý trí” là thuộc tính của thânthể “không có Atman tồn tại biệt lập ngoài thân thể“ Từ đó có thể thấy, khicoi Atman (ý thức) là thuộc tính của cơ thể, họ đã giải thích mối quan hệ vậtchất - ý thức một cách duy vật thô sơ mộc mạc (duy vật tầm thường)

Tóm lại quan điểm duy vật tầm thường của Lokayata đã ra đời rất sớm

từ thế kỷ IV TCN Họ phản đối luân hồi, nghiệp, giải thoát (moksa) Triết họccủa họ là vô thần chống lại mọi quan điểm thừa nhận Brahman và Atman vĩnhcửu Những tư tưởng đạo đức của họ đã bị xuyên tạc và bị công kích mạnh

mẽ của các trường phái đối lập Phật giáo gọi họ là phái “thuận thế ngoạiđạo” Vêdànta cho rằng, họ đã tuyên truyền cho những lối sống lạc thú xác

Trang 19

thịt thô bỉ Thật ra đạo lý chân chính mà Lôkayata nêu ra là biểu hiện một yêucầu và lời kêu gọi hợp lý: Hãy để cho mọi người sống, hoạt động, hưởng thụtrên cõi đời thực sự với những niềm cay đắng, những vị ngọt ngào Không rungủ, lừa mị con người bằng những tư tưởng ảo vọng, hão huyền phi hiện thực.

+ Về sau, cùng với Lokayata còn có nhiều trào lưu khác cũng được coi

là duy vật khoái lạc như :

*Thuyết bảy nguyên tố (Pakudha): Thuyết này coi bản nguyên

thế giới gồm 7 nguyên tố đất, nước, lửa, không khí, khổ, vui và linh hồn, chiathành 2 phần hữu hình gồm tứ đại, vô hình 3 yếu tố còn lại Cả 7 thực thể này

là tự tại, tự tạo, tự hoạt, tự tụ, tự tán, vĩnh hằng không lệ thuộc bất cứ thế lựcnào Họ cũng phủ nhận Brahman và nghiệp chống lại phân biệt đẳng cấp củaBlamôn Theo họ, tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều

có căn nguyên của nó từ sự tán, tụ, hoạt của 7 thực thể đã nêu mà thôi

* Thuyết phủ nhận đạo đức (Purana): Phái này tập trung chống

lại giáo lý của Blamôn Họ coi giáo lý đạo đức Blamôn là giả dối là lừa bịp.Theo họ, trong cuộc sống hiện thực thì giết người, sát sinh, gây đau khổ tangthương cho người khác, thông dâm, ăn nói gian dối đều không là điều ác,không là “ác nghiệp” trong giáo lý Blamôn, nên cái thuyết báo oán là không

có thực - Cũng vậy, việc bố thí, trì giới, ăn nói ngay thẳng, bất sát, ban phúcv.vv không là việc thiện, không là tạo “nghiệp thiện” theo Blamôn, nên cáigọi là ân oán, nghiệp chướng là không có trong quan niệm và đời sống đạođức

* Thuyết định mệnh và tôn giáo (Ạjivika): Về nguyên tắc phái

này cho lẽ sống đã được an bài theo vận mệnh Họ là một tôn giáo chủ trươngngười xuất gia phải quảng diễn cho tín đồ tuân theo và triệt để tuân thủ thihành những quy pháp đã an bài - con người phải luôn phụng mệnh bởi nhữngquy luật tiền định

Tuy vậy, cái gọi là định mệnh an bài của họ không là linh hồn tối cao,bất diệt Theo họ, con người và mọi vật trên thế giới đều do 12 yếu tố hữuhình và vô hình tạo ra là: Linh hồn, đất, nước, lửa, không khí, hư không, đắc,thất, khổ, lạc, sinh, tử Sáu yếu tố sau tuy là vô hình nhưng nó có sinh lực,năng lực làm cho thực thể hữu hình sống động, làm chủ, chi phối ý nghĩacuộc sống của thực thể hữu hình Sáu yếu tố đầu là thực thể hữu hình tạo nênthể xác người và vạn vật Họ coi linh hồn là sinh khí truyền sức sống không

Trang 20

chỉ cho người mà cho cả muôn vật Như vậy, họ thừa nhận có linh hồn củangười, có linh hồn của muôn vật Họ cũng cho rằng linh hồn phải gắn liền vớithực thể, không có linh hồn nằm ngoài thực thể

Thực chất của thuyết định mệnh an bài là chống lại thuyết giải thoát,chống lại thuyết duyên - nghiệp, nhưng thừa nhận luân hồi Theo họ vòngluân hồi của một đại kiếp là 8.400.000 năm, do vậy ngu, hiền, thiện, ác, giàu,nghèo, khổ, vui v.v là đã được an bài lưu chuyển theo luân hồi của 12 yếu tốtrên Tu luyện để thoát khỏi luân hồi là không có được (triết học lấp lửng)

* Thuyết hoài nghi (Shanjaya) Về thực chất, phái này gần với

“bất khả tri” Những tri thức mà họ nghi ngờ (hay bất khả tri) là những gìthuộc về “nghiệp báo”, “kiếp sau”, “siêu thoát”, “linh hồn bất tử” và những gìtrừu tượng, bí ẩn cần phán đoán, suy luận như đấng sáng tạo, phạm thiên -Brahman

Trong nhận thức giải thích hiện thực khách quan, họ chỉ thừa nhậnnhững tri thức có tính trực quan, cụ thể, cảm tính, còn những tri thức trừutượng, siêu hình, cần phán đoán, suy luận gián tiếp thì đều phải nghi ngờ hoặcbất khả tri Quan niệm của họ là “ngay như con lươn sờ sờ ra đó, mà bắt được

nó, nó còn chuồn mất huống hồ những gì không sờ được, không thấy được thìcăn cứ vào đâu mà quyết đoán được

2.7 TRIẾT HỌC JAINA (vị cứu thế thứ 24 của Ấn Độ).

Trường phái này được xác lập gần như cùng thời với Phật giáo Ngườisáng lập là đại sư Hoàng tử Vardhamana (con vua Sreyama và hoàng hậuTrisala ở vương quốc Magadha thuộc Bắc Ấn Độ) với tên hiệu là Mahavira.Ông sống trong khoảng 600 - 527 TCN Ông nổi tiếng là người chống lại chế

độ đẳng cấp của Ấn Độ, nổi danh là Mahavira - vị Đại anh hùng Thân thế và

sự nghiệp của ông giống thân thế và sự nghiệp của Tất Đạt Đà đến mức nhiềuhọc giả, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng hai người chỉ là một, họ chỉ mangnhững tên khác nhau Thật ra về khởi đầu thì họ khá giống nhau, nhưng kếtthúc thì hoàn toàn khác nhau Vả lại, Vardhamana sinh trước Sidharta khoảnghai mươi năm và hai vương quốc Magadha và Sakya là khác nhau Trong xãhội đa thê của Ấn Độ cổ, ông là người chủ trương chỉ có một vợ Năm 30tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả của mình xuất gia tu hành theo giới samôn (phục vụ) theo lối chuyên tâm khổ hạnh Năm 60 tuổi đắc đạo trở thànhgiáo chủ của Jaina Ông mất năm 72 tuổi Jaina theo tiếng Phạn là chiến

Trang 21

thắng Mahavira có nghĩa là đại anh hùng Trường phái này là một hệ thốngtriết học - tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ Khi Phật giáo bị suy tàn ở Ấn

Độ thì Jaina vẫn tồn tại, phát triển Họ được coi là một trong hai trường pháilớn nhất, phát triển rộng ở Đông Ấn sánh vai cùng Balamôn ở Tây Ấn

Nội dung triết học nhìn một cách khái quát, ban đầu họ duy vật chấtphác, có tính biện chứng ngây thơ về thế giới Về sau, họ là nhị nguyên mangnặng màu sắc tôn giáo Nhiệm vụ chính của họ là phản đối kinh Vệ đà với đạoBalamôn, chỉ ra con đường và phương tiện giải phóng linh hồn bất tử khỏi thếgiới kinh nghiệm trên cơ sở phủ nhận các đấng siêu nhiên sáng tạo thế giới

Cụ thể :

+ Về bản thể luận: Là nhị nguyên, phiếm thần luận Họ cho rằng, mọi

sự phong phú đa dạng của thế giới và mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều

do nhiều yếu tố cấu thành nhưng chỉ quy về 2 dạng bản chất chính là Jiva(Giva) và Atjiava (Atgiva) Jiva - Linh hồn hay sinh mạng Tính chất cơ bảncủa dạng này là ý thức Atjiva - phi linh hồn (cái không có ý thức) Vật chất,vật thể là những biến dạng của Atjiva, nó có đặc tính sờ mó được, có âmthanh, mùi, sắc và vị Các đối tượng của tự nhiên như thân thể, trí óc, lời nói,hơi thở v.v đều là sản phẩm của vật chất, trừ linh hồn và hư không Cái vậtthể mà ta cảm giác được, họ gọi là vật chất thô sơ Cái không nhận thức đượcbằng cảm giác họ gọi là vật chất tinh tế

Họ cho rằng, vật chất do nguyên tử tạo nên Nguyên tử là cái vốn có vôcùng nhỏ, không thể phân chia, không có khởi đầu, không kết thúc, khôngbiến đổi, tồn tại vĩnh hằng không do bất cứ quyền năng nào tạo ra và hủy diệt

Ở đây, họ là những nhà triết học nguyên tử luận vô thần Nhưng khi họ chorằng, nguyên tử đứng một mình, con người phải dùng tri giác mới hiểu nổi,ngược lại tri giác của con người do nguyên tử tạo nên, họ là những nhà triếthọc duy vật tầm thường, hòa đồng ý thức vào vật chất

Để giải thích về mọi sự tồn tại trên thế giới, họ đưa ra 7 khái niệm: Tồntại, Không tồn tại, Vừa tồn tại vừa không tồn tại, Cái mà ngôn ngữ khôngbiểu thị được, Cái tồn tại không do ngôn ngữ mà tồn tại, Cái không tồn tại dongôn ngữ mà không tồn tại, Cái tồn tại, không tồn tại đều không do ngôn ngữ

mà hiện hữu hoặc biến diệt Ở đây thể hiện lập trường nhị nguyên của họ

Họ cũng cho rằng, chính linh hồn jiva đã chuyển dưỡng thành 6 loại sựvật là đất, nước, lửa, không khí, sinh vật và thực vật Tức trong vũ trụ chỉ có 6

Trang 22

loại linh hồn tương ứng với các loại sự vật ấy, thể hiện hay ứng nghiệm vàoloại thực thể vật chất nào thì thực thể đó có sinh mệnh, còn lại là thực thểkhông có sinh mệnh Theo họ, linh hồn tuy vô hình nhưng thực sự là hữu hìnhbởi nó ứng nghiệm ở 6 loại thực thể trên thành sinh mệnh của linh hồn dưỡngthành thực thể ấy Như vậy, linh hồn là sinh mệnh nằm trong thực thể khôngtách rời thực thể, tức nó hữu hình Đồng thời, họ cũng cho rằng linh hồn rútcái năng lực sinh mệnh ra khỏi thực thể để trở về hư không, chứ không tiêutan cùng sự tiêu tan của thực thể Vậy họ là phiếm thần, hòa đồng linh hồnvào tự nhiên Theo họ, bất cứ linh hồn nào cũng có thể hiểu biết mọi cái dướidạng tiềm năng, có thể xâm nhập được vào tất cả và là một lực lượng toànnăng, nhưng khả năng của nó bị hạn chế bởi thể xác cụ thể mà linh hồn sốngtrong đó.

Họ chia thực thể không linh hồn (atjiva) thành 4 loại: Vận động(dharma-pháp); đứng im (adrahma-bất pháp); hư không (skasa); vật chất(pudgala - ngã)

Như vậy, cùng lúc họ thừa nhận vũ trụ có 5 thực thể tồn tại: Vận động,đứng im, hư không, vật chất và linh hồn Trong khắp vũ trụ, linh hồn và philinh hồn luôn tương ứng với nhau, tương giao tương hợp nhau để thành vàhiện hữu sự sống sự trường tồn của vạn vật Lập trường nhị nguyên của họ là

rõ nét Bởi lẽ, tuy họ phủ nhận Brahman, nhưng lại thừa nhận trong thế giới

có một lượng rất lớn và cố định những linh hồn được thể hiện trong các thựcthể sống (có sinh mệnh), hoặc không được thể hiện ra Họ thừa nhận linh hồncũng như vật chất, nguyên tử không do ai tạo ra, tồn tại từ đầu, vĩnh hằng.Đồng thời, họ cũng đã thừa nhận linh hồn như một lực lượng siêu nhiên toànnăng, nhưng khả năng có bị hạn chế bởi những thực thể mà nó thể hiện trong

đó

+ Về con người: Theo họ, thân, khẩu, ý là ba lĩnh vực hoạt động chủ

yếu của con người, và chính chúng tạo nên tam nghiệp của con người phảivướng mắc Lúc đó linh hồn toàn năng bị hạn chế bởi thể xác, thực thể mà nóthể hiện Lúc này bản tính của linh hồn đã đi xuống tan ra Ở con người, linhhồn (sinh mệnh) bị nghiệp chi phối Khi linh hồn không chủ động được nữa

nó sẽ làm tổn hại đến sinh mạng của con người Theo họ, căn nghiệp donguyên tử mà có, thành nghiệp cũng do nguyên tử Khi nguyên tử bao quanh,con người lưu nhập bởi nghiệp Khi đó linh hồn làm hại sinh mạng con người

Trang 23

(thì đó là nghiệp báo) Lúc lưu nhập bởi nghiệp, là lúc linh hồn trong thể xác

bị chi phối bị dẫn dắt theo hướng sai bảo của nghiệp, linh hồn mất khả năngthoát lên, vươn lên, xâm nhập vào tất cả vốn có của mình - Nghiệp báo là lúclinh hồn bị đày đọa, bị luân hồi khổ sở qua 4 cõi địa ngục, ngạ quỷ (súc sinh),trần gian và thiên giới

Họ quan niệm muốn giải thoát con người khỏi luân hồi, khổ não củanghiệp báo thì phải tuyệt đối nghiêm khắc khổ tu để tiêu hủy những cănnghiệp cũ, đồng thời khỏi vướng những nghiệp mới Họ chủ trương phươngpháp chế ngự nghiệp căn, tu thành Samôn, tu luyện khổ hạnh dày công tiêudiệt tham, sân, si Chủ trương xuất gia, không tu tại gia, không riêng tư Theo

họ, trời là nhà, đất là chiếu, nắng mưa là áo quần, bát mẻ khất thực là của cải

Họ tuân thủ ngũ giới không sát sinh, không gian dối, không đạo tặc, khôngdâm vọng, không giữ của riêng trên nguyên tắc tôn trọng sinh mệnh của súcsinh là quan trọng nhất Họ chủ trương ăn chay

+ Khoảng thế kỷ III trước công nguyên Jai na chia thành 2 phái Bạch y

và Lõa thể.

*Phái Lõa thể noi gương sư tổ luôn ở truồng không có áo quần

che thân, với quan niệm không có gì là của riêng ta cả Họ khỏa thân 4 mùa,khắc kỷ, khổ tu, tuyệt thực theo từng giai đoạn, từng thời kỳ Họ khổ luyệnđoạn thực cho đến mức thân hình gầy đét, hơi thở thoi thóp như người sắpchết Càng khổ luyện như vậy, càng được tiếng là đạo đức, đức hạnh cao Họchủ trương “chỉ diệt pháp” (Nirjara)

* Phái Bạch y chuyên mặc đồ trắng với nghĩa thanh bạch trong

trắng Sách “chân lý chứng đắc kinh” của họ giảng về những vấn đề chínhkiến, chính trị và chính hành để chỉ dẫn tín đồ tu hành đến giải thoát khỏi luânhồi

Dù là phái nào thì họ đều chủ trương chỉ diệt pháp Phương pháp tuluyện này phá tác dụng thế lực ảnh hưởng của nhân nghiệp Làm cho thamdục, tội lỗi, dơ bẩn trần tục không chi phối kìm hãm, không làm vẫn đục sựthanh khiết của linh hồn, nhằm con người đạt đến “đại trí tuệ”, lâng lâng,thanh tịnh không vọng động, không xao xuyến, không phân biệt thời gian,mặc dù thể xác còn ở thế gian: đó là Niết bàn (Nirvana) Họ quan niệm ởtrạng thái đó, khi con người chết, linh hồn trả thể xác, vật chất về với đặc tính

Trang 24

cố hữu của nó là đi xuống, là tiêu tan, để linh hồn thoát lên, vươn lên, siêuthoát, tự tại với khả năng của mình.

Tóm lại: Jaina là hệ thống đa nguyên bản thể luận Họ có công trong

việc giải thích thế giới một cách duy vật thô sơ, có tính biện chứng ngây thơ,

tự phát Họ chống lại Vêdanta và Balamôn, chống lại chế độ phân biệt đẳngcấp của Ấn Độ cổ đại Nhưng hệ thống của họ mang nhiều yếu tố duy tâm,hữu thần khi bàn về linh hồn và đạo đức Thời cổ - trung đại, Jaina thâm nhậpvào quần chúng và có ảnh hưởng rất lớn ở Trung bộ và Đông nam Ấn Thờihiện đại, Jaina chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong đân cư Ấn Độ (0,5%), nhưng đã

có nhiều ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt tinh thần ở Ấn Độ Nhà lãnh đạoMahatma Ganđi, với tư tưởng bất bạo lực, sống khắc khổ, đấu tranh bằngphương pháp tuyệt thực, là chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học - tôn giáoJaina

2 8 BUDDAHA (Phật giáo).

2.8.1 Phật giáo với tư cách là một hệ thống triết học.

Phật giáo là một trong ba trường phái tà đạo của toàn bộ chín hệ thốngtriết học Ấn Độ cổ, và là trường phái triết học tiến bộ cách mạng Sáu trườngchính thống là: Samkhya, Yôga, Nyaya, Vaisêsika, Mimànsa, Vêdanta Batrường phái không chính thống (Tà đạo, cách mạng) là: Jaina, Lokayata vàBuddha (Phật giáo)

Ở Ấn Độ, Phật giáo là trường phái triết học cách mạng, so với cáctrường phái triết học khác, nó có ảnh hưởng lớn trên phạm vi thế giới Ở ViệtNam, suốt 2000 năm thâm nhập và phát triển với cả hai tư cách tôn giáo vàtriết học đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong đời sống tư tưởng và văn hóaViệt Nam

a) Các nội dung tư tưởng triết học chính trong đạo Phật.

Tư tưởng triết học Phật giáo được chứa đựng trong “Tam tạng” Khokinh điển này gồm hơn 8400 cuốn, thuộc tiếng Paly (Nam Ấn) và Sanskrit(Bắc Ấn) Ngoài ra sự phát triển của Tiểu thừa và Đại thừa đã làm phong phúthêm những tư tưởng triết học sơ kỳ của Phật giáo Dù sao, tư tưởng cốt lõicũng không ngoài phạm vi những tư tưởng sơ kỳ sau đây :

a1 Bản thể luận (thế giới quan) :

a1.1) Lý “nhân duyên khởi” :

Trang 25

Nguyên lý “Nhân duyên khởi” coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyênnhân tự thân, không do một đấng thần linh nào tạo ra cả Sự đa dạng của tồntại là do “Nhân duyên” tạo ra: nhân duyên hội thì sự vật tạo ra Nhân duyênhết thì sự vật không còn.

“Nhân duyên” quan hệ chặt chẽ với “nhân quả” Nhân là nghiệp lực.Quả là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên

“Nhân duyên khởi” và “nhân quả” là nguyên lý phổ biến tuyệt đối củamọi tồn tại “Duyên” ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh ra cáimới, vừa là kết quả của quá trình biến đổi cái cũ trước đó Nhân nhờ duyên

mà thành quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên thànhquả mới, Quá trình cứ thế nối nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật,muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa không ngừng

Lý nhân duyên giải thích căn nguyên biến hóa vô thường của vạn pháp.

Tất cả vạn pháp không thoát ra được sự chi phối của luật nhân quả Cái gì tácđộng ở vật gây ra kết quả gọi là nhân Cái gì kết tập lại từ nhân gây ra gọi làquả Duyên là sự tương hợp, là điều kiện giúp cho sự khởi sự của vạn pháp

Có lục nhân, tam duyên, tứ duyên và thập nhị nhân duyên

Lục nhân gồm : 1) Tương ứng nhân: nhân của tâm vương và tâm sở

tương ứng nhau mà có (Tâm vương là cái tâm làm chủ cái thức, tâm sở là cáitâm đã thụ tưởng, hành, thức)

2) Câu hữu nhân: Nhân của tâm vương và tâm sở cùng có mà giúp lẫnnhau

3) Đồng loại nhân: Nhân cùng một loại

4) Biến hành nhân: Nhân cùng khởi một lúc khắp cả trong khổ đế vàtập đế

5) Dị thục nhân: Nhân làm điều thiện hoặc ác ở đời này thì đời sau sẽthành ra ở đời sau thành thiện báo hay là ác báo

6) Năng tác nhân: Nhân nhờ có duyên khác mà tạo ra kết quả

Tam duyên gồm: 1) Thân duyên (duyên thân với Phật): Ba nghiệp

(thân, khẩu, ý) của chúng sinh và ba nghiệp của Phật chẳng lìa bỏ nhau

2) Cận duyên (duyên gần với Phật): chúng sinh nguyện thấy Phật, Phậtliền ứng niệm mà hiện ra trước mắt

Trang 26

3)Tăng thượng duyên (duyên thêm lên cõi Phật): chúng sinh xưng niệmPhật mỗi giây nghĩ (niệm niệm) trừ được tội nhiều kiếp, khi lâm chung Phật,thánh sẽ tiếp rước về cõi cực lạc.

Tứ duyên gồm:

1) Nhân duyên: Cái duyên làm cho nhân thành quả Chẳng hạn, lục căn(mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) làm nhân; lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,pháp) làm duyên mà thành ra lục thức (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác,xúc giác, ý giác)

2) Thứ đệ duyên: Cai duyên của tâm vương, tâm sở cứ thứ tự theo nhausinh ra liên tục không dứt

3) Sở duyên duyên: Duyên này nhờ duyên khác mà sinh ra

4) Tăng thượng duyên: Đối với sinh vật, kinh Phật tìm thấy sự liên kếtcủa nghiệp quả từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai mà đưa rathập nhị nhân duyên (xem phần tập đế)

a1.2) Tư tưởng “Vô thường”, “Vô ngã” :

Vạn pháp đều không vượt qua nguyên lý “Vô thường” và “vô ngã”

“Vô ngã” là không có cái ta; sự vật bản chất không thường tồn bấtbiến, nên “ngã” chỉ là “ảo”, “giả” Nó là “ảo” là “giả” vì hội đủ nhân duyênthì có, cái “có” ấy tự tính vốn chẳng “có” mà là “không”

“Vô thường”: vạn vật chẳng thường hằng, thường trụ mà luôn trôi đi,biến đi đến mức vạn pháp hiện trước nhận thức của con người đều là “ảo” Là

“ảo” vì biến đổi “vô thường” nên cái thấy chẳng thật Chỉ trong một Sát - nathì sự vật đã chẳng còn là nó, thế thì cái thấy chỉ là huyễn hoặc

Theo Phật giáo, thì thế giới được tạo nên bởi ngũ uẩn: “sắc” (vật chất),thụ, tưởng, hành, thức (tinh thần) Cũng có quan niệm cho rằng thế giới đượctạo nên từ lục đại: phong, thủy, địa, hỏa, không (sắc), thức (danh)

“Duyên danh - sắc” chỉ hội tụ nhau một thời gian ngắn rồi lại biến đổisang trạng thái khác Vì vạn pháp “vô thường” nên cũng “vô ngã” Bản thânthế giới là một dòng chuyển liên tục (vô thường), không thể tìm ra nguyênnhân đầu tiên, không ai tạo ra thế giới cả, không có cái gì là tồn tại vĩnh hằng

cả Sự biểu hiện của thế giới sự vật hiện tượng luôn theo quy trình sinh, trụ,

dị, diệt (hoặc thành, trụ, hoại, không hoặc sinh, lão, bệnh, tử) theo luật “nhânquả” và lý “nhân duyên khởi”

Trang 27

Như vậy, Phật giáo coi mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều là “ảo”

và “giả”, không có thực, chỉ do vô minh đem lại và chấp mà có “Tất cả mọivật đều là vô thường đều thay đổi, không có vật nào là ngã cả” Dòng biếnchuyển ấy là vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận, không có khởi đầu, không cókết thúc

a1.3) Vài điểm khác nhau của Tiểu thừa và Đại thừa:

Hai phái của Tiểu thừa nhìn chung là “chấp hữu“, nhưng Phái “Nhấtthiết hữu bộ” (Savatyvàda) đã tập trung nghiên cứu phạm trù thời gian Theo

họ, có tồn tại hiện tại là do có tác động ở trong quá khứ, có tác động hiện tại

là có tồn tại trong tương lai Như vậy, là họ đã đi gần đến chỗ coi tồn tại là

“bất biến” Phái “Kinh bộ” (sautràmtika) chống lại luận điểm “vô thường” củaphái trên Họ xây dựng “lý thuyết về tính chốc lát”, và có đóng góp cho pháttriển tư tưởng biện chứng Theo họ, trạng thái biến chuyển rõ ràng không xẩy

ra sau một loạt các biến chuyển không rõ ràng

Hai phái của Đại thừa nhìn chung “Chấp không”, nhưng Phái “Trungluận” (Madhymika) cho rằng: vật chất và ý thức vốn là “không” do vô minh

mà hiện ra là “có” Bởi vậy, nhìn thế giới phải vừa là “không” vừa “dả”, tứccách nhìn “trung” Theo họ, con người tu luyện khi căn cơ thuần thục, bát nhãxuất hiện thì thế giới “ảo” biến đi về trạng thái “không” - Niết bàn Ngườisáng lập ra phái này là sư Long Thọ (Trung Quốc) Phái “Du già” (Yogacara)cho rằng vạn pháp đều biến tướng và là sự thể hiện của thức thứ tám (Tàngthức) Phái này nặng về duy thức luận Theo họ, “tàng thức” không mất đi màtồn tại vĩnh hằng Phái này do hai anh em ruột Vô Trước (Asanga) và ThếThân (Vasubađla) sáng lập

Nói chung, thế giới quan Phật giáo là tư tưởng vô thần luận, có tínhbiện chứng sâu sắc Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan,nặng về duy thức luận Họ quá nhấn mạnh về sự biến đổi của sự vật hiệntượng và phủ nhận sự đứng im tương đối của vạn vật

a.2) Nhân sinh quan Phật giáo:

Đây là nội dung trọng tâm của triết học Phật giáo Những tư tưởng triếthọc bản thể nói trên chỉ là nền tảng lý luận cho việc luận chứng những tưtưởng nhân sinh thể hiện ở bốn luận điểm cơ bản trong “tứ diệu đế”

a.2.1) Quan niệm về con người: Phật giáo cho rằng con người

không do thượng đế sinh ra, cũng không do một đấng thiêng liêng nào tạo ra

Trang 28

cả, mà con người là một pháp đặc biệt của vạn pháp Con người bao gồmphần sinh lý, tâm lý, và là sự kết hợp của ngũ uẩn:

Phần sinh lý gồm “sắc” là thần sắc, hình tướng giới hạn trong khônggian bằng xương, thịt, da, tạo bởi bốn yếu tố (Tứ đại) là: thủy, hỏa, địa,phong Phần tâm lý hay tinh thần, ý thức gồm thụ, tưởng, hành, thức, đượcbiểu thị bằng bảy lĩnh vực tình cảm (thất tình) là: Ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục.Phần tâm lý bao giờ cũng nhờ, dựa vào phần sinh lý (không có tinh thần, ýthức ngoài cơ thể vật chất) Con người cũng như vạn pháp khác của vũ trụphải tuân thủ: sinh, trụ, dị, diệt và thực chất là giả hợp của ngũ uẩn, do vậycon người cũng chỉ là giả - “Vô ngã”

Con người khi chết không hết cũng chẳng còn (chấp đoạn) Phật giáogiải thích cái chết của con người sau chết bằng thuyết “Nghiệp báo” (karma)

và luân hồi (Samsara)

Nghiệp (Karma) theo truyền thống Ấn Độ cổ phải được hiểu là: Mỗi

hành động là kết quả tất nhiên của những điều kiện có trước; là khuynhhướng của nhân thành quả (thiện = thiện, ác = ác); là cái tâm linh cao hơn cái

tự nhiên vốn có của con người (con người là bộ phận của tự nhiên và là bộphận cao hơn có quan hệ xã hội); là tự do của con người bằng sự hợp nhất tự

do của linh hồn với thượng đế (Brahman); là ánh sáng tâm linh bên trong củacon người (Đức sáng tự mình) Ánh sáng tâm linh này có phản chiếu ánh sángtối cao hay không là chuyện bất khả tri; cách truyền nghiệp là tâm truyền(muốn là được)

Nghiệp theo Phật giáo phải được hiểu là nghiệp theo kiểu truyền thống

ấy nhưng có đôi điểm khác biệt như: Bí truyền và hành động như một địnhluật nhân quả khắt khe (là nhân quả), có thể hiểu như định mệnh trong các tôngiáo khác

Nghiệp của Balamôn là sự tái sinh của một Atman vào một trong sáucõi [(thần tiên), Atula (thần), nhân (người), địa ngục, ngạ quỷ (ma đói), súcsinh (thú vật)];

Nghiệp của Phật là một dây liên tục các nghiệp riêng - chung, nókhông là định mệnh mù quáng, không là tự do muốn gì được nấy mà có luậtnghiệp được định bởi trật tự của tự nhiên và tinh thần Khi nói đến nghiệp,Phật giáo chỉ chứng minh con người có ý chí có khả năng làm chủ đượcnghiệp trong khi phải tuân thủ luật nghiệp Khi giác ngộ với nghiệp không

Trang 29

còn tác dụng Nghiệp là sức mạnh ngấm ngầm thúc đẩy từ bên trong, là tiềmthức của con người mà muốn nhìn thấy nó phải nhất tâm thiền định.

Nghiệp có phúc nghiệp, tội nghiệp Nghiệp cũng có nghĩa là tạo tác,việc làm Tam nghiệp góp chung thành một sức mạnh gọi là nghiệp của ngườiđang sống: bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp Khi chết có mộttrong bốn nghiệp sau chi phối mà quen gọi là dẫn nghiệp: cực trọng nghiệp(cơ thể thiện hoặc ác); cận tử nghiệp; tập quán nghiệp; tích lũy nghiệp

Trong vòng tam giới (Dục, sắc, vô sắc), vạn pháp đều chịu 4 nghiệp là:nghiệp đen (ác), nghiệp trắng (thiện), nghiệp đen và nghiệp trắng (có thiện cóác), nghiệp không đen cũng không trắng (nghiệp vô vi của hàng đắc đạo -nghiệp vô lậu) Ngoài ra, tùy hoàn cảnh còn có nhiều loại nghiệp khác

Với thuyết “nhân quả” và “Nghiệp - Nghiệp báo”, Phật giáo cho rằngkhông có một hành vi nào dù thiện, ác, to, nhỏ, của con người, dù được bưngbít che đậy mà tránh khỏi “quả báo” “Tu tâm”, “Nghiệp dần luân hồi tronglục đạo” nói rất rõ về điều này

Luân hồi: luân là bánh xe quay tròn, hồi là trở về Luân hồi là nói đếnvạn pháp trong tam giới luôn luân chuyển không ngừng theo chu kỳ: Thành -trụ - hoại - không (sinh - trụ - dị - diệt hoặc sinh - lão - bệnh - tử) Đối với conngười có thân thì có nghiệp, có nghiệp thì vào luân hồi để trả nghiệp báo

Ba giới được hiểu theo 3 cách là vật lý, sinh lý, tâm lý; dục giới, sắcgiới, vô sắc giới; thảo mộc, động vật và quỷ thần

a.2.2 Quan niệm về đời người thể hiện trong Tứ Diệu Đế.

“Tứ diệu đế” là nội dung chủ yếu về nhân sinh quan Phật giáo - luậnđiểm về giải thoát và cứu khổ - Niết bàn

Khổ đế : tất cả những cái có, vốn là tồn tại đều khổ Đau khổ là quá

trình tồn tại Đời là bể khổ “nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước củabốn biển” Những cái khổ tóm lại trong bát khổ: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ,

tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ, thủ ngũ uẩn khổ

Tập đế (nhân đế): Mọi cái khổ đều có nguyên nhân Nguyên nhân của

đau khổ nằm trong trần tục là vô minh, là dục vọng “Thập nhị nhân duyên” lànhững nguyên nhân cho cái tồn tại kéo dài không ngừng và liên tục trongvòng quay vĩnh cửu Mười hai nguyên nhân ấy là: Vô minh, hành, thức, danh

sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử đều gây khổ Duyên “lão

Trang 30

-tử” vừa là kết quả cuối của một quá trình, nhưng cũng là nguyên nhân củavòng luân hồi mới từ vô minh của cuộc đời khác Tất cả 12 nguyên nhân nàyquan hệ ràng buộc lẫn nhau, dẫn tới cay đắng của cuộc đời.

Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể diệt được Có thể chấm

dứt được đau khổ, chấm dứt được luân hồi nhờ đạt trạng thái niết bàn

Niết bàn phải được hiểu với những nghĩa sau: Là cảnh trí của nhà tuhành đã diệt sạch các phiền não và tự biết rằng, mình chẳng còn luyến ái; là

ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não; Đã dứt nhân quả sinh tử, dứt hếtnghiệp, luân hồi; là vô vi, trống không, lặng lẽ, yên ổn chấm dứt cái tai hạicủa sinh tử; là không sinh ra những khổ quả nữa; là không nhân duyên tạo tácnghiệp lầm (vô vi); là yên ổn, khoái lạc, hết khổ (an lạc); là lìa khỏi phiền não(giải thoát)

Niết bàn theo Phật giáo cũng có những nghĩa như thế, nhưng cần phảiđược hiểu là: Cõi tĩnh, tịch, cực lạc siêu không gian, siêu thời gian (hư không,thế giới bên kia); đã diệt trừ hết mọi dục vọng, thù ghét, mê lầm đạt đến sựgiải thoát tuyệt đỉnh, đồng nhất Niết bàn, Pháp, Phật (Niết bàn có ngay tronghiện thực); là thế giới đại đồng, bình đẳng, bắc ái (khát vọng về tương lai)

Diệt đế cũng là niết bàn Muốn đạt niết bàn phải diệt đế, phải chứngquả “duyên giác” Diệt đế trước hết là diệt vô minh Trong đó vô minh baogồm cả việc thừa nhận sự tồn tại thực của con người và của vạn pháp

Ở đây trong bản thể luận, Phật giáo cứu cánh con người không phảibằng đấu tranh giai cấp, bằng cách mạng mà bằng diệt dục Để đạt được trạngthái giải thoát, Phật giáo đã “đặt thế giới lầm lỗi và trần tục, tức thế giớithường ngày và tồn tại kinh nghiệm đối lập với sự yên tĩnh vĩnh hằng đạtđược, bằng cách giảm bớt dần nguyên nhân sự tồn tại trần tục”

Trong lý thuyết về giải thoát của Tiểu thừa và Đại thừa có đôi chútkhác nhau Chúng sinh - theo Tiểu thừa - chìm đắm trong bể khổ sẽ đến nơiyên tĩnh và ai cũng muốn hướng tới trạng thái Alahán (vị thánh đã đạt niếtbàn) Nhưng muốn tới trạng thái ấy, mỗi cá nhân tự phấn đấu mà đi Đức Phậtchỉ vạch ra mục đích và hướng dẫn con đường Các vị La Hán không quantâm và không thể quan tâm tới mọi người và không ai có thể giúp được, mỗingười tự tạo ra nghiệp của mình, tự đạt tới niết bàn Với Đại thừa, Alahánđược thay bằng Bồ Tát Bồ Tát chứng quả niết bàn nhưng khước từ bước vàotrạng thái yên lặng ấy, các ngài lại thường quan tâm giúp chúng sinh khác

Trang 31

cũng đạt tới trạng thái như vậy Theo Đại thừa, mọi chúng sinh đều liên kếtvới nhau bởi có cái chung là tâm Phật Tất cả chúng sinh đều là Bồ Tát, làPhật vị lai Mỗi chúng sinh đều ẩn dấu một phần của cái chung đó: Đức Phậttuyệt đối duy nhất Bồ Tát tuy giúp đỡ mọi người khi mình đã được giải thoát,nhưng không làm cho họ đắc đạo được, chỉ Đức Phật mới làm được điều đó.Nơi nào thờ Bồ Tát thì đó là Phật giáo Đại thừa.

Đạo đế: Là những con đường chân chính dẫn đến sự giải thoát, là

những con đường tu đạo Thực chất của những con đường này là diệt “vôminh” Có tám con đường gọi là “bát chánh đạo”:

Chính ý: Tư duy, suy nghĩ đúng

Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính

Chính kiến: Có sự hiểu biết đúng đắn, nhất là hiểu biết đúng đắn về

Tứ diệu đế

Chính nghiệp: Có nghiệp tà và nghiệp chính Nghiệp tà thì tu sữa, cảitạo Nghiệp chính thì giữ cho vững, Thân, khẩu, ý nghiệp đều phải giữ chochính, cho thanh tịnh

Chính mệnh: Sống trung thực,cư xử đúng đắn, tiết chế dục vọng vàgiữ nghiêm giới luật

Chính tinh tiến: Thường xuyên tích cực tiên kiên truyền bá chân lýcủa Phật Hoằng dương Phật pháp chân chính

Chính niệm: Thường giữ vững và nhớ Phật, niệm Phật

Chính định: Tĩnh lặng tập trung và suy nghĩ về “tứ diệu đế”, “vô ngã”,

“vô thường” và “khổ”

Tám con đường ấy qui về thực hiện ba nguyên tắc: Giới - Định - Huệ Giới: Giữ những điều kiêng kỵ để con người trở nên trong sạch, làmcho thân, khẩu, ý được thanh tịnh

Định: Làm cho thân, tâm trụ, định, an lạc không bị tán loạn, không bịchi phối bởi hoàn cảnh Định gồm có Chỉ và Quán Nhờ Chỉ mà mọi nghiệpdừng lại và ngưng đọng Nhờ Quán mà trí tuệ minh triết phát minh

Huệ (tuệ): Nhờ định mà trí tuệ bát nhã phát sinh, lúc đó con người liềnvượt qua bể khổ đạt đến bờ giải thoát (giác ngộ, niết bàn, quốc độ, tĩnh lặngv.v.)

Trang 32

a.2.3) Tóm lại: Cứu vớt và giải thoát luôn là mục đích và nội

dung của nhân sinh quan tư tưởng triết học Đạo Phật Phật giáo bác bỏ “sựtồn tại” của Brahman, “đấng sáng tạo” và “ngã” (Atman) của Upanishad,nhưng lại tiếp thu tư tưởng “Luân hồi” (Samsara) và “nghiệp” (Karma) củaUpanishad trong toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ cổ

Phật giáo chỉ thừa nhận bốn điều thường tồn là: Mọi chúng sinh đều

sinh ra từ “vô minh”; Tất cả mọi đối tượng của dục vọng đều là vô thường,

là sự khổ, là điều thay đổi; Tất cả mọi tồn tại đều vô thường, đều khổ là điều thay đổi; “Ngã” cũng không phải là gì thuộc về ta.

Nhân sinh quan Phật giáo nói gọn là giải thoát luận Tuy vậy, hạn chế

là để đạt mục đích cuối cùng, Phật giáo lại thực hiện bằng cách loại bỏ dầnnguyên nhân của sự tồn tại của thế giới hiện thực Bởi lẽ: Đối tượng giải thoát

và cứu rỗi của Phật giáo là tất cả chúng sinh không phân biệt sang hèn, giàunghèo, nam, nữ, già, trẻ Tất cả đều có thể giải thoát, có thể thành Phật Bảnthân Phật cũng không phải là vị thánh thần mà là một con người đã giải thoát,

đã giác ngộ Niết bàn hay trạng thái giải thoát chính là trạng thái đã đoạn trừđược những ràng buộc trần thế, những đau khổ, phiền não do “vô minh”,

“tham dục” gây ra Niết bàn là trạng thái tâm hồn hoàn toàn được giải thoát,tĩnh lặng, trong sáng thanh tịnh, cực lạc siêu không gian, siêu thời gian

b Một số tông phái Đạo Phật ảnh hưởng ở Việt Nam :

Ở Việt Nam hiện nay có 3 tông phái lớn có ảnh hưởng đến Phật giáoViệt Nam là:

Mật tông: Hình thành từ Đạo Phật Đại thừa và các yếu tố bùa chú, pháp

thuật thần linh của Ấn Độ, ra đời từ thế kỷ thứ VII khi Phật giáo ở Ấn Độ đãsuy yếu và Ấn Độ giáo đang hình thành Những người tu hành trong phái này

có tính chất bí truyền, lễ thức thờ phụng rờm rà phức tạp Mật tông đã ảnhhưởng lớn Phật giáo Việt Nam thời nhà Lý với các sư Vạn Hạnh, Từ ĐạoHạnh, Khổng Minh Không phái này đề cao vai trò của người xuất gia tuhành, thậm chí còn coi là hiện thân của Phật

Tịnh độ tông: Do sư Tuệ Viễn (Viễn Công) lập ra ở Trung Quốc cuối

thế kỷ thứ IV Phái này thờ Tam Bảo Tam Bảo tức là ba ngôi báu: Phật (Đạigiác, đại ngộ, hiểu biết tất cả); Pháp (những giáo thuyết của Đức Phật); Tăng(những người xuất gia cùng hòa hợp, cùng chung nhau tu học giáo thuyết củaPhật) Tam Bảo là Phật Bảo, Pháp bảo và Tăng bảo

Trang 33

Quy y tam bảo là gửi thân vào đức Phật, vào đạo Phật, vào tăng chúngcủa Phật Tức là nương theo đức Giác có đủ phước và huệ; là nương theo sựChính không tà kiến; là nương theo đức Tịnh không nhiễm ô trọc, không chấp

nê (Như vậy Phật tức là giác, Pháp tức là chính, tăng tức là tịnh)

Có ba thứ tam bảo là đồng thể tam bảo (3 ngôi quý đều như nhau), xuấtthế tam bảo (ba ngôi quý ra khỏi thế gian), thế gian trụ trì tam bảo (ba ngôicòn ở trong thế gian)

Họ niệm Phật, chủ trương dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu.Điều quan trọng không phải là nơi niệm hoặc cách niệm Phật, cái chính là giữcho tâm tính yên tĩnh, không vọng động, phải hướng thiện và hướng thượng,luôn nhớ công đức cũng như lời răn dạy của Phật Phải có niềm tin vào sựgiác ngộ

Thiền tông: Được hình thành ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ VI Sư tổ là

Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) Ông cho rằng giáo thuyết Phật giáo trừutượng lại nhiều kinh sách, người bình dân khó tiếp thu chân lý của Phật, nênông chủ trương tu thiền (Dhyana = yên lặng mà suy nghĩ) Tu thiền là cách tốtnhất để thấy được tâm, tính và giác ngộ, vì Phật tại tâm, tại tính chứ không ởngoài Có tu tiệm ngộ (thông qua 52 bậc mới đạt quả Phật) Có tu đốn ngộ(giác ngộ nhanh với điều kiện người tu hành phải tạo ra được công án làm trítuệ bừng sáng) Thật ra thì tiệm là nhân của đốn, đốn là quả của tiệm trong cảquá trình tu hành

c Đánh giá về những giá trị triết học của Đạo Phật.

Trên thực tế có rất nhiều những đánh giá khác nhau về giá trị tư tưởngcủa triết học Phật giáo Ăng Ghen đã từng cho rằng, những tư tưởng về “Vôngã”, “vô thường” của Đạo Phật chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc

Về nhân sinh quan, có người cho rằng Phật giáo là bi quan, yếm thế vềcuộc sống con người, không đề ra nỗi khổ của áp bức giai cấp, không đề rabiện pháp cách mạng để cải tạo xã hội mà đi sâu vào con đường giải thoátmang tính cá nhân tiêu cực Cũng có ý kiến cho rằng Đạo Phật đã đề cập đến

sự thật nơi cuộc sống của mỗi con người, bất kể đó là ai đều không thoát khỏi

sự ràng buộc của sinh - lão - bệnh - tử và luân hồi Đạo Phật đã đề ra và địnhhướng giải quyết một vấn đề mà bất cứ ai dù ít, dù nhiều đều không thể lãngtránh

Ngày đăng: 24/06/2014, 10:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hoàng Ngọc Vĩnh - Đại cương Lịch sử Triết học Phương Đông và Việt Nam - Đại học Khoa học Huế 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Triết học Phương Đông và Việt Nam
Tác giả: Hoàng Ngọc Vĩnh
Nhà XB: Đại học Khoa học Huế
Năm: 2001
1. PTS Doãn Chính (Chủ biên cùng các tác giả) - Đại cương Triết học Trung Quốc - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1997 Khác
2. Hội đồng biên sọan sách giáo khoa Trung ương - Triết học Mác- Lênin - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội 1999 Khác
3. Nguyễn Đăng Thục - Lịch sử Triết học phương Đông - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh - Bộ 5 tập - 1991 Khác
4. Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên) - Lịch sử Triết học - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội 1998 Khác
5. Đoàn Đức Hiếu, Nguyễn Văn Hòa - Lịch sử triết học Phương Đông - Đại học sư phạm Huế 1993 Khác
6. Nguyễn Văn Hòa, Võ Ngọc Huy - Đại cương Triết học Phương Đông - Đại học Huế 1994 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w