1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÔN tập ĐẢNG LÃNH đạo hệ THỐNG CHÍNH TRỊ

27 155 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 198,5 KB
File đính kèm đảng lãnh đạo hệ thống chính trị.rar (37 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN ĐẢNG LÃNH ĐẠO HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ STT CÂU HỎI 1 Phân tích đặc điểm của Hệ thống chính trị ở Việt Nam 2 Phân tích mối quan hệ giữa các tổ chức thành viên trong Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay 3 Phân tích nội dung Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị đối với Hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Liên hệ thực tiễn địa phương 4 Phân tích nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Hệ thống chính trị hiện nay. Liên hệ thực tiễn địa phương 5 Phân tích một số phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng đối với Hệ thống chính trị hiện nay. Liên hệ thực tiễn cơ sở 6 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội hiện nay. Liên hệ thực tiễn. 7 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ hiện nay. Liên hệ thực tiễn. 8 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQVN hiện nay. Liên hệ thực tiễn. 9 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thể chính trị xã hội hiện nay. Liên hệ thực tiễn. 10 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Hệ thống chính trị cấp cơ sở hiện nay. Liên hệ thực tiễn địa phương.

Trang 1

MÔN ĐẢNG LÃNH ĐẠO HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1 Phân tích đặc điểm của Hệ thống chính trị ở Việt Nam

2 Phân tích mối quan hệ giữa các tổ chức thành viên trong Hệ thống chính trịViệt Nam hiện nay

3 Phân tích nội dung Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị đối với Hệ thống chínhtrị nước ta hiện nay Liên hệ thực tiễn địa phương

4 Phân tích nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Hệ thống chính trị hiện nay.Liên hệ thực tiễn địa phương

5 Phân tích một số phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng đối với Hệ thốngchính trị hiện nay Liên hệ thực tiễn cơ sở

6 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội hiệnnay Liên hệ thực tiễn

7 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ hiệnnay Liên hệ thực tiễn

8 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQVN hiệnnay Liên hệ thực tiễn

9 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thểchính trị - xã hội hiện nay Liên hệ thực tiễn.

10 Phân tích nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Hệ thống chínhtrị cấp cơ sở hiện nay Liên hệ thực tiễn địa phương

Trang 2

-Câu 1 Phân tích đặc điểm của Hệ thống chính trị ở Việt Nam

-Hệ thống chính trị Việt Nam lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng trongVăn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3-1989)thay cho khái niệm chuyên chính vô sản

Hệ thống chính trị Việt Nam được ra đời ngày 2 tháng 9 năm 1945 (khiChính phủ lâm thời ra mắt quốc dân) thay thế cho hệ thống chính trị thực dânnửa phong kiến do thực dân pháp áp đặt

Hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể bao gồm: Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước CHXHCNVN, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thểnhân dân (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựcchiến Binh Việt Nam) Mỗi tổ chức đều có vị trí, vai trò, phương thức hoạt độngkhác nhau với những chức năng nhiệm vụ khác nhau dưới sự lãnh đạo củamộtĐảng duy nhất cầm quyền, sự quản lý của nhà nước nhằm thực hiện quyền lựcchính trị của nhân dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh”

* Đặc điểm của Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

Hệ thống chính trị ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, hệ thống chính trị Việt Nam có một chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền đó là Đảng cộng sản Việt Nam

Chế độ chính trị ở Việt Nam là thể chế chính trị một đảng duy nhất cầmquyền Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản ViệtNam, còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội Tuy nhiên, hai đảng này được tổchức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản ViệtNam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộngsản Việt Nam Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thể chế nhất nguyên chính trị,không tồn tại các đảng chính trị đối lập

Hệ thống chính trị ở Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trịđều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập vừa đóng vai trò là hình thức tổ chứcquyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đạidiện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcchính trị – xã hội), vừa là tổ chức mà qua đó Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnhđạo chính trị đối với xã hội

Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quầnchúng Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận,thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch,chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước

Trang 3

quyết của Đảng.

Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và độingũ cán bộ, đảng viên của Đảng Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xácđịnh đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêuchuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng vàcác tổ chức chính trị – xã hội

Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêugương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dânchủ…

Thứ hai, hệ thống chính trị Việt Nam có tính thống nhất cao

Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí,vai trò, chức năng khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạothành một thể thống nhất Sự thống nhất của các thành viên đa dạng, phong phú

về tổ chức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện đểphát huy sức mạnh tổng hợp và tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệthống

Tính thống nhất của hệ thống chính trị ở nước ta được xác định bởi cácyếu tố sau:

+ Sự lãnh đạo thống nhất của một đảng duy nhất cầm quyền là ĐảngCộng sản Việt Nam

+ Sự thống nhất về mục tiêu chính trị của toàn bộ hệ thống là xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với nội dung: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh

+ Sự thống nhất ở nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là tậptrung dân chủ

+ Sự thống nhất của hệ thống tổ chức ở từng cấp, từ Trung ương đến địaphương, với các bộ phận hợp thành

Thứ ba, hệ thống chính trị Việt Nam mang bản chất dân chủ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.

Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị ở Việt Nam.Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chínhtrị,quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội Trong hệ thống chính trị, có các

tồ chức chính trị (như Đảng, Nhà nước), các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa

có tính xã hội (như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội khác) Dovậy, hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội (như những lựclượng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột), mà là một bộ phận của

xã hội, gắn bó với xã hội Cầu nối quan trọng giữa hệ thống chính trị với xã hộichính là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiệntrên các yếu tố:

Trang 4

+ Đây là quy luật tồn tại của Đảng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt độngcủa Đảng cầm quyền.

+ Nhà nước là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

+ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội là hình thức tập hợp,

tổ chức của chính các tầng lớp nhân dân

+ Hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân Mỗi tổ chứctrong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Thứ tư, hệ thống chính trị Việt Nam có sự kết hợp giữa tính giai cấp

và tính dân tộc

+ Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chínhtrị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân Các giai cấp, tầng lớp nhândân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừanhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Do vậy, hệ thống chính trị ở nước

ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc

+ Lịch sử nền chính trị Việt Nam là cuộc đấu tranh giải phóng giai cấpgắn liền và bắt đầu từ mục tiêu giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập dân tộc.Các giai cấp, dân tộc đoàn kết trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dântộc, hợp tác để cùng phát triển Sự tồn tại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tưcách là thành viên quan trọng của hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng tăngcường sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc

+ Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc được khẳng định trongbản chất của từng tổ chức thuộc hệ thống chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam làđội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dânlao động và của dân tộc Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Độc lập dân tộc gắnliền với chủ nghĩa xã hội đã gắn kết vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, tạo nênsức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị Sự phân biệt giữa dân tộc vàgiai cấp mang tính tương đối và không có ranh giới rõ ràng

Thứ năm, hệ thống chính trị Việt Nam có tổ chức và hoạt động được đảm bảo bằng nguồn ngân sách Nhà nước

Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức và hoạt động từ nguồn ngânsách nhà nước nhằm thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của đấtnước, xây dựng cơ sở hạ tầng, chi trả lương cho cán bộ, công chức

Những đặc điểm trên khẳng định ưu thế của Hệ thống chính trị Việt Namnhư đảm bảo quyền lực thống nhất, dễ đạt sự đồng thuận xã hội trong quá trìnhban hành và thực thi quyết sách Tuy nhiên, do hệ thống chính trị có mặt ở tất cảcác cấp quản lý hành chính với cơ cấu tổ chức cồng kềnh, đội ngũ cán bộ côngchức lớn nên tạo ra áp lực lớn lên ngân sách nhà nước, bộ máy làm việc nhiềukhi kém hiệu quả

Trang 5

Phân tích mối quan hệ giữa các tổ chức thành viên trong

Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

và lợi ích hợp pháp của nhân dân

Ba bộ phận hợp thành tạo thành một chỉnh thể quan hệ biện chứng tácđộng qua lại với nhau vì một mục đích chung nhất là thực hiện quyền lực củanhân dân Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Namđược thể hiện qua mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước; Đảng và Mặt trận tổquốc; Mối quan hệ giữa Nhà nước và Mặt trận tổ quốc Mối quan hệ giữa Đảng

và Nhà nước là quan hệ mục đích nắm quyền và hoạt động quản lý xã hội Đảnglãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua nhà nước và các đoàn thể quần chúng Đườnglối chủ trương của Đảng được nhà nước tiếp nhận và thể hiện hóa cụ thể bằngpháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể

Mỗi tổ chức thành viên thực hiện quyền lực nhân dân bằng chức năng,cách thức riêng của mình Trong Hệ thống chính trị thì Nhà nước giữ vai tròtrung tâm (nòng cốt) Các đảng chính trị đặc biệt là đảng cầm quyền giữ vai tròảnh hưởng chi phối đến hoạt động của nhà nước Các tổ chức chính trị - xã hội

có tác động gây áp lực lên nhà nước và Đảng cầm quyền Mặt trận tổ quốc thamgia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước, vận động các tầng lớp nhân dânthực hiện quyền bầu cử, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tham gia xâydượng pháp luật…Nhà nước lại dựa vào Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đểphát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân, tôn trọng và tạomọi điều kiện để nhân dân trực tiếp hoặc thông qua đoàn thể của mình tham giaxây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước

Đảng tham gia ủy ban Mặt trận với trách nhiệm thực hiện chương trìnhcủa Mặt trận tổ quốc và tích cực tham gia công tác Mặt trận Đảng lãnh đạo Mặt

Trang 6

trận thông qua đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, đáp ứng yêu cầunguyện vọng và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân Đảng tiến hànhcông tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra.

Ba bộ phận này vừa đấu tranh vừa thống nhất với nhau và trở thành trụcột để duy trì, vận động và phát triển chế độ chính trị và đời sống xã hội củaquốc gia

Trang 7

-Phân tích nội dung Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị đối với Hệ thống

chính trị nước ta hiện nay Liên hệ thực tiễn địa phương

-Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị là các vấn đề củađất nước, trong từng lĩnh vực cụ thể, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội ởcác cấp, các ngành; trong các mối quan hệ với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, cácđoàn thể nhân dân và toàn thể xã hội ở từng giai đoạn cách mạng Sự lãnh đạocủa Đảng biểu hiện tập trung nhất là lãnh đạo về chính trị và tư tưởng và tổchức, nhằm mục tiêu tạo ra một khuôn khổ chính trị để Nhà nước, Mặt trtaanj

Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ,thẩm quyền, chức năng và vai trò của mình theo quy định của pháp luật, theođiều lệ, mục đích, tôn chỉ của mối tổ chức

Nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong nội dung của cươnglĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, đảm bảo tính địnhhướng chính trị cho sự phát triern của đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạtđộng của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội hướng tới mục tiêu: dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị là toàn diện vàtrực tiếp Có thuể khái quát thành hai nội dung cơ bản, trong yếu sau:

Thứ nhất, Đảng lãnh đạo chính trị đối với việc xác định chức năng vànhiệm vụ của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, lãnh đạo các tổchức thành viên thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng

Thứ hai, Đảng lãnh đạo việc xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy của cácthành viên trong hệ thống chính trị Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ

và quản lý đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị,

Nội dung lãnh đạo của Đảng không thể tách rời phương thức lãnh đạocủa Đảng Nội dung lãnh đạo phải qua những phương thức lãnh đạo thích hợpmới trở thành hiện thực

Vị trí cầm quyền của Đảng thể hiện quyền hạn trách nhiệm chung củaĐảng và trách nhiệm của các tổ chức đảng trong việc quyết định các vấn đề củađất nước, các vấn đề trong từng lĩnh vực cụ thể, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa,

xã hội ở các cấp, các ngành, trong các mối quan hệ với Nhà nước Mặt trận Tổquốc, các đoàn thể nhân dân và toàn thể xã hội

Sự lãnh đạo của Đảng biểu hiện tập trung nhất lãnh đạo về chính trị và tưtưởng, nhằm mục tiêu tạo ra một khuôn khổ chính trị để Nhà nước, Mặt trận Tổquốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ, thẩmquyền, chức năng và vai trò của mình theo quy định của pháp luật, theo điều lệ,mục đích, tôn chỉ của mỗi tổ chức

Trang 8

* Liên hệ thực tiễn địa phương

Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở, các đảng

bộ, chi bộ ở xã, phường, thị trấn đã nhận thức và xác định rõ vai trò, vị trí, chứcnăng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị; đồng thời đảm bảo vaitrò lãnh đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực ở cơ sở Nhiều cấp ủy đã thực sự đổimới nội dung, quy trình và xác định được những vấn đề trọng tâm, trọng điểmtrong việc ban hành các nghị quyết Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tưtưởng có đổi mới Coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảngviên và nhân dân Các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản được quan tâmlãnh đạo, chỉ đạo; chú trọng ngăn ngừa, khắc phục những lệch lạc, nhất là biểuhiện xa rời tôn chỉ, mục đích Công tác thông tin đối ngoại được đẩy mạnh Đa

số cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vàocông cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước Tư tưởng tích cực vẫn

là xu hướng chủ đạo trong đời sống xã hội

Bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua trong hoạt động của hệthống chính trị cơ sở còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém Chức năng, nhiệm vụ củacác tổ chức trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệmkhông rõ ràng; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới và chưa đồng

bộ, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Một số nơi sựphối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa chặt chẽ, hiệu quả hoạtđộng chưa cao Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sởđảng còn yếu, nhất là năng lực vận dụng các chủ trương, nghị quyết của Đảng vàchính sách của Nhà nước vào tình hình cụ thể của địa phương Hiệu quả hoạtđộng của bộ máy chính quyền một số nơi chưa cao; trình độ, năng lực của một

bộ phận cán bộ, công chức cấp xã, nhất là các xã vùng cao, vùng đồng bào dântộc chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức cơ sở một số địa phương chưa thực sự được quan tâm; nội dung, chươngtrình đào tạo chưa phù hợp với công việc ở cơ sở, còn chạy theo bằng cấp Hoạtđộng của các đoàn thể chính trị ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa thiếtthực; còn biểu hiện hành chính hóa trong hoạt động Công tác kiểm tra nắm tìnhhình cơ sở ở một số địa bàn chưa thường xuyên, sâu sát, dẫn đến việc phát hiện

và xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở còn bị động Công tác phát triển đảng viên

ở cơ sở chưa được quan tâm đúng mức; một số vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc chi bộ ghép ở các thôn, bản còn nhiều Nội dung và hình thức sinhhoạt chi bộ còn đơn điệu, việc đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảngviên hàng năm chưa phản ánh đúng thực chất Một bộ phận cán bộ, đảng viên ở

cơ sở suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, nói không đi đôi với làm.Chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở còn bất cập; cơ sở hạ tầng và điều kiệnlàm việc nhiều nơi còn khó khăn, nhất là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc…

Trang 9

-Phân tích nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Hệ thống chính trị

hiện nay Liên hệ thực tiễn địa phương

-Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng được hiểu là những yêu cầu bắt buộc phảituân thủ khi chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền phải tuân thủ tronglãnh đạo hệ thống chính trị

1 Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị trên cơ sở tuân thủ pháp luật

Mọi quyết định lãnh đạo không được trái với pháp luật Đảng vừa là bộphận của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X củaĐảng đã xác định rõ bản chất của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiênphong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân laođộng và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và của dân tộc” Về vị trí, vai trò của Đảng trong hệthống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác định rõ: “Đảng lãnh đạo hệ thốngchính trị, đồng thời là một bộ phân của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết vớinhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp

và pháp luật” Điều đó là cơ sở của sự gắn bó giữa xây dựng Đảng và xây dựng

hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chínhtrị

2 Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị phải tuân thủ nguyên tắc tập trung, dân chủ

Mọi quyết định lãnh đạo phải được xây dựng trên cơ sở dân chủ thảoluận, theo số đông Không trái với điều lệ và các quy định của Đảng Không tráivới Nghị quyết của Đảng cấp trên

Tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản của các tổ chứccộng sản và là một trong những đặc trưng cốt lõi để phân biệt chính đảng củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng phái chính trị khác Từ khi rađời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định Tập trung dân chủ lànguyên tắc cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong mọi tổ chức và hoạt động củaĐảng Vấn đề căn cốt này đã trang bị cho học viên tham gia lớp bồi dưỡng kiếnthức về Đảng và chuẩn bị đứng trong hàng ngũ của Đảng

Đối với tổ chức đảng các cấp, việc tuân thủ, thực hiện Tập trung dân chủkhông chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng, mà còn là điềukiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết,thống nhất ý chí và hành động trong Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc T Tập trung dân chủthì bắt buộc mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành, thực hiện đến nơiđến chốn Nguyên tắc này được ví như “la bàn” có vai trò định hướng cho độingũ đảng viên khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự giác chấp hành Cương lĩnh,

Trang 10

Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và quy định của Đảng Nếu xem nhẹ, xa rời hoặcnhận thức không đúng, thực hiện không thấu đáo, hành xử thiếu nhất quánnguyên tắc này sẽ khiến cán bộ, đảng viên “đi chệch” quỹ đạo, từ đó có thể dẫnđến nhiều khuyết điểm, vi phạm trong công tác và trong sinh hoạt Đảng

3 Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị trên cơ sở tôn trọng tính độc lập

và phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của các thành viên Hệ thống chính trị

Phải thực hiện nguyên tắc này vì mỗi tổ chức thành viên Hệ thống chínhtrị là một pháp nhân có chức năng nhiệm vụ riêng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vậnđộng đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợppháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa, xãhội, an ninh, quốc phòng…Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xãhội.Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thanh niên, Luật Côngđoàn… duy trì dân chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội vàcác tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chínhtrị; thực hiện “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” và dân thụ hưởng những thànhquả của sự nghiệp đổi mới.Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,các tổ chức chính trị - xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nướchóa, phô trương, hình thức để nâng cao chất lượng hoạt động, làm tốt công tácdân vận theo phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có tráchnhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”

Thực hiện nguyên tắc này các cấp ủy và các tổ chức Đảng cần tránh hai

xu hướng: Bao biện làm thay, buông lỏng sự lãnh đạo

* Liên hệ thực tiễn địa phương

Trang 11

-Phân tích một số phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng đối với Hệ thống

chính trị hiện nay Liên hệ thực tiễn cơ sở

-Phương thức Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trị (HTCT) là phương pháptác động và hình thức thể hiện mà Đảng sử dụng để lãnh đạo đối với hoạt độngcủa Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

Hiện nay Đảng sử dụng 6 phương thức để lãnh đạo Hệ thống chính trị

Cơ sở lý luận trực tiếp để nghiên cứu phương thức Đảng lãnh đạo Hệ thốngchính trị ở nước ta hiện nay là chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng thểhiện trong Nghị quyết TW 5 Khoá X

Trên cơ sở lý luận đó, các phương thức Đảng lãnh đạo Hệ thống chính trịgồm:

Thứ nhất: Đảng lãnh đạo HTCT bằng định hướng chính trị

Đảng lãnh đạo HTCT bằng định hướng chính trị là việc Đảng đề ra chủ trương, đường lối trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để Nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội cụ thể hóa trong điều lệ và những nội dung hoạt động của mình.

Định hướng chính trị là phương thức lãnh đạo quan trọng nhất và chủyếu nhất của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.Định hướng chính trị của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đàn thể chínhtrị - xã hội chủ yếu bằng nghị quyết Thông qua nghị quyết mà ý chí, chí tuệ tậpthể của cơ quan lãnh đạo Đảng được thể hiện một cách tập trung, cô đọng, sángsuốt và có giá trị hiệu lực cao, làm phương tiện truyền tải định hướng chính trịcủa Đảng, cụ thể như sau:

- Trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM; tìnhhình quốc tế và cơ sở kinh tế - xã hội nước ta trong từng thời kỳ mà Trung ươngĐảng đề ra định hướng chính trị cho cả nước Còn ở các địa phương, căn cứ vàonghị quyết của các cấp lãnh đạo Đảng cấp trên, kết hợp với cơ sở kinh tế - xã hộicủa địa phương mà đề ra định hướng chính trị cho địa phương mình

- Đảng căn cứ vào chính tổ chức, hoạt động của chính Nhà nước, Mặttrận và các đoàn thể chính trị - xã hội; căn cứ vào việc đáp ứng yêu cầu thựchiện nhiệm vụ của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội để đề rađịnh hướng chính trị cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận và cácđoàn thể chính trị - xã hội

- Đảng định hướng chính trị trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinhtế; chính trị; văn hóa - xã hội; an ninh, quốc phòng cho tổ chức, hoạt động củaNhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

Thứ hai: Đảng lãnh đạo HTCT bằng công tác tư tưởng

Đảng lãnh đạo HTCT bằng công tác tư tưởng là việc Đảng tuyên truyền, giáo dục nhằm xây dựng hệ tư tưởng mác - xít và chống lại tư tưởng phi mác – xít đối với đảng viên, quần chúng; đặc biệt là công chức, viên chức của Nhà

Trang 12

nước và cán bộ, hội viên của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội Nhằm tạo ra sự đồng thuận về tư tưởng và hành động trong hệ thống chính trị khi thực hiện các nhiệm vụ cách mạng.

- Đảng thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị

tư tưởng đối với đảng viên, quần chúng nhân dân; đặc biệt là đội ngũ công chức,viên chức của Nhà nước và cán bộ, hội viên của các Nhà nước, Mặt trận và cácđoàn thể chính trị - xã hội

- Đảng tổ chức và động viên quần chúng nhân dân; đặc biệt là đội ngũcông chức, viên chức của Nhà nước và cán bộ, hội viên của các Nhà nước, Mặttrận và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thực hiện định hướng chính trịcủa Đảng…

Trong giai đoạn vừa qua Đảng đã sử dụng tốt phương thức giáo dụcchính trị tư tưởng để lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xãhội Điều đó đã nâng cao trình độ lý luận chính trị cho hầu hết công chức, viênchức của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, tạo nên sự đồngthuận về tư tưởng và hành động giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thểchính trị - xã hội Việc xác lập và củng cố hệ tư tưởng mác – xít trong xã hộinước ta của Đảng là một biểu hiện rõ nét về vai trò của một đảng cầm quyền.Điều này không những là phương thức để Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận vàcác đoàn thể chính trị - xã hội mà còn góp phần củng cố và tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ởnước ta hiện nay

Thứ ba: Đảng lãnh đạo HTCT bằng công tác tổ chức, cán bộ

Đảng lãnh đạo HTCT bằng công tác tổ chức, cán bộ là việc Đảng đưa đảng viên, tổ chức của Đảng vào trong cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội để biến quá trình thực hiện nghĩa vụ của công chức, viên chức Nhà nước và biến quá trình thực hiện kỷ luật của cán bộ, hội viên Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội cũng là thực hiện nhiệm vụ của Đảng.

Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội quacông tác tổ chức - cán bộ là thông qua những người của Đảng, tổ chức của Đảngnằm trong các cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội màĐảng thực hiện được sự lãnh đạo đối 2 đối tượng này Đây là một phương thứclãnh đạo quan trọng của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chínhtrị - xã hội Vì phương thức này mang tính chất trực tiếp Đối với lực lượng vũtrang thì sự lãnh đạo của Đảng là: Trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối

Đảng đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình trở thànhnhững nhà chuyên môn giỏi trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, hoạt độngđoàn thể rồi đưa họ ra ứng cử làm đại biểu và các cương vị lãnh đạo của cơ quanNhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội được tổ chức theo chế độbầu Đó là việc đưa cán bộ, đảng viên của mình tranh cử đại biểu và các cương

vị lãnh đạo của QH, HĐND các cấp; Chính phủ, UBND các cấp

Trang 13

Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội tuyển dụng, bổ nhiệm trở thành côngchức, viên chức của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội hoặcngười giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước (đối với những cơquan Nhà nước được tổ chức theo chế độ bổ nhiệm) và các Nhà nước, Mặt trận

và các đoàn thể chính trị - xã hội

Đồng thời, Đảng giác ngộ, bồi dưỡng, kết nạp vào đội ngũ của Đảngnhững nhà chuyên môn giỏi trong các cơ quan Nhà nước, Nhà nước, Mặt trận vàcác đoàn thể chính trị - xã hội; cán bộ có thành tích xuất sắc trong hoạt độngphong trào của các Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

Đảng xây dựng, củng cố tổ chức các cấp của Đảng Đặc biệt là xây dựng

và củng cố các tổ chức Đảng trong cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thểchính trị - xã hội, nhằm lãnh đạo đảng viên là công chức, viên chức, lãnh đạo cơquan Nhà nước và cán bộ hội viên của các Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thểchính trị - xã hội

Thứ tư: Đảng lãnh đạo HTCT bằng công tác kiểm tra, giám sát

Đảng lãnh đạo HTCT bằng công tác kiểm tra là từ việc kiểm tra của Đảng, phát hiện và giải quyết những ưu điểm và hạn chế của Đảng nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng; từ đó củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Thông qua hoạt động kiểm tra Đảng đối với cán bộ, đảng viên và tổ chứcĐảng nói chung; đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng ở trong cơ quan Nhànước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội nói riêng mà Đảng đã phát hiện

và xử lý kịp thời những sai phạm; đồng thời phát hiện và phát huy những ưuđiểm trong tổ chức và hoạt động của Đảng Qua đó, nâng cao năng lực và sứcchiến đấu của Đảng, góp phần to lớn vào công cuộc củng cố và tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.Đánh giá về vai trò, ý nghĩa của công tác kiểm tra trong sự lãnh đạo của đảngmác – xít đối với nhà nước và xã hội, Lênin đã từng khái quát: Lãnh đạo màkhông kiểm tra thì coi như không lãnh đạo Do vậy, công tác kiểm tra là mộtphương thức chủ đạo mà Đảng sử dụng để lãnh đạo Nhà nước (nhất là đối với

cơ quan Nhà nước hoạt động theo chế độ thủ trưởng), Mặt trận và các đoàn thểchính trị - xã hội

Từ việc kiểm tra của Đảng, đặc biệt là kiểm tra đối với cán bộ, đảng viên

và tổ chức Đảng nằm trong các cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thểchính trị - xã hội, phát hiện những cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng có sai phạmkịp thời sửa sai hơn nữa nhằm phát hiện đảng viên và tổ chức Đảng có nhữngsáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình để tổng kết nhân rộng, từ đólàm cho Đảng nắm được, lãnh đạo được Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thểchính trị - xã hội Đồng thời, làm cho Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh,đáp ứng vai trò lãnh đạo đối với HTCT nói riêng và đối với xã hội nói chung.Qua công tác kiểm tra, giám sát sẽ nâng cao uy tín, năng lực và sức chiến đấu

Ngày đăng: 25/02/2020, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w