Bên cạnh đó, Bộ GD & ĐT cũng đa vào sử dụng và giảng dạy đồng thời bộ SGK tự chọn cho những môn khác nh: Toán học, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Hoá…v.v Việc sử dụng thêm các bộ sách tự chọn nhằm
Trang 1Ngữ văn 10 tự chọn Vấn đề và giải pháp
A. Phần thứ nhất: Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
1 Cơ sở lí luận:
Năm học 2006 – 2007 là năm học đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng bộ SGK cải cách mới theo hớng phân ban áp dụng cho các trờng THPT Chương trỡnh Ngữ văn Trung học phổ thụng mới phản ỏnh những thành tựu tiờn tiến của cỏc ngành khoa học Tiếng Việt, Văn học và Làm văn những năm đầu thế kỉ XXI, phản ỏnh thành tựu của cỏc ngành tõm lớ học và lớ luận dạy học hiện đại và phản ỏnh quan điểm dạy học hướng vào người học
Trên tinh thần đó môn Ngữ Văn 10 đã có hai bộ sách: SGK Ngữ Văn
10 Chuẩn (NXB Giáo dục 2006) dùng cho Ban cơ bản và Ban Tự Nhiên
và SGK Ngữ Văn 10 Nâng cao (NXB Giáo dục 2006) dùng cho Ban Xã
Hội, mỗi bộ gồm có hai tập.
Bên cạnh đó, Bộ GD & ĐT cũng đa vào sử dụng và giảng dạy đồng thời bộ SGK tự chọn cho những môn khác nh: Toán học, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Hoá…v.v
Việc sử dụng thêm các bộ sách tự chọn nhằm mục đích “ bổ sung một
số kiến thức nâng cao cần thiết…hệ thống hoá kiến thức theo một số chủ
đề và cung cấp thêm những tri thức cùng t liệu thực hành cho việc giảng dạy những nội dung tơng ứng của từng chủ đề” trên thực tế là rất cần
thiết Tuy vậy, khi đa vào áp dụng giảng dạy trực tiếp, cả giáo viên và học sinh không khỏi lúng túng ở một số điểm còn cha đợc hoàn thiện của bộ sách
Mong muốn của ngời biên soạn là rất đáng trân trọng và thiết thực,
nhất là đối với môn Ngữ Văn, khi mà các tác giả muốn “ phát triển t duy,
rèn luyện các kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh”.
Điều này là vô cùng cần thiết nhất là khi trong mấy năm trở lại đây học sinh phổ thông có tình trạng không mặn mà gì lắm với bộ môn Ngữ Văn, thậm chí các em còn quay lng lại bằng cách biểu hiện hàng loạt những hiện tợng đợc các phơng tiện truyền thông đa tin nh trờng hợp của em Nguyễn Phi Thanh, học sinh lớp 11A18, trờng THPT Việt Đức – Hà Nội với bài văn gây chấn động d luận, em Hà Minh Ngọc, học sinh lớp 10, Trờng Nguyễn Tất Thành - Hà Nội với bài văn giả tởng, thí sinh Hoàng Thuỳ Nhi với bài văn điểm 10 gây tranh cãi khi thi đại học…v.v
Trang 2Với ý nghĩ là cố gắng bằng những kinh nghiệm thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 10 của chơng trình cơ bản và tự chọn theo phơng pháp mới, ngời viết mong muốn bày tỏ phần nào những bất cập nảy sinh trong quá trình giảng dạy và hớng giải quyết, dù có thể là nhỏ, trong cuốn SGK,
SGV Ngữ Văn 10 tự chọn dành cho Ban cơ bản để các bạn đồng nghiệp
tham khảo, cùng cho ý kiến để có thể giảng dạy tốt hơn môn học dạy làm Ngời này
2 Cơ sở thực tiễn
Do điều kiện nơi tôi công tác chỉ giảng dạy Ban cơ bản nên hiện nay dù Nhà trờng cũng đã cố gắng cung cấp đến toàn bộ giáo viên trong trờng cả hai bộ SGK Chuẩn và Nâng cao nhng các giáo viên chỉ dạy theo chơng trình Chuẩn của Bộ theo đặc thù đã lựa chọn của Nhà trờng Vì Tổ Văn cũng không ngoại lệ nên ngời viết thực tế cũng chỉ giảng dạy môn Ngữ Văn 10 Ban cơ bản và phần tự chọn của Ngữ Văn 10 với ba đầu sách:
• Cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10"(NXB Giáo
dục 2006) do tác giả Bùi Minh Toán chủ biên, dùng cho cả giáo viên và
học sinh
• Cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chơng trình chuẩn Ngữ Văn
10"(NXB Giáo dục 2006) do tác giả Bùi Minh Toán chủ biên, chỉ dùng
cho giáo viên
• Cuốn "Ngữ Văn 10"(NXB Giáo dục 2006) gồm hai tập do tác giả Phan Trọng Luận Tổng chủ biên
Dĩ nhiên theo yêu cầu chuyên môn, chúng tôi cũng sử dụng cả bộ SGK
Ngữ Văn Nâng cao để tham khảo trong quá trình giảng dạy.
Ngay từ đầu khi thực hành lên lớp, chúng tôi cũng đã nhận ra những điểm bất cập của bộ tài liệu tự chọn Ngữ Văn 10, tuy không lớn nhng lại không phù hợp với những gì mà cả ngời dạy và ngời học cần trong quá trình dạy
và học Những vấn đề vớng mắc đó đã đợc tôi báo cáo lại với Ban chuyên môn nhà trờng Đồng thời tôi cũng đã có ngay những biện pháp cần thiết
để khắc phục Cho đến nay, khi đã chuẩn bị kết thúc học kì II, việc áp dụng những giải pháp học tự chọn của bộ môn Ngữ Văn đã có hiệu quả và tính
ổn định Và sáng kiến kinh nghiệm này đợc viết trên cơ sở khoa học, thực
tế khách quan đó
II Giới hạn vấn đề
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn đã trình bày, ngời viết trong sáng kiến kinh nghiệm của mình chủ yếu đi vào hai điểm cơ bản nhất là: một số vấn đề của
Trang 3bộ sách Ngữ Văn 10 tự chọn và phơng pháp thực hiện làm thế nào để có thể áp dụng linh hoạt những chủ đề tự chọn thực sự cần thiết cho quá trình học tập môn Ngữ Văn bậc THPT theo hớng tích hợp, dung hợp Nh thế vấn đề nội dung của SKKN chỉ mang tính bổ sung thêm chứ không hề có sự thay đổi hoàn toàn nội dung theo sách đã dẫn
Theo tinh thần đó, ngời viết hoàn toàn không có mục đích phủ nhận nội
dung của cuốn tài liệu tự chọn Ngữ Văn 10 mà chủ yếu là bổ sung hoặc thay đổi trật tự những chủ đề đã đa trong bộ sách sao cho hợp lí hơn với quá trình giảng dạy kiến thức cơ bản (cũng là bộ SGK Ngữ Văn chuẩn).
Trên bình diện và mục đích nh thế, tôi sẽ trình bày sáng kiến kinh nghiệm của mình thành hai luận điểm lớn: những vấn đề bất cập khi dạy tài liệu tự
chọn Ngữ Văn 10 và hớng giải quyết Với tinh thần cầu thị, mong có sự tiến
bộ, ngời viết rất muốn nhận đợc sự ủng hộ, giúp đỡ cho ý kiến của các bạn
đồng nghiệp để có thể hoàn thiện hơn hoạt động dạy học môn Ngữ Văn phần
tự chọn, góp phần tạo nên giá trị bền vững của bộ môn đợc coi là Nhân học này
III Phơng pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài, ngời viết đã sử dụng các phơng pháp chủ yếu sau:
1 Phơng pháp so sánh
2 Phơng pháp thống kê
3 Phơng pháp phân tích
4 Phơng pháp thực nghiệm
5 Phơng pháp Tổng hợp … Khái quát.
Trang 4B Phần thứ hai: Những Vấn đề bất cập và cách giải quyết khắc phục.
I Những bất cập trong việc bố trí chủ đề tự chọn.
1 Trật tự chủ đề không theo hớng tích hợp.
Nội dung chơng trình Ngữ Văn 10, cấp THPT ở cả hai bộ sách phân ban
và cơ bản đợc coi là những nỗ lực của Bộ Giáo dục và đào tạo, của ngời biên soạn sách trên hành trình cải cách nội dung và phơng pháp giáo dục,
một vấn đề không mới nhng cũng cha và sẽ không bao giờ cũ Đó còn
là những thành tựu tiờn tiến của cỏc ngành khoa học Tiếng Việt, Văn học
và Làm văn những năm đầu thế kỉ XXI, phản ỏnh thành tựu của cỏc ngành tõm lớ học và lớ luận dạy học hiện đại và phản ỏnh quan điểm dạy học hướng vào người học Nó cũng là sự tích hợp toàn diện của ba phần:
Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn Mục đích của phần Đọc văn chú trọng đến phần đọc sáng tạo nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu các loại văn bản, hay năng lực tóm tắt , khái quát, đánh giá nội dung và nghệ thuật của văn bản
đã đọc, rèn luyện năng lực tự học cho học sinh Phần Tiếng Việt rất chú trọng rèn luyện kĩ năng sử dung Tiếng Việt qua các bài rèn luyện năng lực dùng từ, viết câu, đọc hiểu nghĩa từ, nghĩa câu, nghĩa đoạn, sử dụng các biện pháp tu từ và chữa lỗi về tiếng Việt Phần Làm Văn cũng không ngoài mục đích là rèn luyện năng lực các bài văn tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận…v.v
Cuốn SGK “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" (NXB
Giáo dục 2006) dùng cho giáo viên và học sinh cũng đợc xây dựng trên tinh
thần đó Tuy nhiên khi đa vào áp dụng thực tế giảng dạy đã bộc lộ những hạn chế nhất định
Trớc hết chúng ta thừa nhận mục tiêu chính của cuốn sách “Tài liệu chủ
đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" là rất hữu ích và hợp lí cho đối tợng
học sinh học Ban cơ bản bởi đó là sự bù đắp “một số kiến thức nâng cao
cần thiết mà chơng trình Chuẩn cha có so với chơng trình Nâng cao….
Nh vậy cuốn SGK này thực chất chính là sự “đọc – học thêm” những kiến thức mà bộ SGK NGữ Văn 10 soạn cho Ban Cơ bản còn khuyết thiếu so với
bộ SGK Ngữ Văn 10 Nâng cao
Chúng ta có thể hiểu đơn giản nh thế này: Bộ SGK Ngữ Văn Chuẩn + Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10 = Bộ SGK Ngữ Văn Nâng cao
Dĩ nhiên công thức trên chỉ là tơng đối (?) Chỉ có điều bài toán “bù đắp” kiến thức này xem ra cha đợc thuyết phục cho lắm
Trang 5Chúng ta quay trở lại vấn đề nội dung chính mà ngời viết muốn đề cập Hiện nay có hai cuốn SGK Ngữ Văn 10 tự chọn dành cho giáo viên và học sinh là:
“Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) và
“Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chơng trình chuẩn Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) Cả hai cuốn SGK trên đều do tác giả Bùi Minh Toán chủ
biên, điểm khác nhau giữa hai cuốn sách là ở nhóm cộng sự tham gia biên soạn Theo thiển ý của tôi, cũng nh những bộ SGK khác, cuốn sách “Tài liệu
chủ đề tự chọn bám sát chơng trình chuẩn Ngữ Văn 10" đợc viết dùng cho
giáo viên chính là hớng dẫn cụ thể những nội dung mà ngời thày cô trực tiếp giảng dạy sẽ khai thác trong quá trình triển khai cuốn “Tài liệu chủ đề tự
chọn nâng cao Ngữ Văn 10" dùng cho học sinh Tuy nhiên, có thể do một lí
do nào đó trong quá trình biên tập ngời viết đã không thống nhất, hoặc ít ra cũng cha có những hớng dẫn cụ thể về nội dung các chủ đề sẽ đợc dạy theo trật tự nh thế nào nên dẫn đến việc khi các thày cô lên lớp trực tiếp gặp phải những vấn đề sau:
Thứ nhất: Việc bố trí số lợng chủ đề và số tiết ở mỗi chủ đề trong hai cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" dành cho học sinh
và “Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chơng trình chuẩn Ngữ Văn 10" dành cho giáo viên khác nhau về trật tự triển khai thực dạy Cụ thể nh sau:
* Mục lục, trật tự các chủ đề của cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao
Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) dành cho học sinh là:
tiết
Chủ đề
1
Tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du
• Tác giả Nguyễn Trãi
• Tác giả Nguyễn Du
5 5 13
04
Chủ đề
2
Hớng dẫn đọc - hiểu một số văn bản văn học dân gian
và văn học trung đại
• Lời tiễn dặn (Trích tiễn dặn ngời yêu – truyện thơ
dân tộc Thái)
• Tục ngữ về đạo đức lối sống.
• Xuý Vân giả dại (trích chèo Kim Nham)
• Th dụ Vơng Thông lần nữa (Tái dụ Vơng Thông
th)
• Nỗi sầu oán của ngời cung nữ (trích Cung oán
ngâm)
19 19
26 31 44 49
06
Chủ đề
3 • Văn bản văn học và đọc “ hiểu văn bản văn học
• Một số tri thức cần thiết để đọc - hiểu văn bản
55 60
04
Trang 6văn học dân gian.
• Một số những tri thức để đọc - hiểu văn bản văn
Chủ đề
4 Từ Hán Việt và những lu ý khi sử dụng từ Hán Việt 83 04
Chủ đề
5
Nâng cao năng lực làm văn
• Quan sát và thể nghiệm đời sống
• Đọc sách và tích luỹ
• Liên tởng và tởng tợng
• Chọn sự việc chi tiết tiêu biểu
105 105 109 113 116
06
* Mục lục, trật tự các chủ đề của cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát
chơng trình chuẩn Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) dành cho giáo viên
là:
tiết
Chủ đề
1
Một số vấn đề của văn học dân gian Việt Nam qua
Chủ đề
2
Những nét chính về nội dung và nghệ thuật của văn
học trung đai Việt Nam qua các tác phẩm trong chơng
Chủ đề
3
Những nội dung chủ yếu của phần văn học nớc ngoài
Chủ đề
4
Thực hành về ngôn ngữ nói - ngôn ngữ viết, các phong cách chức năng ngôn ngữ và các phép tu từ có
Chủ đề
5
Những lỗi thờng gặp trong sử dụng Tiếng Việt; thực
Chủ đề
6 Những lỗi diễn đạt trong việc viết bài văn 86 04
Chủ đề
7 Luyện tập về các phơng thức biểu đạt và vận dụng
tổng hợp các phơng thức biểu đạt trong bài văn 96 06
Trang 7Qua so sánh đối chiếu tôi nhận ra sự lệch nhau về nội dung chủ đề đợc
chọn để dạy, số lợng chủ đề và cả số tiết phân phối giữa hai cuốn sách tự
chọn Điều đáng nói là so với số tiết thực dạy trên lớp (35 tuần x 2 = 70
tiết) thì số lợng chủ đề và số tiết phân phối không thể gọi là hợp lí đợc Đặt
trờng hợp học gộp nội dung của cả hai cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn
nâng cao Ngữ Văn 10" và “Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chơng
trình chuẩn Ngữ Văn 10" (dù điều này khó xảy ra) thì cũng sẽ vẫn bất
cập vì sự trùng lặp lại nội dung chủ đề là đơng nhiên Điều tôi vừa nêu trên
gây rất nhiều lúng túng cho cả học sinh lẫn giáo viên khi đi vào thực dạy và
học
Thứ hai: Việc sắp xếp bố trí trật tự chủ đề khi dạy của cuốn SGK “Tài
liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) dùng
cho học sinh lại không theo tiến trình học thực tế ở trên lớp mà chơng trình
học Ngữ Văn chính khoá đã phân phối Điều này có nghĩa là học sinh phải
chấp nhận một thực tế nếu cứ học theo thứ tự chủ đề sẽ không thể theo
h-ớng tích hợp nội dung Cụ thể chúng ta có thể đối chiếu nh sau:
Tuần
Chơng trình Chuẩn
Nội dung Chơng Trình Tự chọn
CT Chuẩn CT Tự chọn
1 1, 2, 3 1,2
* Tổng quan văn học Việt Nam
* Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. *Tác giả Nguyễn Trãi.
* Khái quát văn học dân gian.
* Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
* Văn bản và đặc điểm của văn bản.
* Tác giả Nguyễn Du.
* Bài làm văn số 1 (HS làm ở nhà)
* Chiến thắng Mtao Mxây
* Văn bản (tiếp theo)
Hớng dẫn đọc “ hiểu một số văn bản văn học dân gian và văn học trung đại.
4 10,11,12 7,8
* Truyện An Dơng Vơng và Mị Châu
… Trọng Thuỷ
* Lập dàn ý bài văn tự sự.
Hớng dẫn đọc “ hiểu một
số văn bản văn học dân gian và văn học trung đại (học tác phẩm)
5
13,14,15 9,10
* Uy-lix-xơ trở về. Hớng dẫn đọc “ hiểu
một số văn bản văn học
Trang 8* Trả bài làm văn số 1
dân gian và văn học trung đại (học tác phẩm)
6 16,17,18 11,12
* RaMa buộc tội.
* Chọn sự việc chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự.
* Văn bản và đọc hiểu văn bản văn học.
* Một số tri thức để đọc
“ hiểu văn học dân gian.
7 19,20,21 13,14
* Tấm Cám
* Miêu tả và biểu cảm trong bài văn
tự sự.
* Một số tri thức để đọc
- hiểu văn bản văn học trung đại.
8 22,23,24 15,16
* Tam đại con gà.
* Nhng nó phải bằng hai mày.
* Viết bài làm văn số 2
Từ Hán Việt và những
l-u ý khi sử dụng từ Hán Việt.
9 25,26,27 17,18
* Ca dao than thân yêu thơng tình nghĩa.
* Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Từ Hán Việt và những
l-u ý khi sử dụng từ Hán Việt.
10 28,29,30 19,20
* Ca dao hài hớc.
* Đọc thêm: Lời tiễn dặn.
* Luyện tập viết đoạn văn tự sự.
Nâng cao năng lực làm văn.
* Quan sát và thể nghiệm đời sống.
11 31,32,33 21,22
* Ôn tập văn học dân gian Việt Nam.
* Trả bài làm văn số 2.
* Đọc sách và tích luỹ.
12 34,35,36 23,24
* Khái quát văn học Việt Nam từ thế
kỉ X đến hết thế kỉ XIX.
* Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
* Liên tởng và tởng t-ợng.
*Chọn sự việc tiêu biểu
13 37,38,39 Hết * Tỏ lòng.
* Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới)
* Tóm tắt văn bản tự sự.
Hết
Trang 9* Ra đề bài viết số 3 (HS làm ở nhà)
14 40.41.42
* Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
* Nhàn.
* Độc tiểu Thanh kí.
Qua đây ta thấy chơng trình Ngữ Văn 10 Chuẩn có thứ tự các số bài, tiết lần lợt theo tiến trình lịch sử văn học và tích hợp ba phân môn Đọc văn; Làm Văn; Tiếng Việt Ngợc lại, các chủ đề tự chọn trong “Tài liệu chủ đề
tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" lại không theo trật tự đó Điều này tất yếu
làm cho học sinh rất khó tiếp thu bài vì trong một tuần các em phải “chạy
xô… có thể là hai tác giả, tác phẩm văn học ở hai giai đoạn lịch sử văn học
khác nhau Tình trạng này nếu nh kéo dài sẽ khiến các em cảm thấy bị ức chế và thật sự càng lúc càng rối, rất khó học
Thứ ba: Nếu nh vấn đề tích hợp ba phân môn: Đọc – hiểu, Tiếng Việt, Làm Văn nếu nh ở bộ SGK Ngữ Văn 10 rất hợp lí theo thứ tự số tiết, tuần thì ngợc lại ở SGK Ngữ Văn Tự chọn 10 lại không nh vậy Nguyên
nhân là do ở mỗi chủ đề đã có sự tách bạch rất rõ ràng về nội dung, gần
nh không liên quan hay lặp lại cùng nội dung ở những chủ đề khác theo h-ớng tích hợp
2 Sự phân bổ số tiết cha hợp lí.
Theo nh gợi ý hớng dẫn của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo thì số tiết tự chọn của bộ môn Ngữ Văn 10 dành cho học sinh Ban Cơ bản là 02 số tiết/01 tuần (chỉ ít hơn học chính cùng môn 01 tiết) Theo đó thì cả năm học có 35 tuần x 2 = 70 tiết Nếu chúng ta có trừ đi 02 tiết kiểm tra, 08 tiết (= 02 buổi) cho thảo luận - ôn tập tính cho cả năm học thì vẫn còn 60 tiết thực dạy Trong khi đó, theo nh sự phân bổ sổ tiết tự chọn trong cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" thì chỉ mới có 24 tiết (thực dạy) + 04 tiết kiểm tra = 28 tiết Một sự chênh lệch quá lớn giữa yêu cầu thực tế và trên sách vở Tất nhiên trong trờng hợp này,
ng-ời giáo viên sẽ phải chủ động lựa chọn nội dung thêm, phân phối lại số tiết sao cho có thể hợp lí, đáp ứng đợc mục tiêu mà môn học tự chọn yêu cầu
cần đạt Nhng vấn đề là liệu có sự thống nhất chung về nội dung thực
dạy đó không khi mà ngời dạy chỉ mới dừng lại ở chỗ hỏi nhau, tạm dạy theo cách của mình hay học của đồng nghiệp trong lúc chờ điều chỉnh
Trang 10lại cụ thể số tiết phân phối hoặc là nội dung, số lợng chủ đề của SGK tự chọn (?)
3 Sự trùng lặp và không đồng nhất trong nội dung.
Tuy không nhiều nhng qua so sánh ngời viết đã nhận thấy giữa hai cuốn
SGK Ngữ Văn 10 Chuẩn và “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" có những bài, nội dung trùng lặp, nhất là sự không thống nhất
trong khái niệm, thuật ngữ khiến không riêng gì học sinh lúng túng mà cả
ngời dạy cũng chỉ biết giảng “theo sách, theo bài” (!)
Đơn cử về bài học, trong cuốn SGK Ngữ Văn 10 Chuẩn (NXB Giáo dục 2006), khi học về hai tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, ngời biên soạn sách đã viết tơng đối kĩ về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của hai tác giả này Vậy mà ngay chủ đề thứ nhất của cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn
nâng cao Ngữ Văn 10"(NXB Giáo dục 2006) dành cho giáo viên và học
sinh, ngời biên soạn lại dành cả 04 tiết học cho việc tìm hiểu lại tiểu sử, tác phẩm của hai nhà thơ này Dĩ nhiên ngời soạn sách không hoàn toàn có ý viết lại để học sinh học lại nhng xem ra hiệu quả của chủ đề đem lại là cha cao
Ngoài ra trong SGK Ngữ Văn 10 Chuẩn (NXB Giáo dục 2006) đã có bài “Văn bản văn học“ (Trang 117, Tiết 91) viết về tiêu chí và cấu trúc của một văn bản văn học Vậy mà ở cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng
cao Ngữ Văn 10" (NXB Giáo dục 2006) cũng lại có bài cùng nội dung
“Văn bản văn học” (Trang 55, chủ đề 3) Điều đáng nói là việc thể hiện nội dung của hai cuốn sách về cùng một đối tợng (văn bản văn học) là không đồng nhất Điển hình là sự trình bày, diễn đạt hai vấn đề đợc xem là
cơ bản: khái niệm văn bản văn học và cấu trúc văn bản văn học.
Cụ thể về khái niệm văn bản văn học, theo SGK Ngữ Văn 10 Chuẩn
(NXB Giáo dục 2006) thì “ văn bản văn học (truyện cổ tích, bài thơ, cuốn
tiểu thuyết, thiên bút kí , vở kịch…) là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và t tởng, thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con ngời…”(Trang 117, dòng 06 từ dới lên).
Còn cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ Văn 10" (NXB Giáo
dục 2006) thì lại viết “ văn bản văn học là loại văn bản sử dung ngôn từ
một cách nghệ thuật để xây dựng các hình tợng nghệ thuật…”(Trang…
dòng…từ….)
Hãy khoan nghĩ đến việc ngời dạy có hiểu đầy đủ nội dung ý nghĩa hay không, nhng tôi cho rằng đối tợng học sinh mà chúng ta dạy sẽ rất lúng túng vì không biết mình sẽ theo sách nào Giả thiết là giáo viên không có