1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thăng Long - Hà Nội (2000.TCN-996)

12 396 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thăng Long - Hà Nội (2000.TCN-996)
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản Không rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 5,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Núi Ngọc Tản Ba Vì257 trước công nguyên – Giáp Thìn - An Dương Vương Thục Phán đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê Cổ Loa, Đông Anh, nhờ Cao Lỗ hiến kế, xây thành ốc đến năm 255

Trang 1

Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (Khoảng từ năm 2000 trước công nguyên đến năm 966)

Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (Khoảng từ năm 2000 trước công nguyên đến năm 966)

Từ đầu công nguyên đến năm 1900 có ghi kèm năm âm lịch Ngày, tháng dương lịch ghi bằng số Ngày, tháng âm lịch ghi cả chữ viết Một số ngày có sự kiện quan trọng đã được tính ra ngày dương lịch, còn giữ nguyên ngày âm lịch theo các tài liệu gốc

Từ 1901 trở đi chỉ dùng ngày dương lịch, khi cần mới chú thích ngày âm lịch trong ngoặc đơn Tháng âm lịch theo thứ tự: tháng giêng, hai… cho đến tháng một, chạp, theo cách gọi cổ truyền

Khoảng từ năm 2000 đến thế kỷ thứ 3 trước công nguyên

- Thời kỳ Hùng Vương thứ 6, có cậu bé làng Gióng, hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh, nước Văn Lang (nay

thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm) đánh giặc Ân rồi cưỡi ngựa bay về núi Sóc (Phù Linh, Sóc Sơn) về trời

Đền thờ Thánh Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội)

Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên

- Cuối đời các vua Hùng, có công chúa Mị Nương đẹp người đẹp nết

Có hai chàng trai đến hỏi Vua đặt điều kiện ai đưa sính lễ đến trước thì gả Sơn Tinh thắng cuộc, đón vợ

về núi Tản Viên (Ba Vì) Thủy Tinh đến sau dâng nước đuổi theo toan cướp lại Từ đó, đời đời, họ thù nhau Mùa nước to hằng năm là trận đánh của họ

Trang 2

Núi Ngọc Tản (Ba Vì)

257 trước công nguyên – Giáp Thìn

- An Dương Vương Thục Phán đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Cổ Loa, Đông Anh), nhờ Cao Lỗ hiến kế, xây thành ốc đến năm 255 trước công nguyên mới xong Thành cuốn hình tròn như hình

ốc nên gọi là Loa thành, lại có tên là thành Tự Long

Đền Thờ An Dương Vương (Cổ Loa, Đông Anh)

210 trước công nguyên – Tân Mão

- Triệu Đà cho con là Trọng Thủy sang ở rể vua Thục ở Loa thành để làm gián điệp nội ứng

208 trước công nguyên – Quý Tị

- Thành Cổ Loa mất vào tay Triệu Đà

40 – Canh Tí

Trang 3

Tháng hai

- Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa ở sông Hát (Hát môn, Phúc Thọ), được bốn phương hưởng ứng, đuổi thái thú Tô Định, thu lại 65 huyện, thành Trưng Trắc được suy tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh (xã Mê Linh, Hạ Lôi cũ, huyện Mê Linh)

- Mã Viện đem quân sang xâm lược nước ta

Đền thờ Hai Bà Trưng tại thôn Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc)

43 – Quý Mão

Tháng năm

- Hai Bà Trưng thua trận gieo mình xuống sông Hát tự vẫn (một số tài liệu khác ghi Hai Bà tử trận tại Cẩm Khê: “Việt điện u linh, Lĩnh Nam trích quái Toàn thư, Cương mục, Hậu hán thư, Nam Việt chí”)

203 – Quý Mùi

- Nhà Hán đặt tên Giao châu, gồm 7 quận

264 – Giáp Thân

- Nhà Ngô chia Giao Châu thành hai: Quảng Châu và Giao Châu

+ Quảng Châu gồm 3 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm Giao Châu gồm 4 quận: Giao Chỉ, Cửu chân, Nhật Nam, Hợp Phố Châu lỵ đóng ở Long Biên (Yên Phong, Bắc Ninh)

454 – 456 Giáp Ngọ - Bính Thân

- Thành lập huyện Tống Bình

541 – Tân Dậu

Trang 4

- Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư, đóng giữ Long Biên.

544 – Giáp Tí

Tháng hai

- Lý Bí xưng làm Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Vạn Xuân (Vĩnh Tuy, Thanh Trì)

Chùa Khai Quốc (mở nước) được xây dựng từ thời Lý Nam

Đế ( Lý Bí) nay đổi tên thành Chùa Trấn Quốc, nằm trên bán

đảo nhỏ của hồ Tây

545 – Ất Sửu

Tháng bảy

- Lý Bí đánh quân xâm lược nhà Lương, dựng thành bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch (chợ gạo)

+ Phạm Tu, tướng tài của nghĩa quân (người xã Thanh Liệt, Thanh Trì) chiến đấu chống giặc đến hơi thở cuối cùng tại đây ngày 20 tháng 7 Ất sửu (Tháng 8-545)

- Tống Bình trở thành quận với 3 huyện: Xương Quốc, Nghĩa Hoài và Tuy Ninh

557 – Đinh Sửu

- Cuộc tranh chấp gữa hai thế lực phong kiến: Triệu Quang Phục đóng giữ Long Biên chống lại Lý Phật

Tử đóng ở thành Ô Diên (Hạ Mỗ, Đan Phượng), sau 2 bên lấy bãi Quân thần (Thượng Cát, Từ Liêm) làm ranh giới

571 – Tân Mão

- Lý Phật Tử giành được chính quyền trong cả hai châu, bỏ thành Ô Diên dời đô lên ở Phong Châu (Bạch Hạc nay thuộc Phú Thọ)

Trang 5

602 – Nhâm Tuất

- Quân nhà Tùy sang xâm lược, Lý Phật Tử lui về tổ chức phòng ngự ở Cổ Loa

603 – Quý Hợi

- Giặc Tùy do Lưu Phương cầm đầu vây Cổ Loa, bức Lý Phật Tử đầu hàng

618 – Mậu Dần

- Dời trị sở Giao Châu từ Long Biên (Bắc Ninh) về Tống Bình (Hà Nội)

621 – Tân Tị

- Khâu Hòa, đại tổng quản Giao Châu dựng ở Tống Bình một thành gọi là Tử Thành

+ Chu vi thành là 900 bộ (mỗi bộ đời Đường là 1,8m, như vậy vòng quanh thành dài 1,62km)

622 – Nhâm Ngọ

- Tách Tống Bình thành hai huyện: Giao Chỉ và Hoài Đức Đổi Giao Châu là An Nam đô hộ phủ

627 – Đinh Hợi

- Hợp nhất các huyện Hoàng Giáo, Giao Chỉ, Hoài Đức thành huyện Tống Bình

679 – Kỷ Mão

- Tăng cường xây phủ thành Tống Bình Nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ quản lý 12 châu, phủ lỵ đóng tại Tống Bình, Giao Châu

687 – Đinh Hợi

- Nghĩa quân của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến vây đánh phủ thành Tống Bình, giết chết đô hộ phủ Lưu Diên Hựu

722 – Nhâm Tuất

- Mai Thúc Loan khởi nghĩa ở Nghệ An, sau khi xưng đế kéo quân ra Bắc, quét sạch quân Đường ra khỏi Tống Bình Tên đô hộ Quang Sở Khách trốn chạy

Trang 6

Đền thờ và Lăng mộ vua Mai tại chân Rú Đụn xã Vân Diên

(Nam Đàn, Nghệ An)

757 – Đinh Dậu

- Nhà Đường đổi An Nam đô hộ phủ làm Trấn Nam đô hộ phủ

767 – Đinh Mùi

- Trương Bá Nghi, kinh lược sử nhà Đường xây dựng ở Tống Bình 10 dinh

+ Mỗi bên tả hữu 5 dinh và đắp thành bao quanh Tường thành cao 2 trượng 2 thước (8m) có 3 cửa thông

ra ngoài là cửa Đông, cửa Tây - mỗi cửa 3 ngăn - và cửa Nam 5 ngăn, trên có vòm canh Thành ấy gọi là

La Thành, một chiến lũy chưa có dân sinh hoạt ở bên trong

768 – Mậu Thân

- Nhà Đường lại đổi Trấn Nam ra làm An Nam đô hộ phủ

782 – Nhâm Tuất

- Phùng Hưng khởi nghĩa ở Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây) đánh chiếm phủ thành Tống Bình Đô hộ sử Cao Chính Bình thua, ốm mà chết

Trang 7

Làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây)

789 - Kỷ Tỵ

- Phùng Hưng mất tại Tống Bình Nhân dân tôn là Bố Cái đại vương (lăng ở đầu đường Giảng Võ, quận Đống Đa)

Lăng mộ Phùng Hưng

791 – Tân Mùi

- Triệu Xương, đô hộ sứ nhà Đường sai đắp thêm La Thành cho kiên cố

801 – Tân Tỵ

- Đô hộ Bùi Thái sửa sang An Nam La Thành (gồm cả Tử Thành và La Thành)

803 – Quý Mùi

Trang 8

- Vương Quý Nguyên nổi dậy làm binh biến đuổi Bùi Thái về nước.

808 – Mậu Tý

- Trương Chu, đô hộ Giao Châu đắp thêm thành cao 22 thước (6,8m) gọi là Đại La, đóng 300 chiến thuyền lớn

819 – Kỷ Hợi

- Dương Thanh khởi nghĩa, tập kích phủ thành giết chết tên đô hộ Lý Tượng Cổ

820 – Canh Tý

- Sư Vô Ngôn Thông đến truyền đạo Phật tại chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, Tiên Du, nay là huyện Gia Lâm)

Chùa Kiến Sơ (Gia Lâm, Hà Nội)

824 – Giáp Thìn

- Lý Nguyên Gia sợ nghĩa quân tấn công, dời phủ đô hộ sang một thành nhỏ ở phía Tây sông Tô Lịch, cách bờ sông Tô về phía nam 200 bộ (khoảng 360m) và cách sông Nhuệ về phía Nam khoảng 2 dặm (hơn 1km- vào khoảng miền Dịch Vọng, Cầu Giấy)

825 – Ất Tý

- Lý Nguyên Gia lại trở về Đại La thành

Trang 9

828 – Mậu Thân

- Binh sứ yêu nước nổi dậy đuổi đô hộ sứ Hàn Ước về nước

843 – Quí Hợi

- Quân sĩ làm binh biến, đốt lầu thành, cướp vũ khí, kinh lược sử Vũ Hồn phải chạy khỏi Đại La

853 – Quí Dậu

- Quân Nam Chiếu đánh vào phủ thành Tống Bình

858 – Mậu Dần

- Tống Bình lại bị quân Nam Chiếu uy hiếp

- Viên đô hộ Vương Thúc trồng cây táo gai, ken thành lũy suốt 12 dặm, ngoài đào hào Ngoài hào lại trồng táo gai, tre gai nên có tên nữa là Trúc thành

860 – Canh Thìn

- Đỗ Thủ Trừng dấy binh từ vùng Đỗ Động (Thanh Oai) đánh phá thủ thành, đô hộ sứ Lý Hộ bỏ chạy

863 – Quí Mùi

- Tháng Giêng - Tống Bình bị mất vào tay quân Nam Chiếu (Vân Nam)

866 – Bính Tuất

- Cao Biền làm tiết độ sứ, xây lại thành Đại La có 2 lớp tường

+ Lớp tường ngoài bao quanh thành Đại La cũ là một con đê, chu vi 2125 trượng 8 thước (khoảng hơn 7 km), cao 1 trượng 5 thước, chân rộng 3 trượng Lớp tường trong chu vi 1982 trượng 5 thước (khoảng 6km), cao 2 trượng 5 thước, chân rộng 2 trượng 5 thước, 4 mặt có tường cao 5 thước 5 tấc Có 55 lầu vọng địch, 3 hào nước và 34 con đường đi Trong thành có 5000 gian nhà

880 – Canh Tí

- Quân và dân Tống Bình nổi dậy đuổi tiết độ sứ Tăng Cổn

Trang 10

906 – Bính Dần

- Khúc Thừa Dụ dấy quân từ Hông Châu (Ninh Giang, Hải Dương) tiến về chiếm Tống Bình, tự xưng là tiết độ sứ

907 – Đinh Mão

23 – 7

- Khúc Thừa Dụ mất

923 – Quý Mùi

- Nhà Nam Hán cử Lý Tiến sang làm thứ sử châu Giao cùng Lương Khắc Chinh đóng giữ Tống Bình

930 – Canh Dần

Tháng 10

- Quân Nam Hán chiếm thành Đại La, bắt sống Khúc Thừa Mỹ

931 – Tân Mão

Tháng chạp

- Dương Đình Nghệ tiến đánh Giao Châu, đuổi Lý Tiến về nước, chiếm giữ Đại La

Trang 11

937 – Đinh Dậu

- Kiều Công Tiễn ám hại Dương Đình Nghệ, đoạt cờ tiết

938 – Mậu Tuất

Tháng 9

- Ngô Quyền đánh chiếm Đại La trừ tên bán nước Kiều Công Tiễn

939 – Kỷ Hợi

Mùa xuân

- Sau khi đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (cuối năm 938), Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở

Cổ Loa (Đông Anh)

944 – Giáp Thìn

- Ngô Quyền mất

Lăng mộ Ngô Quyền tại đường Lâm Sơn Tây

966 – Bính Dần

- Loạn 12 sứ quân, trong đó có Nguyễn Siêu chiếm giữ Tây Phù Liệt (Đông Mỹ, Thanh Trì), Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây)

Nhà văn Giang Quân

(Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội Năm tháng và sự việc)

Ngày đăng: 19/09/2013, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w