Truyện Lục Vân Tiên mà người miền Nam thường gọi là thơ Lục Vân Tiên là một cuốn tiểu thuyết về luân lý, cốt bàn đạo làm người với quan niệm văn dĩ tải đạo.. Sau đoạn trích, nhân vật V
Trang 1Lẽ ghét thương
Nguyễn Đình Chiểu
Thiết kế và giảng:
TRINH MINH ANH
Trang 2I Giíi thiÖu chung:
1.T¸c gi¶: SÏ ®îc häc trong bµi V“ ăn tÕ nghÜa sÜ CÇn Giuéc”
Trang 3- Lục Vân Tiên là một tác phẩm truyện thơ nôm nổi
tiếng của Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác vào cuối TK19 và được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889 Truyện Lục Vân Tiên (mà người miền Nam thường gọi là thơ Lục Vân Tiên) là một cuốn tiểu thuyết về
luân lý, cốt bàn đạo làm người với quan niệm
văn dĩ tải đạo
- Tác giả muốn đem gương người xưa mà khuyên ngư
ời ta về đạo lý làm người.
2 Tác phẩm:
Trang 4Sau đoạn trích, nhân vật Vương Tử Trực phải thốt lên sự đánh giá:
“Trực rằng: Chùa rách phật vàng
Ai hay trong quán ẩn tàng kinh luân ”
- Vị trí đoạn trích:
Là một nhân vật phụ trong tác phẩm nhưng lại gây ấn tượng rất đậm nét về nhân cách.(giống như ông Ngư và ông Tiều thường học rộng, tài cao nhưng núp dưới những nghề nghiệp bình thường, để lánh đời đen bạc Họ là những người tốt có cơ hội sẽ ra giúp nước, giúp dân )…
- Ông Quán:
+ Về nội dung:Vân Tiên từ biệt Võ công, Thể Loan lên đường chảy
kinh đi thi gặp các nhân vật Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Vương Tử Trực Qua quán của ông Quán bàn luận thơ, đố thơ Ông Quán nghe và cả cười rồi được Vân Tiên mời tham gia Ông Quán đã bộc lộ quan
điểm
+ Phần đầu TP.
Trang 5II Đọc và tìm hiểu:
Quán rằng: Kinh sử đã từng Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa
Hỏi thời ta phải nói ra Vì chưng hay ghét cũng là hay thương
Tiên rằng: Trong đục chưa tường
Chẳng hay thương ghét ghét thương lẽ nào?
Quán rằng: Ghét việc tầm phào Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ, mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sảy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghét đời Ngũ Bá phân vân Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn
Ghét đời Thúc Quý phân băc Sớm đầu, tối đánh, lằng nhằng rối dân.
Thương là thương đức thánh nhân Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông Thương thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi, tách đàng công danh Thương ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha Thương thầy Đổng Tử cao xa
Chí đà có chí, ngôi mà không ngôi Thương người Nguyên lượng ngùi ngùi
Lỡ bề giúp nước, lại lui về cày Thương ông Hàn Dũ chẳng may Sớm dâng lời biểu tối đầy đi xa Thương thầy Liêm, Lạc đã ra
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân Xem qua kinh sử mấy lần
Nửa phần lại ghét nửa phần lại thương
Đoạn1: Tình huống để
ông Quán nêu quan điểm
Đoạn 2: Ông Quán ghét
Đoạn 3: Ông Quán thương
Trang 6Câu hỏi 1: Đọc các chú thích tìm những
điểm chung giữa các đời vua mà ông Quán ghét và ông Quán thương
Từ đó thấy được cơ sở của lẽ ghét thương
là gì v tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu? à
Trang 7- Hoàn cảnh ông Quán thể hiện quan điểm
- Ông Quán ghét
- Ông Quán thương
1 Hoàn cảnh ông Quán thể hiện quan điểm:
- Các sĩ tử đi thi gặp ông Quán, Vân Tiên hỏi và ông Quán
bộc lộ quan điểm sống với lẽ ghét thương rõ ràng của mình.
Quán rằng: Kinh sử đã từng Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa
Hỏi thời ta phải nói ra Vì chưng hay ghét cũng là hay thương Tiên rằng: Trong đục chưa tường Chẳng hay thương ghét ghét thương lẽ nào?
*Bố cục: 3 phần
Trang 82 Ông Quán ghét:
Quán rằng: Ghét việc tầm phào Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ, mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sảy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghét đời Ngũ Bá phân vân Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn
Ghét đời Thúc Quý phân băc Sớm đầu, tối đánh, lằng nhằng rối dân.
Trang 9Trả lời: Ghét vua Kiệt, Trụ mê dâm; ghét U vương, Lệ Vương đa đoan gây nhiều rắc rối, ghét Ngũ Bá gây chiến tranh, ghét Thúc quý chia rẽ
gây đổ nát -> ghét các vua, tham gian, sa đoạ trong các thời kỳ lịch sử Mượn sử Trung Quốc để nói hiện thực chế độ phong kiến việt Nam lúc bấy giờ
Muốn hiểu cần trả lời các câu hỏi:
•Ông Quán ghét gỡ ?
Ghét việc tầm phào: việc bậy bạ, vớ vẩn.
• Ghét ai ?
Ghét tới mức kịch liệt nhất, không khoan nhượng: “Ghét cay, ghét
đắng, ghét vào tận tâm” -> Nhịp 2/2/2/2, lời lẽ chắc như rưạ chém
đá Thái độ dứt khoát
Vì dân mà ghét Ghét những kẻ làm hại dân
Kết luận về lẽ ghét:
Trả lời:
• Ghét tới mức nào?
Trả lời:
Trả lời:
• Vì ai mà ghét ?
Trang 103 Ông Quán thương: Thương là thương đức thánh nhân
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông Thương thầy Nhan Tử dở dang
Ba mươi mốt tuổi, tách đàng công danh Thương ông Gia Cát tài lành
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha Thương thầy Đổng Tử cao xa
Chí đà có chí, ngôi mà không ngôi Thương người Nguyên lượng ngùi ngùi
Lỡ bề giúp nước, lại lui về cày Thương ông Hàn Dũ chẳng may Sớm dâng lời biểu tối đầy đi xa Thương thầy Liêm, Lạc đã ra
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân Xem qua kinh sử mấy lần
Nửa phần lại ghét nửa phần lại thương
Trang 11*Giải nghĩa từ thương theo nghĩa Nam bộ: Là yêu, là “ ”
kính, thương mến gần gũi sâu đậm
Trả lời cho câu hỏi: Ông quán “thương” những ai ? Vỡ sao ụng “thương” ?
* Nguyễn Đình Chiểu tỏ thái độ thương mến kính phục với
những nhân vật xuất chúng, anh minh và khí phách củ lịch
sử Những mong cách nhà Nho của nước nhà cần nói gương
để có thể giúp nước trong cơn loạn lạc.
Thương Khổng Tử Thương những người hiền tài
Thương Nhan Tử những người nếu gặp thời, có dịp sẽ
Thương Gia Cát Lượng giúp dân Nếu đứng đầu nắm
Thương Đổng Trọng Thu vận mệnh non sông tất sẽ thành công
Thương Hàn Dũ
Văn chương mang tính giáo huấn và trữ tình là như vậy.
Trang 12Câu hỏi 2: Tìm hiểu phép đối và phép điệp ở cặp từ
ghét- thương ?
III Tổng kết:
Thể hiện những tình cảm yêu ghét rất phân minh, mãnh liệt và
tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu Lời thơ
mộc mạc chân chất những đậm đà cảm xúc.
Câu hỏi 3: Theo cảm xúc của tác giả có thể hiểu câu thơ ở phần
đầu đoạn trích : Vì chưng hay ghét cũng là hay thương “ ”
Từ đây, suy ra bài học sống, bài học làm người
Yêu ghét rõ ràng Biết ghét cái ác mới là biết thương yêu, trân trọng
cái thiện, điều tốt.
Biện chứng như: Lòng yêu nước, thương dân luôn đi cùng căm
thù giặc ngoại xâm.
Trang 13Câu hỏi 2: Tìm hiểu phép đối và phép điệp ở cặp từ ghét- thương ?
Trang 14thêm về tác giả Thảo luận
Trang 15I Giới thiệu chung:
- Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua
nghiêm trọng đã tác động đến nhận thức của
ông Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc Năm1833, Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) gửi Nguyễn Đình Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học.
- Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu
1849 Nhưng sau đó, mẹ ông mất, ông trở về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt Về quê, chịu tang
mẹ xong, ông lại bị một gia đình giàu có đã hứa hôn với gia đình ông bội ước Từ đó ông vừa dạy học vừa
và làm thuốc làm thơ sống giữa tình thương của mọi người Về sau có người học trò cảm nghĩa thầy đã gả
em gái Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu.
1.Tác giả:
Trang 16Viết văn :
tải đạo > chơi văn chương
Dạy học:
dạy người > dạy chữ
Làm thuốc:
cứu người > kiếm sống
Trang 17Viết văn: Tuyên truyền đạo lý <- 1858 -> Thể hiện lòng căm thù giặc
Ông không những là một nhà thơ lớn mà còn là một nhà yêu nư
ớc, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỷ 19.
Nguyễn Đình Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng ông có quan điểm văn chương riêng Quan điểm "văn dĩ tải đạo" của ông khác với quan niệm của nhà Nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ Nhà Nho quan niệm Đạo là đạo của trời, còn Đồ Chiểu trên
nguyên tắc đạo trời Quan điểm văn chương Đồ Chiểu tuy không được tuyên ngôn nhưng đây là quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công và
tinh thần nhân ái:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Quan điểm văn chương
Trang 18• “Lục Vân Tiên” sáng tác trước khi Pháp xâm lược
•Nam Kỳ, có tính chất tự truyện
• “Dương Từ Hà Mậu” (chưa xác định thời điểm sáng
tác)
• “Ngư Tiều y thuật vấn đáp” (chưa xác định thời điểm
sáng tác)
• “Văn tế nghiã sĩ Cần Giuộc” (1861)
• “Văn tế Trương Định” (1864)
•“Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh” (1874)
- Lục Vân Tiên là một tác phẩm truyện thơ nôm nổi tiếng của
Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác vào cuối TK19 và được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889 Truyện Lục Vân Tiên (mà người miền Nam thường gọi là thơ Lục Vân Tiên) là một cuốn tiểu thuyết về luân
lý, cốt bàn đạo làm người với quan niệm văn dĩ tải đạo Tác giả muốn
đem gương người xưa mà khuyên người ta về đạo lý làm người
2 Tác phẩm:
Sáng tác chính: