TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÀO CAI Lớp trung cấp lý luận chính trị hành chính A03 2019 BÁO CÁO NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Tên đề tài: Tìm hiểu nội dung hàng hóa sức lao động qua thực tế giải quyết lao động và việc làm tại xã Nhơn Trạch Học viên: Lào Cai, ngày 04 tháng 12 năm 2019 Làm theo mẫu. Sai hết rồi, mẫu hỏi minh lớp trưởng Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất. Theo Wikipedia, sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mácxít. Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó. Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá. Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau: Một là người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản thân con người có sức lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến. Hai là người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá. Hàng hóa sức lao động là gì Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó. Một mặt, cách mạng tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến. Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn. Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốc phòng. Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất xã hội. Sự cưỡng bức phi kinh tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ sở hữu hàng hoá, bình đẳng với nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán”. Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển của văn minh nhân loại. Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản. Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị hàng hoá sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người. Để sản xuất và tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường. Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…). Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau. Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân. Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định. Do đó, có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là, phí tổn học việc của công nhân; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công nhân. Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân và nuôi sống gia đình của anh ta. Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập nhau. Một mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động. Mặt khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao động. Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác , sự khác biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên. Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động. Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động. Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất. Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là: + Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá. + Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động. Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Nam Trạch là một xã vùng gò đồi, nằm phía Nam của huyện Bố Trạch; cách phía Đông Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng 30 Km; giáp với Thành phố Đồng Hới trung tâm tỉnh lỵ Quảng Bình, có diện tích tự nhiên 1.918,2 ha (trong đó hơn 1.562 ha đất nông nghiệp); địa bàn có nhiều công trình
Trang 1TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÀO CAI
Lớp trung cấp lý luận chính trị - hành chính A03 - 2019
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
Tên đề tài:
Tìm hiểu nội dung hàng hóa sức lao động qua thực tế giải quyết lao động và việc
làm tại xã Nhơn Trạch
Học viên:
Lào Cai, ngày 04 tháng 12 năm 2019
Trang 2Làm theo mẫu Sai hết rồi, mẫu hỏi minh lớp trưởng
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất Theo Wikipedia, sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
- Một là người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao động của mình Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản thân con người có sức lao động đưa ra bán Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến
- Hai là người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá
Hàng hóa sức lao động là gì
Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành
vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người
Việc mua bán sức lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốc phòng Chỉ đến chủ nghĩa tư bản
Trang 3nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất xã hội
Sự cưỡng bức phi kinh tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ sở hữu hàng hoá, bình đẳng với nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán” Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển của văn minh nhân loại Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản
Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị
và giá trị sử dụng
- Giá trị hàng hoá sức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người Để sản xuất và tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định
Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm
cả yếu tố tinh thần và lịch sử
Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…) Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau
Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt
Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân
Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô những
tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Do đó, có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là, phí tổn học việc của công nhân; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công nhân Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt
Trang 4vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân và nuôi sống gia đình của anh ta
Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập nhau Một mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề,
do đó làm tăng giá trị sức lao động Mặt khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do
đó làm giảm giá trị sức lao động Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác , sự khác biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên
Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động
- Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
+ Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị
sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo
ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính
là giá trị thặng dư Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị
Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá
+ Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Nam Trạch là một xã vùng gò đồi, nằm phía Nam của huyện Bố Trạch; cách phía Đông Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng 30 Km; giáp với Thành phố Đồng Hới trung tâm tỉnh lỵ Quảng Bình, có diện tích tự nhiên 1.918,2 ha (trong đó hơn 1.562 ha đất nông nghiệp); địa bàn có nhiều công trình huyết mạch quan trọng của quốc gia đi qua, như Quốc lộ 1A; đường sắt Bắc Nam; đường điện 500 KW; đường Hồ Chí Minh;
Trang 5Dân số có 830 hộ với 3.450 nhân khẩu, được chia thành 5 thôn, địa hình dân
cư sinh sống được kéo dài từ đường Hồ Chí Minh đến Quốc lộ 1A Xã có 2 trường với 3 cấp học (trong đó trường TH&THCS mới được sáp nhập lại từ hai tường Tiểu học và Trung học cơ sở của xã từ tháng 8/2018)
Nhân dân trong xã chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp dựa vào tiềm năng lợi thế vùng gò đồi để phát triễn cây công nghiệp, như cây Cao su, cây hồ tiêu , dược liệu và chăn nuôi đại gia súc
* Thuận lợi: Nhân dân nhận thức đúng đắn đường lối đổi mới mà Đảng và Nhà
nước ta đã lựa chọn; chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nội bộ lãnh đạo đoàn kết, thống nhất cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; đội ngũ cán bộ, công chức được chuẩn hóa, có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình với công việc, gần dân, biết lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân để lãnh đạo sát tình hình thực tế của địa phương; do đó kinh tế từng bước phát triễn, Quốc phòng - An ninh được giữ vững, an sinh xã hội được quan tâm bão đảm, đời sống nhân dân ngày được nâng lên
* Khó khăn: Là một xã chủ yếu phụ thuộc sản xuất nông nghiệp, có nhiều tác
động xấu của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh xẩy ra thường xuyên, gây không ít khó khăn cho quá trình sản xuất, vì vậy đời sống của nhân dân tuy được nâng lên nhưng còn chậm so với sự phát triễn chung của huyện của xã hội Bên cạnh đó còn có một
số bộ phận nhân dân thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên vẫn còn vi phạm như tranh chấp, lấn chiếm, sữ dụng đất sai mục đích, gây khó khăn cho công tác quản lý và làm mất an ninh trật tự; nguồn thu ngân sách hạn hẹp
Về cơ cấu tổ chức bộ máy:
- Tổ chức Đảng: Đảng bộ có 184 đảng viên; Ban chấp hành đảng bộ hiện tại có
12 đồng chí
- Hội đồng nhân dân: có 24 vị trong đó có chủ tịch HĐND là kiêm nhiệm và 01 Phó chủ tịch HĐND xã chuyên trách
- Ủy ban nhân dân: có chủ tịch UBND, một phó chủ tịch, hai ủy viên và các công chức thuộc UBND theo biên chế quy định
- Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên như công đoàn cơ sở, hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ và đoàn thanh niên; các tổ chức xã hội như hội người cao tuổi, hội chữ thập đỏ, hội khuyến học, hội cựu giáo chức, hội cựu thanh niên xung phong, hội nạn nhân chất độc Da cam, hội người khuyết tật…
- Cán bộ, công chức hiện có 36 người (trong đó có 10 cán bộ chuyên trách và 9 công chức); đa số có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng; có 7 đồng chí trình độ chuyên môn trung, sơ cấp; 21 đồng chí trung cấp lý luận chính trị
Trang 61 Kết quả một số chỉ tiêu
- Cơ cấu kinh tế
Nông nghiệp chiếm 38%
Tiểu thủ công nghiệp chiếm 10%
Dịch vụ 52%
- Diện tích gieo trồng vụ Đông xuân 683 ha ( đạt 99% KH)
- Đàn trâu bò hiện có 897 con / giảm so với đầu năm 87 con
- Đàn lợn hiện có 2.120 con/ kế hoạch 2.500 con; Đàn gia cầm 16.750 con/ kế hoạch 20.000 con
- Thu ngân sách được 9,2 tỷ đồng/ kế hoạch giao 8,52 tỷ đạt 108,2%
- Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên 97%; lao động qua đào tạo 47%
- Xuất khẩu lao động 24 người/ kế hoạch 30 người
- Số gia đình văn hóa đạt 92%, 5/5 thôn đạt thôn văn hóa
- Tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh 99%, hộ dùng nước sạch 56%
- Có 100% hộ dùng điện lưới quốc gia đảm bảo an toàn
- Thu nhập bình quân đầu người 45 triệu đồng/người/năm
- Hộ nghèo: 16 hộ chiếm 1,92%; hộ cận nghèo có 35 hộ chiếm 4,21 % (năm
2019 giảm 06 hộ/KH 4 hộ nghèo và 03 hộ cận nghèo)
- Quốc phòng - an ninh được đảm bảo
- Hoạt động văn hóa, y tế - giáo dục, thể dục thể thao được duy trì và ngày càng phát triển rộng khắp
- Hoàn thành tiêu chí XDNTM, hiện đã đạt 19/19 tiêu chí và đã được công nhận xã đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2019
- Tình hình Chính trị ổn định; công tác tổ chức, bộ máy được củng cố, kiện toàn bố trí kịp thời, sắp xếp đảm bảo cho lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của địa phương;
- HĐND, UBND hoạt động hiệu quả, nâng cao được vai trò quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực;
- Mặt trận và các đoàn thể chính trị hoạt động đều có nề nếp, thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội;
Trang 7- Công tác xây dựng phát triển Đảng đạt được nhiều mặt tích cực; nội bộ đoàn kết lảnh đạo thực hiện tốt các chỉ tiêu cơ bản đã đề ra; tỷ lệ kết nạp đảng viên 4/6 đạt
66 % kế hoạch
2 Tình hình thực hiện
2.1; Trên lĩnh vực kinh kế - xã hội, quốc phòng - an ninh
- Sản xuất nông nghiệp
Đảng ủy tập trung chỉ đạo, các ban ngành, đoàn thể vận động nhân dân tổ chức sản xuất hết 100% diện tích đất canh tác; xây dựng, chỉ đạo thực hiện mô hình sản xuất theo chuổi giá trị đối với cây Ngô lấy thân theo quy trình khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, chú trọng đảm bảo ổn định về giá Chuyển đổi, luân canh đất canh tác phù hợp với các loại cây và giống nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn (như Ngô lấy thân, Mía, Sắn, Dưa hấu…)
Về cây Cao su: Tổng diện tích toàn xã đến thời điểm hiện tại còn khoảng 100
ha, diện tích khai thác 70 ha, từ sau cơn bão 2017 đến nay cây Cao su còn lại phát triển kém nên người dân phá bỏ dần để chuyển sang trồng các loại cây hằng năm khác (trong đó có trồng một số loại cây dược liệu, sâm, Sim)
Số lượng đàn trâu bò, đàn lợn có giảm so với năm 2018, tuy nhiên chất lượng tăng, tỷ lệ bò lai chiếm trên 70%, lợn siêu nạc đạt 100 %; công tác phòng trừ dịch bệnh, tiêu độc khử trùng được thực hiện nghiêm túc, đúng định kỳ
- Ngành nghề, dich vụ và xuất khẩu lao động
Các ngành nghề như xây dựng, mộc công nghiệp, vận tải cơ bản ổn định, các loại hình dịch vụ khác từng bước phát triển Công tác xuất khẩu lao động được quan tâm, đến nay trên toàn xã có trên 450 người đang lao động ở các nước
- Thu, chi ngân sách
Tổng thu (đến 31/10/2019) là: 9,2 tỷ, đạt 108,2 % kế hoạch
Chi ngân sách: 8,3 tỷ đồng đạt 97,6 % kế hoạch
- Công tác xây dựng cơ bản, xây dựng nông thôn mới,, quản lý đất đai, tài nguyên-môi trường
Công tác xây dựng cơ bản, xây dựng nông thôn mới; việc giám sát, quản lý vốn đầu tư theo kế hoạch đề ra; Đảng ủy đã tập trung chỉ đạo triển khai các hạng mục XDCB trong đó quan tâm đến XDCSVC trường học nhằm hoàn thành tiêu chí
về Trường học trong chương trình XDNTM
Trang 8Việc quản lý đất đai, khai thác tài nguyên được thực hiện cơ bản chặt chẻ, nghiêm túc góp phần hạn chế được việc khai thác vi phạm ranh giới, lấn chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích
Duy trì thu gom, xử lý rác thải đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định trên tất cả 5 thôn, kiểm soát các điểm sản xuất, chăn nuôi tập trung nên đã hạn chế việc ô nhiểm môi trường, nguồn nước
- Về văn hóa - xã hội
Giáo dục được quan tâm, hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học từng bước được đầu tư Hoàn thành năm học 2018-2019 đảm bảo theo kế hoạch và chất lượng, kết quả học tập tăng hơn năm trước Năm đầu thực hiện việc sáp nhập trường Tiểu học và trường THCS thành trường TH&THCS, bước đầu có nhiều khó khăn và thuận lợi nhưng cơ bản đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ Năm học 2019-2020 các điểm trường đã cơ bản đáp ứng mọi điều kiện cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học; đội ngũ cán bộ giáo viên bố trí đầy đủ hợp lý
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, người già, người nghèo được đội ngũ Y bác sĩ trạm xá xã quan tâm chú trọng; công tác giám sát dịch bệnh và theo giỏi bệnh nhân được thực hiện nghiêm túc, việc kiểm tra vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đúng định kỳ và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân
Việc giảm nghèo được Đảng ủy quan tâm chỉ đạo, UBND xã triển khai nhiều giải pháp và chính sách hỗ trợ tạo điều kiện để giúp thoát nghèo và giảm nghèo bền vững; giúp bà con phát triển kinh tế, hỗ trợ lúc ốm đau, hoạn nạn
Công tác chi trả trợ cấp xã hội và trợ cấp người có công, chế độ BHYT được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng, đảm bảo kịp thời
Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được duy trì và phát triển mạnh; tổ chức nhiều hoạt động, trong đó Giải bóng chuyền nam nữ của khối các đoàn thể chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc xã và Đại hội Mặt trận các cấp diễn ra thành công, có chất lượng cao; tham gia hội diễn văn nghệ công nông binh của huyện; giải bóng chuyền truyền thống của huyện dịp Quốc khánh 2/9… Trong đợt các thôn tổ chức đón nhận danh hiệu thôn văn hóa năm 2018, các hoạt động hội diễn văn nghệ; văn nghệ chào mừng được các đơn vị cuẩn bị chu đáo, các ngày tổ chức lễ hội có sức lan tỏa mạnh mẻ
- Về Quốc phòng - an ninh
Chỉ đạo Ban Chỉ huy quân sự xã tổ chức học tập, giáo dục chính trị ra quân
huấn luyện quân sự cho chiến sĩ mới, quản lý tốt nguồn sẳn sàng nhập ngũ, giao quân đảm bảo chỉ tiêu Tiếp tục rà soát, giải quyết chế độ chính sách cho các đối tượng theo quy định Năm 2019 có 4 thanh niên nhập ngủ vào trong lực lượng quân đội đạt
Trang 9100% chỉ tiêu giao; thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của Ban Thường vụ Huyện ủy trong việc lãnh đạo chỉ đạo nhiệm vụ quân sự quốc phòng năm 2018-2019 đối với Đảng ủy, đồng chí Bí thư, đồng chí Phó Bí thư – chủ tịch UBND và đồng Chí chỉ huy trưởng BCHQS xã
Lãnh đạo đảm bảo ổn định tình hình an ninh, TTATXH; Ban Công an xã đã duy trì tốt chế độ giao ban, trực báo, tuần tra canh gác thường xuyên và chủ động triển khai kế hoạch tấn công, trấn áp tội phạm trong các đợt cao điểm
Công tác Tư Pháp - Hộ tịch đã phối hợp với các ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật; phối hợp với Sở Tư pháp có một buổi tuyên truyền về Pháp luật và Chủ trương xây dựng NTM tại xã; giải quyết tốt các thủ tục hành chính một cách nhanh, gọn; việc tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được thực hiện kịp thời; không để chậm trể, không có vượt cấp
2.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, hệ thống chính trị
- Xây dựng chính quyền, cải cách hành chính
Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền ngày càng được nâng cao, đội ngủ cán bộ, công chức thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra Triển khai, cụ thể hóa kịp thời và có hiệu quả các chủ trương của Đảng ủy, các chính sách của Nhà nước và của địa phương
- Hoạt động của mặt trận và các tổ chức đoàn thể
Lãnh đạo, tổ chức thành công Đại hội UBMTTQVN xã nhiệm kỳ 2019-2024; Đại hội 5 năm thi đua yêu nước hội Cựu Chiến binh xã; Hội nghị điển hình tiến tiến Hội cựu TNXP gương mẫu giai đoạn 2014-2019; Đại hội Hội LHTN xã
Mặt trận phối hợp với các ngành đoàn thể triển khai tổ chức các hoạt động, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do tổ chức hội phát động trong đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân
Chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho đoàn viên, hội viên
và nhân dân; tổ chức tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nâng cao đời sống dân trí và kiến thức pháp luật; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, và thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội của Mặt trận
Làm tốt công tác tuyên truyền vận động, triển khai hiệu quả các phong trào thi đua, nhân rộng các mô hình Thực hiện tốt cuộc vận động " toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" Vận động tuyên truyền nhân dân tích cực tham gia, thực hiện hoàn thành các tiêu chí về XDNTM
Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, ở các chi bộ, thôn xóm; duy trì tốt công tác phối hợp tiếp xúc cử tri, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân phản ánh những tâm tư nguyện vọng với Đảng, Nhà nước, tạo sự đồng thuận trong xã hội
Trang 10- Xây dựng Đảng
Về công tác giáo dục chính trị tư tưởng và triển khai học tập các chỉ thị, nghị
quyết của Đảng
Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết, Kết luận của Đảng một cách nghiêm túc; đặc biệt là Chỉ thị
05-CT/TW ngày 15/6/2016 của của Bộ chính trị và chuyên đề năm 2019 về “ Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân’’, Nghị quết Trung
ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống những biểu hiện “ tự diễn biến” ,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ , nắm và định hướng dư luận xã hội, do đó tình hình chính trị tư tưởng luôn được giữ vững và ổn định
Về công tác tổ chức, công tác cán bộ
Xác định nhiệm vụ công tác tổ chức có vai trò quyết định đến các hoạt động của hệ thống chính trị, Đảng ủy đã tiến hành rà soát bổ sung quy hoạch cán bộ nhiệm
kỳ 2015 - 2020, xây dựng quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025 đảm bảo theo quy định
Coi trọng việc bố trí nhân sự, kịp thời bổ sung chức danh Phó chủ tịch UBND nhiệm kỳ 2016-2021; Chủ tịch UBMT và UVBTV Đảng ủy nhiệm kỳ 2015-2020 Đề nghị điều chuyển cán bộ qua làm công chức đối với đồng chí Bí thư xã đoàn do tình hình cán bộ; bổ sung kiện toàn cán bộ xã đoàn nhiệm kỳ 2017-2022
Chỉ đạo Chi ủy, các chi bộ hoạt động nề nếp, tổ chức sinh hoạt đúng định kỳ, thường xuyên giao ban công tác Đảng giữa BTV, Thường trực Đảng ủy, Cấp ủy với các Bí thư chi bộ để nắm tình hình Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và thi hành Điều lệ Đảng; các Chương trình, Đề án thực hiện Nghị quyết khóa XXII của Đảng bộ huyện và các chương trình đề án trọng tâm của Đảng bộ xã khóa XXIII
Về công tác đảng viên
Tổng số đảng viên đến nay có 184 đồng chí, sinh hoạt tại 07 chi bộ; đội ngũ cán bộ đảng viên giữ vững lập trường chính trị, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng, tu dưỡng phẩm chất đạo đức lối sống trong sạch, lành mạnh
Trong kỳ có 06 đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng các đợt; 01 đảng viên xóa tên; 04 đảng viên chuyển đi; 02 đảng viên từ trần; 05 đảng viên chuyển đến; kết nạp được 4 đảng viên (đạt 66,66%)
Về công tác kiểm tra, giám sát