Từ cuối năm 2007 bước sang đầu năm 2008, tình hình kinh tế nước ta biểu hiện hai trạng thái mâu thuẫn nhau, trạng thái phấn khởi trước những thành tựu về kinh tế - xã hội của đất nước sau một năm gia nhập WTO, vị thế kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo chủ đề 1 Kinh tế vĩ mô dưới đây. Hy vọng tài liệu phục vụ hữu ích nhu cầu học tập và nghiên cứu.
Trang 1CHỦ ĐÊ1
: Từ cuối năm 2007 bước sang đầu năm 2008, tình hình kinh tế nước
ta biểu hiện hai trạng thái mâu thuẫn nhau Trạng thái phấn khởi trước những thành tựu về KT – XH của đất nước sau một năm gia nhập WTO, vị thế kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên Mặt khác đang có trạng thái lo lắng về những dấu hiệu bất
ổn của tình hình kinh tế vĩ mô, mà nổi bật nhất và cũng là biểu hiện
rõ nhất là hiện tượng lạm phát chưa kiểm soát được; Là bong bóng của thị trường bất động sản căng phồng và đang như “con ngựa bất kham” trước Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
Để góp phần lý giải hai trạng thái mâu thuẫn trên, xin có một số ý kiến đánh giá tình hình kinh tế, nhìn từ 4 mục tiêu của kinh tế vĩ mô,
mà về lý thuyết cũng như thực tế, mọi Chính phủ đều tập trung vào
các công cụ chính sách để đạt cho kỳ được là: Tăng cường GDP
với tốc độ cao và liên tục; Tăng số việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp; Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát; Tăng xuất khẩu
ròng.
Trong 2 năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được chỉ tiêu đề ra, với tốc độ tăng GDP bình quân khoảng 8,5% Tuy nhiên, đằng sau kết quả này vẫn còn nhiều điều phải xem xét Đó là sự tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào chiều rộng Kinh tế tăng trưởng, nhưng tính chất của nền kinh tế gia công và khai khoáng hoàn toàn chưa thay đổi Chưa có dấu hiệu của một ngành nào, sản phẩm nào chuyển từ gia công sang thiết kế, sản xuất linh kiện sau 20 năm mở cửa và bảo hộ (thông thường ở các nước công nghiệp mới, chỉ trong khoảng 5 – 10 năm đã có sự chuyển đổi) Sự kéo dài chính sách bảo hộ và độc quyền đối với một số ngành và lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng tới năng lực sáng tạo và cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Đây
là nguyên nhân sâu xa và cốt lõi giải thích tại sao khi biến động giá nguyên liệu và nhiên liệu của thị trường thế giới, nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với các nước khác, trong khi lượng tiêu thụ nguyên, nhiên liệu của thị trường nước ta ít hơn nhiều Về quan điểm phát triển, chúng ta luôn luôn xác định, mục tiêu tăng
trưởng phải chú trọng cả số lượng và chất lượng Nhưng trên thực tế chưa có những chính sách thực sự có tác dụng đến chất lượng tăng trưởng
Trong các năm qua, với tốc độ tăng đầu tư phát triển nhiều doanh
Trang 2nghiệp mới đã tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội Đặc biệt trong năm 2007 đã đạt được chỉ tiêu giải quyết hơn 1,6 triệu việc làm Tuy nhiên, tình trạng “bán thất nghiệp” ở đô thị và nông thôn đang còn rất phổ biến Tạo việc làm mới chủ yếu diễn ra ở khu vực kinh tế tư
nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước chiếm lượng vốn đầu tư rất lớn Chưa có chính sách rõ nét về mối quan hệ giữa đầu tư và giải quyết việc làm cho từng lĩnh vực, từng địa bàn kinh tế Thị trường lao động đang phát triển tự phát và không cân đối về cung – cầu Tình trạng thất nghiệp
và bán thất nghiệp đang tồn tại song song với tình trạng thiếu lao động có kỹ năng trong hầu hết các ngành kinh tế Trong cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động không chuyển dịch tương ứng với cơ cấu giá trị, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Sự phát triển thị trường lao động không gắn liền với chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nên dẫn đến tình trạng vừa thừa và thiếu trong quan hệ cung – cầu Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nghịch lý: Thừa vốn, thiếu lao động (lao động có kỹ năng, được đào tạo), mà đúng ra phải là ngược lại
Có lẽ trong vòng 10 năm qua, năm 2008 là năm đầu tiên nền kinh tế Việt Nam đứng trước sự lựa chọn rất nghiệt ngã là ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay kiểm soát lạm phát, khi hai mục tiêu này trở thành hai vấn đề mâu thuẫn nhau? Nếu năm 2008, nền kinh tế tiếp tục lạm phát 2 con số, thì những gì đã đạt được trong các năm qua
sẽ bị xói mòn và các vấn đề xã hội sẽ gay gắt hơn Diễn biến tình hình thị trường trong những tháng đầu năm 2008 cho thấy, lạm phát đang trở thành vấn đề kinh tế vĩ mô hàng đầu hiện nay Điều đáng lo lắng nhất là dường như thị trường đang không còn đi theo ý muốn của chúng ta Cụ thể là những nỗ lực của Chính phủ trong việc kiềm chế giá cả hàng hóa, thị trường bất động sản, hâm nóng thị trường chứng khoán đã giảm tác dụng Vậy nguyên nhân từ đâu?
Tôi cho rằng nguyên nhân lạm phát là từ những nguyên nhân sâu xa của nền kinh tế, còn những tác động (cả khách quan lẫn chủ quan) trong năm 2007 chỉ là nguyên nhân nhất thời Có thể phân tích như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa chính là nền kinh tế mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu trong nhiều năm liền do tăng đầu tư (trên 35% GDP), tăng sức tiêu thụ (doanh thu bán lẻ danh nghĩa tăng bình quân
Trang 3trên 20%/năm), tăng nhập khẩu (đòi hỏi phải tăng đối phần trong nước), tăng cung tiền tệ (bình quân 25%), tăng tín dụng nội địa (bình quân trên 35%), tăng công chi, trong khi đó lượng cung thực (sản lượng thực cộng với thâm hụt thương mại) chỉ tăng dưới 10% Nếu phân tích kỹ từng yếu tố tác động đến tổng cung – tổng cầu thì sẽ thấy rất rõ khoảng chênh lệch đó chính là lạm phát Câu hỏi đặt ra là tại sao lượng cung thực tăng thấp, trong khi các yếu tố có tác động tăng cung lại tăng cao? Câu trả lời là vì nền kinh tế không có khả năng hấp thụ các yếu tố sản xuất để có mức tăng trưởng cao tương ứng Với mức tăng đầu tư và tín dụng như trên, nền kinh tế trong 3 năm qua phải tăng trưởng trên 10%, chứ không phải chỉ hơn 8% Khoảng cách biệt đó là gốc của nguyên nhân gây lạm phát, khi chịu tác động bên ngoài như “những giọt nước làm tràn ly” hiện nay Do
đó, để kiểm soát lạm phát, một mặt áp dụng các giải pháp mang tính tình thế, cần phải tiến hành xây dựng một hệ thống chính sách và giải pháp đồng bộ dựa trên mối quan hệ tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế
Thứ hai, nguyên nhân trực tiếp là từ các yếu tố bên trong và bên ngoài xuất hiện trong năm 2007 như biến động giá nguyên vật liệu của thị trường thế giới, thiên tai, tăng công chi, tăng khối lượng tiền
tệ, tăng đột biến tín dụng, tăng tiền lương danh nghĩa Đặc biệt trong những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, “bong bóng” của thị trường bất động sản đã đẩy mạnh tổng cầu của nền kinh tế (vốn đã mất cân đối) tạo ra hiệu ứng số nhân với các thị trường hàng hóa và dịch vụ khác Bên cạnh đó, vấn đề tăng công chi liên tục của
hệ số nhân đã áp lực rất mạnh lên tổng cầu (nếu tăng công chi để đầu tư có hiệu quả sẽ tăng tổng cung, nên có thể cân đối trở lại ở mức cao hơn không làm mất cân đối tổng cung – tổng cầu); Nhưng nếu đầu tư không có hiệu quả sẽ trở thành nguyên nhân gây ra lạm phát)
Với mục tiêu tăng xuất khẩu ròng, thì không chỉ năm 2007, mà có
lẽ trong một số năm nữa cũng còn là số âm (năm 2007 âm 12,5 tỷ USD tương đương với gần 18% GDP, vượt xa ngưỡng 5% mà về lý thuyết người ta thường cảnh báo) Năm 2007, nền kinh tế nước ta xuất hiện một nghịch lý là cán cân thương mại thâm hụt đến 18% GDP, nhưng trên thị trường lại thừa USD đã gây khó khăn cho chính sách ổn định tỷ giá VNĐ của Chính phủ, trong điều kiện lạm phát cao Việc bù đắp thâm hụt thương mại bằng các nguồn khác như
Trang 4FDI, FII, ODA, kiều hối, xuất khẩu lao động đã tạo ra cảm giác yên tâm về sự an toàn trong cán cân thanh toán quốc tế và cũng từ đó không còn bức xúc trong việc đề ra các quyết sách để sớm đạt mục tiêu tăng xuất khẩu ròng (tăng xuất khẩu ròng là cách bảo đảm an toàn và căn cơ nhất trong cán cân vãng lai đối với các thị trường mới nổi lên)
Dựa trên khung lý thuyết về 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô để phân tích sơ
bộ như trên để có cái nhìn rõ hơn những trạng thái của nền kinh tế
mà những con số mang nặng tính chất thống kê không thể biểu cảm hết Nếu hàng quý, 6 tháng và hàng năm có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá dựa trên phân tích tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế; Gắn với nó các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ thì mới nhận diện được bản chất của nền kinh tế đang vận động Nếu không phân tích các yếu tố đang tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế để có cái nhìn tổng thể, mà cứ sử dụng các công
cụ điều tiết cục bộ (như các biện pháp kiểm soát lạm phát) thì việc chữa bệnh đôi khi trở thành “tích bệnh”, dồn khó khăn về sau nhiều hơn
Thông thường để điều tiết mối quan hệ giữa tổng cung – tổng cầu, Nhà nước sử dụng 4 nhóm công cụ chính sách nhằm định hướng vận động của thị trường bao gồm: Chính sách tài chính; Chính sách tiền tệ; Chính sách thu nhập; Chính sách kinh tế đối ngoại Bốn nhóm chính sách trên sẽ hướng đến 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô và cần thực hiện đồng bộ Trong tình hình hiện nay (tính cả sự bất lợi của thị
trường thế giới), có lẽ đang đặt chúng ta trước 2 mục tiêu mâu thuẫn phải lựa chọn: Hoặc tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng GDP trên 9% trong năm 2008 như chỉ tiêu đề ra; Hoặc ưu tiên ổn định kinh tế vĩ
mô, chấp nhận tốc độ tăng trưởng GDP chậm hơn Khi tình thế
không cho phép chúng ta đạt cả hai, thì phải ưu tiên lựa chọn một mục tiêu mà thôi
Hạnh phúc là khi trong tim bạn có tên của một ai đó
Nhưng hạnh phúc nhất là khi trong tim ai đó cũng có tên bạn
CHỦ ĐỀ 5
Chủ đề 5: Chính sách tài khóa:
Thế giới ngày một phát triển, các hoạt động kinh tế cũng đang diễn ra hàng ngày với tốc độ rất nhanh chóng, để tác động, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động kinh tế này chính phủ không những cần sử dụng đến các chính sách tiền tệ mà còn sử dụng cả chính sách tài
Trang 5khóa.Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa.Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là 2 chính sách quan trọng của kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy và phát triển kinh tế
Khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể
giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài chính nới lỏng.Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, thì nhà
nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ Chính sách tài
khóa như thế này gọi là chính sách tài khóa thắt chặt Chính sách
tài khóa tác động trực tiếp, để điều chỉnh chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế , chi tiêu của chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số trong nền kinh
tế như: tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng trong dài hạn tuy nhiên trong ngắn hạn chính sách tài khóa ảnh hưởng chủ yếu đến tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ.Chính sách tài khóa gồm 3 nội dung chính đó là chính sách ổn định hóa nền kinh tế,vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước và nợ quốc gia.Chính sách ổn định hóa nền kinh tế nhằm đạt được tỷ lệ tăng trưởng GDP tiềm năng ổn định cao nhất có thể cải thiện được GDP thực tế của cá nhân.Trong quá trình điều hành ngân sách,các chính phủ thường có nhu cầu chi nhiều hơn số tiền thu được và việc cắt giảm các khoản chi tiêu là rất khó vì liên quan đến các hoạt động y tế,giáo dục,văn hóa,xã hội…Do đó,bắt buộc chính phủ phải tính tới các giải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nước.Giải pháp thường được chính phủ sử dung là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu,bao gồm vay trong nước và nước ngoài Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với các hoạt động kinh tế.Có 3 loại chính sách tài khóa là Chính sách tì kháo thu hẹp,chính sách tài khóa trung lập,chính sách tài khóa mở rộng.Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2.Khi đó G=T(G: chi tiêu chính phủ,T: thu nhập từ thuế).Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó,hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G=T.Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế.Chính sách mở rộng là
Trang 6chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G>T) thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2.Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng Trong trường hợp chính phủ gia tăng sự mua sắm có hai hiệu ứng để
lý giải: hiệu ứng số nhân và hiệu ứng lấn át.Ví dụ:Khi chính phủ mua
20 tỷ $ hàng hóa từ hãng Boeing,sẽ có một phản ứng dây chuyền xảy ra.Tác động tức thì từ nhu cầu cao hơn của chính phủ là tăng việc làm và lợi nhuận của hang Boeing.Sau đó,khi công nhân có thêm tiền lương và chủ doanh nghiệp có thêm lợi nhuận,họ phản ứng lại sự tăng lên của thu nhập bằng cách tăng chi tiêu của họ cho hàng tiêu dung.Kết quả là mua sắm của chính phủ từ hang Boeing làm tăng nhu cầu sản phẩm của nhiều hãng khác trong nền kinh tế.Do mỗi một đô la chi tiêu của chính phủ có khả năng làm tăng tổng cầu
về hàng hóa và dịch vụ lên nhiều hơn một đô la,do vậy mua sắm của chính phủ do hiệu ứng số nhân đối với tổng cầu.Hiệu ứng số nhân tiếp tục phát huy tác dụng ngay cả sau khi vòng thứ nhất kết thúc.Khi chi tiêu của người tiêu dùng tăng,các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng tiêu dùng này sẽ thuê thêm công nhân và có lợi nhuận cao hơn.Thu nhập và lợi nhuận cao hơn một lần nữa lại khuyến khích chi cho tiêu dùng,và quá trình này cứ tiếp diễn.Như vậy, có sự phản hồi thuận chiều khi nhu cầu cao hơn dẫn tới thu nhập cao hơn,và mức thu nhập cao hơn đến lượt nó lại làm cho nhu cầu cao hơn nữa.Khi cộng tất cả các ảnh hưởng này lại với nhau,tác động tổng hợp lên lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ có thể lớn hơn rất nhiều so với xung lực ban đầu do mức chi tiêu cao hơn của chính phủ tạo ra
Nhưng trong khi sự gia tăng mua sắm của chính phủ kích thíc tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ,nó cũng làm cho lãi suất tăng,và một mức lãi suất cao hơn sẽ làm giảm chi tiêu cho đầu tư và giảm tổng cầu.Sự suy giảm tổng cầu vì lãi suất tăng khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa ở rộng được gọi là hiệu ứng lấn át Như trên, nhu cầu của chính phủ làm tăng thu nhập của công nhân và chủ hãng ( và vì hiệu ứng số nhân, cả thu nhập của công nhân và người chủ ở các hãng khác cũng tăng) Khi thu nhập tăng, hộ gia đình dự kiến sẽ
Trang 7mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, và kết quả là họ muốn nắm giữ nhiều của cải hơn dưới dạng tài khoản có tính thanh khoản cao Như vậy sự gia tăng thu nhập do sự mở rộng tài khóa gây ra làm tăng nhu cầu về tiền
Hiệu ứng lấn át: Phần (a) biểu thị thị trường tiền tệ Khi chính phủ tăng chi tiêu để mua hàng hóa và dịc vụ, sự gia tăng của thu nhập bắt nguồn từ đó đẩy đường cầu tiền từ MD1 đến MD2 và điều này làm cho lãi suất cân bằng tăng từ r1 lên r2 Phần (b) biểu thị các tác động của tổng cầu Tác động đầu tiên của việc gia tăng chi tiêu mua hàng của chính phủ là đẩy đường tổng cầu từ AD1 đến AD2 Nhưng
vì lãi suất là chi phí của việc vay nợ, nên sự gia tăng lãi suất có
khuynh hướng làm giảm lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt hàng đầu tư Sự lấn át như vậy làm triệt tiêu một phần ảnh hưởng của sự mở rộng tài khóa với tổng cầu Cuối cùng đường tổng cầu dịch về AD3 Hiệu ứng của sự gia tăng cầu tiền được biểu thị trong phần (a) Vì quỹ dự trữ liên bang không thay đổi cung ứng tiền tệ, nên đường cung tiền vẫn thẳng đứng như cũ Khi mức thu nhập cao hơn dịch chuyển đường cầu tiền sang phải từ MD1 sang MD2, lãi suất sẽ phải tăng từ r1 lên r2 để giữ cho cung và cầu tiền cân
bằngSự gia tăng lãi suất đến lượt nó lại làm giảm lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ.Cụ thể,vì việc vay nợ đắt hơn,nhu cầu về hàng hóa đầu tư làm cho nhà ở và đầu tư kinh doanh giảm xuống.Nghĩa là khi
sự gia tăng mua sắm của chính phủ làm tăng nhu cầu về hàng hóa
và dịch vụ,nó cũng có thể lấn át đầu tư.Hiệu ứng lấn át phần nào làm giảm ảnh hưởng của hiệu ứng số nhân do chi tiêu chính phủ mang lại Bên cạnh mức mua sắm của chính phủ thì một công cụ quân trọng khác của chính sách tài khóa là việc đánh thuế Ví dụ khi chính phủ cắt giảm thuế thu nhập cá nhân, thu nhập thực nhận của hộ gia đình sẽ tăng lên Phần thu nhập tăng lên này sẽ được các hộ gia đình tiết kiệm một phần, phần còn lại sẽ được mua hàng hóa tiêu dùng Vì chi cho tiêu dùng tăng nên việc cắt giảm thuế sẽ có tác dụng dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải Quy mô dịch chuyển của đường tổng cầu bắt nguồn từ sự thay đổi thuế cũng bị ảnh hưởng bởi hiệu số nhân và hiêu số lấn át Khi chính phủ giảm thuế và kích thích chi cho tiêu dùng, thu nhập và lợi nhuận tăng, qua đó tiếp tục kích thích chi cho tiêu dùng thêm nữa Đây là hiêu ứng số nhân
Đồng thời thu nhập cao hơn dẫn đến cầu tiền lớn hơn và điều này có
xu hướng làm tăng lãi suất Lãi suất cao hơn làm việc cho vay nợ trở
Trang 8lên tốn kém hơn, qua đó làm giảm chi tiêu cho đầu tư Đó là hiệu ứng lấn át Nhận thức của mọi người về việc thay đổi thuế lâu dài hay tạm thời cũng tác động đến sự dịch chuyển của đường tổng cầu Ví dụ, giả sử chính phủ tuyên bố cắt giảm thuế cho mỗi hộ gia đình Để lập
kế hoạch sử dụng số tiền cắt giảm này, hộ gia đình sẽ phải tự đặt câu hỏi rằng khoản thu nhập tăng thêm này sẽ kéo dài trong bao lâu Nếu hộ gia đình kỳ vọng rằng việc cắt giảm thuế được duy trì trong thời gian dài, họ sẽ cho rằng nguồn tài chính của mình đã được bổ sung thêm một khỏa tiền đáng kể, và vì thế họ sẽ tăng mạnh chi tiêu Trong trường hợp này việc cắt giảm thuế có tác động mạnh đến tổng cầu Ngược lại nếu các hộ gia đình kỳ vọng rằng việc cắt giảm thuế chỉ có tính tạm thời, họ sẽ cho rằng khoản tiền này sẽ chỉ đóng góp thêm một phần nhỏ vào nguồn tái chính của mình, và do đó sẽ chỉ tăng thêm chỉ tiêu một lượng nhỏ, trong trường hợp này việc cắt
giảm thuế sẽ có tác động nhỏ tới tổng cầu Chính sách tài khóa cũng
có thể ảnh hưởng đến lượng cung về hàng hóa và dịch vụ Ví dụ khi chúng ta xem xét ảnh hưởng của thuế đối với tổng cung Một trong mười nguyên lý kinh tế học là con người phản ứng đối với kích thích Khi các hoạch định chính sách của chính phủ cắt giảm thuế, công nhân được phép giữ lại số tiền nhiều hơn từ mỗi đô la mà họ kiếm được, nên họ có nhiều động lực lao động và sản xuất hàng hóa hơn Nếu họ phản ứng lại biện pháp khuyến khích này, lượng cung về hàng hóa sẽ lớn hơn tại mỗi mức giá và đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang phải Giống như việc thay đổi về thuế, những thay đổi trong chi tiêu của chính phủ cũng có thể ảnh hưởng tiềm tàng đối với tổng cung Ví dụ, giả sử chính phủ tăng chi tiêu dưới dạng đầu tư tư bản do chính phủ tài trợ, chẳng hạn xây dựng đường sá Đường sá được các doanh nghiệp tư nhân sử dụng để chuyển hàng hóa tới khách hàng; số lượng hàng hóa tăng làm tăng năng suất của các doanh nghiệp này Vì vậy, khi chính phủ tăng chi tiêu thêm để xây dựng cho các con đường thì nó sẽ làm tăng lượng cung về hàng hóa, dịch vụ tại bất cứ mức giá nào cho trước, và do đó làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải Song trong dài hạn, ảnh hưởng này nên tổng cung có lẽ quan trọng hơn trong ngắn hạn, vì chính phủ phải mất thời gian nhất định để xây dựng những con đường mới và đưa chúng vào sử dụng
Thực tế chính sách tài khóa ở Việt Nam hiện nay:
Khuyến nghị:Theo nghị quyết số 11 năm 2011 Nhà Nước ta chủ
trương thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt,cắt giảm đầu tư
công,giảm bội chi ngân sách nhà nước.Bộ Tài chính chủ trì,phối hợp
Trang 9với các Bộ,cơ quan,địa phương.Chỉ đạo phấn đấu tăng ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011 đã được Quốc Hội thông qua.Tăng cường kiểm tra,giám sát trong quản lý thu
thuế,chống thất thu thuế;tập trung xử lyys các khoản nợ đọng
thuế;triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng
và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.Các Bộ,cơ quan,địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm them 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011.Người đứng đầu các cơ quan,đơn vị,địa phương,tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị,hội thảo,tổng kết,sơ kết,đi công tác trong và ngoài nước…Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán,trừu các trường hợp thực hiện theo chính sách,chế độ,phòng chống,khắc phục hậu quả thiên tai,dịch bệnh do Thủ tướng Chính Phủ quyết định.Giảm bội chi ngân sách nàh nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP.Giám sát chặt chẽ việc cho vay,trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp,nhất là cho vay ngắn hạn.Thực hiện rà soát nợ Chính Phủ,nợ quốc gia,hạn chế nợ dự phòng,không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của Chính
Phủ.Bảo đảm dư nợ Chính Phủ,dư nợ công,dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.Bộ Kế hoạch và Đầu
tư chủ trì,phối hợp với các Bộ,cơ quan,địa phương không ứng trước vốn ngan sách nhà nước,trái phiếu Chính Phủ năm 2012 cho các dự án,trừ các dự án phòng,chống,khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011 Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu
tư ra nước ngoài Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10%
kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước
Kiến nghị:
Gốc rễ của lạm phát ở nước ta chính là chính sách tài khóa ngoài nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng của lạm phát trên thế giới, giá dầu thế giới tăng Để giải quyết bài toán lạm phát một cách cơ bản cần có chính sách tài khóa lành mạnh hơn, cân đối hơn Chính sách tài khóa tốt dựa trên nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả sẽ làm nhẹ đi áp lực lạm phát đang đè nặng lên nền kinh tế Muốn làm được điều này cần phải giảm mạnh đầu tư công để đầu tư tư nhân trong,
Trang 10ngoài nước tăng nhanh, hiệu quả đầu tư cũng tăng lên Đây là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh mà không gây ra lạm phát Ngoài ra, cần phân công lại vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Nếu chính sách tài khóa hướng vào mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng thì chính sách tiền tệ sẽ hướng vào mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế và ổn định tiền tệ Thuế thu nhập là công cụ có tính tự ổn định cao Cải cách thuế cần tập trung mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuế suất để kích thích kinh tế Các chương trình an sinh xã hội, ổn định thu nhập cho người nghèo, cho người lao động chủ yếu dựa vào tiền công, tiền lương cần được cải cách một cách triệt để trên cơ sở phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan với sự vận hành thuế thu nhập cá nhân
CHỦ ĐỀ 4ChỦ đè 4
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thường theo đuổi
các mục tiêu khác nhau Chính sách tài khóa là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn Chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền Sau đây tôi sẽ trình bày rõ hơn về chính sách tiền tệ
Trước hết chúng ta phải hiểu được thế nào là chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ, là bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách ktế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền ktế nhằm đạt được những mtiêu ktế - XH trog từg giai đoạn nhất định Csách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theo nghĩa rộng thì csách tiền tệ là csách điều hành toàn bộ klượng tiền tệ trog nền ktế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của ktế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa Theo nghĩa thông thường là csách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng