1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta

28 572 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Kiến Nghị Nhằm Hoàn Thiện Chính Sách Kinh Tế Vĩ Mô Nhằm Thúc Đẩy Sự Phát Triển Các Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Ở Nước Ta
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 281,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta

Trang 1

Lời mở đầu

Gần 17 năm trớc khi Đảng đề ra đờng lối đổi mới toàn diện, tìnhhình kinh tế-xã hội của đất nớc gần nh là rơi đến “đáy” của cuộckhủng khoảng : sản xuất đình đốn, lạm phát đạt đến tốc độ “phimã” với chỉ số tăng giá bán lẻ năm 1986 là 774,7 %, đời sống củacác tầng lớp dân c hết sức khó khăn, hàng triệu ngời dân thiếu ăn,lòng dân không yên Với phơng châm “nhìn thẳng vào sự thật,

đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội Vl của Đảng Cộngsản Việt Nam (12-1986) đã nghiêm khắc tự phê bình về những chủchơng, chính sách sai lầm mang nặng tính giáo điều, chủ quan duy

ý chí, đồng thời đề ra đờng lối đổi mới toàn diện nhằm đa đất nớc

ra khỏi khủng khoảng, đi vào thế ổn định và phát triển Nhng khicông cuộc đổi mới vừa thực hiện đợc mấy năm, thì trên thế giớiliên tiếp xảy ra những biến động lớn với sự xụp đổ của các nớcXHCN ở Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô Khoảng 80% ttoongrkim ngạch nhập khẩu và 60% tổng kim ngạch xuất khẩu, cùngnhiều chơng trình hợp tác liên doanh với các nớc đó hầu nh đổ vỡhoàn toàn Thêm vào đó, Mỹ vẫn khéo dài chính sách cấm vận vềkinh tế và thơng mại chống Việt Nam (cho đến đầu năm 1994),gây khó khăn không nhỏ cho sự phát triển bình thờng của nớc ta.Nhng chính trong khó khăn, nhiều sáng tạo của nhân dân đã xuấthiện, trí tuệ của những nhà hoặch định chính sách quốc gia và cácnhà khoa học đã đợc khơi dậy Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệmcủa quần chúng, đồng thời đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận,

Đại hội Vll (6-1991), rồi Đại hội Vlll (6-1996) và đến Đại hội lXcủa Đảng và những hội nghị ban chấp hành TW giữa các kỳ đạihội đã không ngừng tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh đờng lối đổi mớitoàn diện đất nớc do Đại hội Vl khởi xớng Các quan điểm của

Đảng đã đợc thể chế hoá thành hệ thống pháp luật, chính sách, kếhoặch, chơng trình, dự án cụ đa vào cuộc sống Trong các vấn đề

đó có việc phát triển hệ thống doanh nghiệp, đó là vấn đề cho việctăng trởng kinh tế cho đất nớc, phải kể đến là phát triển doanhnghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đó là điều tất yếu của bất cứ nềnkinh tế nào

Trang 2

Phần 1: Lý do viết bài.

ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù là nớc công nghiệp phát

triển hay quốc gia đang phát triển, doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN) có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốcdân của mỗi nớc Các chính phủ đều rất quan tâm đẩy mạnh pháttriển DNVVN thông qua việc đa ra các chính sách khuyến khích,

hỗ trợ, u đãi đối với các DNVVN Công nghiệp hoá, hiện đại hoánền kinh tế quốc dân là một nội dung quan trọng đối với sự nghiệpphát triển kinh tế-xã hội ở nớc ta Là một quốc gia đang phát triển,nghèo nàn, lạc hậu, hơn 80% dân số sống ở nông thôn,diện tích đất

đai bình quân đầu ngời quá thấp, lao động nhàn rỗi và d thừanhiều, thì sự nghiệp công nghiệp hoá phải đi từ khu vực nông thôn

và thông qua việc xúc tiến phát triển mạnh các DNVVN

phần 2 : Nội dung

I vai trò và vị trí của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cùng với việc khắc phục hậu quả của thiên tai, Việt Namphải lo chống chọi với cơn bão kinh tế-tài chính của châu á và thếgiới đó là vấn đề còn lo ngại hơn nhiều Bài học cay đắng của cuộckhủng khoảng tài chính-tiền tệ khiến cho nhiều nhà kinh tế cảmnhận rõ hơn về tính dễ tổn thơng về tài chính và ngân hàng đã phản

ánh tình trạng loạn năng của hệ thống ngân hàng sinh sôi nảy nởquá nhiều, bị phì đại và hoại tử, đã tích luỹ lại những khoản tíndụng quá dễ dãi và những giấy nợ không chắc chắn dạt đến mộtkhối lợng khổng lồ, cuộc khủng khoảng đã kéo theo sự sụp đổ của

từ 30% đến 60% những đồng tiền quốc gia và chỉ số chứng khoán.Nhng điều đáng nói hơn là chính cuộc khủng khoảng này ở châu á

đã vợt quá những khía cạnh cổ điển của những cuộc khủng khoảngthị trờng Đây là một cuộc khủng khoảng kinh tế ngay trong cấutrúc của nó, sâu xắc và nan truyền dần dần ra khắp hành tinh vớinhững hậu quả khác nhau tuỳ theo các khu vực và các quốc giakhác nhau, căn cứ vào việc hội nhập của họ và nền kinh tế toàncầu Việt Nam phải chăng là một điều may mắn, chịu ảnh hởng íthơn của cuộc khủng khoảng nói trên so với nhiều nớc trong khuvực Theo David O.Dapice, Viện nghiên cứu phát triển quốc tếHarvard (Mỹ), có thể giải thích điều này theo nhiều cách : đồngtiền của Việt Nam không có khả năng chuyển đổi nên khó có hiệntợng đầu t tiền tệ theo hớng xấu Thu nhập bình quân theo đầu ngờithấp nên có sức đẩy mạnh hơn về phía tăng trởng Công nghiệphoá thay thế hàng hoá nhập khẩu vẫn còn đang ở giai đoạn đầu,không nhạy cảm với biến động về cầu từ bên ngoài, chừng nào vẵncòn nguồn vốn nớc ngoài để bù lại mức tiết kiệm thấp trong nớc

Trang 3

Tuy vậy David O.Dapice vẫn cảnh báo rằng ảnh hởng chính củacuộc khủng khoảng châu á không phải đã tránh không đến ViệtNam mà chỉ là đến chậm hơn Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã cảmnhận đợc ảnh hởng của cuộc khủng khoảng đó đến Việt Nam rõnhất là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đầu t của nớc ngoài và sự ổn

định của đồng tiền Việt Nam Trong tình hình đó, những yếu kémcủa nền kinh tế, đặc biệt là năng suất lao động và sức cạnh tranhcủa hàng hoá, ngày càng bộc nộ Sự ảnh hởng đó làm cho cácdoanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêngphải tiến hành đổi mới từng bớc và phát triển

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đợc khởi động để cứu đất nớc rakhỏi cuộc khủng khoảng kinh tế-xã hội trầm trọng và kéo dài cuốinhững năm 70 và đầu những năm 80 Có nhiều nguyên nhân dẫn

đến cuộc khủng khoảng đa đất nớc đến bên bờ vực thẳm, song điều

dễ thấy hơn cả là sự sụp đổ của mô hình kế hoặch hoá tập trung vàbao cấp của nền kinh tế chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu: tập thể

và toàn dân, tự cô lập mình với thế giới năng động và dồn dập biến

đổi của khu vực và toàn cầu

Việc chấp nhận cơ chế thị trờng của nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, tức là chấp nhận nhiều hình thức sở hữu, đã thật sự tạo

ra động lực của công cuộc đổi mới, đa đất nớc thoát khỏi nguy cơsụp đổ Chấp nhận nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị tr-ờng, đó chính là điểm nút tháo gỡ tình hình, tạo ra động lực thúc

đẩy sự phát triển của Việt Nam trong gần 17 năm qua Cũng từ

điểm nút ấy, xoay quanh điểm nút ấy, cuộc đấu tranh cho cái mớiphát triển chống lại cái cũ lỗi thời đang làm chậm sự phát triển làmột cuộc đấu tranh phức tạp, dai dẳng và đầy thử thách Vấn đềxác lập vai trò DNVVN trong nền kinh tế cũng không nằm ngoàicuộc đấu tranh phức tạp đó

Trong chiều sâu của lịch sử xã hội Việt Nam, một xã hội nôngnghiệp, nhà doanh nghiệp vốn không đợc coi trọng Tâm lý trọngnông, ức thơng có cội rễ từ trong lòng xã hội nông nghiệp trồnglúa nớc Thơng nhân ở vị trí thấp nhất trong bậc thang xã hội: sĩnông công thơng, mặc dù ngời ta vẫn phải cho rằng “phi thơng bấtphú” ấy thế nhng, trong xã hội tiểu nông, một nền thơng nghiệp

đích thực cha đủ điều kiện để khẳng định vị trí của nó Một khi mànăng xuất của nền canh tác nông nghiệp còn quá thấp, “tay làmhàm nhai”, cha có hàng hoá thặng d, thì trong những chặng đờngdài của lịch sử,nghề nông, trồng lúa, nghề tiểu thủ công làm ra vậtliệu tiêu dùng và sản xuất, nghề buôn bán nhỏ vẫn chỉ quanh quẩntrong cái làng tiểu nông, vơn ra xa hơn chút là cái chợ tổng, chợhuyện họp theo phiên Với sự chi phối của quan điểm “nông vibản”, hộ gia đình tiểu nông thờng là nông công thơng kết hợp, thìnông vẫn là chủ đạo, tiểu thủ công làm ra vật dụng trong thời giannông nhàn và thơng nghiệp chỉ là nghề “chạy chợ” kiếm thêm thu

Trang 4

nhập dành cho phụ nữ Tuy vậy, chợ quê cũng là nơi thu hút cácsản phẩm nông nghiệp và nghề phụ do hộ tiểu nông trực tiếp sảnxuất, mang ra chợ để bán và cũng để mua Trên cái nền kinh tế tiểunông ấy, những ảnh hởng của hệ t tởng nho giáo đã làm đậm nétthêm tâm lý trọng nông, ức thơng, miệt thị thơng nhân trong việc

đề cao chữ “nghĩa” đối lập với chữ “lợi”, cổ vũ cho thói hamchuộng h danh mà ít chú tâm vào thực nghiệp Trói chặt ngời nôngdân vào ruộng đất, vào làng xã để đóng thuế, đi phu, đi lính đểphục vụ cho nhà nớc phong kiến, việc trọng nông tất yếu dẫn đến

ức thơng Bởi vì, trong thực tế, thơng nhân là ngời khó bị trói buộcnhất, cũng là lực lợng để làm xuy yếu giềng mối, kỷ cơng của xãhội tiểu nông Để chống lại cái đó hệ t tởng của nho giáo đã tìmmọi cách hạ thấp vai trò của họ, coi buôn bán là nghề hèn hạ KhiViệt Nam bớc vào ánh hào quang của chiến thắng ngoại xâm saunăm 1954 và rồi sau năm 1975, vai trò của nhà doanh nghiệp vẫn

bị miệt thị Họ đợc nhắc đến khá miễn cỡng trong một số nghĩa cửcủa một vài ngời trong “tuần lễ vàng” sau cách mạng tháng tám đã

đa tài sản của họ ra hiến cho công quỹ và cu mang các cán bộ cáchmạng và rồi sự đền bù cho nghĩa cử của họ thì quá khiêm tốn Điều

đơn giản, nhà doanh nghiệp thờng đợc quy thành phần gắn liền vớigiai cấp t sản, đối tợng cần đánh đổ trong sự nghiệp cách mạng.Những quá trình “công ty hợp doanh” cải tạo t sản ở miền Bắc saunăm 1954 và đợc lắp lại ở miền Nam sau năm 1975 với chủ trơngcải tạo công thơng nghiệp t doanh trên lý thuyết cũng nh thực tế đã

đặt nhà doanh nghiệp vào bên kia chiến tuyến trong thời bình

Mô hình kinh tế theo cơ chế kế hoặch hoá tập trung và bao cấp loại

bỏ thị trờng đơng nhiên không thể có chỗ cho vai trò của nhàdoanh nghiệp mà theo một số nhà lý luận và nhà quản lý là “hiệnthân của giai cấp t sản đang cố ngóc đầu dậy” Cuộc khủng khoảngkinh tế và xã hội tầm trọng và kéo dài báo hiệu sự sụp đổ của môhình đó, đã dẫn đến việc hình thành đờng lối đổi mới của nền kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trờng theo

định hớng xã hội chủ nghĩa

Vai trò và vị trí của DNVVN trong quá công nghiệp hoá-hiện đạihoá(CNH-HĐH) đất nớc trong nền kinh tế đang chuyển đổi nhViệt Nam hiện nay, DNVVN đóng vai trò quan trọng trong tạocông ăn việc làm và thu nhập cho dân c Theo thống kê của Bộ Kếhoặch và Đầu t, hiện nay nớc ta có gần 1200000 doanh nghiệp nhànởc trong đó DNVVN chiếm 65,9% Chỉ tính riêng khối doanhnghiệp đầu t nớc ngoài là 8796 doanh nghiệp thì DNVVN chiếm33,6% Trong 750000 cơ sở kinh doanh đăng ký theo luật công ty

và luật doanh nghiệp t nhân thì 94,6% số công ty TNHH và 99,4%doanh nghiệp t nhân có quy mô vừa và nhỏ Tỷ trọng của DNVVNtheo thống kê mới nhất của Bộ Kế hoặch và Đầu t đa ra trên báo

“Xã hội và gia đình” (số ra ngày 10/1/2003) là chiếm từ 29%-30%

Trang 5

trong GDP của cả nớc Các hộ kinh doanh cá thể trong côngnghiệp và thơng mại đã thu hút đợc trên 8,5 triệu ngời chiếmkhoảng 13% tổng số lao động của khu vực này ở khu vực nôngthôn, các hộ tiểu thủ công nghiệp và các hộ sản xuất nghề phụ đãtạo ra khoảng 5,6-5,7 triệu việc làm cho ngời lao động Riêng vềkinh tế hợp tác, hình thức này đã tạo ra gần 10 triệu lao động Nhvậy mô hình DNVVN đặc biệt có ý nghĩa trong những ngành nghềtruyền thống, tiểu thủ công … đồng thời đây cũng là mô hình làm đồng thời đây cũng là mô hình làm

ăn có hiệu quả nhờ vào chi phí thấp, đầu t ban đầu nhỏ Trong 125doanh nghiệp trong ngành công nghiệp điện-điện tử, DNVVNchiếm tới 75%, cha kể đến nhiều doanh nghiệp thuộc một sốngành bổ trợ Ngoài ra các DNVVN có mặt trong nhiều lĩnh vựccông, nông nghiệp, thơng mại và dịch vụ khác nh sửa chữa ô tô,sản xuất phụ tùng thay thế cho cơ khí nông nghiệp, máy xây dựng,phụ tùng xe hai bánh, hàng may mặc, đồ nội thất, hoá nhựa… đồng thời đây cũng là mô hình làm

II hiện trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tại các DNVVN các cán bộ quản trị doanh nghiệp đều trởngthành từ thực tế và học hỏi kinh nghiệm từ bạn hàng, chỉ một lợngnhỏ đợc đào tạo qua các trờng lớp chính quy về quản trị doanhnghiệp và quản lý kinh tế Đứng trớc tình hình thực tế nh vậy, lựclợng quản lý tại các doanh nghiệp này có nhu cầu lớn về đào tạo.Cha kể lực lợng lao động của các doanh nghiệp này hầu nh không

đào tạo gắn hạn ra làm thợ tình trạng này đã gây không ít khó khăncho các DNVVN hiện nay Trình độ công nghệ, chất lợng sảnphẩm và thị trờng là những yếu tố quyết định sự tồn tại và pháttriển của một doanh nghiệp, nhng DNVVN khó có khả năng đầu tcông nghệ hiện đại đồng thời việc tái đầu t vào nâng cao côngnghệ lại càng khó khăn Do vậy mà chất lợng sản phẩm thấp, tínhcạnh tranh của sản phẩm không cao dẫn đến thị trờng tiêu thụ chỉ

bó hẹp trong địa bàn chật hẹp sức mua thấp Chính các nguyênnhân này mà DNVVN không có khả năng cạnh tranh với cácdoanh nghiệp lớn Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn, một sốDNVVN vẫn có khả năng vơn lên và có khả năng tham gia xuấtkhẩu, nhng thực tế họ đã không tự mình tìm đợc khách hàng, kếtquả là sản phẩm của họ hiện đợc xuất khẩu sang nhiều nớc song

đều phải qua các công ty thơng mại nớc ngoài Do vậy tình trạng

bị ép giá là không thể tránh khỏi, điềy này gây thiệt hại đáng kểcho loại hình doanh nghiệp này Thực tế trong những năm qua chothấy một số các sản phẩm xuất khẩu theo hạn ngạch các công ty tnhân đã đợc tham gia đấu thầu hạn ngạch song các DNVVN với sốvốn ít và cha nhiều kinh nghiệm nên khó có khả năng thắng thầu,

mà ngay cả khi có khách hàng nhập khẩu các DNVVN vẫn khókhăn trong việc tìm nguồn vốn hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu

Trang 6

Tình trạng thiếu vốn là nghiêm trọng và đáng lo ngại, nếu nh vốn

lu động của DNVVN chỉ đạt 20% so với nhu cầu, thì vốn đăng kýcủa hàng vạn DNVVN chỉ vẻn vẹn 17 tỷ đồng Đa số các DNVVNhiện không có đủ điều kiện thế chấp theo yêu cầu của ngân hàng

để vay vốn, tỷ trọng vốn ngân hàng của DNVVN chỉ chiếm 20%nhu cầu vốn hoạt động Nhìn chung các DNVVN đều dựa vàonguồn vốn tự có là chính hoặc huy động vốn từ ngời thân, ngờiquen… đồng thời đây cũng là mô hình làm việc các DNVVN không sử dụng đợc nguồn vốn tín dụng

là hạn chế lớn nhất với sự phát triển của loại hình doanh nghiệpnày

Trình độ công nghệ, trang thiết bị máy vừa cũ, vừa lạc hậu không

đồng bộ đã hạn chế lớn khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

ở nớc ta

Lực lợng công nhân kỹ thuật và lao động lành nghề đợc đào tạocòn quá ít, hạn chế cả về trình độ hiểu biết lại biến động nên việcquản lý và sử dụng lao động ở các DNVVN vô cùng khó khăn,cộng với đội ngũ cán bộ thiếu kỹ năng quản lý dẫn đến hiệu quảhoạt động của do DNVVN không cao, năng suất lao động thấp, thunhập không ổn định

Các chính sách vĩ mô và vi mô nhằm hỗ trợ các DNVVN còn hạnchế, nặng về hình thức, thiếu hớng dẫn cụ thể nh chính sách đốivới doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ chính sách vay vốntín dụng với lãi suất u đãi nhằm giải quyết việc làm cho ngời lao

động Các hệ thống thông tin, các dịch vụ t vấn về mặt hàng, kháchhàng, thị trờng, công nghệ, thiết bị, luật pháp, thông lệ quốc tế vềkinh doanh… đồng thời đây cũng là mô hình làmhầu nh cha đáp ứng đợc nhu cầu của các DNVVN.Những khó khăn phiền toái đối với các DNVVN xung quanh cácthủ tục về thuế, hải quan, nhà đất… đồng thời đây cũng là mô hình làm vẫn còn là lỗi lo lắng, bănkhoăn của các doanh nghiệp hiện nay

Còn một trở ngại đáng kể cho các DNVVN đó là các doanh nghiệpnày cha có đủ các kiến thức và thông tin cần thiết về ký hợp đồng

và giao dịch theo thông lệ quốc tế, Việt Nam cũng cha có nhiềuchuyên gia trong lĩnh vực này, điều này dẫn đến các DNVVN phảimất chi phí cao cho các chuyên gia hoặc cho các nhà t vấn nớcngoài, và những khoản chi phí này chắc chắn lại cộng vào chi phíxuất khẩu

III Xét về mặt hiệu quả kinh tế.

Phát triển các DNVVN cùng với các doanh nghiệp hiện đạiquy mô lớn là một trong nhiều phơng sách tốt nhằm nâng cao hơnviệc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho sản xuất, do đó nângcao sản lợng, thu nhập thực tế và mức sống Tuy nhiên cần thấyrằng trong thực tế, phần lớn các DNVVN ở nớc ta không đạt đợcmức hiệu quả kinh tế xét theo tiêu chuẩn của công nghiệp hiện đại

Trang 7

Khi hoạt động dới dạng thủ công và gia đình, các DNVVN này ờng chỉ sử dụng những kỹ thuật lạc hậu và sản xuất ra những sảnphẩm kém chất lợng, khó cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khuvực và quốc tế hiện nay Ngợc lại có một số DNVVN hoạt động cóhiệu quả Do lợi thế quy mô nhỏ và vừa nên chúng rất linh độngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh đáp ứng kịp thời nhu cầu củakhách hàng, có mối quan hệ gắn bó với ngời lao động và với kháchhàng, cũng nh không cần đến một bộ máy tổ choc cồng kềnh,không đòi hỏi phải có các nhà quản trị đợc huấn luyện chuyênmôn cao, do đó cắt giảm đáng kể các khoản chi phí chung Điềunày cho thấy các DNVVN có thể đạt hiệu quả hoạt động cao, nếuchúng ta giải quyết đợc các lực cản ở cả hai mặt vi mô và vĩ mô ởtầm vĩ mô, các DNVVN cần lựa chọn đúng sản phẩm và quá trìnhsản xuất, bảo đảm chất lợng sản phẩm, nâng cao kỹ năng quản trịdoanh nghiệp Về mặt quản lý vĩ mô, nhà nớc cần xây dựng các

th-định chế dịch vụ hỗ trợ các DNVVN về vốn tín dụng, về thông tinthị trờng, tìm kiếm cơ hội thị trờng cho các DNVVN đang hoạt

động có hiệu quả Ngoài ra các doanh nghiệp hoạt động cha hiệuquả, nhà nớc cần thực hiện bớc chuyển đổi rất cơ bản đối với cácdoanh nghiệp này Thay vì là ngời cạnh tranh đầy thua thiệt vớicác doanh nghiệp lớn, nhà nớc cần có các chính sách biến chúngtrở thành ngời trợ thu, thành các xí nghiệp vệ tinh hay nhà cungcấp các dịch vụ hiện đại cho các doanh nghiệp lớn trong nền kinhtế

Liên kết giữa các DNVVN với doanh nghiệp lớn nhằm nâng caohiệu xuất của hệ thống công nghiệp Thực tiễn phát triển kinh tếcủa các nớc cho thấy rằng một nền kinh tế sản xuất hiện đại sẽkhông hoàn chỉnh và không hiệu quả, nếu chúng không có cácdoanh nghiệp lớn lẫn những DNVVN Trong cơ cấu sản xuất củamình, các doanh nghiệp lớn ở nớc ta thờng hay đảm đơng hay tiếnhành luôn những hoạt động phụ thuộc Chẳng hạn thành lập độivận tải, đội xây dựng cơ bản … đồng thời đây cũng là mô hình làm các hoạt động này làm tăng chi phí

cố định, do đó làm giảm hiệu quả kinh tế so với các doanh nghiệptơng tửơ các nớc phát triển ở các nớc phát triển, các doanh nghiệplớn sẽ sử dụng dịch vụ do các DNVVN mang lại Ngoài ra cácDNVVN sẽ có thể cung cấp các chi tiết hay phụ tùng với giá rẻhơn là doanh nghiệp lớn tự làm Mối liên kết này diễn ra theo haichiều, theo hớng là, những doanh nghiệp lớn cung cấp nguyên liệu,nguyên liệu sơ chế, thành phẩm để phân phối và lặp đặt, máy móc,công cụ, các loại thiết bị Các DNVVN có thể thầu xây dựng cáccơ sở sản xuất và trang bị, cung cấp thiết bị, chế tạo các bộ phận

đơn giản hay chế tạo các thiết bị gắn sẵn trong các sản phẩm côngnghiệp, cung cấp các dịch vụ côngt nghiệp nh lắp đặt, sửa chữa,bảo trì và các dịch vụ khác hoặc cùng nhau hợp tác sản xuất : cácdoanh nghiệp lớn sản xuất hàng tiêu dùng hay t liệu sản xuất đến

Trang 8

một công đoạn nào đó, các công đoạn còn lại sẽ dành cho cácDNVVN(khâu hoàn thiện sản phẩm, dị biến hoá sản phẩm theoyêu cầu riêng… đồng thời đây cũng là mô hình làm) hay doinh nghiệp lớn tập trung vào sản xuất hàngloạt giống nhau, còn các DNVVN nhằm vào việc cá biệt hoá sảnphẩm đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của những phần khúc thịtrờng nhỏ.

Khi hoạt động tích cực, lành mạnh, một trong những đóng gópquan trọng của khu vực DNVVN là phát triển nhân tố con ngời.Các DNVVN chẳng những cung cấp sản phẩm cho nền kinh tế, màcòn tác động nh một vờn ơm tài năng kinh doanh và tài năng quảntrị, một yếu tố đang thiếu thốn nghiêm trọng nơi các nớc đang pháttriển, đặc biệt là ở nớc ta Một khi nhà nớc thiết lập đợc các khung

định chế hỗ trợ hữu hiệu t vấn kỹ thuật, vốn tín dụng, kỹ năngquản trị… đồng thời đây cũng là mô hình làm để giúp các DNVVN phát triển vững chắc, và một khitạo lập đợc sân chơi cạnh tranh bình đẳng, khu vực DNVVN sẽ lànơi sản sinh ra các nhà doanh nghiệp và nhà quản lý tài năng, nhlịch sử phát triển kinh tế các nớc đã chứng tỏ Các chủ DNVVN sẽtrở thành những chủ doanh nghiệp hay nhà công nghiệp lớn và sẽ

đảm đơng những vị trí xã hội quan trọng Họ đã đợc tôi luyện theomột trình tự từ giản đơn đến phức tạp, từ thủ công hay bán thủcông sang hiện đại, từ thị trờng trong nớc đên thị trờng nớc ngoài,

do đó kinh nghiệm và kiến thức kinh doanh của họ là vốn quýchop nền kinh tế nói chung Cố nhiên, trong thời hiện đại, cónhững ngành phải khởi đầu ngay bằng quy mô lớn, nh luyện thép,

xi măng, đóng tàu… đồng thời đây cũng là mô hình làm nhng các nhà kinh doanh năng động và cácnhà quản trị nhiều tài năng của DNVVN vẫn là những nhân tố bổsung cực kỳ quan trọng cho toàn cảnh của bức tranh công nghiệphoá và sự phát triển đất nớc

DNVVN và vấn đề cấu tạo vốn Trong khu vực các DNVVN hoạt

động mạnh mẽ từng bớc hiện đại hoá, và tăng trởng ta không nênxem nhẹ yếu tố cấu tạo vốn con ngời Đây là trờng học tinh thầnkinh doanh, giúp sản sinh ra những con ngời suy nghĩ cách đầu tvốn sao cho có hiệu quả nhất Các DNVVN có thể cung cấp kinhnghiệm vừa học vừa làm cho nhiều ngời hơn, thuộc nhiều tầng lớpxã hội hơn là các doanh nghiệp lớn Do đó một trong những điểmquan trọng của chính sách hỗ trợ DNVVN là tạo cho các nhàDNVVN có cơ hội học tập Ngoài ra các DNVVN cũng góp phầnhình thành nguồn vốn vật chất Nguồn vốn này có thể là quỹ riêngcủa chủ doanh nghiệp, các khoản thu nhập đợc dành để tái đầu t,hay các khoản vay mợn từ ngời thân, bạn bè Phần lớn vốn của cácDNVVN không phải là vốn huy động thông qua các định chế tiếtkiệm truyền thống, mà là những khoản tiết kiệm trực tiếp đợc chủdoanh nghiệp đầu t trực tiếp Nếu không có động lực kích thích đốivới chủ DNVVN nguồn vốn này không bao giờ biến thành nguồnvốn sản xuất Nơi các quốc gia có các định chế trung gian về tài

Trang 9

chính, tiền tệ phát triển ở mức cao Vai trò của nguồn vốn này cóthể nhỏ bé Nhng nơi những quốc gia mà các định chế này đangcòn non trẻ và yếu kém, nh ở nớc ta nguồn vốn vật chất này cực kỳquan trọng.

DNVVN trong vấn đề tiết kiệm vốn, trong các nớc đang phát triển,vốn là nguồn lực khan hiếm nghiêm trọng Do đó yêu cầu tiết kiệmvốn là một trong những yêu cầu hàng đầu Trong quá trình gópphần tiến lên công nghiệp hoá đất nớc, các DNVVN có thể hoànthành nhiệm vụ của mình với việc tiết kiệm vốn, nghĩa là phát triểnlên sản xuất đợc nhiều hàng hoá hơn, và tạo ra nhiều công ăn việclàm hơn Không phải tất cả các DNVVN đều tiết kiệm đợc vốn.Một số DNVVN sử dụng nhiều lao động đồng thời lại trang bịnhiều máy móc do việc sản xuất sản phẩm và quy trình kỹ thuậtbắt buộc, do đó không tiết kiệm đợc vốn Một số doanh nghiệpkhác trang bị những máy móc thiết bị không hoạt động đồng đều,không hiệu quả, kiến cho chi phí về máy móc trong giá thành sảnphẩm cao, cũng không phải là doanh nghiệp tiết kiệm đợc vốn.Ngợc lại những DNVVN có những nhà máy nhỏ, có thời gian hoạt

động gắn hơn những doanh nghiệp lớn, có thể đa vào sản xuất sớmhơn, không để xảy ra tình trạng máy móc thiết bị nhàn rỗi Ngoài

ra những DNVVN có thể sử dụng máy móc thiết bị không đồng

bộ, hay mua lại máy móc đã qua sử dụng, do đó chúng có khảnăng tiết kiệm vốn Thêm vào đó nếu các DNVVN có lỡ ra quyết

định sai lầm về mục đích sản xuất, thời điểm và địa điểm sản xuất,phơng thức sản xuất thì sai lầm này cũng không trả giá đắt nh cácdoanh nghiệp lớn Một doanh nghiệp lớn quyết định sai lầm tronngcác lĩnh vực trên có thể dẫn đến lãng phí hàng trăm tỉ, thậm tríhàng nghìn tỉ đồng vốn Trong khi đó các DNVVN do chỉ đầu tvốn tăng dần từng bớc, nên dễ phát hiện sớm các sai lầm, khôngphải trả giá đắt

DNVVN trong vấn đề giải quyết công ăn việc làm trong thập niênvừa qua, các số thống kê của nớc ta cho thấy các doanh nghiệp lớn

đã không thu hút thêm đợc lao động, do hậu quả của việc giải thể,xác nhập của quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nớc Chỉ khuvực t nhân (tuyệt đại đa số là các DNVVN) đã thu hút thêm lao

động xã hội, góp phần giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức cao ởnớc ta

Phân bố quá trình phát triển công nghiệp rộng khắp về mặt địa lý.Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong việc phân bố giữa cácvùng với nhau, cũng nh bên trong vùng Tuy nhiên các DNVVNchỉ là một trong những thành tố chiến lợc phân bố công nghiệptheo địa bàn, lãnh thổ, và thờng chúng không phải là thành tố quantrọng Trong quá trình phát triển công nghiệp hoá nông thôn của n-

ớc ta sẽ là thoát ly thực tế nếu chỉ nhấn mạnh đến những địa bànthuần tuý nông thôn để bắt đầu xây dựng các DNVVN vì ở đấy ch-

Trang 10

a đủ các điều kiện cơ bản về hạ tầng cơ sở Do đó trong điều kiệnhiện tại của nớc ta, nên chú ý phân bố các DNVVN ở các khu thịtrấn nằm ở vị trí trung gian giữa các khu đô thị lớn và các khunông nghiệp kém phát triển, sau đó theo thời gian mới phát triểnloang dần sang các khu nông thôn và vùng sâu vùng xa.

IV Sự cần thiết khách quan phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình công nghiệp hoá ở việt nam.

Các doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ có những lợi thế Chúnggắn liền với các công nghệ trung gian, là cầu lối giữa công nghệtruyền thống với công nghệ hiện đại Qui mô nhỏ có tính năng

động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh Các DNVVN dễdàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng vớicuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Chỉ cần lợng vốn

đầu t ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh DNVVN có tỷsuất vốn đầu t trên lao động thấp hơn nhiều so với doanh nghiệplớn, cho nen chúng có hiệu suất lao động cao hơn hệ thống tổchức sản xuất và quản lý ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt, côngtác điều hành mang tính trực tiếp Quan hệ giữa những ngời lao

độngvà ngời quản lý trong các DNVVN khá chặt chẽ, sự đình trễ,thua lỗ, phá sản của các DNVVN có ảnh hởng rất ít hoặc khônggây lên khủng khoảng kinh tế-xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hởngbởi các cuộc khủng khoảng kinh tế dây chuyền

Bên cạnh những lợi thế quan trọng, DNVVN cũng có những bất lợi

so với doanh nghiệp lớn, nh nguồn vốn hạn chế, cơ sở vật chất kỹthuật, trình độ thiết bị công nghệ thờng yếu kém, lạc hậu Khảnăng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rấtnhiều, trình độ quản lý bị hạn chế Các DNVVN có năng suất lao

động và sức cạnh tranh kinh tế thấp hơn nhiều so với các doanhnghiệp lớn

Vai trò và tác động kinh tế-xã hội của DNVVN rất lớn Có vị tríquan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số về mặt số lợng trong tổng sốcác cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh ở hầuhết các nớc, số lợng các DNVVN chiếm khoảng trên dới 90% tổng

số các doanh nghiệp Tốc độ gia tăng số lợng các DNVVN nhanhhơn các doanh nghiệp lớn ở nớc ta hiện cha có số liệu thống kê về

số lợng các doanh nghiệp Việt Nam một cách chính thức, nhnghầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, các DNVVN Việt Namcũng chiếm khoảng 80-90% tổng số doanh nghiệp

Các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự tăng trởng của nềnkinh tế Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhậpquốc dân của các nớc trên thế giới, bình quân chiếm khoảng trêndới 50% GDP ở mỗi nớc, ở Việt Nam, theo đánh giá của viện

Trang 11

nghiên cứu quản lý kinh tế TW, thì hiện nay, khu vực DNVVN củacả nớc chiếm khoảng 29-30% GDP.

Tác động lớn nhất đến kinh tế-xã hội của các DNVVN là giảiquyết một số lợng lớn chỗ việc làm cho dân c, làm tăng thu nhậpcho ngời lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo Xét theo luận

điểm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho ngời lao động, thì khuvực này vợt trội hơn hẳn các khu vực khác, góp phần giải quyếtnhiều vấn đề xã hội bức xúc ở hầu hết các nớc, DNVVN tạo việclàm cho khoảng từ 70-80% lao động trong các ngành công nghiệp

và dịch vụ Đặc biệt trong nhiều thời kỳ, các doanh nghiệp lớn sathải công nhân thi khu vực DNVVN lại thu hút thêm lao động mớicao hơn khu vực doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, cũng theo đánhgiá của viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, thì số lao động củacác DNVVN trong các lĩnh vực phi nông nghiệp hiện có khoảnghơn 9 triệu ngời, chiếm tới khoảng 79,2% tổng số lao động phinông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lợng lao động trong cả n-ớc

DNVVN góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị ờng Do lợi thế của qui mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạotrong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kếthợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mền dẻo, hoà nhịp với đòi hỏiuyển chuyển của nền kinh tế thị trờng, cho nên các DNVVN có vaitrò to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị tr-ờng Khu vực DNVVN thu hút đợc khá nhiều vốn ở trong dân, dotính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào các ngõ ngách, bản làng vàyêu cầu vốn ban đầu số lợng không nhiều, cho nên các DNVVN cóvai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ,nhàn rỗi trong các tầng lớp dân c đầu t vào sản xuất kinh doanh.Chúng tạo lập dần tập quán đầu t vào sản xuất kinh doanh và hìnhthành khu vực “mồi” cho việc thực hiện có kết quả vấn đề huy

tr-động vốn của dân c theo luật khuyến khích đầu t trong nớc

Các DNVVN có vai trò to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn sự phát triển của cácDNVVN ở nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc

đẩy các ngành thơng mại-dịch vụ phát triển Sự phát triển của cácDNVVN ở thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vựccông nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nôngnghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân Các DNVVN góp phần đáng

kể vào việc thực hiện đô thị hoá phi tập trung và thực hiện đợc

ph-ơng châm “ly nông bất ly hph-ơng” Sự phát triển của các DNVVN ởnông thôn sẽ thu hút những ngời lao động thiếu hoặc cha có việclàm và có thể thu hút số lợng lớn lao động thời vụ trong các kỳnông nhàn vào hoặt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lợng lao

động làm nông nghiệp chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ,

Trang 12

nhng vẫn sống ngay tại quê hơng bản quán, không phải di chuyển

đi xa, thực hiện phơng châm “ly nông bất ly hơng” Đồng hành với

nó là diễn ra xu hớng hình thành những khu vực khá tập trung cáccơ sở công nghiệp và dịch vụ nhỏ ngay ở nông thôn, tiến dần lênhình thành những thị tứ, thị trấn, là hình thành các đô thị nhỏ đanxen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung

Các DNVVN là nơi ơm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đàotạo rèn luyện các nhà doanh nghiệp Kinh doanh qui mô nhỏ sẽ lànơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi tr-ờng kinh doanh Bắt đầu kinh doanh từ qui mô nhỏ và thông qua

điều hành quản lý kinh doanh qui mô vừa và nhỏ, một số nhàdoanh nghiệp sẽ trởng thành lên thành các nhà doanh nghiệp lớntài ba, biết đa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển Cáctài năng kinh doanh sẽ đợc ơm mầm từ trong các DNVVN

Tính tất yếu khách quan của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển củaDNVVN Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắnlièn với sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp Giai

đoạn tiền sử (C.Mác gọi là sản xuất hàng hoá giản đơn) không có

sự phân biệt giữa giới chủ và ngời thợ Ngời sản xuất hàng hoá vừa

là ngời chủ sở hữu các t liệu sản xuất, vừa là ngời lao động trựctiếp, vừa là ngời điều khiển công việc, vừa là ngời trực tiếp mangsản phẩm của mình ra trao đổi trên thị trờng Đó là các doanhnghiệp cá thể, doanh nghiệp gia đình, còn gọi là doanh nghiệp cựcnhỏ Trong thời kỳ hiện đại thông thờng đại đa số những ngời khimới trởng thành để đi làm việc đợc, đều muốn thử sức mình trongnghề kinh doanh Với một số vốn trong tay ít ỏi, với một trình độtri thức nhất điịnh lĩnh hội đợc trong các trờng chuyên nghiệp, bắt

đầu khởi nghiệp, phần lớn họ đều thành lập doanh nghiệp nhỏ củariêng mình, tự sản xuất kinh doanh Trong sản xuất kinh doanh cómột số ngời gặp vận may và đặc biệt là nhờ tài ba, biết chip thờicơ, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khéo điều hành và tổ chức sắpxếp công việc, cần cù, chịu khó, tiết kiệm … đồng thời đây cũng là mô hình làm đã thành đạt, ngàycàng giàu lên, tích luỹ đợc nhiều của cải, tiền vốn, thờng xuyên mởrộng qui mô sản xuất, kinh doanh, đến một giai đoạn nào đó, lực l-ợng gia đình không đảm đơng hết các công việc, cần phải thuêthêm ngời làm và trở thành ông chủ Ngợc lại, một số bộ phận ngờisản xuất hàng hoá nhỏ khác, hoặc do không gặp vận may trong sảnxuất kinh doanh và đời sống, hoặc do kém cỏi không biết chớp thờicơ, không có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không biết tính toán quản

lý và điều hành công việc, hoặc thiếu cần cù chịu khó, lại lãng phítrong chi tiêu… đồng thời đây cũng là mô hình làm đã dẫn đến thua lỗ triền miên, buộc phải bán t liệusản xuất, đi làm thuê cho ngời khác Những giai đoạn đầu các ôngchủ và những ngời thợ cùng trực tiếp lao động với nhau và nhữngngời thợ làm thuê thờng là bà con họ hàng và láng giềng của ôngchủ, về sau mở rộng đến ngời hàng xứ ở xa đến

Trang 13

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, một số ngời thành đạt đãphát triển doanh nghiệp của mình, bằng cách mở rộng qui mô sảnxuất kinh doanh và nh vậy nhu cầu về vốn sẽ đòi hỏi nhiều hơn.Nhu cầu về vốn ngày càng tăng, nhằm nâng cao năng xuất và hiệuquả sản xuất kinh doanh đã thôi thúc các nhà kinh doanh, hoặc làmột số ngời cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp liên doanh,hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần Bằng các hìnhthức liên kết ngang, dọc hoặc hỗn hợp, nhiều tập đoàn kinh tế,nhiều doanh nghiệp lớn hình thành và phát triển.

Nền kinh tế của một quốc gia là do tổng thể các doanh nghiệp lớn,

bé tạo thành phần đông các doanh nghiệp lớn trởng thành, pháttriển từ các DNVVN và thông qua liên kết với các DNVVN Quiluật đi từ nhỏ đến lớn là con đờng tất yếu về sự phát triển bền vữngmang tính phổ biến của đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh

tế thị trờng và trong quá trình công nghiệp hoá Đồng thời sự tồntại đan xen và kết hợp các loại qui mô doanh nghiệp làm cho nềnkinh tế của mỗi nớc khắc phục đợc tính đơn điệu, sơ cứng, tạo nêntính đa dạng, phong phú, linh hoạt, vừa đáp ứng các xu hớng pháttriển đi lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thị trờng trong

điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đảm bảotính hiệu quả chung của nền kinh tế Để công nghiệp hoá, hiện đạihoá không thể không có các doanh nghiệp qui mô lớn, vốn nhiều,

kỹ thuật hiện đại làm nòng cốt trong từng ngành, nhằm tạo ra sứcmạnh để có thể cạnh tranh thắng lợi trên thị trờng quốc tế Ngoàiviệc xây dựng các doanh nghiệp lớn thật cần thiết, chúng ta cònphải thực hiện những biện phát làm tăng khả năng tích tụ và tậptrung của các DNVVN, tạo điều kiện cho chúng có thể nhanhchóng vơn lên trở thành những doanh nghiệp lớn Sự kết hợp cácloại qui mô doanh nghiệp trong từng ngành, cũng nh trong toànnền kinh tế, trong đó nhấn mạnh đến phát triển các DNVVN làphù hợp với su thế chung và thích hợp với các điều kiện xuất phát

điểm về kinh tế xã hội ở nớc ta hiện nay Vì vậy, phát triển cácDNVVN với các công nghệ hiện đại thích hợp nhằm thu hút nhiềulao động là phơng hớng chiến lợc quan trọng của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

V Những điều kiện kinh tế xã hội đảm bảo phát triển nhanh, mạnh và có hiệu quả đối với các DNVVN trong quá trình công nghiệp hoá.

1 về thị trờng

đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệpthì điều kiện để tồn tại và phát triển đầu tiên là nhân tố thị trờng.Thị trờng là yếu tố mang tính tổng hợp nhất, là nhân tố quan trọnghàng đầu tạo ra môi trờng kinh doanh thuận lợi cho các doanh

Trang 14

nghiệp Trong đó, điều kiện về thị trờng tiêu thụ sản phẩm, thị ờng đầu ra là yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định sự thành bại,

tr-sự tồn tại, phát triển thịnh vợng hy thua lỗ, phá sản của các doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trờng khó khăn lớn nhất của cácDNVVN nớc ta hiện nay chính là thị trờng tiêu thụ sản phẩm Với

đặc điểm và u thế của mình, định hớng chiến lợc ngắn hạn, trớcmắt của các DNVVN là tập trung vào các thị trờng “ ngách”, nhỏ

lẻ, địa phơng và đặt trọng tâm vào những sản phẩm hàng hoá cógiá bán thấp, những định hớng chiến lợc dài hạn cần phải chú ý tớithị trờng của các địa phơng khác và tới các thị trờng quốc tế, hớngvào những sản phẩm hàng hoá có chất lợng và giá trị kinh tế cao.Theo nghĩa đầy đủ, thị trờng bao hàm cả thị trờng các yếu tố đầuvào đó là thị trờng cung ứng nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ,thị trờng vốn, thị trờng sức lao động và thậm chí bao hàm cả thị tr-ờng bất động sản Hiện nay, tuy không phải là khó khăn quantrọng nhất, nhng các DNVVN nớc ta cũng đang gặp nhiều khókhăn đối với các thị trờng yếu tố đầu vào, cản trở không ít tới quátrình phát triển của các DNVVN Khắc phục khó khăn này cũng lànhững đòi hỏi cấp thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triểnnhanh, mạnh của các DNVVN ở nớc ta

2 về vốn tài chính.

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần có vốn tài chính.Qua sự vận động luân chuyển của vốn có thể “bắt mạch” đợc trạngthái hoạt động của các doanh nghiệp Điều kiện về vốn của cácDNVVN Việt Nam hiện nay rất hạn hẹp và gặp khó khăn rất lớn

Sự thiếu vốn của chúng đã và đang diễn ra trên bình diện khárộng Bởi vì phải qui mô vốn tự có của chúng đều rất nhỏ, hạn hẹp,không đủ sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cóchất lợng và hiệu quả, đặc biệt đối với các doanh nghiệp muốn mởrộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cấp chất lợng thiết bịcông nghệ, sản phẩm Mặt khác, thị trờng vốn dài hạn, thị trờngchứng khoán, cơ bản của nớc ta cha có Và nếu có, thì điều kiệntham gia thị trờng chứng khoán của các DNVVN Việt Nam là hếtsức khó khăn và hiếm hoi đồng thời, khả năng và điều kiện tiếpcận các nguồn vốn trên thị trờng tín dụng đối với các DNVVN ởnớc ta hiện nay còn bị hạn chế và gặp khó khăn lớn, là do: không

đủ tài sản thế chấp, mức lãi suất cho vay còn quá cao so với mứclợi nhuận còn thu đuợc; khối lợng cho vay ít, thời hạn cho vay quángắn, các thủ tục rờm rà, phiền hà; hình thức và thể chế tín dụng,nhất là ở khu vực nông thôn, còn nghèo nàn, đơn điệu và hiệu lựcpháp lí không cao Những khó khăn đó rất cần đợc giải quyết tháo

gỡ dể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất-kinh doanh

và phát triển các DNVVN

Ngày đăng: 10/04/2013, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w