Giáo trình Tài chính quốc tế được biên soạn nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh nói chung, sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng nói riêng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Giáo trình được kết cấu thành 9 chương và chia làm 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: tài chính quốc tế; thị trường tài chính quốc tế; thị trường ngoại hối; thanh toán quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên)
G072.0026
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Bộ MÔN NGẰN HÀNG - CHỨNG KHOÁNPGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên (Chủ biên)
NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ - 2010
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tài chính quốc tế cũng giữ vai trỏ ngày càng quan trọng hơn trong sự phát triến của moi quốc gia nói riêng và cộng đồng kinh tế thế giới nói chung Vì vậy, nhận thức đầy đủ các quan hệ tài chính quốc tế và sự vận hành của chúng trong mối quan hệ với tổng thể các quan hệ kinh tế tài chỉnh khác là yêu cầu cần thiết đổi với một cán bộ quản lí kinh tế.
Xuất phát từ nhận thức nêu trên, Bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại tổ chức biên soạn Giáo trĩnh Tài chính Quốc tế nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế và Quàn trị kinh doanh nói chung, sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng nói riêng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này.
Nội dung giáo trình được kết cấu thành 9 chương:
Chương 1: Tổng quan về tài chính quổc tế
Chương 2: Thị trường tài chỉnh quốc tế
Chương 3: Thị trường ngoại hối
Chương 4: Thanh toán quốc tế
Chương 5: Đầu tư quốc tế
Chương 6: Tín dụng quốc tế
Chương 7: Viện trợ phát triển chính thức
Chương 8: Thuế quan và liên minh thuế quan
Chương 9: Cán cân thanh toán quốc tế
Tham gia biên soạn giáo trình gồm:
- PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên, Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Thương mại chủ biên, biên soạn chương 1, chương 5
và đồng biên soạn chương 2, chương 3.
- TS Nguyễn Trọng Tài, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng, đồng biên soạn chương 2.
- ThS Phùng Việt Hà, giáng viên bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 3.
Trang 5- ThS Lê Nam Long, Phó trưởng bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 4.
- ThS Nguyễn Phú Hà, giảng viên bộ môn Ngán hàng - Chứng khoản, Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 6.
- PGS.TS Đinh Văn Sơn, Phó hiệu trưởng Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 7 và chương 8.
- CN Vũ Ngọc Diệp, giảng viên bộ môn Ngân hàng - Chứng khoán, Trường đại học Thương mại, biên soạn chương 9.
Giáo trĩnh được biên soạn trên cơ sở tham khảo một sổ tài liệu trong nước và nước ngoài (được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo), cập nhật các văn bản pháp quy của Chỉnh phủ và các Bộ, Ngành có liên quan đến lĩnh vực tài chính quốc tế Trong quá trĩnh biên soạn tập thể tác giả cũng nhận được những góp ý quý báu của PGS TS Lưu Thị Hương, Trường đại học Kinh tế Quốc dãn, PGS.TS Nguyễn Văn Thanh, Trường đại học Thương mại Xin chân thành cảm ơn tác giả của những tài liệu mà chúng tôi
đã sử dụng, cảm ơn sự góp ý của các nhà khoa học để góp phần nâng cao chất lượng giáo trình Chúng tôi cũng muốn được bày tỏ lòng cảm ơn của mình tới GS.TS.NGUT Nguyễn Bách Khoa, Hiệu trưởng Trường đại học Thương mại; tập thể cán bộ chuyên viên phòng Khoa học & Đổi ngoại, Trường đại học Thương mại đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình chỉnh sửa, biên tập và xuất bản giáo trình.
Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gang cập nhật những kiến thức, thông tin đế Giáo trình đảm bảo được các yêu cầu cơ bản, hiện đại và phù hợp với thực tiễn các hoạt động Tài chỉnh quốc tế của Việt Nam, nhưng do trình độ năng lực có hạn, do Tài chính quốc tế là một lĩnh vực rộng lớn, có liên quan đến hầu hết các chủ thế của nền kinh tế xã hội với các quan hệ kinh tế tài chính tiền tệ rất phong phú và phức tạp, hơn thế nữa dãy lại là Giáo trình được biên soạn lần đầu nên không thể tránh khỏi những hạn chế, sai sót nhất định Chúng tồi rất mong nhận được ỷ kiến góp ý của đông đảo bạn đọc đế Giáo trình có thế hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau.
Thay mặt tập thể tác giả
CHỦ BIÊN
Trang 6Chương 1
TỔNG QUAN VÊ TÀI CHÍNH QUỐC TÊ
Tài chính quốc tế là một lĩnh vực hoạt động rất phức tạp với các hình thức đa dạng, với sự tham gia của nhiều chủ thể và diễn ra trên một phạm vi không gian rộng lớn, liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau trong từng khu vực, hoặc trên toàn thế giới Tài chính quốc tế ra đời là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ sự phân công lao động và hợp tác quốc tế Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các giao dịch quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tài chính quốc tế cũng ngày càng phát triển
và khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nó trong đời sống kinh tế - xã hội
Nội dung chuông 1 Giáo trình sẽ giới thiệu với bạn đọc những vấn đề
cơ bản nhất về tài chính quốc tế, đó là: Các quan niệm về tài chính quốc tế, những đặc điểm và vai trò của tài chính quốc tế; Các chủ thể tham gia và các giao dịch tài chính quốc tế; Một số định chế tài chính quốc tế chủ yếu như: tổ hợp Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thanh toán quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng Liên châu Mĩ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH
QUỐC TỂ
1.1.1 Cơ sở hình thành và phát triển các quan hệ tài chính quốc tế
Lịch sử phát triển của tất cả các quốc gia độc lập đã chứng tỏ rằng, tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi quốc tế là con đường
và biện pháp cơ bản nhất để kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để thúc đẩy phát triển kinh té - xã hội của đất nước theo mục tiêu đã đề ra
Đặc biệt, trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế - xã hội diễn ra sâu sắc như hiện nay thì phân công lao động và hợp tác quốc tế, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại là con đường phát triển tất yếu Điều đó có nghĩa là các quốc gia không thể tự thỏa mãn nhu cầu của mình với chính sách đóng cửa mà cần tồn tại và phát triển theo con đường mở cửa với thế
Trang 7giới bên ngoài Đặc tính toàn cầu hóa và hợp nhất hóa của nền kinh tế thế giới được hình thành trên cơ sở những đặc trưng của nền kinh tế mỗi quốc gia hiện đang theo đuổi là nền kinh tế thị trường Những nét đặc trưng chủ yếu của các nền kinh tế thị trường hiện đại là: sự phát triển của thương mại trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động, quá trình tiền tệ hóa hầu hết các quan hệ kinh tế và sử dụng vốn làm động lực tăng trưởng kinh tế.
Sự phát triển của thương mại trên cơ sở chuyên môn hóa và phân công lao động cho phép mỗi người, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia khai thác tốt nhất lợi thế về năng lực và tài nguyên của mình, góp phần tăng năng suất lao động và mức sản lượng; đồng thời làm gia tăng nhu cầu trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia Thông qua phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế, các quốc gia có thể kết hợp sức mạnh của quốc gia với sức mạnh của thời đại, có thể kết hợp khéo léo các yếu tố trong nước với các yếu tố quốc tế, có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và các nguồn lực nước ngoài như: nguồn vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý Tất nhiên, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, các yếu tố về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí, chế độ chính trị
xã hội, chính sách đối ngoại của Nhà nước mà có chính sách và lộ trình
mở cửa thích hợp
Thực tế phát triển kinh tế thế giới cho thấy: xu hướng tăng trưởng thương mại quốc tế phản ánh mức độ mở cửa của các nền kinh tế ngày càng cao, làm cho quan hệ trong lĩnh vực tiền tệ và chính sách vĩ mô giữa các nước càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn Bên cạnh chu chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, mức độ mở cửa của nền kinh tế còn phụ thuộc vào mức độ mở cửa trong lĩnh vực chu chuyển vốn quốc tế Một quốc gia mở cửa thị trường tài chính sẽ đem lại cho người cư trú những lợi ích nhất định từ việc thu hút, huy động nguồn vốn rẻ hơn hoặc không thể huy động từ thị trường tài chính nội địa; đồng thời cho phép các nhà đầu tư tài chính tìm kiếm được những cơ hội sinh lời cao hơn và giảm được rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế Tuy nhiên, khi một nền kinh tế đã liên kết với thị trường tài chính thế giới thì nền kinh tế đó cũng luôn phải đứng trước thách thức về những biến động của thị trường quốc tế Trong một thế giới mà ở đó các thị trường liên kết với nhau sẽ làm cho các mức tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỉ giá, tỉ lệ lạm phát giữa các quốc gia luôn chịu ảnh hưởng lẫn nhau
Trang 8Có thể nói rằng: các quan hệ tài chính quốc tế như thanh toán và tín dụng quốc tế, chính sách thuế quan, đầu tư và viện trợ quốc tế nảy sinh như là hệ quả tất yếu của các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và chịu sự chi phối của các quan hệ này Các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển làm xuất hiện các trung tâm tài chính quốc tế lớn, các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế ra đời, đến lượt mình chúng trở thành những công cụ kinh tế quan trọng thúc đẩy nhanh chóng sự giao lưu văn hoá, khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế giữa các nước, thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển, đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới.
Các quan hệ tài chính quốc tế chịu ảnh hưởng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và do các quy luật của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường chi phối, trong đó yếu tố chính trị giữ vai trò quan trọng Đặc biệt, với những quan hệ kinh tế ở tầm cỡ quốc gia như viện trợ ở cấp chính phủ, vay nợ quốc gia, đầu tư nước ngoài vào hạ tầng cơ sở chịu sự chi phối và tác động sâu sắc của yếu tố chính trị Bên cạnh đó yếu tố chính trị còn tác động gián tiếp đến các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Nhà nước như chính sách ngoại thương, thuế quan, đầu tư
Cần phải thừa nhận ràng: không chỉ yếu tố chính trị, các quan hệ kinh
tế quốc tế cũng chi phối mạnh mẽ các quan hệ tài chính quốc tế của một nước Như đã trình bày ở trên các quan hệ tài chính quốc tế là hệ quả trực tiếp của các quan hệ kinh tế quốc tế, đồng thời là một bộ phận hợp thành của quan hệ kinh tế quốc tế của quốc gia đó
Các quan hệ văn hoá giữa các nước cũng tác động đến việc hình thành các quan hệ tài chính Thực tế đã cho thấy giao lưu văn hoá giữa các nước
có thể làm tiền đề cho sự phát triển các quan hệ chính trị và kinh tế giữa các nước và từ đó gián tiếp hoặc trực tiếp làm nảy sinh các quan hệ tài chính quốc tế
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, các quan hệ tài chính quốc tế đã ra đời và phát triển từ những hình thức giản đơn đến phức tạp gắn liền với những điều kiện phát triển khách quan của mỗi nước và đời sống quốc tế Những hình thức sơ khai của quan hệ tài chính quốc tế như việc bắt cống nạp vàng bạc, đá quý, đất đai giữa nước này với nước khác đã xuất hiện từ thời kỳ tồn tại hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ Sự phát triển của thương mại quốc tế đã xuất hiện các quan hệ tài chính khác như: vay nợ, trả
nợ giữa các nước, quan hệ thanh toán tiền mua, bán hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia, quan hệ mua bán chịu hàng hoá Cùng với sự phát triển của
Trang 9nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường, các hình thức mới của quan hệ tài chính quốc tế (TCQT) cũng xuất hiện và phát triển ở mức cao hơn Xuất khẩu tư bản, đầu tư quốc tế, viện trợ, ủng hộ, biếu tặng giữa các nước với nhau và giữa các tổ chức tài chính quốc tế với các quốc gia độc lập ngày càng phát triển.
Từ sự phân tích ở trên có thể thấy rằng: sự ra đời và phát triển của các quan hệ tài chính quốc tế bắt nguồn từ các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các nước và giữa các nước với các tổ chức kinh tế tài chính tiền
tệ quốc tế Các yếu tố đó hợp thành cơ sở khách quan cho sự ra đời và phát triển các quan hệ tài chính quốc tế, trong đó yếu tố kinh tế giữ vai trò quyết định, yếu tố chính trị giữ vai trò quan trọng và đôi khi làm nền tảng cho các quan hệ tài chính quốc tế nói riêng và các quan hệ kinh tế nói chung
Các quan hệ tài chính quốc tế là sự phản ánh các quan hệ hợp tác quốc
tế trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao nhưng trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh tế quốc tế Việc mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế như thế nào và dựa trên những nguyên tắc gì tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và chế độ chính trị của Chính phủ mỗi nước, nhưng yêu cầu cơ bản đặt ra là: vừa phải tuân thủ nguyên tắc phù họp với các thông lệ quốc tế, vừa phải giữ vững, củng cố chế độ chính trị và những giá trị truyền thống của mỗi quốc gia
Hiện nay, với chính sách mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, các quan hệ tài chính quốc tế của Việt Nam cũng ngày càng phát triển phong phú hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn Tuy nhiên, dù trong bất
cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào, các quan hệ tài chính quốc tế của Việt Nam đều phải tuân thủ các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền lãnh thổ của nhau, đôi bên cùng có lợi và phục vụ cho chính sách phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia theo từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của đất nước
Trong nền kinh tế hiện đại, những sự kiện của thế giới bên ngoài luôn
có ảnh hưởng sâu sắc và tác động trực tiếp đến kết quả thực hiện các chính sách kinh tế - tiền tệ quốc gia Vì vậy, nghiên cứu tài chính quốc tế là hết sức cần thiết và là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế mở Điều này giúp các chủ thể của nền kinh tế nhận biết được những sự kiện quốc tế có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng các quyết sách để tận dụng, khai thác những cơ hội; phòng ngừa và né tránh những diễn biến hoặc tình thế bất lợi
có thể gây nên những tổn thất
Trang 101.1.2 Khái niệm tài chính quốc tế
1.1.2.1 Các quan niệm về tài chính quốc tế
Theo các cách tiếp cận khác nhau, có thể có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về tài chính quốc tế
Đứng trên phạm vi toàn cầu để nhìn nhận thì hoạt động tài chính bao gồm tài chính quốc gia và tài chính quốc tế
Hoạt động tài chính = Tài chính quốc gia + Tài chính quốc tế
Vì tài chính quốc gia đã bao gồm các hoạt động tài chính đối nội và đối ngoại của quốc gia đó (Tài chính quốc gia = Tài chính đối nội + Tài chính đối ngoại), nên TCQT chỉ bao gồm các hoạt động quốc tế thuần túy (hoạt động tài chính của các công ty đa quốc gia và các tổ chức tài chính quốc tế) Quan niệm này thường được sử dụng ở các nước phát triển, mức độ mở cửa hội nhập quốc tế cao
Đứng trên phạm vi quốc gia để nhìn nhận về TCQT thì hoạt động tài chính bao gồm hoạt động tài chính đối nội (nội địa quốc gia) và hoạt động tài chính quốc tế
Hoạt động tài chính = Tài chính nội địa quốc gia + TCQT
Trong đó:
TCQT = Tài chính đối ngoại của quốc gia + TCQT thuần túyQuan niệm này thường được sử dụng ở các quốc gia đang phát triển, mức độ hội nhập quốc tế còn hạn chế
Trong chương trình học phần Tài chính quốc tế, quan niệm về tài chính quốc tế được đề cập theo cách tiếp cận thứ hai Với cách tiếp cận này TCQT
là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động tài chính trên bình diện quốc tế Chủ thể thực hiện các hoạt động TCQT có thể là Chính phủ, các tổ chức kinh tế
xã hội, công dân của một quốc gia, hoặc cũng có thể là các tổ chức kinh tế, tài chính, tiền tệ quốc tế TCQT thể hiện sự hoạt động của các thị trường tài chính quốc tế và chúng họp thành một lĩnh vực riêng, lĩnh vực TCQT
Tài chính quốc tế là một lĩnh vực hoạt động rất phức tạp, với các hình thức, các chủ thể rất đa dạng và diễn ra trên một phạm vi không gian rộng lớn, liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau trong từng khu vực hoặc trên toàn thế giới Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế, đó chính là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia, còn trên bề mặt đời sống xã hội của mỗi
Trang 11quốc gia, các quan hệ TCQT dều biểu hiện thành các hoạt động thu chi bằng tiền, các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế
xã hội trong mỗi quốc gia Đến lượt nó, hoạt động thu chi bàng tiền, hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể lại chính là hệ quả tất yếu của các quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực khác nhau về kinh tế, văn hóa,
xã hội, chính trị giữa các chủ thể đó với các chủ thể khác bên ngoài quốc gia
1.1.2.2 Khái niệm Tài chỉnh quốc tế
Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế
Đó là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các luồng tài chính giữa các chủ the (Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội, các cá nhân ) của quốc gia này với các chủ thể của quốc gia khác, hoặc với các tổ chức kinh tế, tài chính, tiền tệ quốc tế thông qua quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu và mục đích khác nhau của các chủ thể đó Nói cách khác, tài chính quốc tế thể hiện sự di chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia hoặc giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế và gắn liền với các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao của các quốc gia
Như vậy, phạm vi nghiên cứu của tài chính quốc tế là rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như: thanh toán, tín dụng, đầu tư, tài trợ, viện trợ trên bình diện quốc tế
1.1.3 Đặc điểm của tài chính quốc tế
Tài chính quốc tế là một bộ phận trong tổng thể các quan hệ tài chính,
vì vậy nó cũng mang những đặc điểm chung của tài chính, đó là:
- Tài chính bao gồm các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính, của cải xã hội dưới hình thức giá trị
- Các quan hệ phân phối của tài chính luôn gắn liền với việc tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế
- Các quan hệ tài chính diễn ra cả trong quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, với tư cách là một bộ phận của hệ thống các quan hệ tài chính, tài chính quốc tế cũng có những đặc điểm riêng, khác biệt so với tài chính nội địa, đó là: có phạm vi rộng, chịu rủi ro
Trang 12về hối đoái và chính trị, hoạt động trong điều kiện không hoàn hảo của thị trường nhưng môi trường hoạt động mở ra nhiều cơ hội hơn
- TCQT có phạm vi rộng, vượt khỏi khuôn khổ một quốc gia, chịu tác động của các chính sách, luật lệ, môi trường quốc gia và quốc tế
Khác với tài chính nội địa, sự vận động của các nguồn tài chính chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia, TCQT bao gồm các quan hệ tài chính vượt khỏi khuôn khổ một quốc gia Vì vậy, các quan hệ tài chính quốc tế không những chịu sự chi phối bởi chính sách của quốc gia trong đó chúng đang hoạt động, đặc biệt là các chính sách quan hệ quốc tế mà còn bị chi phối trực tiếp bởi các chính sách, luật lệ, môi trường của các quốc gia khác
và các quy định mang tính quốc tế Do vậy, để tổ chức hợp lí và nâng cao hiệu quả hoạt động TCQT, các chủ thể thực hiện các giao dịch tài chính quốc tế không những phải nắm vững các chính sách của quốc gia mình trong quan hệ quốc tế mà còn phải thông hiểu chính sách của quốc gia khác
và các tổ chức quốc tế mà mình có quan hệ Cũng chính vì lẽ đó rủi ro trong hoạt động tài chính cũng đa dạng và phức tạp hơn Xuất phát từ môi trường chính trị và pháp luật đa dạng, hoạt động tài chính quốc tế có thể phải đối mặt với những thay đổi ngoài dự kiến như các quy định về thuế quan, về hạn ngạch, về chế độ quản lí ngoại hối, về chính sách trưng thu hay tịch biên tài sản trong nước do người nước ngoài nắm giữ Thậm chí các chủ thể thực hiện các giao dịch TCQT còn có thể phải đối mặt với những biến động về chính trị xã hội của các quốc gia như thay đổi thể chế, chiến tranh, xung đột sắc tộc dẫn đến những thiệt hại đáng kể khó có thể chống đỡ
- Các giao dịch tài chính quốc tế được thực hiện thông.qua nhiều loại tiền khác nhau, chịu tác động bởi sự thay đối của tỉ giá hối đoái
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình với sức mua khác nhau Vì vậy, để tiến hành thanh toán các giao dịch quốc tế, phải xác định được tỉ giá giữa các đồng tiền Trong điều kiện phát triển kinh
tế ngày nay, do tác động của nhiều yếu tố, sức mua của mỗi đồng tiền cũng như tì giá giữa chúng không cố định mà luôn thay đổi Sự biến động đột ngột của tỉ giá có ảnh hưởng lớn đến các khoản thu chi tiền tệ, đến lợi ích của các chủ thể tham gia các giao dịch quốc tế, đặc biệt là các giao dịch ngoại thương và đầu tư quốc tế Do đó, các vấn đề về cơ chế xác lập tỉ giá giữa các đồng tiền, những nhân tố ảnh hưởng đến tỉ giá và sự tác động ngược trở lại của tỉ giá đến cán cân xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, dịch vụ, cán cân vốn cần phải đặc biệt quan tâm chú ý, làm cơ sở cho việc
Trang 13hoạch định các chính sách tài chính có liên quan và ngăn ngừa, hạn chế những rủi ro do sự biến động tỉ giá gây nên.
- Tài chính quổc tế hoạt động trong một môi trường không hoàn hảo
Mặc dù nền kinh tế quốc tế ngày nay đã mang tính thống nhất rõ nét hơn nhiều so với cách đây chừng 15 hoặc 20 năm, song vẫn có những hàng rào đa dạng được dựng lên để ngăn chặn các dòng lưu chuyển tự do của nhân lực, hàng hóa, dịch vụ và vốn giữa các quốc gia Những rào chắn này
có thể là những luật lệ hạn chế, hay chính sách phân biệt đối xử Do vậy
mà thị trường thế giới vẫn chưa được thông thoáng hoàn hảo Sự thiếu hoàn hảo này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự ra đời và mở rộng mạng lưới hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia, sự thay đổi về chính sách huy động và sử dụng các nguồn vốn trong phát triển kinh doanh,
về các biện pháp chuyển giá trong kinh doanh quốc tế Sự hiểu biết đầy đủ
và chính xác về môi trường không hoàn hảo là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và nâng cao hiệu quả các hoạt động TCQT
- Khung cảnh môi trường rộng lớn mở ra cơ hội và xu hướng phát triển mới
Tính chất “quốc tế” là nét đặc trưng và là xu hướng tất yếu đã và đang diễn ra của nền kinh tế quốc tế hiện đại có tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực tài chính quốc tế Đó là sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các công ty
đa quốc gia, của các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế, của thị trường vốn quốc tế Xu hướng này đã làm xuất hiện nhiều công cụ và hình thức tài chính mới, góp phần đẩy mạnh sự vận hành của các quan hệ tài chính quốc
tế, từ đó mở ra nhiều cơ hội thuận lợi, tạo điều kiện cho lĩnh vực tài chính quốc tế phát triển cả về bề sâu và bề rộng Để khai thác được các cơ hội theo
xu thế phát triển của nền kinh tế, các chủ thể tham gia các giao dịch tài chính quốc tế phải quan tâm và am hiểu nhiều hơn về những vấn đề mà tài chính nội địa ít phải quan tâm như: những cơ chế tín dụng và đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế, các biện pháp quản lí và sử dụng, các công cụ ngăn ngừa phòng chống rủi ro hối đoái, rủi ro quốc gia
1.1.4 Vai trò của TCQT
Quan hệ tài chính quốc tế của một quốc gia là bộ phận quan trọng trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia đó Các quan hệ này được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ để tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ
Trang 14nhất định ở các chủ thể kinh tế - xã hội, đồng thời chúng phản ánh một cách tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính bên ngoài quốc gia nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế - xã hội Chính sự vận động đó đã đem lại những lợi ích to lớn cho mỗi chủ thể, từng quốc gia và cả cộng đồng Có thể khái quát vai trò của tài chính quốc tế đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên một
số khía cạnh cơ bản sau:
• Khai thác các nguồn lực ngoài nước để phát triển kinh tế - xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế mang tính quốc tế hóa cao, không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được mọi vấn đề nếu không mở rộng giao lưu với các nước khác Điều đó lại càng cần thiết và quan trọng hơn đối với các quốc gia nghèo, chậm phát triển với cơ sở vật chất kĩ thuật, khoa học công nghệ còn thấp kém, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân còn hạn hẹp
Như đã nêu trên, hoạt động TCQT thể hiện thông qua sự di chuyển các nguồn lực tài chính từ quốc gia này sang quốc gia khác Điều đó cũng có nghĩa là, thông qua các giao dịch tài chính quốc tế, các nguồn tài chính được phân phối lại trên phạm vi rộng lớn hơn - phạm vi thế giới Sự phân phối lại
đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới sự phát triển của từng quốc gia cũng như của cả cộng đồng Do vậy, vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia và
cả cộng đồng là tổ chức các hoạt động tài chính quốc tế sao cho các nguồn tài chính được vận động đúng hướng và có lợi nhất Đối với mỗi quốc gia, điều đó phải được cân nhắc trên cả khía cạnh sử dụng các nguồn lực trong nước tham gia vào các hoạt động quốc tế, trên cả khía cạnh khai thác sử dụng nguồn lực ngoài nước vào phát triển kinh tế quốc gia Đối với các quốc gia nghèo và chậm phát triển, vấn đề tranh thủ các nguồn lực nước ngoài thường rất được coi trọng
Bằng việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế như: vay nợ, viện trợ, đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế các quốc gia có thể khai thác tốt hơn các nguồn lực từ các quốc gia khác và các tổ chức tài chính quốc tế Cũng thông qua quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực tài chính này, các quốc gia còn có thể tranh thủ được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, giải quyết được các vấn đề về thị trường và lao động
Thực tế phát triển kinh tế của nhiều quốc gia cho thấy, mặc dù nguồn lực trong nước luôn là yếu tố giữ vị trí quyết định, nhưng không thể phủ
Trang 15nhận vai trò quan trọng của các nguồn lực ngoài nước trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng “đi tắt, đón đầu” của các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển.
• Thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới
Mờ cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, mở rộng giao lưu kinh tế, khoa học kĩ thuật với nước ngoài, gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế, hòa nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới là xu hướng hợp với thời đại, là phưong sách khôn ngoan để có thể khéo léo kết hợp các yếu tố trong nước với các yếu tố nước ngoài, vừa phát huy những lợi thế của các nguồn lực trong nước, vừa khai thác có hiệu quả các nguồn lực nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của mồi quốc gia
Với việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế như: vay nợ, viện trợ, đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế; mở rộng các dịch vụ thanh toán, hối đoái, bảo hiểm, thương mại quốc tế TCQT góp phần thúc đẩy và mở rộng các hoạt động kinh tế quốc tế, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới
• Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính
Nhờ có sự mở rộng và phát triển của TCQT, các chủ thể của nền kinh
tế - dù với vai trò vị trí là nhà đầu tư hay người cần vốn thì họ vẫn sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn so với trường hợp quốc gia đó phát triển nền kinh
tế theo cơ chế đóng cửa với thế giới bên ngoài (chỉ có tài chính nội địa) Trong bối cảnh như vậy, quyết định cuối cùng cho sự lựa chọn là đầu tư vào đâu, vào thị trường nào, đầu tư theo hình thức nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; huy động vốn từ thị trường nào, theo hình thức nào để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn cũng như các điều kiện sử dụng vốn là thuận tiện hơn cả
Như vậy, nhờ sự phát triển của TCQT, các nguồn tài chính có khả năng lưu chuyển dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi hơn giữa các quốc gia, tạo điều kiện cho mỗi chủ thể của các quốc gia có cơ hội giải quyết các quan hệ
về cung cầu vốn tiền tệ và nâng cao hiệu quả các nguồn lực tài chính được đưa vào sử dụng
Trang 161.2 CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀ CÁC GIAO DỊCH TÀI
CHÍNH QUỐC TẾ
1.2.1 Các chủ thể tham gia hoạt động TCQT
Tham gia hoạt động TCQT có nhiều chù thể khác nhau: Chính phủ, các
tổ chức kinh tế tài chính tín dụng quốc tế, các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức chính trị - xã hội Sau đây
là một số chủ thể chính:
• Nhà nước
Trong đời sống kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia được coi là một đơn vị kinh tế - độc lập, tự chủ trong nền kinh tế thế giới Vì vậy, chủ thể lớn nhất tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính bên ngoài quốc gia trước hết là Nhà nước của quốc gia đó Nhà nước tiến hành phân phối các nguồn tài chính bên ngoài để tạo lập quỹ tiền tệ cho mình và sử dụng nó để thực hiện các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đối nội và đối ngoại của quốc gia
Nhà nước tham gia hoạt động TCQT với các nội dung chủ yếu là:
- Viện trợ quốc tế khóng hoàn lại
Trong hoạt động này Nhà nước có thể là người nhận viện trợ từ các chính phủ của các quốc gia khác, từ các tổ chức quốc tế, hoặc có thể là người cấp viện trợ cho các nhà nước khác Các khoản viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện trong các điều kiện đất nước gặp phải khó khăn đột xuất như: thiên tai, địch họa và cho các mục tiêu khác, trong đó chủ yếu là các mục tiêu xã hội (giáo dục, y tế, phòng chống dịch bệnh, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phòng chống các tệ nạn xã hội ) Viện trợ không hoàn lại thường chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng tài trợ quốc tế cho Chính phủ
- Tín dụng nhà nước quốc tế
Trong quan hệ tín dụng quốc tế, nhà nước có thể là người đi vay hoặc người cho vay Nhà nước mà trực tiếp là các cơ quan chức năng của Nhà nước như Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính tham gia các cuộc đàm phán để vay hoặc cho vay dưới nhiều hình thức (tín dụng thương mại, tín dụng ưu đãi, phát hành trái phiếu quốc tế )
Vay thương mại quốc tế của Chính phủ là các khoản vay nước ngoài của Chính phủ theo các điều kiện của thị trường, không có ưu đãi gì Người
Trang 17cho Chính phủ vay nhàm mục tiêu kiếm lời Các khoản vay này được thực hiện phổ biến dưới dạng vay các ngân hàng thương mại nước ngoài, vay các
tổ chức tài chính tín dụng quốc tế phần nhiều hơn mức vay được ưu đãi.Việc phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài đứng về một góc độ nào đó cũng tương tự như Chính phủ phát hành trái phiếu trong nước Tuy nhiên có một số điểm khác biệt:
+ Người mua trái phiếu chính phủ là các tổ chức, cá nhân nước ngoài nên chính phủ phải trả lãi ra ngoài phạm vi quốc gia Bù lại chính phủ có được khoản vay bằng ngoại tệ, điều này sẽ tốt hơn đối với các quốc gia đang khan hiếm ngoại tệ
+ Quy mô khoản vay thường lớn hơn nhiều so với vay trong nước, tạo điều kiện thực hiện các dự án đầu tư đòi hỏi lượng vốn cao
Vay ưu đãi của Chính phủ là các khoản Chính phủ vay nước ngoài được hưởng các điều kiện ưu đãi như: lãi suất thấp, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ dài, ưu đãi về điều kiện vay Tuy nhiên, ngoài những ưu đãi, người cho vay thường đặt ra các ràng buộc kèm theo: chỉ được sử dụng vốn cho các mục tiêu theo quy định của Hiệp định vay vốn, chấp nhận chỉ định thầu xây lắp, chuyên gia, chỉ định thầu thiết bị, chỉ định địa chỉ mua hàng hóa, nguyên vật liệu, thậm chí còn có thể bao gồm các điều kiện về kinh tế, chính trị quân sự khác
- Thu thuế quan đổi với hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới quốc gia
Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế và chính sách của mỗi quốc gia, các giao dịch thuế quan phải tuân thủ các tập quán, thông lệ quốc tế, các liên minh thuế quan và nhằm thực hiện các mục tiêu khác nhau như mục đích ngân khố, mục tiêu bảo hộ sản xuất kinh doanh trong nước, mục tiêu trừng phạt
Ớ Việt Nam, các giao dịch thuế quan đã hình thành ngay trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ Tuy nhiên do hoạt động ngoại thương thời kì đó chưa phát triển, nên thuế quan mới áp dụng trong một phạm vi giới hạn và chưa có Luật điều chỉnh Đen năm 1992, Luật Thuế quan được ban hành với tên gọi “Luật thuế xuất nhập khẩu” Từ đó đến nay, luật thuế này đã được sửa đổi nhiều lần để phù họp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước Luật Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam ra đời đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường quản lí nhà nước về các hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế dối ngoại, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu; góp
Trang 18phần phát triển và bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước; tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước
• Các định chế tài chính quốc tế
Các định chế tài chính quốc tế là các hình thức tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế do các nước cùng quan tâm tổ chức ra trên cơ sở các Hiệp định được
kí kết trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, tín dụng
Có nhiều tổ chức tài chính quốc tế Theo phạm vi hoạt động có thể chia thành: các tổ chức tài chính quốc tế toàn cầu và tổ chức tài chính quốc tế khu vực
Một số tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế toàn cầu tiêu biểu là: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) Những tổ chức này có đặc trưng chung là có nguồn vốn do các nước trên thế giới góp hoặc huy động vốn trên thị trường thế giới và cung ứng các dịch vụ tài chính cho các nước trên thế giới
Các tổ chức tài chính quốc tế khu vực gồm các ngân hàng và quỹ tiền tệ khu vực như: Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng đầu tư châu
Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Quỹ tiền tệ Ả rập Chức năng chủ yếu của các tổ chức này là phối hợp hoạt động của các nước thành viên trên lĩnh vực tài chính - tiền tệ - tín dụng Đồng thời các tổ chức này cũng sử dụng các nguồn vốn chung của quỳ để tài trợ cho các nước thành viên và các nước đang phát triển, chủ yếu dưới hình thức cho vay
Sự ra đời và phát triển của các tổ chức tài chính quốc tế có vai trò quan trọng trong việc phối hợp chính sách tiền tệ của các nước thành viên nhàm tạo ra sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc gia và hệ thống tiền tệ quốc tế; tài trợ cho các nước thành viên đang phát triển nhất là các nước nghèo, kém phát triển; hỗ trợ các nước thành viên đang phát triển bồi dưỡng và nâng cao kiến thức, khả năng quản lí kinh tế tài chính, qua đó góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng thế giới
• Các tổ chức tài chính tín dụng quốc gia
Các tổ chức tài chính tín dụng như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán tham gia hoạt động tài chính quốc tế với các nội dung chủ yếu sau:
- Tín dụng quốc tế: các ngân hàng thương mại tham gia các quan hệ này với tư cách là người cho vay hoặc đi vay, trong đó cho vay chiếm tỉ trọng chi phối
Trang 19- Đầu tư quốc tế: các tổ chức tài chính tín dụng có thể thực hiện đầu tư quốc tế dưới hình thức liên doanh, liên kết hoặc đầu tư mua bán chứng khoán trên thị trường quốc tế.
- Mua bán ngoại hối theo yêu cầu của khách hàng, hoặc mua bán cho chính mình để ổn định trạng thái ngoại hối, để phòng ngừa rủi ro hối đoái và
để đầu cơ thông qua các nghiệp vụ giao ngay (spot), kì hạn (forward), tương lai (íuture), quyền chọn (option), hoán đổi (swap), acbit (acbitrage)
- Cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và thu hoặc trả phí dịch vụ như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ ủy thác, dịch vụ bảo lãnh, môi giới, tư vấn, bảo hiểm
• Các chủ thê khác
Tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính bên ngoài không chỉ có Nhà nước, các định chế tài chính quốc tế, các tổ chức tài chính tín dụng mà còn phải kể đến tất cả các chủ thể khác trong xã hội như: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức xã hội Tùy thuộc vào từng chủ thể, các quỹ tiền tệ được tạo lập và sử dụng theo mục đích tích luỹ, sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của nó Các giao dịch tài chính quốc tế của các chủ thể này được thể hiện chủ yếu dưới các hình thức như: thanh toán quốc
tế, đầu tư trực tiếp và gián tiếp quốc tế, viện trợ, kiều hối
1.2.2 Các giao dịch TCQT
Có nhiều hình thức giao dịch TCQT
Theo số lượng chủ thể tham gia giao dịch, người ta thường chia các giao dịch tài chính quốc tế thành 3 loại: giao dịch TCQT không có đối tác, giao dịch TCQT 2 đối tác và giao dịch TCQT nhiều đối tác
Giao dịch TCQT không có đối tác (còn được gọi là giao dịch nội bộ hay điều động tài chính nội bộ - Unilateral): hình thức này dược thực hiện trong một mạng lưới của mỗi công ty đa quốc gia, hoặc xuyên quốc gia Nguồn tài chính từ công ty mẹ ở nước này, thông qua hệ thống liên ngân hàng quốc tế, được chuyển đến cho công ty con, các đại lí ở nước khác để hoạt động và ngược lại Đặc trưng quan trọng là tuy những giao dịch trên tạo ra thay đổi ở cán cân thanh toán mỗi nước, nhưng lại không phải là những giao dịch tạo ra lợi nhuận mà chỉ làm thay đổi tài sản nợ, có hoặc vốn
cổ phần giữa các công ty con và công ty mẹ trong một tập đoàn
Trang 20Giao dịch tài chính hai đối tác (còn được gọi là giao dịch song phương
- Bilaterals): bao hàm những giao dịch vay nợ, thanh toán, bảo lãnh, kí gửi, mua bán công cụ tài chính giữa hai chủ thể trên thị trường tài chính quốc
tế Những giao dịch này, ngày nay đều thực hiện qua hệ thống liên ngân hàng quốc tế
Giao dịch tài chính nhiều đối tác: là hình thức giao dịch đa phương (Multilaterals) Nguồn tài chính từ một bên có thể chuyển cho nhiều bên, hoặc từ một đơn vị có thể chuyển qua rất nhiều dơn vị kinh doanh cấp trung gian trước khi đến đơn vị thu nhận cuối cùng Thông qua mạng lưới thanh toán liên ngân hàng và các thị trường tài chính quốc tế, những giao dịch tài chính đa phương chiếm đa số trong các giao dịch tài chính và tạo nên các thị trường tài chính quốc tế Ở đó lợi nhuận và rủi ro, kể cả trách nhiệm quản trị đầu tư được chia nhỏ ra cho nhiều chủ thể tham gia Hệ quả cuối cùng là làm tăng năng suất hoạt động và hiệu quả tài chính
Theo mục tiêu và cách thức di chuyển, các giao dịch TCQT bao gồm: Thanh toán quốc tế và mua bán ngoại hối, đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế và chuyển giao quốc tế một chiều Sau đây là một số giao dịch TCQT chủ yếu:
1.2.2.1 Thanh toán quốc tế và mua bán ngoại hối
Thanh toán quốc té là một loại hình giao dịch tài chính quốc tế diễn ra khá phổ biến và thường xuyên để hoàn tất các giao dịch kinh tế quốc tế (mua bán hàng hóa, dịch vụ); hoặc thanh toán trong lĩnh vực phi mậu dịch (các quan hệ văn hóa, ngoại giao, quân sự ) giữa các quốc gia Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ và với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay, hoạt động thanh toán quốc tế chủ yếu được thực hiện dưới hình thức thanh toán chuyển khoản thông qua các phương tiện thanh toán quốc tế như: thẻ thanh toán, hối phiếu, scc, điện chuyển tiền ; các phương thức thanh toán như: chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ Việc thanh toán giữa các nước có thể được thực hiện theo các Hiệp định thông thường, hoặc Hiệp định thanh toán Clearing song biên, đa biên
Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của quá trình thực hiện một giao dịch kinh tế quốc tế Vì thế, tổ chức tốt hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ góp phần quan trọng vào việc tạo dựng, duy trì, phát triển các quan hệ họp tác, các giao dịch kinh tế quốc tế mà còn góp phần đảm bảo khả năng thanh toán, giảm thiểu chi phí thanh toán, nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể tham gia
Trang 21Đặc điểm của thanh toán quốc tế:
- Khác với thanh toán nội địa, thanh toán quốc tế không những chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia mà còn chịu sự điều chỉnh cùa luật pháp và các tập quán quốc tế như UCP, URC, URR, Incoterms Những văn bản pháp lí này tạo ra một sân chơi bình đẳng, công bằng cho các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế, tránh những tranh chấp đáng tiếc xảy ra
- Thanh toán quốc tế chịu sự ảnh hưởng của tỉ giá và dự trữ ngoại tệ của các quốc gia Thực tế cho thấy đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế thường là những loại tiền tự do chuyển đổi và được đánh giá là tiền mạnh trong giai đoạn đó, nó có thể là tiền của một quốc gia (USD, JPY ), hoặc tiền quốc tế (EUR, SDR) Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, sức mua của các đồng tiền không ổn định Để thực hiện tốt quá trình thanh toán quốc tế, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, việc đàm phán lựa chọn đồng tiền thanh toán thích họp; việc xác định, duy trì quy mô và cơ cấu ngoại hối dự trữ họp lí là công việc mà các quốc gia, các chủ thể tham gia hoạt động tài chính quốc tế cần quan tâm giải quyết
- Ngoại trừ các giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa được mua bán qua con đường tiểu ngạch, các giao dịch thanh toán quốc tế chủ yếu được thực hiện qua hệ thống ngân hàng thương mại Vì vậy, để phục vụ và phát triển các giao dịch thanh toán quốc tế, các ngân hàng thương mại, ngoài việc hiện đại hóa công nghệ thanh toán, hoàn thiện quy trình, đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực rất cần có một mạng lưới ngân hàng đại lí hoặc chi nhánh ở nước ngoài
Bảng 1.1: Số lượng ngân hàng đại lí của một số NHTM Việt Nam
Số lương
NH đại lí
Nguồn: Tổng hợp từ các trang website của các NHTM
Đối với các chủ thể như: ngân hàng, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư vả đầu cơ, khi thực hiện các giao dịch tài chính quốc tế trên thị trường ngoại hối có thể hướng tới nhiều mục tiêu như: cung cấp tài chính ngoại thương (mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế), thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng, đầu cơ ngoại tệ (speculators) vì mục tiêu lợi nhuận, phòng ngừa rủi ro hối đoái thông qua các nghiệp vụ kì hạn (forward), tương lai (future), quyền chọn (option), hoán đổi (swap)
Trang 22I.2.2.2 Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế được hiểu là việc sử dụng các nguồn tài chính của một nước ở nước ngoài vì mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận Đầu tư quốc tế có hai dạng: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân, hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các hình thức đầu tư khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản
mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường họp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra định nghĩa về FDI như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các chủ thể một nước đưa vốn ra nước ngoài và tự mình đứng ra kinh doanh hoặc để họp tác kinh doanh với các tổ chức cá nhân nước ngoài, hoặc đầu tư mua cổ phiếu của công ty cổ phần với tỉ lệ sở hữu > 10%
Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã “công bố” Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” “Nghị định về khu chế xuất” nhàm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ tiên tiến vào Việt Nam Các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được điều chỉnh bởi “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” đã ban hành
Ở Việt Nam hiện nay có các hình thức đầu tư quốc tế trực tiếp sau:
- Hỉnh thức hợp tác trên cơ sở hợp đồng
Hình thức này được hình thành trên cơ sở một hợp đồng kinh tế, trong
đó, hai bên hoặc nhiều bên cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh trên cơ sở quy định trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên bằng một hợp đồng kinh tế mà không hình thành một pháp nhân mới
Trang 23- Hình thức doanh nghiệp liên dọanh
Hai bên hoặc nhiều bên cùng nhau góp vốn để kinh doanh trên cơ sở hình thành một pháp nhân mới Đây là hình thức phổ biến nhất của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Hình thức xỉ nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là những xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của các chủ thể nước ngoài, họ tự bỏ vốn (100%), tổ chức, quản lý và hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Khu chế xuất - khu công nghiệp tập trung
Khu chế xuất hay khu công nghiệp tập trung là nơi chuyên sản xuất, thực hiện các dịch vụ hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý do Chính phủ Việt Nam quy định Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài và Việt Nam đều có quyền tham gia kinh doanh tại khu chế xuất nếu họ có những điều kiện và thực hiện đầy đủ các điều kiện do Chính phủ Việt Nam quy định về khu chế xuất Hai điều kiện cơ bàn nhất là :
+ Sản xuất, gia công chế biến hàng xuất khẩu và phải bán ở nước ngoài.+ Sử dụng lao động Việt Nam
- Các hình thức khác: hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)
• Đầu tư gián tiếp nước ngoài (thường được viết tắt là FPI - Foreign
Portíồlio Investment hoặc FII - Foreign Indirect Investment) là các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm mục tiêu kiếm lời Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp bao gồm đầu tư trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường tài chính quốc tế, thị trường nước ngoài nhưng tỉ lệ sở hữu cổ phiếu trong công
ty của nhà đầu tư thấp và do đó không tham gia điều hành quản lí công ty cổ phần
Thực tế cho thấy, vốn là yếu tố có ảnh hưởng to lớn đối với tăng trưởng của nền kinh tế Quy mô vốn đầu tư lớn hãy’nhỏ có tác động trực tiếp đến khả năng thành công hay'bại của quá trình phát triển đất nước Vì vậy, ngoài
Trang 24việc huy động từ vốn đầu tư trong nước, kêu gọi đầu tư nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp là một hình thức dễ bắt gặp ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Cách đây 5-7 năm, nếu như đầu tư trực tiếp là hình thức đã trở nên quen thuộc, thì đầu tư gián tiếp vẫn còn khá
xa lạ với nhiều người Việt Nam Từ năm 2006, khi TTCK Việt Nam phát triển sôi động, thị trường nóng lên từng ngày, từng giờ thì đầu tư gián tiếp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đàu tư mà nhà đầu
tư nước ngoài không trực tiếp tham gia quản lý các hoạt động của doanh nghiệp đã trở nên gần gũi và phổ biến hơn Dòng vồn đầu tư gián tiếp chảy- vào Việt Nam ngày một gia tăng Tuy nhiên so với vốn FDI và so với vốn FPI chảy vào một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc thì tỷ trọng vốn FPI chảy vảo Việt Nam vẫn còn rất thấp
1.2.2.3 Tín dụng quốc tế
Tín dụng quốc tế bao gồm các quan hệ vay và cho vay giữa các chủ thể của quốc gia này với các chủ thể của quốc gia khác, hoặc với các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế Ngoài ra, tín dụng quốc tế còn được thể hiện dưới hình thức phát hành trái phiếu trên thị trường tài chính quốc tế, hoặc thị trường nước ngoài Đối tượng cấp tín dụng có thể là tiền, hàng hóa và các tài sản khác
Khác với cấp phát hoặc viện trợ không hoàn lại, tín dụng quốc tế hoạt động trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo những thời hạn đã xác định Tham gia vào các quan hệ tín dụng quốc tế bao gồm: nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, các hộ gia đình và cá nhân Chính phủ các nước có thể vay vốn từ các quốc gia khác, vay từ các định chế tài chính quốc tế, hoặc phát hành trái phiếu quốc tế nhằm huy động vốn để thực hiện các chương trình phát triển công cộng, hoặc vay để trả các khoản nợ cũ Các doanh nghiệp vay vốn để phát triển kinh doanh, để đầu tư Trong các chủ thể nêu trên, các định chế tài chính quốc tế và các ngân hàng thương mại là những chủ thể tham gia giao dịch tín dụng quốc tế chủ yếu và thường xuyên nhất và thể hiện dưới các hình thức: cho vay dự trữ, cho vay thanh toán bù trừ, cho vay theo các chương trình phát triển kinh tế
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh mang tính toàn cầu, tín dụng quốc tế được sử dụng như một công cụ quan trọng để các nước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, khắc phục những nhu cầu to lớn về vôn cho phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và thực hiện chính sách phát triển kinh tế đối ngoại, đối nội của quốc gia đó
Trang 25Đối với Việt Nam, do điều kiện tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân còn hạn chế, nhưng nhu cầu vốn để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn là rất lớn đã đặt ra sự cần thiết phải huy động mọi nguồn tài chính bên ngoài.
Theo nguồn vốn và mục đích cấp tín dụng, các quan hệ tín dụng quốc
tế của Việt Nam bao gồm:
Tín dụng Nhà nước, là hình thức tín dụng được ký kết giữa các nước
với nhau Nguồn vốn của loại hình tín dụng này lấy từ ngân sách Nhà nước của nước cấp tín dụng Mục đích vay thường là đáp ứng các nhu cầu cơ bản của Nhà nước đi vay như: đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, thanh toán nhập siêu Thời hạn tín dụng thường là trung và dài hạn, lãi suất không cao
Tín dụng ngân hàng' Đây là hình thức vay vốn ngoại tệ của ngân hàng
nước ngoài để nhập khẩu công nghệ, kỹ thuật, vật tư thực hiện công nghiệp hoá phục vụ phát triển kinh tế của đất nước
Tín dụng hỗn hợp: là hình thức tín dụng kết hợp giữa viện trợ không hoàn lại với tín dụng ngân hàng, hoặc kết hợp giữa tín dụng Nhà nước và ngân hàng Trong những năm 90 Việt Nam đã có quan hệ tín dụng với nhiều nước trên thế giới theo hình thức này như các nước Nhật, Pháp, các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu
Theo chủ thể vay, tín dụng quốc tế của Việt Nam bao gồm:
Vay của Nhà nước: Nguồn vốn huy động chủ yếu từ các Chính phủ
khác, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như nguồn vốn ODA, IMF, WB, ADB Vốn vay được Nhà nước sử dụng để đầu tư vào các công trình hạ tầng cơ sở, các ngành kinh tế mũi nhọn, chủ chốt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Quan hệ tín dụng này góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy công nghiệp hoá đất nước, tạo ra tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế ngày một tăng lên đảm bảo khả năng trả nợ, hạn chế vay để khắc phục thâm hụt ngân sách Nhà nước
Vay cùa các thành phần kinh tế khác và các DNNN: Nhà nước cho
phép các thành phần kinh tế khác và các DNNN chủ động khai thác nguồn vốn tín dụng quốc tế để kinh doanh nhưng phải đảm bảo tuân thủ các quy định về vay nước ngoài Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân phải chịu mọi trách nhiệm về hoạt động kinh tế của mình trong đó có hoạt động tín dụng
Trang 26vấn đề đặt ra là phải sử dụng nguồn vốn này như thế nào để đảm bảo khả năng trả nợ nước ngoài, thực hiện dược nguyên tắc cơ bản của tín dụng
là hoàn trả vốn vay và lãi đúng thời hạn, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, từ đó khai thác tốt hơn nguồn vốn này trong tương lai
1.2.2.4, Chuyển giao quốc tế một chiều
Các giao dịch kinh tế quốc tế nghiên cứu ở trên như thương mại, đầu
tư, tín dụng quốc tế thường có hai hệ thống chuyển giao ngược chiều nhau Trong thương mại quốc tế, hai luồng tài sản dịch chuyển ngược chiều, đó là hàng và tiền; trong đầu tư quốc tế cũng có hai giao dịch ngược chiều, đó là vốn đầu tư và thu nhập từ hoạt động đầu tư Khác với các giao dịch TCQT này, chuyển giao quốc tế một chiều như: viện trợ không hoàn lại, kiều hối không bắt buộc phải có giao dịch tài chính ngược lại
Viện trợ không hoàn lại là những khoản tài trợ mà người nhận tài trợ không có nghĩa vụ hoàn trả trong tương lai Viện trợ quốc tế không hoàn lại
là những khoản tài trợ do Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế tài trợ cho các chủ thể của một nước mà chủ thể nhận tài trợ không có nghĩa vụ hoàn trả
• Theo mục đích tài trợ, viện trợ không hoàn lại thường bao gồm: viện trợ phát triển kinh tế - xã hội (chủ yếu là viện trợ theo các chương trình của ODA), viện trợ quân sự, viện trợ nhân đạo
- Các khoản ODA viện trợ 100% thường là viện trợ của các tổ chức Liên hợp quốc như: Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP - The United Nations Development Programme), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF - The United Nations Children’s Fund), Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR - The United Nations Iligh Commissioner for Refugees), Tổ chức Y tế thế giới (WHO - World Health Organization),
Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục của Liên họp quốc (UNESCO - The United Nations Educational, Scientiíic and Cultural Organization), hoặc một số nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Nauy, hoặc của các tổ chức phi Chính phủ (NGO - Non-Governmental Organization) Các khoản viện trợ không hoàn lại khác có thể cấu thành trong các dự án ODA hỗn hợp (vừa có ODA viện trợ, vừa có ODA cho vay)
- Viện trợ quân sự là dạng viện trợ song phương giữa hai chính phủ Viện trợ quân sự thường được thực hiện dưới hình thức bàng hiện vật, hoặc
Trang 27bằng tiền dùng để mua vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây dựng căn cứ quân sự
- Cứu trợ nhân đạo: thường thực hiện mang tính khẩn cấp khi có những
sự cố thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần, bão lụt, hạn hán hoặc chiến tranh gây ra những khó khăn lớn cho các quốc gia Cứu trợ nhân đạo
có thể do các Chính phủ, các tố chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ thực hiện
• Theo chủ thể tài trợ, viện trợ quốc tế không hoàn lại bao gồm viện trợ của các tổ chức quốc tế và viện trợ của các tổ chức phi chính phủ
+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế
Một số tổ chức quốc tế như UNDP, UNICEF, PAM, WHO thực hiện phần lớn các viện trợ cho không với mục tiêu giúp các nước nghèo phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn của các tổ chức quốc tế do các nước đóng góp Vì vậy, hoạt động của các tổ chức quốc tế này chịu sự chi phối của các nước góp vốn đặc biệt là các nước có tỷ lệ góp vốn cao vốn huy động được của các tổ chức quốc tế dành cho viện trợ không hoàn lại được chia thành 2
bộ phận:
- Loại quỹ chung được phân bổ theo từng chu kỳ 3 hoặc 5 năm, các tổ chức quốc tế có quyền chủ động phân bổ theo tiêu chuẩn của LHQ quy định sẵn
- Loại quỹ uỷ thác (quỹ vận động); loại quỹ này do các tổ chức quốc tế chuyên ngành tổ chức quản lý, họ vận động các nước đóng góp viện trợ Muốn nhận được viện trợ trong quỹ này, các nước phải xây dựng dự án trước và trên cơ sở của dự án đó để vận động vốn viện trợ Các viện trợ mang tính chất hỗn hợp từ loại quỹ này có xu hướng ngày càng tăng
Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc (LHQ) thuộc diện những nước đang phát triển và là nước nghèo, để tranh thủ sự viện trợ của các tổ chức quốc tế trong LHQ cần phải tích cực thực hiện tốt các nghĩa vụ hội viên LHQ của mình, nghiên cứu hiểu rõ mục đích tôn chỉ của các tổ chức quốc tế trong LHQ và các tổ chức ngoài LHQ để tranh thủ sự ủng hộ của họ cho Việt Nam
Viện trợ quốc tế của các tổ chức quốc tế thường gắn liền với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, có sự cam kết của phía được viện trợ và được các tổ chức quốc tế đồng ý phê duyệt tài trợ Vì vậy, vấn đề
Trang 28quan trọng cho việc huy động được nguồn vốn này là phải xây dựng các dự
án phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với mục đích tôn chỉ của các tổ chức quốc tế
Xuất phát từ điều kiện thực tiễn Việt Nam và các lĩnh vực tài trợ của các tổ chức quốc tế, trong những năm tới Việt Nam có thể tranh thủ sự viện trợ của các tổ chức quốc tế theo hai nhóm lĩnh vực:
Đối với lĩnh vực xã hội, văn hoả, giáo dục, y tế:
Việc tài trợ cho lĩnh vực hoạt động này chủ yếu do các tổ chức của LHQ đảm nhận như: Chương trình phát triển của Liên hợp quốc - UNDP, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc - UNICEF, Quỹ dân số Liên hợp quốc - UNFPA (The United Nations Population Fund), Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc - UNHRC (Thê United Nations Human Rights Council), Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc - UNESCO Các dự án cần tập trung vào các hướng sau:
- Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em
- Dân số
- Bảo vệ các di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng
- Giáo dục tiểu học và thanh toán mù chữ
- Nước sạch nông thôn, vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường
Đổi với các hoạt động phát triến sản xuất chuyến giao công nghệ:
Tài trợ cho lĩnh vực này chủ yếu do các tổ chức: Chương trình phát triển của Liên hợp quốc - UNDP, Cơ quan phát triển công nghiệp Liên hợp quốc -UNIDO (The United Nations Industrial Development Organization),
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO (Food and Agriculture Oganization of the United Nations ) thực hiện Các dự án cần tập trung theo các hướng:
- Quy hoạch tổng thể các ngành kinh tế, kỹ thuật, các vùng lãnh thổ
- Hỗ trợ cải cách kinh tế (quản lý Nhà nước )
- Phát triển kinh tế những ngành sử dụng nhiều nhân lực (trồng rừng, thủy lợi, chăn nuôi, thuỷ sản )
- Khai thác tài nguyên
- Sử dụng lao động, chống nghèo dốt
Trang 29- Đào tạo chuyên gia kỹ thuật.
- Chuyên gia công nghệ, kỹ thuật hiện đại
+ Viện trợ của các tổ chức phi chỉnh phủ
Các tổ chức phi chính phủ thực hiện các chương trình viện trợ theo nguyên tắc quan hệ trực tiếp với các địa phương, cơ sở nhận viện trợ Viện trợ của các NGO bao gồm 2 nhóm chủ yếu:
- Viện trợ theo chương trình dự án được duyệt
- Viện trợ bất thường
Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ cho Việt Nam thường đa dạng, phương thức cơ bản là tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế nhỏ, bảo vệ môi trường, nước sạch, xoá đói giảm nghèo vì mục đích nhân đạo, gia tăng việc làm Để tranh thủ nguồn tài trợ từ các NGO Việt Nam cần thiết phải nam vững tôn chỉ mục đích của các NGO để tiến hành vận động tranh thủ sự trợ giúp về tài chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay
Phương hướng lập dự án, chương trình phát triển để tranh thủ viện trợ của các NGO trong thời gian tới của Việt Nam tập trung vào các vùng miền sau:
- Vùng trung du đồng bằng Bắc bộ: cần xây dựng các chương trình dự án ưạm bơm xã, y tế, phát triển nông thôn nhằm gia tăng công ăn việc làm
- Vùng cao: dự án thuỷ lợi, kè cống nhỏ, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản
- Miền núi và Tây Nam bộ: tập trung vào giáo dục, cống thoát nước, y tế
- Các thành phố lớn: trường học, trường dạy nghề, sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ người tàn tật
Trong những năm qua, do điều kiện tích luỹ từ nội bộ nền kinh té quốc dân của Việt Nam còn hạn chế, nguồn viện trợ quốc tế đặc biệt là nguồn viện trợ không hoàn lại đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết các khó khăn của Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hoá xã hội
1.3 CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
1.3.1 Tổ hợp ngân hàng thế giói - WB
Tổ hợp Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh: World Bank Group, thường được gọi tắt là Ngân hàng Thế giới và được viết tắt là WB) là một tổ chức tài chính đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và
Trang 30xã hội ở các nước đang phát triển bàng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này.
WB bao gồm 5 tổ chức tài chính thành viên, đó là:
- Ngân hàng tái thiết và phát triển (International Bank for Reconstruction and Development - IBRD)
- Công ty tài chính (International Finance Corporation - IFC)
- Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association - IDA)
- Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư (International Center for Settlement of Investment Disputes - ICSID)
- Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (Multilateral Investment Guarentee Agency - MIGA)
Mục tiêu hoạt động của WB:
- Thúc đẩy phát triển kinh tế và cải tổ cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững ở các nước đang phát triển
- Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc tài trợ dài hạn các
1.3.1.1 Ngăn hàng tái thiết và phát triển
Ngân hàng Quốc te Tái thiết và Phát triển (IBRD) được chính thức thành lập ngày 27/12/1945 tại Bretton Woods, New hampshire với trách nhiệm chính là cấp tài chính cho các nước Tây Âu để tái thiết kinh tế sau Chiến tranh thế giới II và sau này là cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo Sau khi các nước này khôi phục được nền kinh tế, IBRD cấp tài chính cho các nước đang phát triển không nghèo IBRD ngoài hội sở chính đóng tại Washington, còn có văn phòng đại diện tại 20 nước thành viên Từ 44 nước
Trang 31thành viên ban đầu, đến nay IBRD đã có 188 thành viên, đồng thời là thành viên của IMF.
• Bộ máy quản trị điều hành IBRD
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của IBRD là Hội đồng thống đốc còn gọi là Hội đồng quản trị mà thành viên là các bộ trưởng tài chính hoặc thống đốc ngân hàng trung ương các nước thành viên Hàng năm hội đồng thống đốc thường họp 1 lần (thường họp liên tịch với IMF) để thông qua các chính sách, quyết định lớn có liên quan đến việc sửa đổi hay bổ sung Điều lệ, kết nạp hay khai trừ nước thành viên, kí kết các hiệp định hay điều ước tài chính với các tổ chức quốc tế khác, phê duyệt báo cáo hoạt động năm, quyết định việc phân phối thu nhập
Hội đồng giám đốc điều hành là cơ quan điều hành công việc hàng ngày của ngân hàng gồm 24 ủy viên thường xuyên Năm nước góp vốn nhiều nhất là: Mĩ, Anh, Pháp, Đức và Nhật cừ 5 giám đốc điều hành, số còn lại được các nước bầu theo khu vực Quyền bỏ phiếu là tỷ trọng vốn đăng ký của mỗi thành viên trên tổng số vốn góp của các thành viên Nhiệm vụ của Hội đồng giám dốc là điều hành, xét duyệt các khoản cho vay, các dự án xin vay, quy chế và thủ tục mua sắm trang thiết bị Đứng đầu Hội đồng giám đốc điều hành là Chủ tịch Ngân hàng thế giới do các giám đốc bầu ra với nhiệm kì 5 năm (thường là dại diện của Mĩ) Chủ tịch không đồng thời là giám đốc điều hành và không đồng thời là thành viên hội đồng quản trị, không có quyền biểu quyết trong hội đồng giám đốc, trừ trường hợp 2 bên ngang phiếu
Bộ máy lãnh đạo của IBRD đồng thời lãnh đạo các tổ chức khác của WB
• Nguồn von của IBRD
Nguồn vốn của IBRD gồm vốn điều lệ, vốn vay và vốn dự trữ
- Vốn điều lệ: Hình thành từ đóng góp của mỗi nước thành viên, tùy thuộc vào thực lực kinh tế tài chính của mỗi nước và tương ứng với mức độ tham gia của họ vào IMF Các nước có tỉ lệ vốn góp cao là Mĩ (16,41%), Nhật (7,87%), Anh (4,31%), Pháp (4,31%) Việc góp vốn của mỗi nước thành viên chia làm 2 phần: một phần tương đương 10% nộp ngay bằng ngoại tệ mạnh, chủ yếu là bằng USD, phần còn lại khoảng 90%, gọi là vốn góp chưa nộp, được dùng làm đảm bảo cho việc phát hành trái phiếu của ngân hàng trên thị trường Khi mới thành lập, vốn điều lệ của IBRD là 10 tỉ
Trang 32USD, đến cuối 1999 là 188 tỉ USD do kết nạp thêm thành viên mới và tăng hạn ngạch góp vốn của các thành viên, trong đó vốn đã góp là 11,5 tỉ USD, vốn góp chưa nộp gần 177 tỉ USD.
- Vốn vay: là nguồn vốn hoạt động chủ yếu của IBRD, được hình thành
từ việc phát hành trái phiếu Lúc đầu IBRD chủ yếu phát hành trái phiếu ngắn và trung hạn với lãi suất cố định Hiện nay, IBRD huy động vốn bằng
cả trái phiếu ngắn, trung, dài hạn bàng những đồng tiền tự do chuyển đổi (USD, EUR, JPY, GBP, CHF) với lãi suất cố dịnh và lãi suất thả nổi
- Vốn dự trữ: là những khoản thu từ hoạt động của ngân hàng sau khi trừ chi phí Cũng giống IMF, IBRD hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng theo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi vốn dự trữ của ngân hàng được chia thành nhiều quỹ dự trữ như: dự trữ đặc biệt, dự trữ chung
• Các hình thức tài trợ của IBRD
Ngân hàng tái thiết và phát triển hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tín dụng quốc tế cùng với IMF và được quy định gắn kết mật thiết với IMF trong bản Hiệp ước điều lệ thành lập Những nguyên tắc cơ bản chi phối hoạt động của IBRD là: Ngân hàng chỉ cho vay đối với mục đích sản xuất
và phải thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển mà nó cho vay Ngân hàng quan tâm đặc biệt đến triển vọng hoàn trả nợ vay Mồi khoản vay được cấp cho chính phủ hoặc phải được chính phủ bảo lãnh Việc
sử dụng vốn vay không được hạn chế vào việc mua hàng ở bất kỳ một nước thành viên nào khác Các quyết định cho vay của IBRD phải và chỉ được dựa trên việc đánh giá về mặt kinh tế
IBRD tài trợ cho tất cả các loại đầu tư vào cơ sở hạ tầng: cầu, đường, liên lạc viễn thông, bến cảng, năng lượng nhưng chủ yếu nhấn mạnh đến việc đầu tư trực tiếp, tác động đến sinh hoạt của đại đa số dân nghèo ở các nước đang phát triển, bằng cách giúp đỡ họ tăng năng lực sản xuất và hợp nhất họ trong một lực lượng năng động của quá trình phát triển kinh tế IBRD cũng hướng tới việc giảm bớt sự bần cùng, cải thiện môi trường, đầu
tư vào giáo dục, kế hoạch hoá dân số, y tế và phát triển kinh tế tư nhân, cho vay đối với các trung gian tài chính để cho vay lại, cho vay để đầu tư và điều chỉnh cơ cấu
Người vay có thể là chính phủ, tổ chức chính phủ, doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh và chính phủ là người chịu trách nhiệm cuối cùng và duy nhất
Trang 33Thời hạn cho vay của IBRD thường từ 15 đến 20 năm, thời gian ân hạn
từ 3-7 năm, thời gian giải ngân từ 1-9 năm
Lãi suất: IBRD cho vay theo lãi suất thị trường, ngoài ra còn thu phí cam kết khoảng 0,7%/ năm tính theo phần vốn cho vay chưa sử dụng và thủ tục phí giải ngân (có hoặc không) khoảng 0,5% năm
13.1.2 Công ty tài chính quốc tế
IFC được thành lập năm 1956 như là tổ chức vệ tinh của IBRD, nhằm trợ giúp cho khu vực kinh tế tư nhân ở các nước dang phát triển, bổ trợ cho các hoạt động của IBRD Thông qua hoạt động tài trợ cho phát triển kinh tế
tư nhân, IFC thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, IFC không chỉ cấp tín dụng mà còn đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp
mà không cần sự bảo lãnh của các Chính phủ Tuy nhiên, mức đầu tư của IFC chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng < 1/4 chi phí của dự án) và chủ yếu là đầu tư hỗ trợ cho các nước nghèo Hiện nay IFC có 176 thành viên, về mặt
tổ chức, IFC tồn tại như một công ty độc lập nhưng được IBRD tài trợ chính
• Nguồn von của IFC
Nguồn vốn của IFC bao gồm: vốn góp cùa các thành viên, vốn vay và vốn từ các khoản tích lũy
- Vốn góp của thành viên: tỉ lệ tưong ứng với tỉ lệ vốn góp vào IBRD
và cũng chia làm 2 phần: phần nộp ngay và phần giữ lại tại nước thành viên Năm 1999 số vốn góp của các nước thành viên vào IFC là 2,3 tỉ USD
- Vốn vay: bao gồm vay từ IBRD (khoảng 20% tổng số vốn IFC huy động) và từ thị trường tài chính quốc tế (thông qua phát hành trái phiếu khoảng 80%)
- Vốn từ các khoản tích lũy: chủ yếu từ lợi nhuận hoạt động của công ty
• Các loại tài trợ của IFC
IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo lãi suất thị trường và chủ yếu là cho vay dài hạn Sự tham gia của IFC như một sự bảo đảm đối với các nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án Hoạt động của IFC chỉ giới hạn trên một quy mô nhỏ với điều kiện tài chính nới lỏng hon so với IBRD
Trang 341.3.1.3 Hiệp hội phát triển quốc tế
IDA được thành lập năm 1960 với mục đích cung cấp các khoản cho vay dài hạn cho những nước nghèo nhất thế giới Do các diều kiện cho vay của IBRD vượt quá khả năng kinh tế của các nước nghèo nhất, nên IDA ra đời như một định chế tài chính bổ sung của WB để giúp đỡ các nước nghèo phát triển Hiện nay IDA có 164 nước thành viên
• Nguồn vốn của 1DA
Nguồn vốn cùa IDA bao gồm:
- Vốn góp của các nước thành viên: mỗi nước khi tham gia vào IDA phải góp một số vốn theo tỉ lệ vốn góp vào IBRD Đối với các nước thành viên thuộc nhóm 1 (các nước công nghiệp phát triển và các quốc gia có nguồn dầu mỏ) phải nộp toàn bộ vốn góp bằng vàng, hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi Nhóm 2 (gồm các nước còn lại) góp vốn theo tỉ lệ giống vốn góp vào IBRD & IFC Đến năm 1999 số vốn góp này khoảng 90 tỉ USD
• Các loại lài trợ của IDA
IDA chỉ tài trợ cho các nước thành viên nghèo nhất, thường quy định
có thu nhập bình quân đầu người từ 740USD/ năm trở xuống Trên thực tế, việc cho vay chủ yếu được tiến hành với những nước có thu nhập bình quân đầu người bằng nửa mức quy định Các loại cho vay của IDA gồm cho vay dầu tư và cho vay điều chỉnh
Người vay là các Chính phủ Sau khi vay IDA, Chính phủ có thể cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân vay lại Thời hạn cho vay của IDA từ 20-40 năm, thời gian ân hạn tới 10 năm IDA cho vay không tính lãi nhưng thu phí cam kết 0,5% / năm trên số vốn chưa sử dụng và phí phục vụ 0,75%/ năm trên số vốn đã rút
1.3.1.4 Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư
ICSID thành lập năm 1966 như một diễn đàn phân xử hoặc trung gian hòa giải các mâu thuẫn giữa nhà đầu tư nước ngoài với nước nhận đầu tư
Tổ chức này hiện có 133 nước thành viên và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
1.3.1.5 Cơ quan Bảo lãnh Dầu tư Da phương
MIGA thành lập năm 1988 nhằm thúc đẩy FDI vào các nước đang phát triển MIGA cung cấp những bảo đảm trước các rủi ro chính trị (rủi ro phi
Trang 35thương mại) để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển MIGA cũng hỗ trợ kĩ thuật giúp các nước đang phát triển thúc đẩy cơ hội đầu tư và sử dụng cầc dịch vụ luật pháp của mình để giải quyết ổn thỏa những khó khăn trong đầu tư MIGA là tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và hiện nay có 160 nước thành viên.
1.3.2 Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh: International Monetary Fund, viết tắt IMF) là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu, bằng việc theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu Quỹ được thành lập vào tháng 7/1944 có trụ sở chính đặt tại Washington, D.C., thủ đô của Hoa Kỳ Đen tháng 4/1947 IMF chính thức đi vào hoạt động với 44 nước thành viên, đến nay có 184 quốc gia thành viên
- Giám sát và thúc đẩy sự ổn định về tỷ giá hối đoái, tránh phá giá mang tính cạnh tranh giữa các nước thành viên
- Hỗ trợ việc xác lập một hệ thống thanh toán đa phương cho các giao dịch vãng lai giữa các nước thành viên, loại bỏ các quản chế ngoại hối, làm phương hại đến sự phát triển của thương mại quốc tế
- Cung cấp ngân quỹ tạm thời giúp các nước thành viên cải thiện tình trạng cán cân thanh toán mà không làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia và quốc tế
- Bổ sung dự trữ cho các nước thành viên bàng cách phân bổ SDR nếu các nước có nhu cầu trong dài hạn, khuyến khích chu chuyển tự do các nguồn vốn giữa các nước thành viên
- Khuyến khích mậu dịch tự do và tăng trưởng thương mại giữa các nước thành viên
Trang 36• Cơ cấu tổ chức của 1MF
IMF được tổ chức dựa vào hiệp ước quốc tế - hiệp ước điều lệ - được soạn thảo lần đầu tại hội nghị Bretton Woods năm 1994 Thành viên của IMF bao gồm các nước công nghiệp thuộc nhóm G7 (group seven - G7): Canada, Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức, Ý và các quốc gia đang phát triển khác.Nhiệm vụ của IMF được giao cho một Hội đồng các Thống đốc, một Hội đồng giám đốc điều hành, một Tổng giám đốc điều hành, ủy ban Tài chính tiền tệ quốc tế, ủy ban về sự phát triển và đội ngũ chuyên viên
+ Hội dồng Thống đốc: là cơ quan quyền lực cao nhất của IMF Mỗi quốc gia thành viên được cử một thống đốc và một thống đốc dự khuyết Hội đồng thống đốc quyết định các vấn dề cơ bản nhất của Quỹ: kết nạp thành viên mới, khai trừ thành viên hiện hữu, thay đổi mức vốn góp, quy định quyền rút vốn đặc biệt, phê duyệt báo cáo hoạt động hàng năm của quỹ Hội đồng họp mỗi năm một lần Hội nghị thường niên của Hội đồng thống đốc họp 3 năm 1 lần (những năm gần đây thường họp liên tịch với WB)T
+ Hội đồng giám đốc điều hành: là cơ quan điều hành hoạt động của Quỹ gồm 24 giám dốc, đứng đầu là tổng giám đốc điều hành Hội đồng điều hành hoạt động theo yêu cầu của các nước thành viên về trợ giúp tài chính,
tư vấn cho các nước cần trợ giúp tài chính, ra quyết định về các chính sách chung và quản lí giám sát nghiệp vụ của IMF
+ ủy ban tiền tệ và tài chính quốc tế: gồm 24 quan chức cấp bộ trưởng của các nước Hội đồng có nhiệm vụ chỉ đạo công việc của Hội đồng giám đốc điều hành, xây dựng các khuyến nghị và khởi thảo các báo cáo cho Hội đồng thống đốc về các vấn đề quản lí và vận dụng chế độ tiền tệ - tài chính quốc tế, đặc biệt là những biến động bất ngờ gây nên sự nguy hiểm cho hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế và các kiến nghị sửa đổi Điều lệ của Quỹ.+ ủy ban về sự phát triển: gồm 24 thành viên, mỗi năm họp 1 lần vào thời điểm họp Đại hội toàn thể của Quỹ ủy ban có nhiệm vụ đưa ra các khuyến nghị và xây dựng các báo cáo cho Hội đồng thống đốc của Quỹ và
WB về phát triển kinh tế
+ Cơ cấu bộ máy hoạt động: nhân sự của Quỹ là các viên chức dân sự quốc tế, chủ yếu là các chuyên gia kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán và chuyên viên pháp lí được tuyển dụng rộng rãi từ tất cả các nước thành viên Các nhân viên của Quỹ được tổ chức thành 22 vụ, ban và học viện
Trang 37• Cơ chế biêu quyết
Mọi nghị quyết chỉ được thông qua ở Hội đồng thống đốc hoặc Hội đồng giám đốc điều hành khi có tối thiểu 85% phiếu thuận Quyền bỏ phiếu của mỗi nước thành viên phụ thuộc vào mức độ đóng góp của quốc gia đó vào nguồn tài chính của Quỹ Mỗi quốc gia đều có 250 phiếu biểu quyết (mức phiếu biếu quyết tối thiểu) và được thêm 1 phiếu biểu quyết cho mỗi phần vốn góp cho quỹ tương dương 100.000 SDR Khi các nước thành viên nhượng quyền sử dụng vốn cho nhau, ứng với mồi lần nhượng 400.000 SDR sẽ bị trừ đi một phiếu biểu quyết với nước bán và thêm 1 phiếu cho nước mua Thành viên có quyền biểu quyết lớn nhất của IMF là Mỹ chiếm 17,46% tổng quyền bỏ phiếu, thành viên thấp nhất dưới 1%
• Nguồn vốn hoạt động của ỈMF
Nguồn vốn của IMF bao gồm nguồn vốn đóng góp của các thành viên, nguồn vốn vay, nguồn vốn tích lũy và các nguồn vốn đặc biệt khác
+ Von điều lệ: là nguồn vốn hoạt động chủ yếu của IMF, do các nước
thành viên đóng góp, các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật Bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%).Khi gia nhập Quỹ, nước thành viên phải góp vốn tùy theo tỉ trọng xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của nước đó trên thị trường quốc tế Hạn mức đóng góp của 1 thành viên phản ánh quy mô kinh tế và thu nhập quốc dân của thành viên đó trong mối quan hệ với các thành viên khác của IMF, đồng thời quyết mức sử dụng SDR của IMF Khoản đóng góp vào Quỹ trước năm 1980 gồm 25% bằng vàng, 75% bằng bản tệ; hiện nay gồm 25% bàng ngoại tệ mạnh và 75% bằng bản tệ Theo điều lệ của Quỹ, cứ 5 hoặc 3 năm Quỹ xem xét và quyết định lại mức vốn góp Lần nâng mức vốn góp năm 1997 đã nâng tổng vốn điều lệ của Quỹ từ 146 tỉ SDR (200 tỉ USD) lên
Trang 38quốc tế, đến lúc đó nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng và USD của các quốc gia trở nên không đủ đáp ứng SDRs ra đời cung cấp cho các quốc gia thành viên một nguôn lực bổ sung để có thể duy trì tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ Quỹ tiền tệ quôc tê nhận tiền đóng góp (tương ứng là quyền biểu quyết) và sử dụng nguồn góp đó, cộng thêm với các tài trợ khẩn cấp đặc biệt để cho một số nước thành viên vay, nhằm ổn định cung cầu tiền
tệ, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán ngắn hạn số tiền cụ thể mà mỗi quốc gia phải đóng góp được IMF xem xét quyết định căn cứ tinh hình kinh tế của quốc gia đó Trước ngày 1 tháng 4 năm 1978, cứ 5 năm một lần, IMF sẽ xem xét lại số tiền mà mỗi thành viên phải đóng góp (tăng lên hoặc giảm đi) Từ ngày 1 tháng 4 năm 1978 trở đi, việc này được thực hiện 3 năm một lần.
Tuy nhiên SDRs chỉ là đơn vị qui ước, chì được sử dụng để tính toán chứ không thực sự tồn tại trong lưu thông, do vậy người ta không thể tiêu nó như các loại tiền tệ dùng trong lưu thông khác.
Mặc dù việc tính toán để phân bổ SDRs nói chung được thực hiện 5 năm một lần nhằm đáp ứng nguồn lực dự trữ bổ sung trên phạm vi toàn cầu trong dài hạn nhưng từ khi ra đời cho đến nay, IMF mới quyết định phân bổ SDRs 2 lần Lần thứ nhát trong giai đoạn 1970-1972 với tổng số 9,3 tỷ USD, lần thứ hai trong giai đoạn 1979-1981 đưa tổng
số đã phân bổ lên 21,4 tỷ USD Trong điều kiện chế độ tỷ giá hối đoái thà nổi hiện nay, vai trò của SDRs với tư cách là tài sản dự trữ bổ sung rất hạn chế, nó chủ yếu phát huy tác dụng như một đơn vị tính toán Năm 1997, IMF đã phê chuẩn đề nghị về khoản phân
bổ đặc biệt và một lần của SDRs để nâng tổng mức phân bổ lên gấp đôi (42,8 tỷ USD)
do hơn 20% thành viên gia nhập IMF sau năm 1981 chưa từng được phân bổ SDRs Cũng xuất phát từ thực trạng vai trò của SDRs đã bị hạn chế và một thực tế là tổng tài sàn dự trữ của các quốc gia là khoảng 1,6 nghìn tỷ USD đang nằm ngủ trong khi nguồn lực nhằm đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc đang thiếu hụt, năm 2001, nhà tài phiệt George Soros và nhà kinh tế học Joseph stiglitz đã đưa ra
đề nghị dùng các khoản phân bổ SDRs cho đầu tư phát triển Trước hết, họ đề nghị Mỹ phê chuẩn quyết định của IMF năm 1997 rồi sau đó việc phân bổ SDRs sẽ được tiến hành hàng năm Ngân sách này phần lớn sẽ do các nước phát triển đóng góp và chỉ sử dụng cho các chương trình được IMF phê duyệt Những chương trình này tập trung cho cung cáp hàng hóa công cộng, cải thiện mối quan hệ giữa khu vực công cộng với khu vực tư nhân ở các nước đang phát triển như sức khỏe cộng đồng, giáo dục, cải cách hệ thống pháp lý Riêng xóa đói giảm nghèo không nằm trong phạm vi chương trinh Chương trình được tiến hành không chỉ qua con đường Chinh phủ mà còn bời cảc tổ chức phi chính phủ, hay kết hợp giữa khu vực công cộng với khu vực tư nhân Tuy vậy cho đến nay, tất cả mới chỉ dừng ờ dự định và đề nghị.
Trang 39Định nghĩa SDRs
Từ 1969 đến tháng 6 năm 1974, SDRs được định nghĩa bằng giá tri của USD và USD xác định theo giá trị so với vàng:
-Từ 1969 đến ngày 17/12/1971: 35 USD = 1 ozvàng.
- Từ ngày 18/12/1971 đến ngày 11/2/1973: 38 USD = 1 oz vàng.
- Từ ngày 12/2/1973 đến ngay 30/6/1974: 42,22 USD = 1 oz vàng.
Năm 1973, chế độ tỳ giá hối đoái cố định sụp đổ nên từ tháng 7/1974 đến nay, SDRs được định nghĩa theo các điều kiện của một rổ tiền tệ, bao gồm các loại tiền tệ chính được sử dụng trong thương mại và tài chính quốc tế.
- Từ tháng 7/1974 đến ngày 31/12/1980: rổ tiền tệ bao gồm 16 loại tiền mà mỗi loại chiếm tỷ trọng từ 1% trở lên trong thương mại quốc tế.
- Từ năm 1981 đến 2000: các loại tiền tệ trong rổ là Mác Đức, Frăng Pháp, Bảng Anh, Yên Nhật, Đô la Mỹ.
- Từ 2001 cho đến nay: rổ tiền tệ gồm Euro, bàng Anh, Yên Nhật, Đô la Mỹ.
Tỷ lệ mỗi loại tiền tệ tạo ra một SDR được chọn theo tầm quan trọng tương đối của
nó trong thương mại và tài chính quốc tế Việc xác định loại tiền tệ trong rổ SDR và tỷ lệ của nó do Ban lãnh đạo của IMF thực hiện sau mỗi 5 năm Tỷ lệ của các loại tiền tệ trong giai đoạn từ 1981 tới 2010 là:
• 1981-1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13%
• 1986-1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12%
• 1991-1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11%
• 1996-2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11%
• 2001-2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11%
• 2006-2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11%
Tỷ giá hối đoái mà IMF sừ dụng để tính toán và công bố giá trị của SDR hàng ngày
là tỷ giá trên thị trường ngoại hối London, nếu thị trường này đóng cửa thì dùng tỷ giá trên thị trường ngoại hối New York, cuối cùng là tỷ giá trên thị trường ngoại hối Frankfurt
sẽ được sử dụng nếu thị trường New York cũng đóng cửa.
Ngày 1/4/2007, tỷ giá quy đổi là: 1 SDR = 1,135 EUR = 1,51 USD.
+ Nguồn von đi vay: bên cạnh nguồn vốn điều lệ, Quỹ còn huy động
vốn vay thông qua các Hiệp định vay nợ tổng quát với các nước phát triển
và Hiệp định vay nợ với một số nước khác hoặc với các định chế tài chính của các nước Khi nhu cầu sử dụng vốn giảm hoặc vốn góp tăng thì Quỹ hoàn trả cho nước chủ nợ
+ Nguồn vốn tích lũy: IMF hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi và
có lãi Hàng năm số lãi ròng thu được từ hoạt động của Quỹ sẽ được bổ sung vào nguồn vốn hoạt động
Trang 40+ Nguồn vốn đặc biệt: ngoài các nguồn vốn trên, tùy nhu cầu tùng thời
kì, IMF có thể có thêm các nguồn vốn đặc biệt sau:
- Quỹ dollar dầu lửa (thời hạn hoạt động từ 1976-1981): dùng hỗ trợ các nước thành viên bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán với lãi suất cao (>7,2%/năm) và điều kiện về thi hành chính sách năng lượng quốc gia, chính sách hối đoái do IMF khuyến nghị
- Quỹ tín thác (thời gian hoạt động từ 1976-1981): đây là nguồn thu bán vàng của Quỹ nham tài trợ cho các thành viên kém phát triển nhất với thời hạn cho vay là 10 năm, lãi suất 0,5% năm
- Quỹ Witteveen: được thành lập năm 1979 dựa vào đóng góp của 14 nước thành viên, dùng tài trợ cho các nước thành viên giải quyết khó khăn
về cán cân thanh toán với lãi suất cao (14,6%/năm) Quỹ đã ngừng hoạt động từ năm 1992
• Các hình thức sử dụng vốn của IMF
► Cho vay thông thường
+ Rút vốn dự trữ: IMF cho các nước thành viên được rút vốn dự trữ (bàng SDR hoặc một loại ngoại tệ nhất định) để khắc phục cán cân thanh toán của nước mình bị thâm hụt với điều kiện nước đó phải nộp vào quỹ một số nội tệ tương đương Đen thời hạn thỏa thuận, nước rút vốn phải trả IMF ngoại tệ đã rút hoặc SDR và thu về nội tệ Rút vốn dự trữ không có tính chất vay mượn, nên không phải trả lãi mà chỉ phải trả lệ phí
+ Tín dụng theo đợt: hình thức này giúp các nước thành viên có thêm nguồn vốn bù đắp thiếu hụt của cán cân thanh toán, nhưng không cấp ngay một lần, mà chia làm 4 lần Lần 1 trong phạm vi 25% hạn mức vay (100%
cổ phần đóng góp) Các lần rút vốn tiếp theo (mỗi lần 25% hạn mức vay), nước xin vay phải giải trình trước Quỹ những chính sách kinh tế xã hội sẽ
áp dụng để khắc phục thực trạng thâm hụt cán cân
► Cho vay đặc biệt
+ Tài trợ bù đắp: Hỗ trợ các nước thành viên khắc phục khó khăn do hụt thu xuất khẩu hàng hóa, hoặc bội chi nhập khẩu lương thực Hạn mức cho vay với hụt thu xuất khẩu hàng hóa là 20% hạn ngạch góp vốn, với bội chi nhập khẩu lương thực là 10% hạn ngạch góp vốn Loại cho vay này có thể rút vốn 1 lần, hoàn trả nhiều lần từ sau năm thứ 3, lãi suất từ 4-6%/ năm