1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực trạng hợp đồng kỳ hạn

11 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 246,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỢP ĐỒNG KỲ HẠN THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM I/ GIỚI THIỆU SƠ VỀ HỢP ĐỒNG KỲ HẠN Hợp đồng kỳ hạn loại hợp đồng ký bên mua bên bán loại tài sản (có thể chứng khoán, dầu mỏ bất kỳ) thời điểm việc thực diễn tương lai to t1 II/HỢP ĐỒNG KỲ HẠN TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI : Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn giao dịch mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ thực sau thời gian định kể từ thỏa thuận hợp đồng Lý xuất loại giao dịch : để cung cấp phương tiện phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức rủi ro phát sinh biến động bất thường tỷ giá gây Với tư cách cơng cụ phòng ngừa rủi ro, hợp đồng có kỳ hạn sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo tỷ giá cố định biết trước, bất chấp biến động tỷ giá thị trường Tham gia giao dịch kỳ hạn chủ yếu ngân hàng thương mại, công ty đa quốc gia, nhà đầu tư thị trường tài quốc tế cơng ty xuất nhập khẩu, tức người mà hoạt động họ thường xuyên chịu ảnh hưởng cách đáng kể biến động tỷ giá Khi có nhu cầu giao dịch ngoại tệ, hai bên ngân hàng khách hàng thoả thuận giao dịch ký kết hợp đồng giao dịch ngoại tệ kỳ hạn.Thị trường hối đoái kỳ hạn thị trường thực giao dịch loại hợp đồng Ở Việt Nam

Trang 1

Nhóm : BLUE

Thành viên :

9/Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh (TF2)

ĐỀ : HỢP ĐỒNG KỲ HẠN THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM.

I/ GIỚI THIỆU SƠ VỀ HỢP ĐỒNG KỲ HẠN

Hợp đồng kỳ hạn là một loại hợp đồng được ký giữa bên mua và bên bán đối với một

loại tài sản (có thể là chứng khoán, dầu mỏ hoặc bất kỳ) tại thời điểm hiện tại nhưng việc thực hiện sẽ được diễn ra trong tương lai

to t1

II/HỢP ĐỒNG KỲ HẠN TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI :

Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn là giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại

tệ được thực hiện sau một thời gian nhất định kể từ khi thỏa thuận hợp đồng

L

ý d o xu ất hiện l o ạ i g i a o d ị c h n à y : là để cung cấp phương tiện phòng ngừa rủi ro hối đoái, tức là rủi ro phát sinh do sự biến động bất thường của tỷ giá gây ra Với tư cách

là công cụ phòng ngừa rủi ro, hợp đồng có kỳ hạn được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá cố định đã biết trước, bất chấp sự biến động tỷ giá trên thị trường

Tham gia giao dịch kỳ hạn chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các công ty đa quốc gia, các nhà đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế và các công ty xuất nhập khẩu, tức là những người mà hoạt động của họ thường xuyên chịu ảnh hưởng một cách đáng kể bởi sự biến động của tỷ giá Khi có nhu cầu giao dịch ngoại tệ, hai bên ngân hàng và khách hàng thoả thuận giao dịch và ký kết hợp đồng giao dịch ngoại

tệ kỳ hạn.Thị trường hối đoái kỳ hạn chính là thị trường thực hiện giao dịch loại hợp đồng này

Ở Việt Nam giao dịch hối đoái kỳ hạn chính thức ra đời từ khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định

số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10 tháng 01 năm 1998 Theo quy chế này giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai

Trang 2

Ở Việt Nam, hợp đồng kỳ hạn mặc dù đã được chính thức đưa ra thực hiện từ năm

1998, nhưng đến nay nhu cầu giao dịch loại hợp đồng này vẫn chưa nhiều Lý do, một mặt, là khách hàng vẫn chưa am hiểu lắm về loại giao dịch này Mặt khác, do cơ chế điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong suốt thời gian qua khá ổn định theo hướng VND giảm giá từ từ so với ngoại tệ để khuyến khích xuất khẩu nhưng vẫn đảm bảo ổn định đối với hoạt động nhập khẩu Chính lý do này khiến các nhà xuất khẩu không cảm thấy lo ngại ngoại tệ xuống giá khi ký kết hợp đồng xuất khẩu nên không có nhu cầu bán ngoại tệ kỳ hạn Về phía nhà nhập khẩu, tuy ngoại tệ có lên giá so với VND khiến nhà nhập khẩu lo ngại, nhưng sự lên giá của ngoại tệ vẫn được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức có thể kiểm soát được nên nhà nhập khẩu vẫn chưa thực sự cần giao dịch kỳ hạn để quản lý rủi ro tỷ giá

Các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng kỳ hạn nói gì ?:

Ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch HĐQT CTCP Cà phê An Giang cho biết, năm 2008, trong vòng 2 tuần, chênh lệch tỷ giá giúp doanh nghiệp kiếm lời 20 tỷ đồng, song cũng

có đợt doanh nghiệp lỗ vì tỷ giá

Dự báo năm 2009, đồng USD và các loại ngoại tệ khác vẫn có thể biến động mạnh, vì vậy doanh nghiệp xuất nhập khẩu có xu hướng chú trọng nhiều hơn cho việc tìm kiếm và

sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá

Mỗi năm, Cà phê An Giang xuất khẩu 80.000 tấn cà phê, vì thế ông An cho hay, ngay từ đầu năm 2009 Công ty chủ trương sẽ tăng cường sử dụng các dịch vụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá

Với doanh nghiệp xuất khẩu, sau khi được hưởng hỗ trợ lãi suất, doanh nghiệp có thể vay tiền đồng với lãi suất 1%/năm, nhưng phải cam kết bán ngoại tệ cho ngân hàng với tỷ giá của ngày giải ngân; nếu doanh nghiệp muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng theo tỷ giá thực ngày trả nợ thì lãi suất vay sau khi được hỗ trợ sẽ là 4 - 4,5%/năm

Như vậy, tùy theo nhận định về biến động tỷ giá mà nhà xuất khẩu lựa chọn phương án vay phù hợp, chứ không phải ngân hàng cứ quảng cáo lãi suất 1 - 2%/năm mà đã hấp dẫn

Giám đốc tài chính một doanh nghiệp thủy sản lớn của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu ước 200 triệu USD/năm cho biết, năm 2008 doanh nghiệp này thường sử dụng công

cụ bán forward Ở thời điểm tỷ giá ổn định như 3 tháng đầu năm, lựa chọn này khá hiệu quả, nhưng hồi tháng 5, tháng 6 tỷ giá biến động tới 19.000 VND/USD thì họ bị lỗ không ít

Tuy nhiên, với nhà nhập khẩu hạt nhựa như CTCP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (NTP) thì việc không sử dụng công cụ forward ở thời điểm “nóng bỏng” trên cũng gây thiệt hại tới hơn chục tỷ đồng

Ông Nguyễn Trung Kiên, Kế toán trưởng NTP cho hay, do đặc thù nhập khẩu một lượng lớn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, doanh nghiệp thường sử dụng dịch vụ mua forward trước cả tháng, cách làm này giúp Công ty xác định khá chính xác giá cả cũng như chi phí tài chính

Năm 2008, có thời điểm USD khan hiếm, doanh nghiệp có muốn thực hiện dịch vụ này, ngân hàng cũng không cung cấp, cũng có thời điểm chi phí để mua forward ngoại tệ cho một đơn hàng tới 700 - 800 triệu đồng khiến lãnh đạo doanh nghiệp không “quyết”, hệ quả là tháng 5 đồng USD tăng vọt, chi phí tài chính ngốn thêm cả chục tỷ đồng

Với một số doanh nghiệp, do điều kiện nào đó phải vay ngoại tệ A để nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị, song nguồn thu lại là ngoại tệ B thì có thể tìm đến ngân hàng cung ứng dịch vụ hoán đổi lãi suất tiền tệ Công cụ này có thể giúp doanh nghiệp cân đối

Trang 3

luồng tiền, cơ cấu lại tài sản nợ - có và giảm bớt chi phí vốn trên cơ sở nhận định đúng diễn biến thị trường

Thực tế trên đây cho thấy, công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đóng vai trò quan trọng với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, song những năm trước doanh nghiệp khá thờ ơ với công

cụ bảo hiểm này?

Lý do là lâu nay doanh nghiệp Việt Nam quen sử dụng đồng USD trong giao thương quốc tế, hơn nữa chính sách tỷ giá của Chính phủ duy trì ổn định nên doanh nghiệp không chịu mấy tác động Nay trong xu thế đẩy mạnh đầu tư, tập trung cho xuất nhập khẩu, giao thương quốc tế mở rộng và đặc biệt thông điệp điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước là “linh hoạt”, doanh nghiệp không thể lơ là

Ngân hàng SACOMBANK, VIETCOMBANK, DONGABANK, TECHCOMBANK

cũng có hợp đồng kỳ hạn về ngoại tệ, kinh doanh vốn…

Techcombank cũng như một số ngân hàng khác được thực hiện các dịch vụ ngoại hối

đều có cung cấp các sản phẩm cho doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá như hợp đồng

kỳ hạn Tuy nhiên hợp đồng này phải trả phí

Sau đây là thông tin về giao dich kỳ hạn của SACOMBANK (bạn có thể thấy thông tin này trên website của NH SACOMBANK) :

Giao dịch kỳ hạn ngoại tệ, vàng

Là giao dịch mua bán ngoại tệ, vàng theo tỷ giá được xác định vào ngày giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm trong tương lai theo thỏa thuận.

Các lợi ích chính:

Đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền ra nước ngoài hoặc đầu tư theo tỷ giá xác định trước nhằm tránh rủi ro tỷ giá

Khách hàng có thể dự tính trước được chi phí kinh doanh hoặc thu nhập, đảm bảo được khả năng thanh toán

Các điểm chính trong giao dịch kỳ hạn:

Tỷ giá kỳ hạn: tỷ giá thực hiện tại thời điểm đáo hạn hợp đồng Tỷ giá này sẽ do

Sacombank tính toán trên cơ sở thương mại hợp lý

Thời gian thanh toán: tối thiểu 03 ngày, tối đa

(i) đối với giao dịch ngoại tệ và VND là 365 ngày, (Theo Quyết định 679 : giới

hạn thời hạn giao dịch từ 7 đến 180 ngày đối với tất cả các loại giao dịch dù là

giữa VND với ngoại tệ hay giữa các loại ngoại tệ với nhau Quyết định 648

đã đổi thành từ 3 đến 365 ngày )

(ii) (ii) đối với giao dịch giữa 02 loại ngoại tệ theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và

khách hàng

Thủ tục thực hiện: đơn giản , khách hàng ký hợp đồng mua bán ngoại tệ, vàng kỳ hạn với Ngân hàng

Khách hàng đặt cọc một tỷ lệ x% trên tổng giá trị giao dịch để đảm bảo thực hiện giao dịch

( Khắc phục được hạn chế : Hợp đồng kỳ hạn rủi ro hơn so với hợp đồng tương lai vì nó

chưa chắc được được thực hiện tức là hợp đồng có thể bị phá vỡ

- Không được chuẩn hóa mà dựa trên nguyên tắc thỏa thuận (không phải ký quỹ, tức không có một tổ chức nào đứng ra đảm bảo về tính thực hiện của hợp đồng)

Trường hợp giao dịch giữa ngoại tệ và VND: khách hàng cần cung cấp các giấy tờ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

1.

Tỷ gi á k ỳ hạn

Trang 4

Tỷ giá kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được xác định

ở hiện tại Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn và được

xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và lãi suất trên thị trường tiền tệ

Gọi:

• F là tỷ giá kỳ hạn

• S là tỷ giá giao ngay, chẳng hạn S = USD/VND

• rd là lãi suất của đồng tiền định giá, tức là lãi suất VND

• ry là lãi suất của đồng tiền yết giá, tức là lãi suất USD

Ta có tỷ giá có kỳ hạn được xác định bởi công thức sau:

F = S(1 + rd)/(1+ ry) (1)

Công thức (1) dựa trên cơ sở lý thuyết cân bằng lãi suất (interest rate parity – IRP)

Lý thuyết này nói rằng chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia phải được bù đắp bởi chênh lệch tỷ giá giữa hai đồng tiền để những người kinh doanh chênh lệch giá không thể sử dụng hợp đồng kỳ hạn kiếm lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch lãi suất

Chúng ta có thể sử dụng lý thuyết này để chứng minh công thức (1) Chẳng hạn nếu lãi suất ngắn hạn ở VND cao hơn lãi suất ngắn hạn ở Mỹ thì, theo IRP, đồng tiền Việt Nam (VND) sẽ giảm giá so với USD đủ để ngăn chận các nhà kinh doanh chênh lệch giá di chuyển vốn từ Mỹ sang Việt Nam và sử dụng thị trường kỳ hạn để “khóa chặt” khoản thu nhập từ kinh doanh chênh lệch lãi suất Trong trường hợp này nhà kinh doanh chênh lệch giá sẽ thực hiện một số giao dịch như sau:

• Bỏ ra một số tiền là p dollar Mỹ

• Đổi sang VND theo tỷ giá giao ngay S sẽ được p*S đồng

• Đầu tư pS đồng trên thị trường tiền tệ Việt Nam với lãi suất rVND và thu lại pS(1+rVND) đồng khi đáo hạn

• Chuyển số VND thu được sang dollar Mỹ theo tỷ giá có kỳ hạn F được p(1+rVND)S/F dollar Mỹ

Nếu không di chuyển vốn sang Việt Nam nhà kinh doanh sử dụng p dollar Mỹ đầu tư trên thị trường tiền tệ ở Mỹ với lãi suất rUSD và thu được p(1 + rUSD) dollar Mỹ khi đáo hạn

Nếu p(1 + rVND)S/F > p(1 + rUSD) thì các nhà kinh doanh chênh lệch giá sẽ di chuyển vốn đầu tư sang Việt Nam Do đó, để ngăn chận không cho các nhà kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận trời cho, chênh lệch lãi suất trên thị trường tiền tệ phải được bù đắp bởi chênh lệch tỷ giá trên thị trường hối đoái sao cho thị trường luôn

ở trạng thái cân bằng, tức là:

p(1+ rVND)S/F = p(1 + rUSD)

⇒ F = S(1 + rVND)/(1 + rUSD) (2)

Nếu tổng quát hóa công thức (2) cho hai loại tiền tệ bất kỳ nào đó, thay vì cho USD

và VND, ta sẽ được công thức (1) Nói chung tỷ giá có kỳ hạn phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay và lãi suất đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá Trên thị trường tiền tệ, lãi suất đồng tiền định giá ( VND)có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn lãi suất đồng tiền yết giá (USD) Dựa vào công thức (1), chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:

1 Nếu lãi suất đồng tiền định giá lớn hơn lãi suất đồng tiền yết giá: rd > ry => 1+rd > 1+ry => (1+rd)/ (1+ry) >1 => F > S Khi đó người ta nói có điểm gia tăng tỷ giá có

kỳ hạn

Trang 5

2 Nếu lãi suất đồng tiền định giá nhỏ hơn lãi suất đồng tiền yết giá: rd < ry => 1+rd < 1+ry =>(1+rd)/ (1+ry) <1 => F < S Khi đó người ta nói có điểm khấu trừ tỷ giá có

kỳ hạn

3 Kết hợp hai trường hợp trên chúng ta thấy rằng tỷ giá có kỳ hạn có thể tóm tắt như sau: F = S + Điểm kỳ hạn, trong đó điểm kỳ hạn có thể dương hoặc âm và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền định giá

và yết giá

Từ những nhận xét trên đây một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam, chẳng hạn như

Ngân hàng Á Châu, đưa ra cách tính tỷ giá có kỳ hạn của họ như sau:

Tỷ giá có kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + Điểm kỳ hạn

Ở đây, có hai trường hợp xác định tỷ giá có kỳ hạn: tỷ giá mua có kỳ hạn và tỷ giá bán

có kỳ hạn Để tiện việc tính toán, chúng ta đặt:

• Fm, Sm lần lượt là tỷ giá mua có kỳ hạn và tỷ giá mua giao ngay

• Fb, Sb lần lượt là tỷ giá bán có kỳ hạn và tỷ giá bán giao ngay

• Ltg(VND), Lcv(VND) lần lượt là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay đồng Việt Nam

• Ltg(NT), Lcv(NT) lần lượt là lãi suất tiền gửi và cho vay ngoại tệ

• N là số ngày của hợp đồng có kỳ hạn

Chúng ta có các công thức xác định tỷ giá mua và tỷ giá bán kỳ hạn thường được áp dụng trong thực tiễn giao dịch như sau:

A Tỷ giá mua có kỳ hạn

Fm = Sm + Sm[Ltg(VND) - Lcv(NT)]N

100 * 360 (3)

B Tỷ giá bán có kỳ hạn

Fb = Sb + Sb[Lcv(VND) - Ltg(NT)]N

100 * 360 (4)

Trang 6

Trong công thức (3) và (4) trên đây, người ta giả định năm tài chính có 360 ngày và lãi suất được tính theo %/năm Để minh họa cho việc sử dụng công thức xác định tỷ giá kỳ hạn, chúng ta xem xét tình huống sau đây:

VD: Ngày 04/08/200x tại Vietcombank có tỷ giá giao ngay và lãi suất kỳ hạn 3 tháng trên thị trường tiền tệ như sau:

USD/VND: 15888 – 15890

VND: 6,9 – 9,6%/năm

USD: 2,6 – 4,6%/năm

Công ty A muốn mua trong khi công ty B muốn bán USD kỳ hạn 3 tháng Làm thế nào xác định tỷ giá kỳ hạn mà Vietcombank sẽ chào cho hai khách hàng này?

Công ty A muốn mua USD kỳ hạn 3 tháng nên ngân hàng chào tỷ giá bán có kỳ hạn 3 tháng Tỷ giá này được xác định theo công thức (4) đã trình bày trên đây

Trong đó Sb = USD/VND = 15890, Lcv(VND) = 9,6%/năm, Ltg(USD) = 2,6%/năm, và

N = 3 tháng = 90 ngày

Fb = Sb + Sb[Lcv(VND) - Ltg(NT)]N

100 x 360

= 15890 + 15890[9,6 − 2,6]90 = 16168

100 * 360

Công ty B muốn bán USD kỳ hạn 3 tháng, Vietcombank sẽ xác định và chào cho công

ty B tỷ giá mua kỳ hạn 3 tháng Tỷ giá mua kỳ hạn được xác định theo công thức (3) vừa nêu trên đây, trong đó Sm = USD/VND = 15888, Ltg(VND) = 6,9%/năm, Lcv(NT) = 4,6%/năm và N = 90

Fm = Sm + Sm[Ltg(VND) - Lcv(NT)]N

100 x 360

= 15888 + 15888[6,9 − 4,6]90 = 15981

100 * 360

2

S ử d ụ ng g i a o d ị ch k ỳ h ạn

Hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn thường được ngân hàng áp dụng để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ kỳ hạn của khách hàng Chẳng hạn, một nhà xuất khẩu có một hợp đồng xuất khẩu trị giá 120.000USD ba tháng nữa sẽ đến hạn thanh toán Giả sử thị trường ngoại hối được thả nổi và tỷ giá USD/VND ba tháng nữa như thế nào không ai có thể đoán được USD có khả năng lên giá cũng có khả năng xuống giá so với VND Nếu USD lên giá so với VND thì tốt cho nhà xuất khẩu, nhưng nếu USD xuống giá so với VND thì nhà xuất khẩu sẽ bị thiệt hại Để tránh thiệt hại do biến động tỷ giá USD/ VND, nhà xuất khẩu thoả thuận bán USD cho ngân hàng theo hợp đồng kỳ hạn Ngân hàng mua USD của nhà xuất khẩu theo tỷ giá mua kỳ hạn được thoả thuận trước và

cố định trong suốt thời hạn giao dịch Nhờ vậy nhà xuất khẩu tránh được rủi ro tỷ giá Ngược lại với nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu lo sợ USD lên giá sẽ làm cho chi phí nhập khẩu tăng lên Để tránh rủi ro tỷ giá, nhà nhập khẩu liên hệ và thoả thuận mua ngoại tệ, USD, kỳ hạn từ ngân hàng Ngân hàng sẽ bán số ngoại tệ kỳ hạn vừa mua của nhà xuất khẩu cho nhà nhập khẩu theo tỷ giá bán kỳ hạn Tỷ giá này là tỷ giá được xác định trước và cố định trong suốt kỳ hạn giao dịch Nhờ vậy, nhà nhập khẩu tránh được rủi ro tỷ giá do tỷ giá biến động

Để minh họa cho việc sử dụng giao dịch kỳ hạn giữa ngân hàng và khách hàng, chúng ta xem xét tình huống sau đây: Ngày 04/08/200x tại ngân hàng ACB có hai khách hàng liên hệ giao dịch ngoại tệ kỳ hạn:

Trang 7

• Công ty Saigonimex liên hệ với ACB để bán 90.000EUR kỳ hạn 6 tháng.

• Công ty Cholimex liên hệ muốn mua 100.000EUR kỳ hạn 3 tháng

Đáp ứng nhu cầu giao dịch của khách hàng, ACB sẽ chào tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng cho công ty Saigonimex và tỷ giá bán kỳ hạn 3 tháng cho công ty Cholimex Thông tin cần thiết để xác định tỷ giá kỳ hạn bao gồm:

• Tỷ giá giao ngay USD/VND: 15888 – 15890

• Tỷ giá giao ngay EUR/USD: 1,2248 – 1,2298

• Lãi suất kỳ hạn 3 tháng và kỳ hạn 6 tháng của VND và EUR như sau:

Vào ngày thoả thuận, dựa vào thông tin tỷ giá và lãi suất trên đây, ACB sẽ xác định

và chào tỷ giá kỳ hạn cho khách hàng như sau:

• Đối với Saigonimex, ACB chào tỷ giá mua EUR/VND kỳ hạn 6 tháng

Để xác định tỷ giá này trước tiên cần xác định tỷ giá mua giao ngay EUR/VND = EUR/USD x USD/VND = 1,2248 x 15888 =19459

Kế đến tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức:

Fm = Sm + Sm[Ltg(VND) - Lcv(NT)]N

100*360

= 19459 + 19459[0,68 *12 − 6,5]180 =

19620

100*360

• Đối với Cholimex, ACB chào tỷ giá bán EUR/VND kỳ hạn 3 tháng Để xác định

tỷ giá này trước tiên cần xác định tỷ giá bán giao ngay EUR/VND = EUR/USD

x USD/VND = 1,2298 x 15890 =19542 Kế đến tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức:

Fb = Sb + Sb[Lcv(VND) - Ltg(NT)]N

100*360

= 19542 + 19542[0,96 *12 − 6,2]90

1 00 *3 60

= 19 80 1

Nếu ngân hàng và khách hàng đồng ý giao dịch thì vào ngày đáo hạn sẽ thực hiện chuyển giao ngoại tệ như sau:

• Saigonimex giao cho ngân hàng 90.000EUR, ngân hàng thanh toán cho

Saigonimex số tiền VND bằng 90.000 x 19621 = 1.765.890.000VND

Trang 8

• Choloimex nhận 100.000EUR và thanh toán cho ngân hàng số tiền bằng 100.000

x 19801 = 1.980.100.000VND

4.

H ạn c h ế của g i a o d ịch k ỳ h ạn

Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thoả mãn được nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng

mà việc chuyển giao được thực hiện trong tương lai Tuy nhiên, do giao dịch kỳ hạn

là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng Chẳng hạn trong tình huống trên đây, nếu đến ngày đáo hạn, tỷ giá giao ngay trên thị trường lớn hơn tỷ giá kỳ hạn (19621) Saigonimex bị thiệt nhưng vẫn phải thực hiện hợp đồng bán ngoại tệ cho ngân hàng theo tỷ giá 19621, thay vì bán theo tỷ giá giao ngay lúc này cao hơn tỷ giá kỳ hạn Ngược lại, nếu tỷ giá giao ngay vào ngày đáo hạn nhỏ hơn tỷ giá kỳ hạn (19801), Cholimex vẫn phải mua ngoại tệ của ngân hàng theo tỷ giá cao hơn, thay vì mua theo tỷ giá giao ngay, lúc này thấp hơn tỷ giá kỳ hạn

Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng chỉ cần mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ Đôi khi trên thực tế, khách hàng vừa có nhu cầu mua bán ngoại tệ ở hiện tại đồng thời vừa có nhu cầu mua bán ngoại tệ ở trong tương lai Chẳng hạn, một nhà xuất nhập khẩu hiện tại cần VND để thanh toán các khoản chi tiêu trong nước nhưng đồng thời cần ngoại tệ để thanh toán hợp đồng nhập khẩu ba tháng nữa sẽ đến hạn Đáp ứng nhu cầu này, nhà xuất nhập khẩu có thể liên hệ với ngân hàng thực hiện hai giao dịch:

• Bán ngoại tệ giao ngay để lấy VND chi tiêu trong nước

• Mua ngoại tệ kỳ hạn để ba tháng sau có ngoại tệ thanh toán hợp đồng nhập khẩu đến hạn

Trong hai giao dịch trên, giao dịch thứ nhất là giao dịch hối đoái giao ngay, giao dịch thứ hai là giao dịch hối đoái kỳ hạn Rõ ràng trong tình huống này chỉ với giao dịch hối đoái giao ngay hay chỉ với giao dịch hối đoái kỳ hạn chưa thể đáp ứng được nhu cầu giao dịch của khách hàng, mà phải kết hợp cả hai loại giao dịch này lại với nhau mới đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Sự kết hợp này hình thành nên một loại giao dịch mới, đó là giao dịch hoán đổi

III/ THỰC TRẠNG:

1 Ở Việt Nam giao dịch hối đoái kỳ hạn chính thức ra đời từ khi Ngân hàng Nhà

nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định

số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10 tháng 01 năm 1998 Theo quy chế này giao dịch hối

đoái kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai

Quy chế này cũng xác định tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán

và thoả thuận với nhau, nhưng phải bảo đảm trong biên độ qui định giới hạn tỷ giá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký kết hợp đồng

2 Đối tượng :

Các thành viên chủ yếu tham gia thị trường này là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có nguồn thu hoặc nhu cầu ngoại tệ hợp pháp với mong muốn bảo hiểm rủi ro về tỷ giá, lãi suất và các tổ chức tín dụng (TCTD) được phép kinh doanh ngoại tệ thực hiện giao dịch

Trang 9

với mục đích phục vụ nhu cầu của khách hàng, bảo hiểm rủi ro về tỷ giá và kinh doanh sinh lời

3.Mặt tích cực :

Thị trường ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi ở Việt Nam trong những năm qua đã từng bước

phát triển và đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần giảm tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại tệ giao ngay, tạo thêm công cụ để các doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ

giá, đồng thời giúp thị trường ngoại hốiViệt Nam từng bước làm quen với các nghiệp vụ

kinh doanh ngoại tệ mới của thị trường quốc tế

4.Mặt hạn chế :

- Tuy nhiên, sau 4 năm hoạt động, thị trường ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi ở Việt Nam đã

bộc lộ một số hạn chế Chẳng hạn, doanh số giao dịch còn nhỏ, chỉ tương đương khoảng 4-6% doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay; các giao dịch tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn ngắn (7 đến 60 ngày); cơ cấu giao dịch bất hợp lý, bán ngoại tệ là chủ yếu, doanh số bán thường gấp 3-6 lần doanh số mua; đối tượng giao dịch tập trung nhiều vào khối các ngân hàng nước ngoài

* Nguyên nhân của những hạn chế :

- Những hạn chế nêu trên một mặt bắt nguồn từ yếu tố khách quan là phần đông các chủ thể tham gia thị trường chưa quen sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá trước

thực tế tỷ giá giao ngay giữa đô-la Mỹ (USD) và đồngViệt Nam (VND) quá ổn định

trong những năm gần đây Cụ thể, mức biến động tỷ giá hàng ngày chỉ tăng/giảm một vài VND/USD, mức tăng cả năm bình quân chỉ khoảng 1,5%, mức tăng cao nhất trong năm

kể từ năm 2000 đến nay chưa vượt quá 4%/năm, trong khi nếu ký hợp đồng mua ngoại tệ

kỳ hạn 1 năm (chẳng hạn tương đương với 2 giao dịch kỳ hạn 6 tháng), thì mức gia tăng

tỷ giá kỳ hạn so với tỷ giá giao ngay mà doanh nghiệp phải trả cho ngân hàng là khoảng 5% (theo mức trần quy định tại Quyết định 679) Vì vậy, các doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng giao dịch kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, dẫn tới doanh số bán ngoại tệ

kỳ hạn của ngân hàng cho khách hàng còn thấp

- Bên cạnh đó, do mức biến động tỷ giá giao ngay thường được dự đoán là rất ít và do việc bán ngoại tệ kỳ hạn cho khách hàng luôn có lãi, nên khi bán ngoại tệ kỳ hạn cho khách hàng, hầu hết các ngân hàng thương mại (NHTM) chưa phải lo mua kỳ hạn đối ứng để phòng ngừa rủi ro, vì vậy, doanh số mua ngoại tệ kỳ hạn của ngân hàng vẫn ở mức rất thấp

- Ngoài ra, có không ít nguyên nhân chủ quan dẫn đến những bất cập trên thị trường kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ hiện nay

+ Thứ nhất, việc giới hạn thời hạn giao dịch từ 7 đến 180 ngày đối với tất cả các loại giao dịch dù là giữa VND với ngoại tệ hay giữa các loại ngoại tệ với nhau (theo Quyết định 679) chưa thực sự đáp ứng nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp và cũng chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Theo phản ánh của các NHTM, đa số doanh nghiệp đang có xu hướng muốn được thực hiện những kỳ hạn ngắn hơn (3 ngày) và dài hơn (1 năm) để đáp ứng nhu cầu thanh toán trong hoạt động xuất nhập khẩu cũng như vay/trả nợ, đảm bảo quản lý được chi phí kinh doanh hạn chế rủi ro tỷ giá

+ Thứ hai, biện pháp giới hạn trần tỷ giá kỳ hạn theo cách truyền thống là phân đoạn từng kỳ hạn và áp dụng một mức trần chung cho mỗi đoạn kỳ hạn trong điều kiện lãi suất còn bị kiểm soát đang ngày càng tỏ ra kém linh hoạt và không còn phù hợp với bối cảnh hiện tại Mặc dù mức trần tỷ giá kỳ hạn trong thời gian qua đã được các chuyên gia của NHNN tính toán ở mức tương đối rộng và thường xuyên điều chỉnh trên cơ sở khoa học nhằm lường được phần nào sự đột biến của lãi suất, từ đó ít nhiều đem lại

Trang 10

quyền tự chủ cho các NHTM trong giao dịch kỳ hạn, đồng thời hạn chế một phần mức lỗ cho tỷ giá kỳ hạn, song với thực tế cơ chế quản lý lãi suất đã được thả nổi, lãi suất tín dụng do NHTM tự thoả thuận với khách hàng và biến động hàng ngày, thì việc giới hạn một cách cứng nhắc các mức trần tỷ giá kỳ hạn nhiều khi gây tác động tiêu cực là hạn chế nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá bằng cách sử dụng các giao dịch kỳ hạn và khiến NHTM

bị lỗ nếu thực hiện giao dịch Có thể nói, với bản chất tỷ giá kỳ hạn hoà vốn theo thông lệ quốc tế được tính trên cơ sở chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền tham gia giao dịch, thì

việc tự do hoá trong xác định lãi suất ở Việt Nam từ tháng 6 năm 2002 đã đặt ra một yêu

cầu cấp thiết là phải nới lỏng các quy định về tỷ giá kỳ hạn

* Khắc phục hạn chế :

- Nắm bắt được yêu cầu cấp thiết này của thị trường và nhằm khắc phục những bất cập nói trên, tạo thuận lợi hơn nữa cho việc phát triển thị trường ngoại tệ hoán đổi, kỳ hạn,

ngày 28 tháng 5 năm 2004, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký ban hành Quyết định số

648/ 2004/QĐ- NHNN về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 679/ 2002/QĐ- NHNN liên quan đến giao dịch ngoại tệ của các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ

- Theo Quyết định 648, giới hạn về thời hạn giao dịch ngoại tệ hoán đổi, kỳ hạn đã được

dỡ bỏ đối với các giao dịch giữa các loại ngoại tệ với nhau và cho phép thực hiện theo thông lệ quốc tế, đồng thời mở rộng giới hạn thời hạn giao dịch từ mức 7 đến 180 ngày như trước lên mức từ 3 đến 365 ngày đối với các giao dịch giữa VND và các loại ngoại tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp và ngân hàng, khuyến khích thị

trường ngoại hối Việt Nam phát triển

- Quyền xác định tỷ giá giao dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa VND với các đồng ngoại tệ khác USD và giữa các loại ngoại tệ với nhau tiếp tục được giao cho tổng giám đốc các TCTD trên cơ sở thoả thuận với khách hàng, theo thông lệ quốc tế, nhằm tạo sự chủ động cho khách hàng và các TCTD

- Điểm đổi mới đáng chú ý nhất của Quyết định này là thay đổi cơ bản về cách thức quản

lý mức tỷ giá trong các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa USD và VND Theo đó, tỷ giá kỳ hạn giữa VND và USD không còn bị khống chế bởi mức trần áp dụng cho từng kỳ hạn trên cơ sở tỷ lệ % gia tăng so với trần tỷ giá giao ngay theo tính toán chủ quan của NHNN trong từng thời kỳ như trước, mà cho phép các TCTD và doanh nghiệp tự do xác định và thoả thuận trong phạm vi mức tỷ giá kỳ hạn được tính theo thông lệ quốc tế, trên

cơ sở chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành giữa VND và USD Hai mức lãi suất hiện hành được lựa chọn ở đây không phải là các mức lãi suất cụ thể đang áp dụng ở các NHTM, vì chúng rất khác nhau và đa dạng về kỳ hạn (đa dạng ngay cả trong phạm vi một ngân hàng), vì vậy được quy định thống nhất là mức lãi suất cơ bản bình quân năm của VND do NHNN công bố (hiện là 7,5%/năm) và lãi suất mục tiêu bình quân năm

do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ công bố (hiện là 1%)

- Công thức và cách tính toán điểm kỳ hạn cụ thể theo thông lệ quốc tế cũng được NHNN hướng dẫn chi tiết trong Phụ lục đính kèm Quyết định 648 Theo cách tính này, mức chênh lệch giữa cặp lãi suất nói trên hiện nay là trên 6%, vì thế tỷ giá kỳ hạn giữa USD

và VND sẽ có điểm gia tăng khoảng 3 đồng/ngày Mức gia tăng này phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp đối với các giao dịch có kỳ hạn ngắn Với những kỳ hạn dài hơn, khách hàng sẽ so sánh với tốc độ gia tăng tỷ giá USD/VND giao ngay hàng tháng và với mức chào tỷ giá kỳ hạn cạnh tranh của các NHTM để quyết định thực hiện giao dịch

5 Sau khi đã khắc phục những hạn chế trên , Việt Nam vẫn còn tồn đọng những vấn đề sau :

- Đã có 81% các DN VN đánh giá sự dao động của tỉ giá hối đoái là rào cản chính đối với

sự phát triển thương mại (con số này trong quý II/2009 là 62%) Trong khi đó, tình trạng

Ngày đăng: 31/01/2020, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w