Bài giảng cung cấp các kiến thức giúp người đọc có thể mô tả tổn thương và phân loại được bệnh võng mạc cao huyết áp, mô tả tổn thương, phân loại và cách xử lý bệnh võng mạc đái tháo đường, kể được nguyên nhân và cách xử lý phù gai thị, mô tả được các biểu hiện mắt của u ở giao thoa thị,... Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1MẮT VÀ CÁC BỆNH TOÀN THÂN
Mục tiêu bài giảng
1 Mô tả tổn thương và phân loại được bệnh võng mạc cao huyết áp
2 Mô tả tổn thương, phân loại và cách xử lý bệnh võng mạc đái tháo đường
3 Kể được nguyên nhân và cách xử lý phù gai thị
4 Mô tả được các biểu hiện mắt của u ở giao thoa thị
5 Phân tích nguyên nhân liệt vận nhãn
6 Kể và mô tả sơ lược vài bệnh mắt liên quan với miễn dịch, di truyền
Con mắt, nếu không phải là của sổ tâm hồn thì là tấm gương phản ánh sức khỏe của cơ thể Vì mắt là phần duy nhất của cơ thể mà chúng ta có thể nhìn trực tiếp các mô và mạch máu, nên khám mắt có giá trị đặc biệt trong các bệnh gây tổn thương mạch máu như bệnh cao huyết áp, bệnh võng mạc đái tháo đường…Đối với hệ thần kinh trung ương, mắt là cửa ngỏ tiếp nhận tín hiệu Đường dẫn truyến thị giác, cung phản xạ đồng
tử, và các dây thần kinh vận nhãn, cảm giác cho mắt đều bắt nguồn từ não bộ, nên những bất thường của hệ thống nầy thường phản ảnh những bất thường của não bộ mà khi khám kỹ chúng ta có thể khu trú được vị trí cũng như bản chất thương tổn Mắt cũng là
cơ quan mà các phức hợp miễn dịch lưu hành trong máu thường lắng đọng thông qua mạng lưới mạch máu màng bồ đào, võng mạc và gây ra các phản ứng viêm Và các biểu hiện viêm ở mắt dễ thấy hơn khi viêm ở các cơ quan nội tạng như thận, tuyến giáp…Như vậy, khám mắt cho người thầy thuốc nhiều cơ hội để phát hiện ra các bệnh lý toàn thân
và nó là một phần không thể thiếu được trong thực hành khám bệnh hằng ngày
1 MẮT VÀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
1.1 Mở đầu
Bệnh tăng huyết áp lâu ngày, không được điều trị đúng sẽ gây tổn thương các cơ quan đích đó là tim, não, thận và mắt Ở mắt, đó là một tổn thương các mạch máu võng mạc đặc trưng gọi là bệnh võng mạc tăng huyết áp (BVMTHA), có thể nhìn thấy được qua soi đáy mắt BVMTHA được mô tả bởi Marcus Gunn lần đầu tiên vào thế kỷ 19 Các triệu chứng đó là hẹp động mạch một phần hoặc toàn bộ, động tĩnh mạch bắt chéo, xuất huyết võng mạc dạng chấm hoặc hình ngọn lửa, chấm xơ bông, và phù gai thị Năm 1939, Keith và cộng sự nhận thấy những dấu hiệu của BVMTHA có thể tiên lượng được nguy
cơ tử vong của bệnh nên đã phân thành 4 nhóm với mức độ nặng tăng dần
1.2 Phân loại BVMTHA theo Keith – Wagener
Độ I: Động mạch co nhỏ, giống “sợi dây đồng” bởi vì thành động mạch xơ vữa, dày hơn
Độ II: Giống độ I nhưng nhìn rõ hơn, có dấu hiệu động tĩnh mạch bắt chéo
Độ III: như độ II thêm các triệu chứng xuất huyết hình ngọn lửa, xuất tiết cứng (lắng đọng lipid), xuất tiết xơ bông (thiếu máu võng mạc)
Độ IV: Như độ III nhưng thêm phù đĩa thị
Tuy nhiên trong thực hành, phân loại nầy khó phân biệt được độ 1 và độ 2 Gần đây, dựa vào những nghiên cứu các dấu chứng lâm sàng, chụp mạch huỳnh quang của bệnh võng mạc cao huyết áp trong mối liên quan với các nguy cơ bệnh mạch vành, đột quị và tử vong người ta đã đưa ra bảng phân loại sau:
Trang 2H 1: ĐộII: V-A bắt chéo Độ II: xuất huyết, xuất tiết Độ III: phù gai, xuất tiết Bảng 1.1: Phân loại bệnh võng mạc THA dựa trên quan điểm mới: (Tien Y Wong và Paul Mitchell The New England Journal of Medicine 2004)
Nhẹ Hẹp động mạch toàn bộ, hẹp khu trú, bắt
chéo động tĩnh mạch, thành động mạch
dây đồng, hoặc sự phối hợp các dấu hiệu
Nguy cơ vừa với đột quị lâm sàng, dưới lâm sàng, bệnh mạch vành, tử vong
Trung
bình
Xuất huyết (chấm, ngọn lửa), vi phình mạch,
xuất tiết cứng, xuất tiết dạng bông, phối hợp
Nguy cơ cao với đột quị lâm sàng, dưới lâm sàng, giảm nhận thức, tử vong vì bệnh tim mạch
Ac
tính
Các dấu hiệu của mức trung bình thêm
phù đĩa thị
Nguy cơ cao với tử vong
Ghi chú: Nguy cơ vừa được định nghĩa khi 1 < OR < 2, nguy cơ cao khi OR ≥ 2
2 BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
2.1 Định nghĩa:
Bệnh võng mạc đái tháo đường (BVMĐTĐ) là một bệnh của mạch máu võng mạc phát triển nhiều mức độ trên hầu hết những người bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) lâu năm
Những biến đổi ở võng mạc bệnh nhân ĐTĐ là kết quả của 5 quá trình cơ bản:(1) Sự hình thành vi mạch võng mạc, (2) Sự phát triển của tăng tính thấm mạch máu võng mạc, (3) nghẽn mạch, (4) tăng sinh của các mạch máu mới, các mô sợi trên bề mặt võng mạc và đĩa thị, (5) Sự co kéo của thể kính và mô sợi tăng sinh nầy
2.2 Tiến triển tự nhiên của BVMĐTĐ
Giai đoạn sớm nhất của BVMĐTĐ, gọi là BVMĐTĐ không tăng sinh, đặc trưng bởi những bất thường mạch máu võng mạc bao gồm: vi phình mạch, xuất huyết trong võng mạc, và những chấm dạng bông Sự gia tăng tính thấm võng mạc xuất hiện trong giai đoạn nầy hoặc giai đoạn muộn hơn của bệnh có thể gây nên dày hoàng điểm và lắng đọng lipid (hard exudates)
Phù hoàng điểm có ý nghĩa lâm sàng (Clinically Significant Macular Edema = CSME ) là một thuật ngữ dùng để chỉ sự dày võng mạc và / hoặc xuất tiết vùng trung tâm hoặc gần,
đe dọa tiến tới trung tâm võng mạc Bệnh nhân có CSME cần phải được cân nhắc laser quang đông khu trú, đặc biệt là khi vùng trung tâm hoàng điểm bị tổn thương hoặc khi
vùng dày võng mạc và xuất tiết cứng rất gần hoàng điểm
Trong quá trình tiến triển của BVMĐTĐ có sự đóng dần các mạch máu võng mạc, dẫn đến giảm tưới và thiếu máu võng mạc Những dấu chứng của tăng thiếu máu bao gồm:
Trang 3bất thường tĩnh mạch (tĩnh mạch dạng chuỗi hạt, ngoằn ngoèo), bất thường vi mạch võng mạc (intraretinal microvascular abnormalities = IRMA) Sự gia tăng rò rỉ mạch máu biểu hiện lâm sàng bằng tăng xuất huyết và xuất tiết võng mạc Khi các dấu chứng nầy vượt
quá ngưỡng (trung bình) người ta gọi là BVMĐTĐ kts giai đoạn nặng Ở giai đoạn nầy cần cân nhắc chỉ định laser quang đông toàn võng mạc
Giai đoạn nặng hơn nữa gọi là BVMĐTĐts đặc trưng bởi sự xuất hiện của tân mạch võng mạc gây ra bởi sự thiếu máu Tân mạch ở đĩa thị và tân mạch ở nơi bất kỳ trên võng mạc
có xu hướng chảy máu gây ra xuất huyết thể kính Những mạch máu mới nầy có thể bị hóa sợi xơ và co kéo Sự tăng sinh sợi nầy có thể hình thành màng biểu mô trước võng mạc, những dãy co kéo võng mạc, thể kính, dẫn đến rách và bong võng mạc Khi những mạch máu mới kèm xuất huyết thể kính, hoặc khi các tân mạch ở đĩa thị có diện tích lớn hơn hoặc bằng 1/4 – 1/3 diện tích đĩa thị, không cần xuất huyết thể kính, thì BVMĐTĐts lúc nầy được gọi là BVMĐTĐts nguy cơ cao
Glaucoma tân mạch có thể là kết quả của tân mạch phát triển ở mống mắt hoặc góc tiền
phòng Bệnh nhân glaucoma tân mạch hoặc BVMĐTĐts nguy cơ cao cần phải được quang đông toàn võng mạc kip thời
2.3 Phân loại lâm sàng BVMĐTĐ
Bảng 2.1: Phân loại lâm sàng quốc tế BVMĐTĐ
Mức độ Triệu chứng thấy qua soi đáy mắt sau giãn đồng tử
Không có BVMĐTĐ Không có bất thường
BVMĐTĐ kts nhẹ Chỉ có vi phình mạch
BVMĐTĐ kts tr.bình Nhiều vi phình mạch hơn BVMĐTĐkts nhẹ
BVMĐTĐ kts nặng Có bất kỳ dấu hiệu nào sau: Qui tắc 4: 2: 1
> 20 xuất huyết trong võng mạc / 4 cung phần tư
Tĩnh mạch dạng chuỗi hạt rõ trong 2 cung phần tư
Bất thường vi mạch trong võng mạc /1 cung phần tư BVMĐTĐ ts Một hoặc nhiều hơn các dấu sau:
Tân mạch
Xuất huyết: thể kính / trước võng mạc
Bảng 2.2: Phân loại lâm sàng quốc tế phù hoàng điểm ĐTĐ
Mức độ Triệu chứng thấy qua soi đáy mắt sau giãn đồng tử
Không phù Không có dày võng mạc hoặc xuất tiết cứng ở cực sau
Có phù Có dày võng mạc chút ít hoặc xuất tiết cứng ở cực sau
Nếu có phù hoàng điểm* có thể phân loại tiếp như sau:
Trang 4Mức độ Triệu chứng thấy qua soi đáy mắt sau giãn đồng tử
Phù HĐ
nhẹ
Dày võng mạc hoặc xuất tiết cứng cực sau xa trung tâm hoàng điểm
PhùHĐ tr.bình Dày võng mạc hoặc xuất tiết cứng tiếp cận trung tâm hoàng điểm
Phù HĐ nặng Dày võng mạc hoặc xuất tiết cứng bao phủ trung tâm hoàng điểm Ghi chú:
Xuất tiết cứng (hard exudade) là một dấu hiệu của phù hoàng điểm trước kia hay hiện
tại Nó do sự tích lũy protein và lipid trong võng mạc
Phù hoàng điểm ĐTĐ được định nghĩa là sự dày võng mạc (retinal thickening) vùng
trung tâm hoàng điểm, kích thước từ 1 – 2 lần đường kính đĩa thị, điều nầy đòi hỏi lượng giá 3 chiều, thực hiện tốt nhất bằng cách khám sinh hiển vi, kính tiếp xúc, đồng tử giãn, và/hoặc chụp hình nổi đáy mắt
Hình 2.1:
A: hình chuẩn 2A theo phân loại BVMĐTĐ của Airlie House cải biên biểu thị mức độ vi phình mạch và xuất huyết võng mạc (H/Ma) trung bình B: hình chuẩn 8A của Airlie House cải biên biểu thị mức độ bất thường vi mạch võng mạc (IRMA) trung bình C: hình chuẩn 6B của Airlie House cải biên biểu thị tĩnh mạch dạng chuỗi hạt và IRMA nặng D: hình chuẩn 7 của Airlie House cải biên biểu thị tân mạch nơi khác (NVE)
3 MẮT và THẦN KINH
Mắt có thể coi như một ăng ten của não bộ Qua trung gian của đường dẫn truyền thị giác, mỗi điểm trên võng mạc liên kết với một điểm tương ứng của vỏ não thị giác Lớp màng bao thị thần kinh là sự nối dài của lớp màng não Các dây thần kinh vận động (III,
IV, VI), cảm giác nhãn cầu (V) bắt nguồn từ các nhân trong não Tuần hoàn của võng mạc là các nhánh tận không nối kết với nhau giống như tuần hoàn não Như vậy, hệ thống thị giác, có thể xem như là một bộ phận phụ thuộc không thể tách rời của não bộ
Trang 5Trên lâm sàng, có rất nhiều bệnh của hệ thần kinh trung ương (TKTƯ) có biểu hiện bất thường ở mắt Một khối choáng chổ trong não, khi nghẽn đường dẫn lưu dịch não tủy, gây nên hội chứng tăng áp lực nội sọ với biểu hiện phù gai thị, khi nằm trên đường dẫn truyền thị giác sẽ gây các khiếm khuyết thị trường đặc trưng, khi chèn ép vào các dây thần kinh vận đông nhãn cầu sẽ gây liệt vận nhãn Mờ mắt thoáng qua là một dấu hiệu sớm của sự thiểu năng tuần hoàn hệ động mạch cảnh trong hoặc hệ đốt sống thân nền
3.1 PHÙ GAI THỊ
3.1.1 Định nghĩa
Phù gai thị (Papilledema ) là hiện tượng đĩa thị sưng phù thứ phát do tăng áp lực nội sọ Định nghĩa nầy loại trừ những trường hợp phù đĩa thị do các nguyên nhân viêm nhiễm hoặc thiếu máu khác Phù gai thị thường xuất hiện hai bên phát triển trong vòng vài giờ đến vài tuần
3.1.2 Sinh lý bệnh
Hiện tượng sưng phồng đĩa thị trong phù gai thị là kết quả của sự ứ trệ dịch và phù trong lòng sợi trục vùng đĩa thị Khoang dưới nhện của não liên tục với sàng (sheath) của thị thần kinh Khi áp lực dịch não tủy tăng sẽ truyền xuống thần kinh thị, và sheath của thần kinh thị hoạt động như là một garrotte cản trở sự dẫn truyền dịch trong sơi trục, tác động
đến lá sàng (lamina cribrosa), kết quả là phù đầu mút thị thần kinh
3.1.3 Nguyên nhân
Khối u hoặc tổn thương choáng chổ nội sọ
Tăng áp lực nội sọ vô căn ( giả u não: pseudotumor cerebri)
Giảm hấp thu dịch não tủy (venous sinus thrombosis, inflammatory processes, meningitis, subarachnoid hemorrhage)
Tăng tiết dịch não tủy (u)
Nghẽn hệ thống não thất
3.1.4 Cận lâm sàng
Chẩn đoán hình ảnh
CT scan, MRI sọ não
Chụp mạch huỳnh quang: trong phù gai thị cấp có thể thấy tăng sự giãn nở các mao mạch chung quanh gai với rò thuốc thì muộn
Thị trường: thường thấy điểm mù lớn ra Với phù gai mãn, sự co hẹp thị trường, đặc biệt phía dưới, dần dần có thể xuất hiện, dẫn đến mất thị trung tâm và mù hoàn toàn
Xét nghiệm
Xét nghiệm máu không góp phần vào chẩn đoán phù gai thị Tuy nhiên, trong trường hợp nghi ngờ, công thức máu, đường máu, ACE, VSS, VDRL có thể giúp
rà soát loại trừ phù gai do các nguyên nhân nhễm trùng, chuyển hóa, viêm nhiễm
Chọc dò dịch não tủy cần phải được thực hiện khi MRI bình thường để đánh giá
áp lực và phân tích tế bào sinh hóa để tìm các nguyên nhân viêm, nhiễm, u…
3.1.5 Xử lý:
Trong quá trình chẩn đoán và điều trị cần phải tham vấn bác sỹ chuyên khoa thần kinh để
xử lý toàn diện
Nội khoa
Diuretics: Ức chế men AC, acetazolamide (Diamox)
Corticosteroids có thể có tác dụng trong trường hợp bệnh nguyên viêm
Trang 6Phẫu thuật
Cắt bỏ khối u hoặc dẫn lưu dịch não tủy bằng Lumboperitoneal shunt or
ventriculoperitoneal shunt
H 3.1: Phù gai thị Teo gai về sau
3.2 MẤT THỊ LỰC THOÁNG QUA
Mất thị lực thoáng qua (transient visual loss: TVL ) ở người lớn là một triệu chứng thường gặp, có thể một mắt hoặc hai mắt, nguyên nhân thông thường là do thiếu máu cục
bộ não hoặc võng mạc
Đặc điểm của cơn TVL là rất quan trọng bởi vì kết quả thăm khám hầu hết bình thường TVL một mắt: thường do bệnh của mắt, võng mạc, hốc mắt, động mạch cảnh, động mạch mắt một bên TVL hai mắt chỉ điểm bệnh của 2 mắt, bệnh của hệ thống tuần hoàn cấp máu cho 2 mắt (hẹp động mạch cảnh 2 bên, tăng áp lực nội sọ với phù gai thị, thiểu năng động mạch đốt sống thân nền, migraine Thời gian của TVL kéo dài vài giây là đặc điểm của mờ thoáng qua trong nhồi máu thị thần kinh, hoặc phù gai, kéo dài 2-30 phút là đặc điểm của bệnh động mạch cảnh Nếu nghi ngờ nguyên nhân của mờ mắt thoáng qua từ thiếu máu cục bộ mắt cần phải làm dopler động mạch cảnh, ECG, siêu âm tim Nếu nghi ngờ thiểu năng động mạch đốt sống thân nền cần phải làm MRI, siêu âm xuyên sọ
3.3 HỘI CHỨNG CHÈN ÉP ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THỊ GIÁC
Bất kì một khối choáng chổ, hoặc thiếu máu nào nằm trên đường dẫn truyền thị giác từ thần kinh thị đến vùng thùy chẩm đều gây nên những khiếm khuyết thị trường đặc trưng Tùy theo vị trí tổn thương mà bệnh cảnh có thể bao gồm các triệu chứng phối hợp khác
Trang 7H 3.2: Các loại khiếm khuyết thị trường tùy theo vị trí tổn thương
3.3.1 Hội chứng đỉnh hốc mắt:
Nguyên nhân có thể do viêm, do u ở đỉnh hốc mắt chèn ép thần kinh thị, phối hợp với các thành phần trong khe bướm là dây III, IV, VI, và nhánh của dây V Lâm sàng là giảm thị lực từ từ có thể dẫn đến mù hoàn toàn, cùng với liệt vận nhãn toàn bộ Mất cảm giác giác mạc, giảm cảm giác mũi, mi trán Mắt có thể lồi, đau nhức
3.3.2 Hội chứng giao thoa:
Có nhiều loại u bướu (u tuyến yên, u sọ hầu, u màng não, phình mạch trước và sau của đa giác villis ) có thể đè vào vùng giao thoa thị làm giảm thị lực, tổn hại thị trường cùng các triệu chứng toàn thân khác Điều quan trọng là người bác sĩ mắt phải nắm vững và biết cách phát hiện các bệnh lý nầy, để kịp thời hội chẩn với khoa ngoại thần kinh có phương hướng điều trị sóm
3.3.2.1 Biểu hiện mắt: U tuyến yên từ phía dưới lớn lên có thể đè vào giao thoa thị ở trước, ở giữa, hoặc sau và gây ra các biến đổi thị trường hơi khác nhau
Giảm thị lực: tuỳ theo vị trí và mức độ chèn ép
Khuyết thị trường: tuỳ theo vị trí chèn ép, điển hình là hình thái bán manh 2 bên
thái dương tiến triển từ trên lan xuống (H 3.3)
Đáy mắt: Teo gai thị thường gặp
Hội chứng thành bên xoang hang khi u phát triển ra 2 bên gây liệt TK 3, 4, 5, 6 và
sợi giao cảm
Não úng thủy khi u phát triển lên trên với các triệu chứng như rung giật nhãn cầu,
bất thường trong nhìn phối hợp dọc, phân ly phản xạ nhìn gần và ánh sáng trực tiếp, phù gai
3.3.2.2 Hình ảnh học
Thần kinh thị
Giao thoa thị
Giải thị
Thể gối ngoài
Tia thị
Thùy chẩm
MT
MP
Trang 8 Đối với BN mất thị lực mà không tìm thấy nguyên nhân ở mắt cần phải nghĩ đến nguyên nhân phía sau, trên đường dẫn truyền thị giác, nhất là giao thoa thị Phải cho thường quy chụp X quang không sửa soạn sọ nghiêng và lổ thị hoặc Ctscan hay MRI sọ não
H 3.3: Khuyết thị trường với hình thái bán manh 2 bên thái dương tiền trỉên từ trên lan xuống dưới H6: Ám điểm liên kết
H 3.4 U tuyến yên trên CT scan
3.3.2.3 Xử lý: Cần phối hợp với khoa thần kinh và nội tiết để được điều trị nội khoa hay
phẫu thuật
3.3.3 Tổn thương dải thị:
Thường do nguyên nhân u và mạch máu Nếu do u thì triệu chứng từ từ Nếu là mạch máu thì triệu chứng khởi phát nhanh Hội chứng bán manh đồng danh (H 4.4) cùng bên cùng với các tổn thương về thần kinh ( liệt ½ người, rối loạn ngôn ngữ ) Tổn thương tia thị gây hội chứng Sylvius: tổn thương vận động, cảm giác, mất ngôn ngữ, bán manh (H 4.5,6)
3.3.4 Hội chứng não sau
Biểu hiện bằng một bán manh đồng danh đơn độc hoặc phối hợp với các triệu chứng thân não Đặc biệt là hội chứng đồi thị, bệnh nhân chỉ nhìn được bằng vùng hoàng điểm với thị trường hình ống Khi tổn thương lan rộng đến não sau có thể thấy mù võ não, hoặc loạn ảo giác
Trang 93.4 LIỆT VẬN NHÃN
Mở đầu:
Các dây thần kinh vận động nhãn cầu (dây III, IV, VI) đều có nguồn gốc từ trung não đi
ra hốc mắt để chi phối cho các cơ vận động nhãn cầu Tất cả những khối choáng chổ trong não hoặc hốc mắt (u, phình mạch, hoặc viêm ) đè vào đường đi của các dây nầy đều gây nên hội chứng liệt vận nhãn Sang thương khu trú ở nhân, rể, và thân thần kinh
Lâm sàng:
Ba dấu chứng của liệt vận nhãn là song thị, lé và tư thế đầu bất thường Bước tiếp theo là phải chẩn đoán nguyên nhân liệt vận nhãn do cơ hay do thần kinh (sơ đồ 3.1) sau cùng là khu trú vị trí tổn thương gây liệt vận nhãn (hình 3.5)
Ví dụ: một phình mạch của đa giác Willis chèn vào dây III có thể gây nên bệnh cảnh lâm sàng là sụp mi, giãn đồng tử, lé ngoài
Sơ đồ 3.1: Tiếp cận chẩn đoán liệt vận nhãn
Liệt vận nhãn
vận nhãn
Nhiều dây Một dây
III, IV, VI
H/c xoang hang
H/c đỉnh hốc mắt
Liệt nhân mãn
Liệt mắt cấp
Bệnh nhãn
giáp
Giao thoa thị
Trang 10H.3.5: Hình cắt ngang qua trung não tại củ não trên mô tả đường đi TK III và tương quan của nó với các cấu trúc lân cận
4 MẮT VÀ CÁC BỆNH MIỄN DỊCH, DI TRUYỀN
Những bệnh có bản chất tự miễn, hoặc tố bẩm di truyền có biểu hiện ở mắt và toàn thân thường gặp là bệnh nhãn giáp, viêm màng bồ đào HLA B27 và các bệnh viêm mạch máu như bệnh viêm hạt của Wegener, viêm đa động mạch nốt, viêm động mạch tế bào khổng
lồ, bệnh sarciod, lupus ban đỏ Ở đây chỉ mô tả sơ lược hai bệnh thường gặp nhất là bệnh nhãn giáp và viêm màng bồ đào HLA B27
4.1 Bệnh nhãn giáp
4.1.1 Đại cương
Bệnh nhãn giáp (thyroid-eye disease) ngày nay được coi là một loại bệnh tự miễn, được chứng minh bằng các tự kháng thể hiện diện trong bệnh này như LATS (long acting thyroid stimulator), TSI (thyroid stimulating immunoglobulin), và gần đây TSab (thyroid stimulating antibody) và TRA (thyropin receptor antibody) Những biểu hiện mắt của bệnh rất đa dạng ( nhìn trừng, viêm hốc mắt, rối loạn vận nhãn, lồi mắt ) và có thể xuất hiện trong tình trạng cường giáp, thiểu giáp hoặc bình giáp.Bệnh cường giáp Graves xảy ra thường hơn ở phụ nữ trẻ với tỉ lệ 4/1, còn bệnh nhãn giáp xuất hiện ở độ
tuổi muộn hơn và không có sự ưu tiên về phái tính
4.1.2 Cơ chế bệnh sinh:
Sự rối loạn HLA vùng nhiễm sắc thể số 6 kích hoạt phản ứng viêm chống lại mô
xơ hốc mắt và bao cơ ngoại nhãn (sơ đồ 2.1) Ở giai đoạn đầu tương bào từ hiên tượng viêm phóng thích mucopolysacharide giữ nước làm phù tổ chức hốc mắt Kế đến, phù xuyên qua vách ngăn làm phù mí kết mạc Trong khi đó nguyên bào sợi nội mạc cơ tăng tạo sợi keo dẫn đến phì đại cơ ngoại nhãn Ở giai đoạn kinh niên sợi keo chiếm ưu thế