1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng các hình thái loạn thần so rượu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại viên sức khỏe tâm thần từ năm 2012 2014

73 301 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tâm thần, rượu có thể gây các rối loạn tâm thần từ nhẹ đến nặng : say rượu thông thường, say rượu bệnh lý, nghiện rượu mạn tính, sảng rượu, loạn thần do rượu.... Đề tài “Nghiên cứu đặ

Trang 1

Người hướng dẫn:Ths.Bs.Lê Thị Thu Hà

HÀ NỘI - 2015 LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành khóa luận , tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:

Trang 2

Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại Học và bộ môn Tâm Thần Trường Đai học Y Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths Bs Lê Thị Thu Hà, giảng viên Bộ môn Tâm Thần Trường Đại Học Y Hà Nội – người thầy đã trực tiếp hướng dẫn , chỉ bảo hết sức tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận

Tôi xin cám ơn toàn thể cán bộ Phòng Lưu Trữ Hồ Sơ – Bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện quá trình hoàn thành khóa luận

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè

đã luôn tin tưởng, giúp đỡ tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Người viết khóa luận:

Trần Thị Hương

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình do tôi tự làm và nghiên cứu, các trích dẫn đều được ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Nếu có bất

kì vấn đề gì liên quan, tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn

Trang 3

Người viết khóa luận:

Trang 4

(International Classification of Disiases)

- LTDR : Loạn thần do rượu

- RLNLĐH : Rối loạn năng lực định hướng

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đại cương về rượu 3

1.1.1 Khái niệm về rượu 3

1.1.2 Tác dụng của rượu 3

1.1.3 Dược động học 4

1.1.4 Đơn vị uống chuẩn 5

1.2 Các rối loạn tâm thần do rượu 6

1.2.1 Lạm dụng rượu 6

1.2.2 Say rượu thông thường và say rượu bệnh lí 8

1.2.3 Nghiện rượu 10

1.2.4 Trang thái cai 12

1.2.5 Loạn thần do rượu 15

1.3 Các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về loạn thần do sử dụng rượu 19 1.3.1 Trên thế giới 19

1.3.2 Tại Việt Nam 20

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Đối tượng nghiên cứu 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3: 26KẾT QUẢ 26

3.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 26

3.1.1 Đặc điểm tuổi, giới của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 26

3.1.2 Đặc điểm nghề nghiệp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 27

3.1.3 Tình trạng hôn nhân của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 27

Trang 6

3.1.4 Thời gian sử dụng rượu 28

3.1.5 Lượng rượu uống hàng ngày 28

3.1.6 Tiền sử rối loạn tâm thần do rượu 29

3.2 Cơ cấu các hình thái rối loạn loạn thần do rượu 29

3.3 Đặc điểm lâm sàng các hình thái loạn thần do rượu 30

3.3.1 Những lí do khiến bệnh nhân phải vào viện 30

3.3.2 Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán là hội chứng cai với mê sảng 31

3.2.3 Đặc điểm lâm sàng của hình thái loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế 32

3.2.4 Đặc điểm lâm sàng hình thái loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế 33 3.2.5 Các rối loạn cảm xúc gặp ở các bệnh nhân rối loạn loạn thần do rượu 34 3.2.6 Những rối loạn hành vi thường gặp ở bệnh nhân loạn thần do rượu 35

3.2.7 Những bệnh cơ thể thường gặp 35

3.2.8 Cận lâm sàng 36

3.2.9 Thời gian điều trị của bệnh nhân 37

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 37

4.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 38

4.1.1 Đặc điểm tuổi và giới 38

4.1.2 Đặc điểm nghề nghiệp 39

4.1.3 Đặc điểm hôn nhân 39

4.1.4 Thời gian sử dụng rượu 40

4.1.5 Lượng rượu uống hàng ngày 41

4.1.6 Tiền sử rối loạn tâm thần do rượu 41

4.2 Cơ cấu các hình thái loạn thần do rượu 42

4.3 Đặc điểm của các hình thái loạn thần do rượu 43

4.3.1 Đặc điểm lí do vào viện của các bệnh nhân 43

Trang 7

4.3.2 Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng cai với mê sảng 444.3.3 Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán là loạn thần

do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế 464.3.4 Đặc điểm hình thái của loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế 474.3.5 Rối loạn cảm xúc trên bệnh nhân LTDR 484.3.6 Rối loạn hành vi trên bệnh nhân LTDR 484.3.7 Các bệnh lí cơ thể 494.3.8 Kết quả cận lâm sàng của các bệnh nhân loạn thần do sử dụng rượu 504.3.9 Thời gian điều trị của các bệnh nhân 50

KẾT LUẬN 52 KIẾN NGHỊ 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 26

Bảng 3.2: Thời gian sử dụng rượu của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 28

Bảng 3.3: Lượng rượu uống hàng ngày 28

Bảng 3.4: Tiền sử rối loạn tâm thần do rượu của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 29

Bảng 3.5: Tỉ lệ các hình thái loạn thần do rượu theo năm 29

Bảng 3.6: Các triệu chứng lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán 31

Bảng 3.7: Các loại ảo giác biểu hiện ở nhóm bênh nhân trong mã F10.51 33

Bảng 3.8: Tỉ lệ các loại ảo giác 33

Bảng 3.9: các loại hoang tưởng 34

Bảng 3.10: Các bệnh cơ thể thường gặp ở bệnh nhân LTDR 35

Bảng 3.11: Sự thay đổi công thức máu 36

Bảng 3.12: Thời gian điều trị của các nhóm bệnh nhân 37

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tỉ lệ nhóm nghề nghiệp của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu 27

Biểu đồ 3.2: Tình trạng hôn nhân 27

Biểu đồ 3.3: Các lí do vào viện 30

Biểu đồ 3.4: các loại hoang tưởng 32

Biểu đồ 3.5: Các rối loạn cảm xúc 34

Biểu đồ 3.6: Tỉ lệ các rối loạn hành vi thường gặp ở bệnh nhân LTDR 35

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các dịp lễ hội, lễ tết, tiệc tùng trên mọi vùng miền, mọi quốc gia, đối với nhiều người thứ quan trọng không thể thiếu đó là rượu bia Người Việt Nam coi rượu như lời chào hỏi, lời chúc và còn là phương tiện để đàm phán, giao lưu hay tạo dựng và duy trì mối quan hệ Theo thống kê của Tổ chức Y

tế Thế giới (WHO) năm 2014 việc sử dụng đồ uống có cồn ở Việt Nam còn phổ biến.Theo đó ước có tính có đến 70% đàn ông Việt Nam uống rượu bia

và trong 4 người thì có 1 người uống rượu bia ở mức độ có hại tương đương với 6 cốc bia mỗi ngày Còn trên thế giới, theo ước tính của WHO năm 2004

có khoảng 2 tỷ người trên thế giới sử dụng rượu

Trong hóa học, rượu là một nhóm các chất hữu cơ có chứa nhóm chức

-OH Theo dược lý học, thì rượu là chất ức chế thần kinh trung ương Tác dụng của rượu trên thần kinh trung ương phụ thuộc vào nồng độ rượu trong máu: ở nồng độ thấp, rượu có tác dụng an thần, giảm lo âu, ở nồng độ cao hơn rượu gây rối loạn tâm thần, mất điều hòa, không tự chủ được hành động và có thể hôn mê, ức chế hô hấp, nguy hiểm tính mạng khi nồng độ rượu trong máu quá cao [6]

Do tác dụng ức chế thần kinh trung ương nên rượu được sử dụng như một loại đồ uống đem lại cảm giác khoan khoái Nhưng nếu uống một lượng nhiều rượu và sử dụng lâu dài có thể đem lại cho con người rất nhiều tác hại

về cả thể chất lẫn tâm thần Về thể chất, rượu có thể gây ra các bệnh về tiêu hóa, bệnh về tim mạch, ảnh hưởng tới hệ miễn dịch do đó người nghiện rượu

dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, lao Về tâm thần, rượu có thể gây các rối loạn tâm thần từ nhẹ đến nặng : say rượu thông thường, say rượu bệnh lý, nghiện rượu mạn tính, sảng rượu, loạn thần do rượu Rượu còn dẫn đến nhiều hậu quả về xã hội, là nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông, bạo hành gia đình làm giảm năng suất lao động

Trang 10

Loạn thần do rượu bao gồm: sảng rượu, ảo giác do rượu, hoang tưởng

do rượu, .(Sumski N G., 1963) Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1990, loạn thần do rượu gặp ở 10% những người nghiện rượu mạn tính

Ở nước ta, theo báo cáo của Viện Sức Khỏe Tâm Thần (1994), số lượng bệnh nhân loạn thần do rượu vào điều trị nội trú ngày càng tăng, 0,31% năm 1990, 6,91% năm 1994 và năm 2001 là 9,6 %

Nghiên cứu các hình thái loạn thần do rượu giúp chẩn đoán, điều trị và ngăn ngừa sự tiến triển của loạn thần do sử dụng rượu Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm các hình thái loạn thần do sử dụng rượu ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần từ năm 2012 đến năm 2014” với mục tiêu nghiên cứu như sau :

Mô tả đặc điểm của các hình thái loạn thần do sử dụng rượu trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần từ năm 2012 đến năm 2014

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Đại cương về rượu

1.1.1 Khái niệm về rượu

Theo hóa học thì “ Rượu là một hợp chất hữu cơ có chứa nhóm chức - OH” Trong tâm thần học, rượu được coi là chất tác động tâm thần thuộc nhóm các chất gây êm dịu, rượu có thể gây nhiễm độc cấp (say rượu thông thường và say rượu bệnh lý) và nhiễm độc mạn tính, dẫn đến phụ thuộc cả về mặt vật chất lẫn tinh thần nếu bị lạm dụng hoặc nghiện rượu

1.1.2 Tác dụng của rượu

a/ Cơ chế tác dụng

Trước đây người ta cho rằng tác dụng ức chế thần kinh trung ương là

do rượu làm tan dã lớp lipid của màng, nên ảnh hưởng đến hoạt động của các kênh ion và các protein tác động trên kênh

Những nghiên cứu gần đây cho thấy rượu làm tăng khả năng gắn của GABA trên receptor GABA A Rượu còn tác động lên receptor NMDA glutamat ( N – methyl-D – aspartat glutamat), ức chế khả năng mở kênh Ca ++ của glutamat [6]

b/ Tác dụng của rượu lên các cơ quan

- Tác dụng trên thần kinh trung ương: rượu ức chế thần kinh trung ương Tác dụng của rượu trên thần kinh trung ương phụ thuộc vào nồng độ của rượu trong máu

- Tại chỗ: khi bôi ngoài da rượu có tác dụng sát khuẩn, tốt nhất là rượu

70o Rượu 90o làm đông protein ở da, làm hẹp các lỗ tiết mồ hôi, do đó rượu không thấm sâu vào được trong da

Trang 12

- Tim mạch: rượu nhẹ ít ảnh hưởng đến tim mạch Dùng rượu mạnh trong thời gian quá dài có thể gây giãn cơ tim, phì đại tâm thất và xơ hóa

- Tiêu hóa: rượu nhẹ (dưới 10o) làm tăng tiết dịch vị, dịch vị có nhiều axit và ít pepsin, tăng nhu động ruột, tăng khả năng hấp thu thức ăn ở niêm mạc ruột Vì vậy dùng rượu nhẹ có điều độ sẽ làm tăng tỉ trọng Ngược lại, rượu 20o ức chế sự bài tiết dịch vị Rượu mạnh 40o gây viêm niêm mạc dạ dày ( do ảnh hưởng tới lớp chất nhầy ở dạ dày), nôn, co thắt vùng hạ vị, làm giảm

sự hấp thu của một số thuốc qua ruột

- Cơ trơn : do ức chế trung tâm vận mạch nên rượu gây giãn mạch Tác dụng giãn mạch của rượu còn do khả năng giãn cơ trơn của acetaldehyd ( chất chuyển hóa rượu) Do đó, ngộ độc rượu dễ bị hạ thân nhiệt và khi gặp lạnh dễ

bị chết cóng [6]

1.1.3 Dược động học

a/ Hấp thu: rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa Sau khi uống rượu

30 phút, rượu đạt được nồng độ tối đa trong máu Thức ăn cũng ảnh hưởng tới hấp thu rượu: thức ăn chứa nhiều protein (lòng tắng trứng), lipid (dầu thực vật, mỡ động vật) làm giảm hấp thu rượu, ngược lại đồ uống có gas làm tăng tốc độ hấp thu rượu

b/ Chuyển hóa: Sau khi hấp thu, rượu được phân phối nhanh vào các tổ chức

và dịch cơ thể (qua cả rau thai) Nồng độ rượu trong tổ chức tương đương với nồng độ rượu trong máu Có hai con đường chuyển hóa rượu thành aldehyd : + Chuyển hóa qua alchohol dehydrogenase( ADH ) là con đường chính, ADH có nhiều ở gan, ngoài ra còn có ở não và dạ dày

+ Chuyển hóa qua hệ oxy hóa ethanol ở microsom, khi nồng độ rượu trong máu cao trên 100mg/dL rượu dược chuyển hóa qua hệ MESO Ở những người nghiện rượu, hoạt tính của các enzym tăng lên, làm tăng chuyển hóa của chính rượu và một số thuốc như Phenobarbital, carbamazepin

Trang 13

c/ Thải trừ : trên 90% rượu được oxy hóa ở gan, 10% còn lại thải trừ qua

phổi, thận [ 6]

1.1.4 Đơn vị uống chuẩn

Theo tài liệu Australia (Support the Drug offensive): Nước uống tiêu chuẩn (Standard drinks) là nước uống có phân độ rượu như nhau (10g rượu nguyên chất) Khi uống 1 đơn vị mức uống tiêu chuẩn, sẽ làm tăng nồng độ rượu trong máu lên khoảng 0,015% BAL (Breathalyser Alcohol Level) Đây là ước lượng rượu có thể chuyển hóa trong 1 giờ ở người có trọng lượng trung bình Một đơn vị uống chuẩn đối với:

+ Bia 6 -12o 285ml

+ Rượu vang 15o 80ml

+ Rượu ngọt 20o 60ml

+ Rượu trắng 400 30ml

Cách ước lượng nồng độ rượu sau khi uống như sau:

Cộng các cơ số nước uống tiêu chuẩn của một người đã uống (ví dụ một người uống 120ml rượu trắng sẽ bằng 4 đơn vị chuẩn) trừ đi số giờ người

đó uống (giả sử uống trong vòng 2 giờ ta sẽ có 2 đơn vị chuẩn) cuối cùng nhân với 0,015 ta sẽ được kết quả là 0,03% BAL

Trong y học, người ta dùng thử nghiệm Breathlyser phân tích hơi thở

để đo lượng rượu trong máu mặc dù rượu đào thải qua đường thở chỉ chiếm 10% lượng rượu uống Cách đo này cho chỉ số gần đúng nhưng giúp cho y học người uống có thể tính được nguy cơ khi uống các loại rượu khác nhau Đơn vị đo nồng độ rượu trong máu tính bằng BAL ( Breathlyser Alcohol Level) Khi nồng độ rượu trong máu trên 0,05% BAL tương ứng với khoảng 0,2- 0,3 g/l người uống biểu hiện khoái cảm, nói nhiều, khóc, cười, thiếu kiềm chế Nồng độ rượu từ 0,05 – 0,08% BAL tương ứng với 0,4 – 0,7 g/l người uống có thể rối loạn vận động, đi đứng loạng choạng, rối loạn sự xét đoán

Trang 14

Nồng độ trong máu từ 0,08 – 0,15% tương ứng với 0,8 – 1 g/l gây tình trạng nói chậm, đứng không vững, mắt mờ buồn ngủ, nôn không đi lại được một mình Nồng độ rượu trong máu 0,2 – 0,4% BAL tương ứng 1-2 g/l gây tình trạng say mềm, tiểu tiện không tự chủ, mê man rối loan nhịp thở

Nồng độ rượu trong máu 0,45–0,6 % BAL tương ứng 2 -3 g/l gây tình trạng xanh tái, hôn mê và có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời

Hội đồng quốc gia về sức khỏe và nghiên cứu y học ở Autralia có khuyến cáo rằng: Dưới 40 gram (4 đơn vị uống chuẩn) mỗi ngày đối với nam

và dưới 20 gram (2 đơn vị uống chuẩn) mỗi ngày đối với nữ với 2 ngày không dùng rượu mỗi tuần Ngay cả khi không đạt tới điều này, một sự giảm dùng rượu thực sự cũng không làm giảm được nguy cơ có các vấn đề trong tương lai [23]

1.2 Các rối loạn tâm thần do rượu

1.2.1 Lạm dụng rượu

Lạm dụng rượu là uống rượu để vô tình hay chỉ là để tuân thủ tập tục

gây hại cho sức khỏe của mình những trường hợp như thế được coi là lạm dụng rượu [3]

Lạm dụng rượu là uống một lúc với số lượng lớn, uống ít nhưng kéo dài nhiều ngày, uống nhiều lần trong ngày, trong tuần hoặc uống rượu cùng với các thuốc khác [3]

Nguyên nhân dẫn đến sự lạm dụng rượu:

+ Liên quan tới yếu tố di truyền: Một quá trình di truyền tiềm năng thông qua gen tiếp nhận dopamine D2 Một biến thể của tiếp nhận dopamine D2 như DRD2, D2A1 đã được tìm thấy nhiều hơn ở những cá nhân phụ thuộc vào rượu Những người với lịch sử gia đình về nghiện rượu thường dễ dàng cảm thấy bớt lo âu nhiều hơn so với bình thường sau khi uống rượu

Trang 15

+ Yếu tố sinh học: Những yếu tố sinh học liên quan đến sự lệ thuộc rượu thường được xem xét dưới dạng hậu quả của việc sử dụng rượu trong một thời gian dài Rượu làm tăng họat động của GABA trong hệ thống thần kinh giao cảm và điều khiển thân nhiệt, cảm giác đói, khát giúp làm dịu khí sắc và hành vi Qua thời gian, điều này dẫn tới việc giảm sự sản xuất tự nhiên của GABA, dẫn đến sự phụ thuộc vào rượu để duy trì những trạng thái cảm xúc mong muốn Nhịn uống dẫn đến những mức độ cận tối ưu của GABA, làm tăng nỗi lo âu và sự kích động, và khởi phát những triệu chứng cơ thể về cai Những cảm giác đó sẽ dịu đi nếu cơ thể được nạp rượu, mà qua đó cơ thể đạt được mức độ trung bình của GABA

Sự tiêu thụ rượu cũng gây nên một loạt các hiện tượng hóa học dẫn đến

sự giải thoát dopamine trong khuôn khổ bù đắp hoặc trong “trung tâm sảng khoái” của não: một phức hợp những cấu trúc bao gồm hạch nền, đồi thị, vỏ não trán, hạnh nhân, và vùng dưới đồi Khả năng của những sự kiện hàng ngày hoạt hoá hệ thống này bị giảm ở những người thường xuyên kích thích

nó bằng rượu, và điều này lại dẫn đến tiếp tục phụ thuộc rượu nhằm duy trì được một trạng thái tâm lí mong muốn

+ Yếu tố xã hội: Việc sử dụng rượu sớm ở những người trẻ tuổi có liên quan đến hành vi và thái độ của gia đình hay do ảnh hưởng từ những hình ảnh uống rượu trên các phương tiên thông tin đại chúng Những chuyển biến trong cuộc đời, cả tốt lẫn xấu đều ảnh hưởng đến sự tiêu thụ rượu: sự phát triển các mối quan hệ và gia đình, hoặc tìm được một việc làm và duy trì được công việc đó có thể hạn chế việc sử dụng rượu Những sự kiện bất lợi trong cuộc sống có thể làm tăng việc sử dụng rượu, đặc biệt ở những người thường uống rượu để giải sầu

+ Yếu tố tâm lí: Uống rượu đem lại khoái cảm có thể là về sinh lí, xã hội hoặc sự giảm nhẹ sau một sang chấn Một khi một cá nhân đã trở nên phụ thuộc hơn vào rượu thì một động lực xa hơn để tiếp tục uống rượu là để tránh các triệu chứng cai

Lạm dụng rượu có thể tiến triển thành nghiện rượu [3]

Trang 16

1.2.2 Say rượu thông thường và say rượu bệnh lí

a/ say rượu thông thường

Say rượu thông thường hay còn gọi là say rượu cấp là hậu quả của việc nhiễm độc nhất thời do rượu, thường xảy ra ở những người uống rượu quá ngưỡng qui định dẫn đến rối loạn ý thức, hành vi, cảm xúc, nhẹ thì bệnh nhân còn khả năng nhận xét xung quanh, nặng thì không kiểm soát được hành vi

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng rượu không gây nên hưng phấn đối với

vỏ não mà ngược lại rượu gây ức chế cả hai quá trình hưng phấn và ức chế, nhưng ưu thế tác động vào quá trình ức chế mạnh hơn làm mất cân bằng giữa hai quá trình và cuối cùng làm cho người say rượu biểu hiện lâm sàng bằng tình trạng hưng phấn

Rượu làm mất khả năng ức chế của vỏ não đối với các trung tâm dưới

vỏ gây nên tình trạng thoát ức chế dưới vỏ dẫn đến ở người say không kiểm soát được hành vi tác phong, dễ xâm phạm thô bạo

Rượu còn làm rối loạn hoạt động phân tích và tổng hợp của vỏ não làm cho người say rối loạn quá trình liên tưởng dẫn đến nói năng hỗn độn

Tuỳ theo lượng rượu uống và khả năng thích nghi của từng người tuy nhiên say rượu biểu hiện 3 mức độ sau : say rượu mức độ nhẹ, say rượu mức

độ trung bình và say rượu mức độ nặng

Say rượu mức độ nhẹ: có đặc tính làm chậm quá trình liên tưởng, tư

duy nông cạn, giảm tốc độ và chất lượng lao động trí óc Người say dễ sai sót trong vận động khó khăn trong thao tác những động tác đòi hỏi chính xác, khéo léo Trên nền tảng khí sắc tăng nhẹ, người say rượu nhẹ có cảm giác vô

tư, khoái cảm thô lỗ, hài hước không phù hợp với hoàn cảnh, người bệnh thường tự phụ khoác lác, tăng tính chấp nhặt nên thường kiếm chuyên gây gổ với người xung quanh Say rượu nhẹ có thể dẫn đến giải tỏa bản năng tình dục dẫn đến hành vi thô bạo với người khác giới [3]

Trang 17

Say rượu mức độ trung bình: Liên tưởng có đặc tính hỗn độn, cảm xúc

không kiềm chế, dễ tức giận, nổi khùng bởi những kích thích không đáng kể Trong trạng thái này người bệnh thường trở nên mất tế nhị, dẫn đến thô bạo, khó thực hiện động tác khéo léo, đi đứng xiêu vẹo

Say rượu mức độ nặng: Người bệnh thường có biểu hiện nôn nhiều, vã

mồ hôi , rối loạn thực vật nội tạng, tăng tiết nước bọt, tiểu tiện ra quần Nếu lượng uống nhiều người say có thể hôn mê, mạch nhanh, thở nông, hạ huyết

áp có thể tử vong nếu không cấp cứu [3]

Về tiến triển, các trường hợp ngộ độc rượu cấp nhẹ, sau giai đoạn ngủ sâu người bệnh có thể hồi phục được nhưng có quên từng mảng Trong trường hợp ngộ độc rượu cấp nặng, phải thực hiện cấp cứu tại trung tâm cấp cứu gần nhất, và phải có chế độ chăm sóc, theo dõi toàn diện thích hợp

b/ Say rượu bệnh lí

Say rượu bệnh lý trạng thái ngộ độc rượu cấp, hiếm gặp, có thể xảy ra ở những người uống lượng rượu không lớn nhưng quá mức chịu đựng của cơ thể [3]

Say rượu bệnh lý cần phân biệt với say rượu thông thường về đặc điểm biểu hiện bệnh lý loạn thần cấp diễn, với nhiều rối loạn tâm thần nặng vì vậy say rượu bệnh lý có nhiều tên gọi khác nhau: say rượu loạn thần, say rượu biến chứng, say rượu dạng động kinh

Say rượu bệnh lý là tình trạng loạn thần cấp, diễn ra trong một thời gian ngắn, nhất thời với những triệu chứng bệnh lý rối loạn ý thức sâu sắc kiểu mù mờ, kèm theo trạng thái căng thẳng cảm xúc do hoang tưởng và ảo giác chi phối dẫn đến những tác phong sai phạm, nguy hiểm

Rượu chỉ là một tác nhân tất yếu dẫn đến say rượu bệnh lý trong số nhiều yếu tố thuận lợi khác cần được kể đến như: Sự mệt mỏi, thiếu ngủ, đói, suy kiệt, nóng quá mức, khát quá mức, bệnh nhiễm trùng, lo âu, sợ sệt, căng

Trang 18

thẳng Say rượu bệnh lý phát sinh sau uống rượu không phụ thuộc nhiều vào

số lượng và loại rượu uống, có khi chỉ một lượng nhỏ rượu nho, cũng có khi

Thường phát sinh cảm xúc bất an, lo âu, hoảng sợ đạt tới mức khủng khiếp, cảm xúc không thoải mái về quá khứ, ấn tượng đã từng trải và đôi khi như đã đọc qua, đã trải nghiệm Chúng tạo nên một cảm giác bị đe doạ, nguy hiểm, đặc biệt từ phía những người xung quanh dẫn đến việc nhận định mang tính hoang tưởng, nhiều ảo giác rùng rợn, khiếp sợ, dễ dàng tấn công nguy hiểm đối với xung quanh

Phân biệt với say rượu thông thường, trong say rượu bệnh lý phối hợp vận động còn tốt, vẫn duy trì được thăng bằng, còn khả năng di chuyển nhanh gây ấn tượng như là người bệnh đã thoát ly khỏi ảnh hưởng chuyên biệt của rượu

Trạng thái say rượu bệnh lý thường kéo dài khoảng một giờ đôi khi vài giờ kết thúc bằng ngủ sâu

Tuỳ theo hình thái biểu hiện lâm sàng ưu thế có hai hình thái lâm sàng say rượu bệnh lý

* Trạng thái giống động kinh

* Trạng thái ảo giác paranoide [3]

1.2.3 Nghiện rượu

Nghiện rượu là sự thèm muốn, đòi hỏi thường xuyên uống rượu, dẫn đến rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao động ảnh hưởng đến sức khoẻ con

Trang 19

nghiện Đây cũng là cảnh báo cho những ai đang có thói quen này Từ lúc bắt đầu uống rượu đến nghiện rượu thời gian dài ngắn khác nhau tuỳ từng người

và phụ thuộc vào các yếu tố nhiều yếu tố như lượng rượu, loại rượu, tần suất uống, sức khỏe người uống, thực phẩm hay trạng thái tâm lý khi uống.v.v

Về mặt y học, nghiện rượu nằm trong nhóm bệnh nghiện chất được mã hóa F10 – F19 trong ICD -10 (1992), Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán nghiện rượu khi có ít nhất 3 trong 6 tiêu chuẩn sau diễn ra trong vòng 12 tháng:

1 Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng rượu

2 Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng rượu

3 Một trạng thái cai sinh lí khi việc sử dụng rượu bị ngừng hay bị giảm bớt

4 Có hiện tượng tăng dung nạp rượu (người nghiện rượu có thể dùng hằng ngày nhũng lượng rượu lớn đủ để làm say hoặc gây ngộ độc nguy hiểm cho những người không nghiện rượu)

5 Dần dần sao nhãng các thú vui trước đây để đi tìm và sử dụng rượu, dành thời gian ngày càng nhiều để tìm kiếm và sử dụng rượu

6 Tiêp tục sử dụng rượu mặc dù đã có hậu quả có hại đối với gan

và nhiều cơ quan khác do uống rượu [1]

Một số yếu tố thuận lợi cho người nghiện rượu là:

- Tuổi: Ngày càng có nhiều người trẻ uống rượu, vì vậy tỷ lệ người trẻ

nghiện rượu tăng cao

- Di truyền: Con của những gia đình có vợ hoặc chồng nghiện rượu có nguy cơ nghiện rượu cao gấp 2 lần so với con những cặp vợ chồng không nghiện

Trang 20

- Nghề nghiệp: Lao động giản đơn

- Hôn nhân: Người nghiện rượu có nhiều vấn đề về hôn nhân Mâu thuẫn

gia đình, ghen tuông

1.2.4 Trang thái cai

Là biểu hiện chủ yếu của chứng nghiện rượu, trạng thái cai xuất hiện khi bệnh nhân giảm hoặc ngừng uống rượu Người bệnh có khí sắc trầm, bồn chồn, bứt dứt, khó chịu, đứng ngồi không yên, lo âu sợ hãi một cách mơ hồ, các ý tưởng liên hệ thô sơ, rối loạn giấc ngủ như ngủ nông, dễ giật mình, dễ thức giấc, hoặc ác mộng, có khi mất ngủ hoàn toàn, run, rối loạn thần kinh thực vật như vã mồ hôi, tim đập nhanh, Trong hội chứng cai rượu nặng bệnh nhân có thể có cơn co giật động kinh, cũng như ảo giác về thị giác, thính giác, đặc biệt về chiều và đêm Đặc trưng cho hội chứng cai rượu là những biểu hiện trên dịu đi hoặc biến mất khi được uống rượu

Sảng rượu ( trạng thái cai có mê sảng)

Sảng rượu là một bệnh loạn thần cấp tính do rượu xuất hiện ở những bệnh nhân nghiện rượu mạn tính sau khi ngừng uống rượu Sảng rượu được coi là một cấp cứu tâm thần, nếu không được điều trị tỉ lệ tử vong là 20% chủ yếu do các bệnh lí cơ thể như viêm phổi, suy thận, suy gan, suy tim,…

Sảng rượu được biểu hiện trên lâm sàng với các giai đoạn khởi phát và giai đoạn toàn phát

Trong giai đoạn khởi phát

Người bị sảng rượu chủ yếu thấy mệt mỏi, chán ăn, rối loạn giấc ngủ,

bị ác mộng, cơn hoảng sợ, kích động, rối loạn thần kinh thực vật, run rẩy, chếnh choáng, thay đổi cảm xúc biểu biện bằng sự lo lắng hay trầm cảm Sau

đó, triệu chứng bệnh lý tiến triển nặng dần và thường xảy ra trầm trọng về ban đêm với những ảo giác thị giác sinh động, hay có hồi ức, ảo thanh, ảo thính,

ảo giác xúc giác Trạng thái ảo giác chiếm vai trò chủ yếu và thường xuất hiện

Trang 21

vào buổi chiều tối với nội dung làm cho người sảng rượu ghê sợ, hốt hoảng Các ảo giác thị trường ở mắt có kích thước bị thu nhỏ với hiện tượng nhìn thấy những hình người và sinh vật nhỏ bé lại, thấy lung tung các hình ảnh chuột nhắt, rắn, rết, nhện, gián Người sảng rượu vẫn còn khả năng phê phán, có rối loạn định hướng thoáng qua hoặc định hướng không rõ ràng, đầy

đủ về không gian và thời gian Đồng thời nét mặt và các hoạt động mất linh hoạt, không chú ý tập trung, có thể có cơn co giật Nói tóm lại, những triệu chứng bệnh lý thường hay gặp thực tế trong giai đoạn khởi phát là mất ngủ, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, chán ăn, khó tập trung chú ý, run rẩy, chếnh choáng, sợ hãi

Trong giai đoạn toàn phát

Có biểu hiện ba triệu chứng cổ điển gồm: ý thức mù mờ, lú lẫn; các ảo tưởng, ảo giác sinh động xảy ra ở bất kỳ giác quan nào và run rẩy nặng Đồng thời có thể có hiện tượng hoang tưởng, kích động, mất ngủ hoặc đảo lộn nhịp thức ngủ, hoạt động của thần kinh thực vật tăng mạnh [1] Có hiện tượng mê sảng nặng, bị rối loạn năng lực định hướng về thời gian và không gian, định hướng xung quanh đôi khi bị lệch lạc nhưng định hướng về bản thân còn giữ lại được Người sảng rượu có nhận thức về xung quanh như là ảo giác và hoàn toàn mất khả năng phê phán Mức độ ý thức mù mờ dao động và thường gia tăng vào buổi chiều tối Khi có sự lôi cuốn chú ý lâu hơn, đôi lúc ý thức tỉnh

ra và bắt đầu trả lời đúng các câu hỏi nhưng trạng thái này có thể đột nhiên bị hàng loạt những ảo giác ngắt đoạn Đôi khi người sảng rượu cảm thấy như có côn trùng bò trên cơ thể, có cảm giác đau do vết cắn của động vật Các ảo giác có tính chất toàn vẹn dưới hình thức những khung cảnh, những sự kiện thay đổi một cách hợp lý như mình bị tấn công, chuẩn bị đưa tới nơi hành hình Cũng có thể có những hình ảnh trông rất sinh động, chứng sảng nghề nghiệp như cảm thấy đang ở trong môi trường hoàn cảnh làm việc bình

Trang 22

thường, đang tiến hành các hoạt động trong thao tác công việc của mình Do rối loạn ý thức nặng nề nên người bị sảng rượu tiếp thu những điều do ảo giác tạo nên giống như những điều xảy ra trong thực tế

Hành vi và tính cách của người sảng rượu khá phù hợp với nội dung của hiện tượng ảo giác như: khi thì chăm chú nhìn vào một chỗ nào đó, khi thì

có một tư thế bảo vệ, khi thì lẩn trốn, khi thì đi tìm, nét mặt có khi sợ hãi hoặc ngạc nhiên, đăm chiêu Người sảng rượu trở nên nói nhiều, sôi nổi, bận rộn, không ngủ được Các rối loạn tâm thần nặng lên về ban đêm và có thể có trạng thái bị kích động dữ dội Một trong những nét đặc trưng được ghi nhận

là sự kết hợp cảm xúc căng thẳng, lo âu, sợ hãi với sự hài hước, cố đùa cợt với những tình huống nguy hiểm gây chết người đang đe dọa bản thân Đồng thời trạng thái hoang tưởng của người sảng rượu bao giờ cũng xảy ra, chúng mang tính chất cảm thụ, nội dung có liên quan đến tính chất và sự biến đổi của ảo giác Rất ít thấy các trường hợp hoang tưởng cấp tính rõ khi các ảo thị

và ảo thanh ít được biểu hiện Đồng hành với các rối loạn tâm thần trong chứng sảng rượu cấp tính còn có các rối loạn toàn thân khá rõ ràng Triệu chứng run chân tay, run lưỡi và toàn thân thường gặp nên thường được gọi là sảng run, đây là sự run rẩy ở phần cuối các chi nhỏ, xảy ra nhanh và lan truyền mà thực tế hay cảm thấy nhiều hơn là trông thấy Sự run rẩy cũng xảy

ra trên khuôn mặt và tăng lên khi hoạt động, tình trạng run lưỡi có thể làm cho người sảng rượu khó nói được bình thường

Trong những trường hợp nặng, tình trạng toàn thân người sảng rượu tiến triển xấu dần, có thể bị tử vong d0 biến chứng tim mạch hoặc mắc thêm bệnh viêm phổi Cơn sảng rượu có thể chấm dứt đột ngột sau một giấc ngủ sâu hoặc trong vài ngày, các biểu hiện bệnh lý nhẹ dần, trước tiên là vào buổi sáng và ban ngày Khả năng nhận xét, phê phán đôi khi không khôi phục được ngay

Trang 23

1.2.5 Loạn thần do rượu

Rượu gây ra nhiều tác hại về mặt cơ thể và tâm thần Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) loạn thần do rượu chiếm 10% các trường hợp nghiện rượu mãn tính

Thuật ngữ loạn thần do rượu được xác định bởi loạn thần xuất hiện và phát triển do hậu quả tác dụng trực tiếp của rượu lên não Loạn thần phát triển chủ yếu do nhiễm độc rượu lâu dài gây tổn thương các cơ quan nội tạng và rối loạn chuyển hoá trong cơ thể Loạn thần xuất hiện không những do ngộ độc rượu khi nồng độ rượu cao trong cơ thể mà ngay cả khi lượng rượu trong máu không có hoặc có rất thấp

Về lâm sàng loạn thần do rượu có thể chia ra: sảng rượu, ảo giác do rượu, hoang tưởng do rượu, hội chứng Korsakov do rượu, bệnh não do rượu v.v (Sumski N G., 1963 ).[4]

a/ Hoang tưởng và ảo giác do rượu

Ảo giác do rượu là hình thái lâm sàng thường gặp sau sảng rượu, chiếm 5,6 - 22,5% các loạn thần có liên quan đến nghiện rượu mãn tính (Marozov G V., 1974) Tuổi bị bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30 - 40 tuổi (Achte K., 1969)

Ảo giác thường xuất hiện sau 10 năm uống rượu (Katralv.A K., 1973) Tiến triển của ảo giác do rượu có thể cấp, kéo dài và có thể ảo giác mãn tính (Sumski N.G., 1983)

Hoang tưởng do rượu thường gặp sau sảng rượu và ảo giác do rượu

Về lâm sàng có paranoid do rượu và paranoia do rượu (hay gặp nhất là hoang tưởng ghen tuông) [4]

Hoang tưởng và ảo giác do rượu là hậu quả của nhiễm độc rượu lâu dài,

là biến chứng của nghiện rượu mãn tính [1] Theo cách phân loại cổ điển thì

ảo giác do rượu được chia ra ảo giác cấp, ảo giác kéo dài và ảo giác mãn tính

Ảo giác cấp tính là những ảo giác tồn tại từ vài ngày đến 1 tháng Ảo giác kéo

Trang 24

dài là những ảo giác tồn tại từ 1 đến 6 tháng Ảo giác mãn tính là những ảo giác tồn tại trên 6 tháng Hoang tưởng do rượu được chia ra paranoid do rượu

và paranoia do rượu Paranoid do rượu gồm có các hoang tưởng khác nhau có thể cấp tính, có thể kéo dài Paranoia do rượu chủ yếu nghiên cứu về hoang tưởng ghen tuông do rượu Trong ICD-10 hoang tưởng và ảo giác do rượu xếp vào mục rối loạn loạn thần do rượu (F10.5), trong đó hoang tưởng chiếm

ưu thế ở mục F10.51 và ảo giác chiếm ưu thế ở mục F10.52

Đa số các tác giả đều thừa nhận loạn thần do rượu với hoang tưởng và

ảo giác chiếm ưu thế thường gặp ở lứa tuổi 30 – 40 tuổi (chiếm 61,3% số bệnh nhân) Tỉ lệ nam : nữ có khác biệt (4:1) Theo nghiên cứu của Marozov G.V hoang tưởng do rượu chủ yếu gặp ở nam giới, còn ảo giác do rượu gặp ở

nữ nhiều hơn ở nam Ở nước ta hoang tưởng và ảo giác do rượu rất ít gặp ở

nữ Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế thường gặp

ở những người nghiện rượu mãn tính sau 10 năm (chiếm 61,5% trường hợp), thường gặp ở những người có học vấn thấp và nghề nghiệp không ổn định, thường ở trong hoàn cảnh gia đình có người thân nghiện rượu[4]

Về đặc diểm lâm sàng:

+/ Ảo giác: thường là những ảo giác thật, có thể có nhiều ảo giác trên một bệnh nhân, có thể có ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác, ảo khứu [4] Ảo thanh hay gặp nhất ở bệnh nhân, ảo thanh phần lớn được phát triển trên nền tảng những rối loạn khác kèm theo, đôi khi ảo thanh xuất hiện vào ngày cuối cùng của cơn uống rượu Cường độ ảo thanh có thể là tiếng kêu hay tiếng thì thầm, giọng nói biến đổi nhưng thường có những chủ đề liên quan với nhau Thoái triển đột ngột sau một giấc ngủ sâu hay giảm dần về cường độ và tần

số, khi ảo thanh hết hẳn thì bệnh nhân phê phán được trạng thái loạn thần đã qua

Trang 25

Ảo thị cũng thường gặp sau ảo thanh, nội dung ảo thị thường phù hợp với nội dung ảo thanh và hoang tưởng Khi ảo giác có sảng thì bệnh nhân thấy những côn trùng, động vật với kích thước thu nhỏ Khi ảo giác kèm theo ý thức u ám bệnh nhân thấy những cảnh giống mộng nhưng chủ đề thường không hoàn chỉnh và mất tính thứ tự

Ảo giác xúc giác ít gặp hơn ảo thanh và ảo thị, thường xuất hiện cùng với ảo thị, bệnh nhân thấy những côn trùng bò trên da thịt, chuột gậm nhấm chân tay mình gây cảm giác khó chịu Đôi khi ảo xúc là cảm giác những vật lạ trong miệng và họng

Ảo khứu và ảo vị ít gặp ở bệnh nhân loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế [4]

+/ Hoang tưởng:

Paranoia do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng ghen tuông, được phát triển dần trên một nhân cách đã thoái hoá do rượu Thoạt đầu những ý tưởng ghen tuông chỉ có trong khi say Dần dần mới trở nên bền vững và xuất hiện cả những khi bệnh nhân không uống rượu Từ chỗ nghi ngờ đi đến khẳng định vợ mình không chung thuỷ Bệnh nhân rình mò, tra khảo, bắt vợ phải nhận lỗi Bệnh nhân xác định người yêu của vợ mình thường là người quen biết

Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:

Ảo thanh thường xuất hiện vào chiều tối và lúc thiêm thiếp ngủ Có thể

là ảo thanh thô sơ hay ảo thanh lời nói Giọng nói có thể nói chuyện với bệnh nhân hay nói chuyệphức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:

1: Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi

2: Ý tưởng hoang tưởng còn có nội dung khác liên quan đến sự thiệt hại vật chất (vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có tự do với người yêu) [4]

Trang 26

Paranoid do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ có tính hình tượng cao

- Hoang tưởng bị theo dõi chi phối mãnh liệt hành vi, cảm xúc của bệnh nhân Hành vi có tính xung động, nguy hiểm cho bản thân và xung quanh Bệnh nhân bỏ chạy, phòng thủ, có khi tự sát Trong những trường hợp kéo dài thì hành vi ít nguy hiểm hơn

- Hoang tưởng bị hại có thể cùng xuất hiện với hoang tưởng bị theo dõi hoặc hoang tưởng ghen tuông trong paranoid cấp do rượu Hoang tưởng bị hại chiếm 71% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế [4] Hoang tưởng bị hại có tỉ lệ cao nhưng không đặc hiệu cho loạn thần do rượu

- Ngoài ra ở bệnh nhân loạn thần do rượu còn thấy một số hoang tưởng khác như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng nghi bệnh nhưng với tỉ lệ thấp

Hoang tưởng và ảo giác đôi khi cùng phối hợp với nhau trong một bệnh cảnh lâm sàng của loạn thần do rượu Theo thống kê của Soayle M., 1990 chỉ có 13% bệnh nhân loạn thần do rượu có ảo giác đơn thuần [4]

Trang 27

Hội chứng Korsakov phản ánh quan hệ nhân quả của quá trình tác động sâu sắc và kéo dài các độc chất đến chức năng hoạt động của não ở những người nghiện rượu mạn tính Hậu quả của rối loạn là một hình ảnh lâm sàng đặc trưng cho bệnh cảnh loạn thần Korsakov cùng với nhân cách biến đổi trầm trọng [8]

c/ Bệnh não Wernicke

Bệnh não Wernicke gây tổn thương não trong các phần dưới của não

gọi là đồi thị và vùng dưới đồi [8]

1.3 Các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về loạn thần do sử dụng rượu

1.3.1 Trên thế giới

Tại Pháp theo thống kê bệnh lý tâm thần do rượu chiếm 22% số bệnh nhân nội trú tại bệnh viện tâm thần [2] Theo Patrick G O’ Connor and Rihard S.Schottenfeld (1998) ở Mỹ, trong số người nghiện rượu có 21,5 % lệ thuộc rượu và 36,6% rối loạn tâm thần do rượu [25], Anne Yim and Sage W Wiener (2009) ở Mỹ, sảng rượu xuất hiện ở 5-10% người nghiện rượu, trong

đó có 5% tử vong và nếu không được phát hiện và điều tri sớm, số tử vong có thể tăng lên tới 35% [29] Theo WHO (1990) LTDR có ở 10% người nghiện

Trang 28

rượu mạn tính, theo Sumski N.G.(1983) sảng rượu chiếm 1/2 -3/4 trong số loạn thần do rượu ở những người nghiện rượu trên 5 năm [5]

Theo WHO (2004) nghiên cứu về hậu quả của sử dụng rượu đến xã hội: Uống rượu là nguyên nhân của 10-20% các vụ tai nạn nghề nghiệp tại Pháp Khoảng 22% các vụ tai nạn lao động ở Chile có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp đến sử dụng rượu [26] Theo các nghiên cứu của nhóm tác giả Canada năm 2000, 6% tất cả ca tử vong ở nhóm dưới 70 tuổi có nguyên nhân

do rượu

Về gia đình: Trong một nghiên cứu tại Thụy sĩ, 40% các vụ bạo hành gia đình có bằng chứng liên quan đến sử dụng rượu, trong đó có ít nhất 26%

có mối liên hệ rõ ràng giữa bạo lực và rượu

Về kinh tế: Chi phí cho rượu của Italiala là 26- 66 tỉ Euro, năm 1998 chi phí cho rượu của Mỹ là 185 tỷ USD Bên cạnh tiền mua rượu, một người nghiện rượu cũng chịu các tác động kinh tế khác bao gồm tiền lương thấp hơn, mất cơ hội việc làm, tăng chi phí cho y tế, chi phí pháp lí liên quan đến việc uống rượu và giảm điều kiện cho vay của ngân hàng

1.3.2 Tại Việt Nam

Các nghiên cứu về rối loạn tâm thần cho thấy loạn thần do rượu ở Việt Nam đang ngày một gia tăng theo thời gian [9], [10] Theo tác giả Phạm Liên Hương (2001) tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần, tỷ lệ bệnh nhân rối loạn tâm thần do rượu nội trú năm 1985 – 1989 là 0,31% đến năm 1995 – 2001 tỷ lệ này là 9,6% [31] Theo Nguyễn Mạnh Hùng (1997) trong các bệnh loạn thần

do rượu, LTDR với hoang tưởng chiếm ưu thế chiếm 29,8%, LTDR với ảo giác chiếm ưu thế chiếm 27,6 %, hội chứng quên chiếm 1,3% [9] Theo Hoàng Văn Trọng (2004) thì tỉ lệ loạn thần do rượu gồm: 32,4% sảng rượu, 29,8% LTDR với hoang tưởng chiếm ưu thế, 27,6% LTDR với ảo giác chiếm

ưu thế , 8,9% các thể khác [12]

Trang 29

Đối với kinh tế xã hội: Trong các trường hợp lạm dụng rượu: đánh nhau chiếm tỉ lệ 10 – 80%, vi phạm pháp luật chiếm tỉ lệ 5,2 – 25%, gia đình tan vỡ chiếm tỉ lệ 8- 18%, sa sút về kinh tế chiếm 48 – 68,5% [3]

Đối với bản thân : Rượu gây ra các vấn đề về sức khỏe như bệnh cơ thể (tiêu hóa, tim mạch ) , chiếm 5 -34 % [4]

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần - Bệnh Viện Bạch Mai

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm tất cả các hồ sơ bệnh án được chẩn đoán loạn thần do rượu điều tri nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2014

a/ Tiêu chuẩn lựa chon bệnh án

Mẫu gồm các bệnh án của bệnh nhân được chẩn đoán loạn thần do rượu theo tiêu chuẩn phân loại quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành

vi dùng cho lâm sàng (ICD10)

Theo ICD10, các loạn thần do rượu thuộc các mã:

- F10.4 : Hội chứng cai với mê sảng Bao gồm : F10.40 hội chứng cai với

mê sảng không có co giật, F10.41 hội chứng cai với mê sảng có co giật

- F10.5: Rối loạn loạn thần có liên quan trực tiếp đến sử dụng rượu bao gồm:

+ F10.50: Loạn thần do rượu giống phân liệt

+ F10.51 : Loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế

+ F10.52 : Loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế

+ F10.54 : Loạn thần do rượu với trầm cảm chiếm ưu thế

+ F10.55 : Loạn thần do rượu với hưng cảm chiếm ưu thế

b/Tiêu chuẩn loại trừ

Trang 31

- Bệnh nhân nghiện rượu kết hợp với nghiện chất gây nghiện khác

- Bệnh nhân có các bệnh cơ thể nặng không do rượu

- Bệnh nhân có rối loạn tâm thần trước khi sử dụng rượu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

a/ Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp hồi cứu thống kê Nghiên cứu các hình thái tỉ lệ các rối loạn loạn thần do rượu trên các đối tượng được chẩn đoán LTDR theo tiêu chuẩn phân loại quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi dùng cho lâm sàng (ICD 10), được điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần trong 3 năm từ tháng 1/2012đến tháng 12/2014

b/ Cỡ mẫu nghiên cứu

Chúng tôi chọn toàn bộ 250 bệnh án các bệnh nhân loạn thần do rượu trong 3 năm từ 2012 đến 2014 đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

c/ Các bước tiến hành

- Công cụ nghiên cứu :

+ Bảng mẫu bệnh án

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán loạn thần do rượu theo ICD 10

- Các bước tiến hành thu thập số liệu:

+ Lựa chọn hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tại phòng lưu trữ hồ sơ Bệnh Viện Bạch Mai phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán

+ Thu thập số liệu đầy đủ theo bảng mẫu bệnh án nghiên cứu

+ Tổng hợp và phân tích số liệu thu được để tìm các biến số có ý nghĩa đáp ứng mục tiêu nghiên cứu Cách ghi chép mẫu biểu, phân tích và xử

lí số liệu theo một quy trình và phương pháp thống nhất

d/ Các biến số nghiên cứu

Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu :

- Các biến số độc lập: tuổi, giới, nghề nghiệp, hôn nhân

- Bản thân bệnh nhân :

Trang 32

+ Đặc điểm tình trạng sử dụng rượu gồm: thời gian uống và lượng uống hàng ngày

+ Tiền sử đã từng bị rối loạn tâm thần do rượu

Về cơ cấu các hình thái loạn thần

+ Tỉ lệ các hình thái loạn thần do rượu chẩn đoán theo ICD 10 theo từng năm

+ Tỉ lệ các loại hoang tưởng và ảo giác gặp ở 250 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

Về đặc điểm lâm sàng của các hình thái loạn thần do rượu:

+ Tỉ lệ các nhóm lí do khiến bệnh nhân phải tới viện

+ Với mã bệnh F10.4:

 Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng cai với mê sảng

+ Với mã bệnh F10.51:

 Tỉ lệ các loại hoang tưởng

 Tỉ lê các loại ảo giác

+ Với mã bệnh F10.52:

 Tỉ lệ các loại ảo giác

 Tỉ lệ các loại hoang tưởng

+ Về các rối loạn cảm xúc gây ra bởi LTDR

 Tỉ lệ các hình thức rối loạn cảm xúc: lo âu, khí sắc trầm, không

ổn định, căng thẳng dễ bùng nổ

+ Về các rối loạn hành vi gây ra bởi LTDR

 Tỉ lệ các hình thức rối loạn hành vi: Hành vi theo hoang tưởng

và ảo giác, chạy trốn, né tránh, kích động tấn công người khác,

Trang 33

Các biến số khác

- Bệnh lý cơ thể thường gặp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Sự biến đổi công thức máu

e/ Xử lí số liệu

Số liệu được phân tích và xử lí bởi phần mềm SPSS 16.0

Số liệu được trình bày theo tỉ lệ %, trung bình và độ lệch chuẩn trong các bảng và biểu đồ nghiên cứu

f/ Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được sự đồng ý của ban lãnh đạo Viện Sức Khỏe Tâm Thần

- Nghiên cứu không có tính chất can thiệp điều trị

- Thông tin về bệnh nhân được giữ kín, không đưa vào nghiên cứu

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tuổi, giới của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Về giới: 250 bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu đều là nam giới

Bảng 3.1: Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Về tuổi : Nhóm bệnh nhân độ tuổi từ 31 - 45 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 52%

- Nhóm độ tuổi chiếm tỉ lệ cao thứ 2 là nhóm từ 46 - 60 tuổi với 41,6%

- Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỉ lệ thấp nhất là 2,8%

- Tuổi trung bình của nhóm bênh nhân nghiên cứu là : 44,9 ± 8,0

- Tuổi nhỏ nhất là 28 tuổi, tuổi lớn nhất là 75 tuổi

Trang 35

3.1.2 Đặc điểm nghề nghiệp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tỉ lệ nhóm nghề nghiệp của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

Nhận xét

- Nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm 37,4%

- Không việc làm chiếm 8,2%

- Thấp nhất là hưu trí với tỉ lệ 2%

3.1.3 Tình trạng hôn nhân của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Biểu đồ 3.2: Tình trạng hôn nhân

li dị

li thân

Trang 36

Nhận xét :

- Chiếm tỉ lệ cao nhất là kết hôn với 87,6%

- Các tình trạng hôn nhân còn lại chiếm tỉ lệ thấp là 12,4%

3.1.4 Thời gian sử dụng rượu

Bảng 3.2: Thời gian sử dụng rượu của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

- Thời gian sử dụng rượu từ 11 đến 20 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 43,2%

- Thời gian sử dụng rượu dưới 10 năm chiếm tỉ lệ thấp nhất 3,6%

- Thời gian sử dụng rượu ngắn nhất là 6 năm, thời gian sử dụng rượu dài nhất là trên 40 năm

3.1.5 Lượng rượu uống hàng ngày

Bảng 3.3: Lượng rượu uống hàng ngày (ml/ngày)

Ngày đăng: 08/03/2018, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w