1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của bệnh nhân hóa trị tại khoa hóa xạ trị - Bệnh viện Chợ Rẫy

5 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 405,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân hóa trị tại khoa hóa xạ trị - Bệnh viện Chợ Rẫy và khảo sát các yếu tố liên quan đến đến việc tuân thủ của đối tượng này. Nghiên cứu tiến hành trên 100 bệnh nhân hóa trị tại khoa hóa xạ trị Bệnh viện Chợ Rẫy trong 6 tháng từ 1 tháng 5 năm 2011 đến 31 tháng 10 năm 2011.

Trang 1

TỈ LỆ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

CỦA BỆNH NHÂN HÓA TRỊ TẠI KHOA HÓA XẠ TRỊ -

BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Lê Tuấn Anh*, Võ Trần Tuyết Diễm*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân hóa trị tại khoa Hóa Xạ trị - Bệnh viện Chợ Rẫy và

khảo sát các yếu tố liên quan đến đến việc tuân thủ của đối tượng này

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu và mô tả cắt ngang được thực hiện trên 100 bệnh nhân hóa

trị tại khoa Hóa Xạ trị Bệnh viện Chợ Rẫy trong 6 tháng từ 1 tháng 5 năm 2011 đến 31 tháng 10 năm 2011 Tỉ lệ tuân thủ và các yếu tố liên quan của bệnh nhân được xác định bằng cách dựa trên hồ sơ bệnh án và phỏng qua điện thoại theo tiêu chí của bộ câu hỏi soạn sẵn

Kết quả: Trong 100 bệnh nhân hóa trị được khảo sát có 37 bệnh nhân nữ (37%) và 63 bệnh nhân nam

(63%); tỉ lệ nam: nữ = 1.7: 1, nhóm tuổi từ 41 trở lên: 84%; vị trí ung thư thường gặp: đường tiêu hóa: 49% Tỉ

lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị được xác định tương đối thấp là 69% và tỉ lệ không tuân thủ điều trị là 31% Kết quả có nhiều yếu tố liên quan đến các tỉ lệ này và có ý nghĩa thống kê như: trình độ học vấn (p=0,019) nghề nghiệp (p=0,017), chu kỳ điều trị (p<0,005)

Kết luận: tỉ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 31% Có ba nhóm lí do không tuân thủ điều trị: kinh tế,

kiến thức, tác dụng phụ của thuốc trong đó lí do kiến thức chiếm tỉ lệ cao nhất

Từ khóa: tuân thủ điều trị, hóa trị

ABSTRACT

TREATMENT COMPLIANCE RATE AND RELATED FACTORS OF THE PATIENT IN

CHIMOTHERAPY AT THE DEPARTMENT OF CHEMO-RADIATION – CHORAY HOSPITAL

Le Tuan Anh, Vo Tran Tuyet Diem

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 186 - 190

Objectives: Determining the patients’ ratio of adherence to chemotherapy at Department of Chemotherapy

and Radiotherapy, Cho Ray hospital and assessing the related factors which are responsible for this rate

Methods and materials: Retrospective and cross section study Recruiting all patients treated at of

Chemotherapy and Radiotherapy from 1 st May 2011 to 31 st October 2011 Results were determined by using data from patients’ files and interviewing them through telephone based on prepared questionnaire

Results: 100 patients with 37 females and 63 males were recruited 84% patients was older than 40 years

old Gastrointestinal cancers (49%) were most common The ratio of adherence to chemotherapy was low, 69% and non-adherence ratio was 31% There were many factors related to non- adherence ratio and some factors were significant: education (p=0.019), occupation (p=0.017), cycles of treatment (p<0.005)

Conclusions: Ratio of non-adherence to chemotherapy was 31% Reasons were included in three groups:

economy, knowledge and chemotherapy side effects Among these, knowledge reasons were the most important

* Khoa Hóa xạ trị - Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: ThS.BS Lê Tuấn Anh ĐT: 0908012353 Email: ltadr@yahoo.com

Trang 2

Keywords: treatment compliance, chemotherapy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh ung thư hiện đang là vấn đề lớn toàn

cầu, số người mắc và chết do ung thư không

ngừng tăng lên Hiện nay, thế giới mỗi năm có

khoảng hơn 12 triệu người mới mắc và trên 7

triệu người chết(8), tại Việt Nam ước tính mỗi

năm có thêm trên 100.000 người mắc và khoảng

70.000 người chết do ung thư

Trong điều trị ung thư hiện nay có ba

phương pháp trị liệu chuẩn: phẫu trị, xạ trị và

hóa trị Đặc biệt, hóa trị là phương pháp điều trị

ung thư mang tính chất toàn thân được phát

triển mạnh trong những năm gần đây, đang trở

thành phương pháp điều trị điều trị phối hợp

hiệu quả với phẫu thuật và xạ trị, đây là lựa chọn

chủ yếu cho các bệnh nhân ung thư giai đoạn

bệnh tiến triển có nguy cơ di căn xa Bệnh ung

thư ở Việt Nam đa số được phát hiện trễ, chiếm

khoàng 2/3 các trường hợp được phát hiện(4) do

đó hóa trị đóng một vai trò rất quan trọng trong

công tác điều trị

Hóa trị là phương pháp trị liệu sử dụng các

thuốc gây độc tính lên tế bào ung thư Bên cạnh

tác dụng chống bướu các thuốc hóa trị này cũng

có các phản ứng và tác dụng phụ mạnh (độc

tính) do tác động lên các tế bào bình thường của

cơ thể, đặc biệt là các tế bào tăng trưởng nhanh(3,

4, 6) đồng thời cũng khá tốn kém về kinh tế, có

thời gian điều trị kéo dài.Vì vậy, đây cũng là

phương pháp điều trị mà bệnh nhân ung thư

khó thực hiện đầy đủ liệu trình điều trị của mình

và thường đến trễ hẹn hay bỏ dở việc điều trị

Việc khảo sát, phân tích nguyên nhân cũng

như các yếu tố liên quan đến việc đến việc bệnh

nhân ung thư không tuân thủ điều trị là quan

trọng và cần thiết để từ đó tìm ra các giải pháp

hỗ trợ, giúp đỡ bệnh nhân thực hiện đúng và

đầyđủ liệu trình điều trị của mình Tuy nhiên, ở

Việt Nam hiện nay chưa có tác giả hay nghiên

cứu nào đề cập đến vấn đề này vì vậy chúng tôi

tiến hành khảo sát về “Tỉ lệ tuân thủ điều trị và

các yếu tố liên quan của bệnh nhân hóa trị tại

Khoa Hóa xạ trị – Bệnh viện Chợ Rẫy”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chí chọn bệnh

Bệnh nhân đã điều trị hóa trị tại Khoa Hóa

xạ trị – Bệnh viện Chợ Rẫy Tiêu chí loại trừ

- Bệnh nhân đang hóa – xạ trị đồng thời

- Bệnh nhân có chỉ định tạm ngưng điều trị

- Bệnh nhân điều trị triệu chứng

Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu

Đề tài được thực hiện qua 2 giai đoạn: 1- Tra cứu hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân đã hóa trị đang được lưu trữ tại khoa và sử dụng bảng thu thập số liệu ghi nhận các thông tin sau:

+ Đặc điểm bệnh nhân, + Đặc điểm điều trị + Sự tuân thủ điều trị

2 - Phỏng vấn qua điện thoại những bệnh nhân không tuân thủ điều trị để xác định lý do

Phân tích và xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0, sử dụng phép thống kê mô tả để xác định tần suất đặc điểm người bệnh và tỉ lệ tuân thủ điều trị, ANOVA để xác định mối liên hệ giữa đặc điểm người bệnh với tuân thủ điều trị và không tuân thủ điều trị, giá trị p (2 chiều) < 0,05 được xem là

có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Giới tính

Dân số nghiên cứu bao gồm 100 bệnh nhân

đã hóa trị, trong đó có 63 bệnh nhân nam và 37 bệnh nhân nữ, tỉ lệ nam: nữ = 1,7: 1

Trang 3

Tuổi

Về tuổi, nhóm tuổi từ 41 trở lên chiếm đa số

(84%), trong đó nhóm tuổi từ 51 – 60 là nhiều

nhất (33%), tiếp theo là nhóm 41 – 50 (27%) và

trên 60 (24%) Nhóm dưới 20, 21 – 30, 31 – 40 là

những nhóm ít nhất (16% còn lại)

Nơi sinh sống, tình trạng hôn nhân, bảo hiểm y

tế, dân tộc

Đa số bệnh nhân sống ở các tỉnh (87%) và ở

Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ thấp (17%)

Phần lớn bệnh nhân đã lập gia đình, chiếm tỉ lệ

93% Hầu hết bệnh nhân có Bảo hiểm y tế (93%),

99% là dân tộc Kinh

Trình độ học vấn

Qua kết quả khảo sát, trình độ học vấn của

mẫu nghiên cứu có sự phân bố được trình bày

trong hình 1

Hình 1: Trình độ học vấn của bệnh nhân hóa trị

Nghề nghiệp

Qua kết quả khảo sát, phân bố mẫu theo

nghề nghiệp được trình bày ở hình 2

Hình 2: Nghề nghiệp của bệnh nhân hóa trị

Chẩn đoán

Bệnh nhân ung thư tiêu hóa chiếm tỉ lệ cao 49%, ung thư đầu, mặt, cổ chiếm tỉ lệ 11%, ung thư phổi chiếm tỉ lệ 10%, ung thư niệu dục chiếm tỉ lệ 8%, các ung thư khác chiếm tỉ lệ 11%

Hình 3: Phân bố mẫu theo chẩn đoán

Chu kỳ điều trị

Phân bố mẫu theo chu kỳ điều trị được trình bày ở

bảng 1

Bảng 1: Phân bố mẫu theo chu kỳ điều trị

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Chu kỳ

Thời gian truyền thuốc

Hình 4: Phân bố mẫu theo thời gian truyền thuốc

Tỉ lệ tuân thủ điều trị

Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ bệnh nhân không tuân

thủ điều trị chiếm tỉ lệ cao (31%)

Bảng 2: Tỉ lệ bệnh nhân hóa trị tuân thủ điều trị và

không tuân thủ điều trị

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Lý do không tuân thủ và tỉ lệ

Có nhiều lý do bệnh nhân không tuân thủ

Trang 4

điều trị và lý do bệnh nhân không tuân thủ điều

trị do hạn chế kiến thức chiếm tỷ lệ cao nhất

18%

Bảng 3: Lý do bệnh nhân hóa trị không tuân thủ và tỉ

lệ

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Lý do

Liên quan giữa đặc điểm cá nhân với tuân

thủ và không tuân thủ điều trị

Bảng 4 cho thấy có sự tương quan giữa trình độ học

vấn và sự tuân thủ điều trị Những bệnh nhân tốt

nghiệp Phổ thông trung học có sự khác biệt trong

tuân thủ điều trị với các nhóm trình độ tiểu học và

trung học cơ sở, có mối tương quan thuận và có ý

nghĩa thống kê (p = 0,019)

Bảng 4: Tương quan giữa trình độ học vấn với tuân

thủ điều trị và không tuân thủ điều trị

Nhóm Tần số Mean Sig (2 đuôi

t-test)

Tuân thủ

điều trị

0,019

Không tuân

thủ

31 2,710

Bảng 5 cho thấy có sự tương quan giữa nghề nghiệp

với tuân thủ và không tuân thủ điều trị Những bệnh

nhân là công nhân nhân viên có sự khác biệt với bệnh

nhân nội trợ và làm nông, sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê (p = 0,017)

Bảng 5: Tương quan giữa nghề nghiệp với tuân thủ

điều trị và không tuân thủ điều trị

Nhóm Tần số Mean Sig (2 đuôi t-test)

Tuân thủ

điều trị

0,017

Không tuân

thủ

Bảng 6 cho thấy có sự tương quan giữa chu

kỳ điều trị và sự tuân thủ điều trị Những

bệnh nhân có chu kỳ điều trị 28 ngày có sự

khác biệt với những bệnh nhân cho chu kỳ

điều trị 14 và 21 ngày và sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p < 0,005)

Bảng 6: Tương quan giữa chu kỳ với tuân thủ điều

trị và không tuân thủ điều trị

Nhóm Tần số Mean Sig (2 đuôi

t-test)

Tuân thủ điều trị

Không tuân thủ

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân đang hóa trị là nam chiếm tỷ lệ 63% cao hơn bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ là 37% Hầu hết bệnh nhân nhóm tuổi từ 41 tuổi trở lên chiếm tỷ

lệ 84%, bệnh nhân dưới 40 thấp chiếm tỷ lệ 16% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Bá Đức và cộng sự kết luận rằng nguy

cơ mắc bệnh ung thư tăng dần sau độ tuổi 40 –

44(5). Và kết quả nghiên cứu của Mai Trọng Khoa cũng có kết luận rằng nhóm tuổi mắc bệnh ung thư nhiều nhất là 41 – 60

Tỉ bệnh nhân không tuân thủ điều trị cao 31%, lý do không tuân thủ điều trị do tác dụng phụ của thuốc chiếm tỉ lệ 5%, số bệnh nhân có chu kỳ điều trị 21 ngày chiếm tỉ lệ 40% So với kết quả nghiên cứu của quốc gia đa trung tâm (2004) số bệnh nhân bỏ điều trị nguyên nhân do tác dụng phụ của thuốc chiếm tỷ lệ 11% và khảo sát sự tuân thủ, sự hài lòng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đại trực trành được hóa trị hoặc điều trị ngoại trú (BMJ, 2001) kết quả

bỏ điều trị ở nhóm ngoại trú chiếm tỷ lệ 14%, nhóm ở nhà chiếm tỷ lệ 2%(1). Kết quả nghiên cứu này cho thấy số bệnh nhân bỏ điều trị cao hơn và lý do tác dụng phụ của thuốc thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây

Kết quả nghiên cứu cũng xác định lý do không tuân thủ điều trị do thiếu kiến thức chiếm

tỷ lệ cao 18% Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hiền (2008) kết quả cho thấy người bệnh có nhu cầu muốn biết và tìm hiểu về bệnh ung thư và các phương pháp điều trị là 92.31%(7)

Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những bệnh nhân tốt nghiệp Phổ thông trung học có sự khác biệt trong tuân thủ điều trị với các nhóm trình độ tiểu học và trung học cơ sở Những bệnh nhân là công nhân nhân viên có sự khác biệt với bệnh nhân nội trợ và làm nông

Trang 5

Những bệnh nhân có chu kỳ điều trị 28 ngày có

sự khác biệt với những bệnh nhân cho chu kỳ

điều trị 14 và 21 ngày Kết quả này có nghĩa là

những bệnh nhân có trình độ càng cao thì tuân

thủ điều trị cao hơn, những bệnh nhân làm việc

tiếp xúc nhiều người như công nhân sẽ tuân thủ

điều trị cao hơn bệnh nhân làm nội trợ và làm

nông, và những bệnh nhân có chu kỳ điều trị

càng kéo dài thì khả năng không tuân thủ điều

trị cao hơn Điều này cũng phù hợp với thực tế

Theo Tạp chí Chăm sóc người bệnh ung thư của

Châu Âu (2011): Đánh giá về quản lý sự tuân thủ

của bệnh nhân điều trị ung thư bằng đường

uống, kết quả cho sự thay đổi hóa trị qua đường

tĩnh mạch trong bệnh viện đến một phương

pháp hóa trị qua đường miệng được thực hiện

bởi chính bệnh nhân ngoại trú làm giảm khả

năng tuân thủ Những phương pháp, giáo dục,

giám sát bệnh nhân, sự tham gia của gia đình

hoặc người chăm sóc có thể cải thiện sự tuân thủ

của những bệnh nhân đang điều trị(2)

KẾT LUẬN

Đa số bệnh nhân đang hóa trị là Nam chiếm

tỷ lệ 63%, bệnh nhân nhóm tuổi từ 41 tuổi trở lên

chiếm tỷ lệ 84%, bệnh nhân đến từ các tỉnh

chiếm tỷ lệ cao 83% Tỷ lệ bệnh nhân không tuân

thủ điều trị 31% cao hơn so với các nghiên cứu

trước đây, lý do không tuân thủ điều trị do tác

dụng phụ của thuốc chiếm tỷ 5% thấp hơn so với

các nghiên cứu đã khảo sát và lý do không tuân

thủ điều trị do thiếu kiến thức chiếm tỷ lệ cao

18% Những bệnh nhân có chu kỳ điều trị càng

kéo dài thì khả năng không tuân thủ điều trị cao

hơn

Từ những kết luận trên, để góp phần vào

mục tiêu nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh

nhân ung thư, chúng tôi có một số kiến nghị - đề

xuất sau:

Công tác tư vấn

- Cần xây dựng Phòng tư vấn hay Nhóm điều dưỡng tư vấn tại khoa để tiếp nhận tư vấn, hướng dẫn cho bệnh nhân ung thư trong quá trình điều trị

Công tác giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân

và cộng đồng

- Xây dựng góc truyền thông, giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện, tại khoa

- Thành lập Câu lạc bộ bệnh nhân ung thư cấp bệnh viện hoặc khoa, tổ chức sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề hàng tuần, hàng tháng

Tăng cường công tác quản lý bệnh nhân hóa trị

- Bác sĩ: Theo dõi và nắm vững tình trạng bệnh nhân sau mỗi đợt hóa trị

- Điều dưỡng: Quản lý tốt lịch hẹn tái khám của bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Borras JM et al (2001), “Compliance, satisfaction, and quality of life of patients with colorectal cancer receiving home chemotherapy or outpatient treatment: a randomised controlled trial”, BMJ April 7; 322(7290): 826

2 Molassiotis A (2012), European Journal of Oncology nursing

Elsevier Ltd

3 Nguyễn Bá Đức (2000) Hóa chất điều trị bệnh ung thư NXB Y

học

4 Nguyễn Bá Đức (2001) Bài giảng ung thư học đại cương NXB Y

học Hà Nội

5 Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Hoài Nga và cộng

sự (2008) « Tình hình mắc ung thư ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn

2005 – 2008 » Tạp chí ung thư học Việt Nam Số 01 - 2008, trang

20-24

6 Nguyễn Chấn Hùng (2004) Ung bướu học nội khoa NXB Y học

7 Phạm Thị Hiền (2008) «Khảo sát hiểu biết của người bệnh về

bệnh ung thư» Tạp chí ung thư học Việt Nam

8 Tổ chức Y tế Thế giới (2007) Comprehensive Cervical Cancer

Control: A guide to essential practice

Ngày đăng: 20/01/2020, 17:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN