1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của một số yếu tố nguy cơ tim mạch, chuyển hóa đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng - Một hướng tư duy mới

9 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 448,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tổng hợp các thông tin về mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ vữa xơ động mạch với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Bên cạnh đó, bài viết còn trình bày đặc điểm cấu trúc và chức năng của đĩa đệm: Đặc điểm mạch máu nuôi dưỡng đĩa đệm; đặc điểm dinh dƣỡng đĩa đệm; thoái hóa đĩa đệm và Vai của vữa xơ động mạch đối với thoát vị đĩa đệm cột sống.

Trang 1

114

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH,

CHUYỂN HÓA ĐỐI VỚI THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG - MỘT HƯỚNG TƯ DUY MỚI

ý*; Ng yễn Văn C ương**

TÓM TẮT

Cơ sở bệnh sinh đầu tiên của thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống là thoái hoá cột sống Có

nhiều yếu tố bất lợi khiến đĩa đệm cột sống rất dễ thoaí hoá Đầu tiên phải kể đến quá trình lão

hoá theo tuổi, sau đó là tình trạng chịu đựng tải trọng lâu dài (mang trọng lượng của cả cơ thể

và các trọng lượng bổ sung trong sinh hoạt vầ lao động suốt đời), thêm vào đó tình trạng bệnh

lý của bản thân đĩa đệm mà con người mắc phải trong đời như viêm, u, chấn thương… Tình

trạng cung cấp máu cho đĩa đệm rất nghèo nàn, chỉ có các mạch máu rất nhỏ cung cấp máu

cho cả cột sống, tuỷ sống và các cấu trúc phần mềm cạnh sống Ngặt nghèo hơn là phương

thức nuôi dưỡng đĩa đệm Đĩa đệm chỉ được nuôi dưỡng bằng phương thức thầm thấu chất

dinh dưỡng qua các mâm sụn Như vậy, khi cột sống mang tải, áp lực nội đĩa đệm tăng, tình

trạng nuôi dưỡng đĩa đệm sẽ xấu đi rõ rệt Trong hoàn cảnh dinh dưỡng khó khăn bất lợi như

vậy, nếu hệ thống mạch nuôi lại bị vữa xơ thì tốc độ thoái hoá đĩa đệm càng tăng và nguy cơ

TVĐĐ càng lớn Gần đây, nhiều tác giả trên thế giới đề cập đến ảnh hưởng của vữa xơ động

mạch tới TVĐĐ Bài viết tổng hợp các thông tin về mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ vữa xơ

động mạch với TVĐĐ cột sống thắt lưng (CSTL)

* Từ khóa: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng; Yếu tố nguy cơ tim mạch; Chuyển hóa

The Influences of some Cardiovascular, Metabolic Risk Factors on

Lumbar Intervertebral Disc Herniation

Summary

The first basis in pathophysiology of intervertebral disc herniation is degeneration There are

many risks, that increases degeneration of human Firstly, the age relevant degeneration, then

the continuous wearing of body weight and supplementary weight during the life, additionally

many acquiered disc diseases in the life Especially, the blood supply and the nutrition of the

discs are very poor, there are only small arteries advaiable, then the manner of nutrition though

diffusion Therefore, nowaday many articles are written on the relation between the disc

herniation and the atherosclerosis risks This article collects the opinions of authors in relation of

atherosclerosis risks with lumbar intervertebal disc herniation - A New distention of thinking

* Key words: Intervertebral disc herniation; Cardiovascular risk factors; Metabolism

* Bệnh viện 198

** Bệnh viện Quân y 103

Người p ản ồi (Corresponding): õ úy (lethanhbinhkts@gmail.com)

Ngày n ận bài: 30/01/2015; Ngày p ản bi n đán giá bài báo: 11/02/2015

Ngày bài báo được đăng: 26/02/2015

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là bệnh

có tính thời sự trong lĩnh vực y học cũng như

trong Chuyên ngành Thần kinh Tại Hoa Kỳ, tỷ

lệ bệnh TVĐĐ là 1,6%, tại Anh là 2,2% và

Phần Lan là 1,2% Năm 1984, ước tính tổn

thất do TVĐĐ khoảng 21 tỷ USD

Ở Việt Nam, tỷ lệ BN TVĐĐ CSTL tương

đối cao Thống kê cơ cấu bệnh 10 năm của

Hồ Hữu Lương cho thấy TVĐĐ CSTL chiếm

23% BN điều trị tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh

viện Quân y 103 [11] Gần đây, tỷ lệ mắc

TVĐĐ CSTL có xu hướng gia tăng Theo

Nguyễn Văn Chương và CS, tỷ lệ BN TVĐĐ

CSTL trên tổng số BN điều trị nội trú tại Khoa

Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103 trong 10

năm ( 2004 - 2013) là 30,69%, thậm chí năm

cao nhất là 40,12%

Bệnh thường xảy ra ở những người trong

độ tuổi lao động, hậu quả làm giảm, mất khả

năng lao động, ảnh hưởng nhiều tới kinh tế xã

hội Do đặc điểm cấu tạo và nuôi dưỡng của

đĩa đệm cũng như hoạt động chức năng của

đĩa đệm-cột sống có những bất lợi cho chính

bản thân đĩa đệm, làm cho quá trình thoái hóa

đĩa đệm xảy ra nhanh và sớm từ những năm

đầu đời Nghiên cứu về bệnh TVĐĐ cột sống,

các tác giả cho rằng cơ chế bệnh sinh của

TVĐĐ có liên quan rất nhiều tới quá trình

thoái hóa đĩa đệm Đĩa đệm được nuôi dưỡng

thông qua thẩm thấu là chính, nên sự hoàn

thiện của mạch máu nuôi dưỡng cột sống có

vai trò rất lớn tới quá trình TVĐĐ Quá trình

vữa xơ của những động mạch này có ý nghĩa

trong cơ chế bệnh sinh TVĐĐ Vì vậy, vấn đề

được đặt ra là liệu các yếu tố nguy cơ của

vữa xơ động mạch có ảnh hưởng ở chừng mực nào tới mức độ phơi nhiễm cũng như lâm sàng của TVĐĐ CSTL và khả năng dự phòng TVĐĐ CSTL thông qua ngăn ngừa và điều trị có hiệu quả các yếu tố nguy cơ vữa xơ động mạch có ý nghĩa như thế nào trong thực tế? Gần đây, các nhà nghiên cứu Mỹ đã đề cập đến vai trò của cholesterol toàn phần và triglycerid trong bệnh TVĐĐ CSTL BN có tăng lipid máu thường có bảng lâm sàng nặng

nề hơn những BN khác

Như vậy, còn các yếu tố khác như: tuổi, trọng lượng cơ thể, nồng độ đường huyết, chỉ

số huyết áp ảnh hưởng như thế nào tới tình trạng lâm sàng của TVĐĐ CSTL? Điều này còn là dấu hỏi lớn cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG

CỦA ĐĨA ĐỆM

Đĩa đệm là thành phần cấu trúc không xương nằm trong khoang gian sống, bao gồm: mâm sụn, vòng sợi và nhân nhày Cột sống con người không chỉ chịu những lực tĩnh trong quá trình vận động mà còn phải gánh chịu nhiều lực động Do đó, cột sống vừa có khả năng đứng trụ vững chắc cho cơ thể lại vừa rất linh động có thể xoay chuyển về tất cả các hướng

Đĩa đệm tham gia vào vận động của cột sống với vai trò là một tổ chức có khả năng biến dạng Bằng sự kết hợp đặc tính chịu nén

ép có giới hạn của đĩa đệm với sức co giãn của khớp nhỏ đốt sống đã tạo cho cột sống có một trường vận động nhất định Trên cơ sở của sức đàn hồi lớn, các đĩa đệm có chức

Trang 3

năng “giảm xóc”, làm giảm nhẹ chấn động

theo dọc trục cột sống do trọng tải

Nhân nhày đảm nhận chức năng như một

bọc chứa dịch lỏng, có khả năng chuyển tiếp

các lực dọc trục để trải đều và cân đối tới

mâm sụn và vòng sợi Qua kết quả nghiên

cứu đồ thị về lực nén ép và lực xô dồn trở lại

của đĩa đệm, Hartmann (1970) đã kết luận:

trương lực tổ chức của nhân nhày đã giữ cho

các thớ của vòng sợi một trương lực nhất

định Khi trương lực tổ chức tăng, các thớ sợi

của vòng sợi sẽ chịu được độ căng lớn hơn,

nên độ căng duỗi cũng sẽ tăng lên Khi trọng

tải không cân đối, tổ chức nhân nhày sẽ di

chuyển về phần đĩa đệm chịu lực trọng tải ít

hơn, nghĩa là khi cúi xuống, nhân nhày trượt

về phía sau, khi ưỡn lưng thì chuyển dịch ra

trước và khi nghiêng người chúng lại chạy

sang bên đối diện Sự chuyển dịch mạnh nhất

trong 3 giây đầu với tốc độ 0,6 mm/phút, nếu

vẫn giữ nguyên nén ép không cân đối này thì

nhân nhày sẽ tiếp tục chuyển động về phía

bên nửa đĩa đệm ít chịu trọng tải hơn với tốc

độ nhỏ hơn và kéo dài trong nhiều giờ sau

Khi cột sống bắt buộc phải duy trì lâu ở tư thế

đứng liên tục với trọng tải không đều, nhân

nhày bị đè ép, bè ra dần dần làm tăng độ giải

toả lực theo hướng ly tâm, gây nên triệu

chứng đau do đĩa đệm Khi tuổi càng cao, khả

năng chuyển dịch của tổ chức đĩa đệm giảm

tính linh động trung tâm

Trên cơ sở của khả năng chuyển dịch sinh

lý vốn có của nhân nhày và đặc tính chun giãn

của vòng sợi, đĩa đệm đã thể hiện đúng là một

hệ thống sinh cơ học và có tính thích ứng,

đàn hồi cao, có tính chịu đựng đối với trọng tải

lớn của cột sống, nếu trương lực tổ chức và

lực căng của nó còn ở trạng thái bình thường

Chính nó đã được điều vận một cách linh hoạt hai đặc tính vừa thích ứng, vừa đề kháng để tạo nên sức chống đỡ cho thân đốt sống trước những tác động của chấn thương Nhưng nếu do rạn rách hoặc giập nát nên vòng sợi đã mất đặc tính đàn hồi, làm cho nhân nhày dễ thoát ra khỏi giới hạn sinh lý, tuỳ theo mức độ tổn thương khác nhau, đĩa đệm lại trở thành đối tượng dễ bị tổn thương nhất

1 Đặc điểm mạch máu nuôi dƣỡng đĩa đệm

CSTL, tủy sống và các rễ thần kinh được cung cấp máu bởi các nhánh động mạch chạy dọc và động mạch tiết đoạn 3 động mạch chạy dọc chính là động mạch tủy sống trước và hai động mạch tủy sống sau

* Các động mạch dọc tủy sống:

- Động mạch tủy sống trước: là một động mạch nhỏ, tách ra từ động mạch đốt sống đi xuống ở phía trước hành tủy để kết hợp với nhánh bên đối diện tạo thân chung, thân chung tiếp tục đi xuống trên mặt giữa, trước của tủy sống và được tiếp ứng bởi chuỗi mạch nối các động mạch đoạn tủy trước Các động mạch đoạn tủy trước là những nhánh của nhánh tủy sống (từ ngoài đi vào ống sống qua các lỗ gian đốt sống) của nhiều động mạch: động mạch đốt sống, động mạch thắt lưng Mỗi động mạch đoạn tủy khi đi vào đến khe giữa trước tủy chia thành hai nhánh lên

và xuống, những nhánh này tiếp nối với nhau thành chuỗi mạch dọc Các nhánh trung ương của động mạch tủy sống trước cấp máu cho

Trang 4

2/3 trước tủy sống và phần trước thân đốt

sống

- Động mạch tủy sống sau: bắt nguồn tực

tiếp từ động mạch đốt sống cùng bên hoặc từ

động mạch tiểu não dưới sau Nó đi xuống và

chia thành hai nhánh đi trong rãnh bên sau

của tủy sống, trên đường đi xuống, nó được

tiếp ứng bởi hàng loạt các động mạch đoạn

tủy sau, riêng nhánh trước của nó còn nhận

được nhánh đến từ động mạch Adamkiewicz

Động mạch tủy sống sau cấp máu

* Các động mạch ngang đoạn tủy:

Xuất phát từ các nhánh tủy sống Mỗi

nhánh tủy sống đi vào ống sống qua lỗ gian

đốt sống và chia thành:

- Các nhánh rễ trước và sau cung cấp máu

cho rễ trước và rễ sau của thần kinh sống

- Các động mạch đoạn tủy: đi thẳng tới

mạch dọc để tiếp nối và tăng cường cho

những động mạch này và cùng nhau tạo

nên đám rối màng mềm trên bề mặt tủy

sống Động mạch đoạn tủy lớn nhất là động

mạch Adamkievicz, động mạch này được

tách ra từ một nhánh tủy sống hoặc là một

trong các động mạch gian sườn sau phía

dưới hoặc của động mạch dưới sườn hoặc

ít gặp hơn của động mạch thắt lưng (L1 và

L2) Nó phát sinh hầu hết ở bên trái, chỉ

khoảng 30% ở bên phải, khi đi tới tủy sống,

nó tách ra một nhánh đi tới động mạch tủy

sống trước và một nhánh khác nối với

nhánh của động mạch tủy sống sau Nó có

thể là nguồn cung cấp máu chính cho 2/3

dưới của tủy sống thắt lưng cùng Ngoài ra,

còn có các động mạch trực tràng - giữa,

động mạch thắt lưng tham gia tưới máu cho vùng CSTL

Mạch máu từ mạng lưới mạch ở bên ngoài, đặc biệt từ khu vực lỗ liên đốt sống chạy ngay vào trong vòng sợi rồi toả vào những lá mỏng, tạo nên mạng lưới mao mạch giữa lá mỏng, nhưng không bao giờ tới lớp trong của vòng sợi và nhân nhày (Tondury, 1958) Do đó, ở khu vực trung tâm của khoang gian đốt sống, ngay từ lúc đầu chỉ được nuôi dưỡng lan toả, trái lại, ở mâm sụn, mạch máu được phân bố tốt Đó là sự khác biệt về phân bố mạch máu

ở vùng rìa với vùng trung tâm, càng đi vào trung tâm của đĩa đệm, lá mỏng của vòng sợi lại càng giảm về số lượng và lại càng kém về

độ chắc đến mức những chất cơ bản không cấu trúc chiếm ưu thế ở trong nhân keo ở thời

kỳ phát triển cuối cùng Những sợi và tế bào

tổ chức liên kết do chất cơ bản sinh ra ở vòng sợi chỉ được nuôi dưỡng bằng mạch máu cho tới hai tuổi (Tondry, 1955), sau đó mạch máu

bị thoái hoá đến mức vòng sợi của trẻ em bốn tuổi đã không tìm thấy mạch máu nào ở đó nữa Cho đến nay, người ta vẫn không thể giải thích được sự thoái hoá này Khoang gian sống giàu tế bào và sợi, ở đó diễn ra liên tiếp quá trình xây dựng và phân huỷ phân tử, nên đòi hỏi ở đĩa đệm người một kiểu phân bố mạch máu đặc biệt Tổ chức đĩa đệm là chất keo thuần nhất, có đặc tính lý học của chất lỏng và áp lực trong đĩa đệm lại biến đổi theo

tư thế của thân đốt, nên mạch máu ở đây thường xuyên bị chèn ép Do đó, đĩa đệm rất

dễ bị rối loạn chuyển hoá Có thể nói: “Sự nuôi dưỡng xấu ở đĩa đệm không những chỉ làm suy giảm chất lượng mà còn đến cả số lượng, của những tổ chức liên kết và tổ chức

Trang 5

tựa đỡ ở khoang gian đốt sống” Như vậy, đủ

thấy ngay ở thời kỳ bào thai, tổ chức đĩa đệm

đã bị chèn ép, hạn chế nuôi dưỡng

Quá trình vữa xơ động mạch chủ bụng

thường phát triển ở ngã ba phân nhánh của

động mạch chủ, nó có thể làm tắc động mạch

tưới máu vùng CSTL Do cấp máu vùng CSTL

theo nguyên lý phân đoạn và hình thành

mạng lưới mao mạch bên, khi động mạch

nuôi dưỡng hẹp tắc sẽ dẫn đến gia tăng cấp

máu qua mạng lưới mao mạch bên, nhưng

các nhánh bên này phát triển rất chậm, không

đáp ứng đủ nhu cầu bình thường Cản trở lưu

thông dòng máu qua động mạch cột sống gây

rối loạn dinh dưỡng đĩa đệm: giảm oxy và dự

trữ dinh dưỡng trong đĩa đệm, phá hủy các

sản phẩm trao đổi chất của đĩa đệm Mặc dù

các tế bào đĩa đệm có thể sống sót trong điều

kiện thiếu oxy và độ pH thấp, nhưng khả năng

hoạt động của chúng bị giảm rất nhanh

chóng, tạo điều kiện cho quá trình thoái hóa

đĩa đệm

2 Đặc điểm dinh dƣỡng đĩa đệm

Đĩa đệm được nuôi dưỡng bằng hiện

tượng khuếch tán (Schmorl, 1932), các chất

liệu được chuyển hóa từ khoang tủy của thân

đốt sống qua lỗ sàng bề mặt thân đốt và lớp

canxi dưới mâm sụn để dinh dưỡng cho

khoang đốt sống Do được tưới máu bằng

phương thức khuếch tán, nên chất lượng nuôi

dưỡng đĩa đệm kém, đĩa đệm trở thành loại

mô dinh dưỡng chậm điển hình, loạn dưỡng

và thoái hóa đĩa đệm xuất hiện sớm ở người

Như vậy, đĩa đệm thoái hóa đã hình thành

một tình trạng sẵn sàng bị bệnh và hiện tượng

thoái hóa này diễn ra liên tục trong suốt đời

người, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài như: miễn dịch, dinh dưỡng, nghề nghiệp, chế độ vận động, chấn

thương, vi chấn thương, nhiễm khuẩn…

Đĩa đệm được nuôi dưỡng bằng hình thức thẩm thấu, tổ chức biên giới của đĩa đệm có đặc tính của một màng bán thấm, vòng sợi và tấm sụn có cấu trúc mắt lưới siêu hiển vi, chỉ

có những phần tử nhỏ mới lọt qua được Mariodas (1975) và Urban (1976) đã chứng minh: glucoza khuyếch tán vào đĩa đệm chủ yếu qua tấm sụn, ion sulfat, nước và một số chất cặn chuyển hóa khuếch tán qua vòng sợi Hàng rào thẩm thấu của tấm sụn và vòng sợi đã phân chia tổ chức đĩa đệm thành hai khoang: khoang trong đĩa đệm và khoang ngoài đĩa đệm Ở khoang ngoài đĩa đệm, áp lực mô bình thường chỉ có vài mmHg, còn ở trong khoang đĩa đệm, áp lực tăng cao, tùy thuộc vào tư thế và trọng tải phải gánh, nhưng phần tử lớn ở khoang bên trong đĩa đệm có khả năng hút nước mạnh tạo nên áp lực keo

đủ để cân bằng áp lực tải trọng, giữ cho đĩa đệm không bị khô kiệt và có khả năng trỗi dậy mạnh mẽ khi bị nén ép J Kramer nghiên cứu bằng chất phóng xạ và chất màu đã chứng minh áp lực trọng tải tăng trên 80 kg sẽ dẫn

đến phân tán dịch lỏng ra khỏi đĩa đệm Như vậy, tình trạng nuôi dưỡng đĩa đệm luôn có những bất lợi do áp lực trọng tải mà bản thân đĩa đệm phải gánh chịu và chất lượng nuôi dưỡng đĩa đệm vốn đã nghèo nàn

3 Thoái hóa đĩa đệm

Quá trình thoái hoá đĩa đệm đã hình thành

và bắt đầu từ những năm đầu của tuổi đời Do

đó, trên thực tế rất khó phân biệt được quá trình thoái hoá sinh học với thoái hoá bệnh lý

Trang 6

Trong quá trình phát triển cá thể, thoái hoá

sinh lý ở đĩa đệm thắt lưng diễn ra rất sớm

Tới những năm đầu của tuổi ngoài 30 đã xuất

hiện biến đổi thoái hoá về cấu trúc và hình

thái đĩa đệm Quá trình thoái hoá đĩa đệm

tăng dần theo tuổi, diễn biến từ từ suốt cả

cuộc đời và có những giai đoạn không biểu

hiện lâm sàng Do nhiều yếu tố bên trong và

bên ngoài tác động, thoái hoá tiến triển nhanh

hơn, trở thành thoái hoá bệnh lý Nhiều tác

giả cho rằng TVĐĐ là một “đột biến”, một giai

đoạn của quá trình thoái hoá bệnh lý của đĩa

đệm

Đĩa đệm còn nguyên vẹn có thể chịu đựng

được những chấn thương mạnh và trọng tải

lớn Chỉ khi đĩa đệm bị thoái hoá tới một giai

đoạn nhất định thì TVĐĐ mới mới có những

điều kiện sinh - cơ học để xuất hiện Khi đó,

chỉ cần một lực chấn thương nhẹ hoặc một

tác động của trọng tải nhẹ, không cân đối

cũng có thể gây TVĐĐ

Khi tổ chức vòng sợi bị suy yếu, những tác

động trọng tải lên cột sống đã trở thành quá

sức chịu đựng, dẫn đến giập nát các sợi, làm

cản trở chuyển dịch lớn trong đĩa đệm Đĩa

đệm bị rạn nứt, mất đàn hồi nên không còn

khả năng, đảm nhiệm chức năng làm giảm

chấn động và chức năng của một khớp bán

động đoạn vận động cột sống nữa Trong điều

kiện nuôi dưỡng kém, khả năng thích nghi của

đĩa đệm bị giảm sút, các tổ chức liên kết và tổ

chức đỡ kém phát triển, nên chúng sớm bị

suy thoái Vì vậy, những bệnh của đĩa đệm do

thoái hoá có thể xuất hiện ở lứa tuổi trẻ nhỏ

Ở người, vào lứa tuổi 30, hầu như không còn

một cột sống nào nguyên vẹn, chưa có biến

đổi thoái hoá

Klapp (1958), Exner (1954) đã mô tả những thể nặng của bệnh thoái hoá, biến dạng cột sống ở loài vượn dạng người có tư thế đi đứng thẳng Yamada (1962), Vassalev

và Dimova (1970) đã làm thực nghiệm cắt cụt hai chân trước của chuột, buộc chúng phải đi thẳng, 1 năm sau khi đi thẳng đã thấy xuất hiện những thay đổi cấu trúc ở vòng sợi và tấm sụn do áp lực trọng tải theo chiều dọc của dáng đi đứng thẳng gây nên Trẻ đang bú mẹ,

sự trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, thông qua những mạch máu của đĩa đệm do cột sống, chưa phải chịu đựng áp lực trọng tải đáng kể Khi ở tư thế đi đứng thẳng, điều kiện sinh - cơ học ở khoang gian đốt sống đã thay đổi về cơ bản Mạch máu của đĩa đệm trực tiếp chịu áp lực trọng tải, gồm: trọng lượng phần trên cơ thể và trương lực cơ Vì áp lực tĩnh mạch và

áp lực tiểu động mạch thấp hơn áp lực cân bằng thuỷ tĩnh nên máu bị ép đẩy ra ngoài hoặc không chảy vào đĩa đệm nữa Các mạch máu bị xẹp, dẫn tới teo đét dần và cuối cùng mất đi Việc đảm bảo nuôi dưỡng đĩa đệm nhờ tuần hoàn trong khoang gian đốt trở nên xấu đi, sự trao đổi chất qua mô đĩa đệm nhờ

cơ chế vận chuyển Do đó, mô đĩa đệm trở thành mô dinh dưỡng chậm do hậu quả của

cơ chế đứng thẳng của cột sống Reichauer (1994) đã viết một cách khái quát: “bệnh của đĩa đệm là những hiến vật của con người phải trả cho thiên năng dáng đi đứng thẳng” Có

thể nói một cách khái quát: thoái hoá đĩa đệm

là nguyên nhân cơ bản bên trong, tác động cơ họ,c là nguyên nhân khởi phát bên ngoài và

sự phối hợp của hai yếu tố này là nguồn phát sinh TVĐĐ

Trang 7

4 Vai của vữa xơ động mạch đối với

TVĐĐ cột sống

Quá trình vữa xơ động mạch được khởi

đầu bằng tổn thương lớp tế bào nội mô, các

yếu tố nguy cơ tim mạch - chuyển hoá chính là

tác nhân gây tổn thương lớp tế bào nội mô và

đóng một vai trò quan trọng trong bệnh lý vữa

xơ động mạch

Năm 2006, Jhwa BS, Fuchs CS, Colditz GA,

Stampfer MJ thuộc Trường Y khoa Harvard

(Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá mối

liên quan giữa yếu tố nguy cơ tim mạch với

bệnh TVĐĐ CSTL Các tác giả nghiên cứu

trên 98.407 BN TVĐĐ CSTL độ tuổi 30 - 55 và

đưa ra kết luận: xơ vữa động mạch có thể

được coi là yếu tố tham gia vào thoái hóa đĩa

đệm [10]

- Tăng huyết áp: là một trong những bệnh

l ý lâm sàng mà tổn thương lớp tế bào nội mô

mạch máu được xác nhận, trong khi tổn

thương lớp tế bào nội mô là mắt xích đầu tiên

trong chuỗi quá trình bệnh lý vữa xơ động

mạch Theo chiều ngược lại, ảnh hưởng của

tổn thương lớp tế bào nội mô tới tăng huyết

áp vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Nghiên

cứu của Shimbo và CS (2010) ở 3.500 người

cho thấy rối loạn chức năng nội mạc không có

vai trò gì trong tăng huyết áp Tuy nhiên, một

điều chắc chắn là có mất cân bằng giữa giảm

sản xuất, giảm chức năng thụ thể của yếu tố

giãn mạch và gia tăng hình thành hoặc tăng

nhạy cảm với tác nhân co mạch Tổn thương

nội mạc mạch máu cũng có thể đóng vai trò

chìa khoá trong phát triển tổn thương các cơ

quan của bệnh tăng huyết áp

- Tăng đường máu: tăng đường máu có vai

trò quan trọng trong bệnh sinh biến chứng vi

mạch và mạch máu lớn trong đái tháo đường, nhưng vẫn ít được biết là có liên quan đến điều hoà các chất vận chuyển glucose ở tế bào nội mạc mạch máu Tăng đường máu mạn tính ở đái tháo đường gây rối loạn chức năng tế bào nội mạc mạch máu, đó là yếu tố chính thúc đẩy phát triển các bệnh vi mạch và bệnh mạch máu lớn Robinson D, Mirovsky

cứu phẫu thuật lấy đĩa đệm và phân tích đặc điểm của proteoglycans ở đĩa đệm L4-L5 trên

5 BN không mắc tiểu đường và 5 BN tiểu đường Kết quả cho thấy, nhóm chứng: tỷ lệ 35S-sulfate kết hợp trong phân tử proteoglycan cao hơn 15 lần so với nhóm đái đường, proteoglycan của nhóm đái đường nằm trong dải tỷ trọng thấp, giảm số lượng

keratin sulfate Các tác giả đi đến kết luận: đái đường làm giảm tỷ trọng proteoglycan trong đĩa đệm, gây ra những tổn thương đặc biệt có

thể dẫn tới TVĐĐ

- Tăng lipid máu: các lipid, đặc biệt là LDL đóng vai trò chính làm suy giảm chức năng nội mạc mạch máu bằng việc giảm khả dụng sinh học của NO và hoạt hoá con đường tín hiệu về tiền viêm như: NF-κB LDL cũng làm giảm cấu trúc và chức năng các hốc Việc hạ thấp nồng độ cholesterol thông qua tăng hoạt tính của NO, làm chức năng nội mạc mạch máu được cải thiện đáng kể Người ta thấy, sau 3 ngày điều trị bằng statin hoạt tính NO tăng, mà không ảnh hưởng đến lipid huyết tương Ngược lại, khi cholesterol máu tăng, các sản phẩm thoái giáng mang đặc tính oxy hoá của eNOS làm tổn thương nội mạc mạch máu

và thúc đẩy tiến trình vữa xơ động mạch Điều

Trang 8

này cho thấy tầm quan trọng của việc điều

chỉnh yếu tố nguy cơ của vữa xơ động mạch

Bahram Jam (2009) nghiên cứu ảnh hưởng

của cholesterol huyết thanh đối với bệnh đau

lưng mạn tính, tác giả đi đến kết luận: những

triệu chứng thần kinh nặng hơn và phàn nàn

đau nhiều hơn so với những BN có mức

cholesterol LDL bình thường [9] Umile

Giuseppe Longo, Luca Denaro, Filippo

Spiezia, Francisco Forriol, Nicola Maffulli,

Vincenzo Denaro (2011) nghiên cứu định

lượng lipid huyết thanh trên 2 nhóm BN, nhóm

1 gồm 169 BN sau phẫu thuật TVĐĐ CSTL

(nhóm bệnh), nhóm 2 gồm 169 BN sau phẫu

thuật nội soi cắt sụn chêm (nhóm chứng)

trong cùng một giai đoạn Kết quả thu được

cho thấy nồng độ cholesterol, triglycerid huyết

thanh ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng có ý

nghĩa thống kê Nồng độ lipid huyết thanh cao

có phải là yếu tố nguy cơ của TVĐĐ?

- Thừa cân, béo phì: M Like, S Solovieva,

A Lamminen, K Luoma, P Leino-Arjas,

R Luukkonen và H Riihimäki (2005) nghiên

cứu 129 nam công nhân lứa tuổi trung niên,

chọn ra từ 1.832 công nhân làm việc trong

các chuyên ngành: lái máy công nghiệp, xây

dựng, văn phòng Độ tuổi 40 - 45 Chụp MRI

lần 1, sau 4 năm chụp lại kiểm tra Tiến hành

phân tích các chỉ tiêu nghề nghiệp, tiền sử lái

xe, hút thuốc, chấn thương vùng lưng Kết

quả cho thấy: chỉ số BMI > 25 liên quan chặt

chẽ với TVĐĐ với biểu hiện giảm cường độ

tín hiệu của nhân đĩa đệm ở lần chụp sau (OR

= 4,3, độ tin cậy 95% 1,3 - 14,3) Thừa cân

tuổi trẻ có RR = 3,8, CI 95% 1,4 - 10,4 cao hơn so với thừa cân ở lứa tuổi trung niên RR

= 1,3, CI 95% 0,7 - 2,7 Các tác giả kết luận:

BMI > 25 làm tăng nguy cơ TVĐĐ, thừa cân

tuổi trẻ là yếu tố nguy hiểm

- Hút thuốc lá: Leino-Arjas P, Kauppila

L, Kaila-Kangas L, Shiri R, Heistaro

S, Heliövaara M (2008) nghiên cứu mối liên quan giữa thoái hóa đĩa đệm, đau thần kinh hông to và tăng lipid máu trên 8.028 BN ở lứa tuổi > 30 được chẩn đoán đau thần kinh hông

to và kết luận: đau thần kinh hông to có liên quan đến cholesterol toàn phần, cholesterol LDL và triglycerid, tuổi, chỉ số BMI, chế độ thể dục, hút thuốc lá, tình trạng công việc, học

tập

Lê Thị Bích Thủy (2013) tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ ở BN TVĐĐ CSTL có hội chứng chuyển hóa”, kết quả cho thấy tỷ lệ các triệu chứng trong hội chứng chuyển hóa là: tăng trigricerid 93,7%, tăng vòng bụng 79,2%, giảm HDL-C 79,2%, tăng huyết áp 47,9%, tăng glucose máu 14,6% Số BN TVĐĐ CSTL

có hội chứng chuyển hóa được cấu tạo từ 3 triệu chứng chiếm tỷ lệ cao nhất (87,5%), đó là: tăng vòng bụng, tăng trigricerid, HDL-C thấp

Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của cholesterol toàn phần, triglycerid và các yếu tố nguy cơ khác của vữa xơ động mạch trong bệnh TVĐĐ CSTL Đây là một hướng tư duy mới và ý tưởng khoa học này cần được triển

khai nghiên cứu nhiều hơn trong thời gian tới

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Quang Bích Phòng và chữa các bệnh

đau lưng Nhà xuất bản Y học 2006

2 Tạ Văn Bình Những nguyên lý nền tảng

bệnh đái tháo đường, tăng glucose máu Nhà xuất

bản Y học 2007

3 Nguyễn Văn Chương Tình hình nghiên cứu

TVĐĐ CSTL tại Bộ môn - Khoa Thần kinh, Bệnh

viện Quân y 103 - Học viện Quân y Các báo cáo

Hội nghị khoa học 2010

4 Hồ Hữu Lương, Nguyễn Văn Chương, Cao

Hữu Hân Cơ cấu bệnh tật tại Khoa Thần kinh,

Bệnh viện Quân y 103 trong 10 năm (1980 - 1990)

1991, tr.22-27

5 Trịnh Văn Minh Giải phẫu người, tập 3, hệ

thần kinh-hệ nội tiết Nhà xuất bản Giáo dục Việt

Nam

6 Nguyễn Quang Quyền Bài giảng giải phẫu

cột sống Nhà xuất bản Y học, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh 1993

7 Lê Thị Bích Thủy Nghiên cứu đặc điểm lâm

sàng, hình ảnh cộng hưởng từ ở BN TVĐĐ CSTL

có hội chứng chuyển hóa Luận văn Thạc sỹ Y học Học viện Quân y 2012

8 Bộ Y tế, Bệnh viện Nội tiết Trung ương

Chuyên đề nội tiết, chuyển hóa Nhà xuất bản Y học 2008

9 Bahram Jam Serum cholesterol and chronic

low.back.pain,.http://ph ysicaltherapyweb.com// Articles/serum cholesterol low back pain.php

10 Jhawar BS, Fuchs CS, Colditz GA, Stamfer

MJ Cardiovascular risk factors for physician-

diagnosed lumbar disc herniation Spine J 2006, 6 (6), pp.684-691.

Ngày đăng: 20/01/2020, 01:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w