1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tư pháp quốc tế bài 4

10 299 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 62,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây: a Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và g

Trang 1

Bài thảo luận môn

TƯ PHÁP QUỐC TẾ - BÀI 4

LÝ THUYẾT

1 Trình bày nguyên tắc công nhận và cho thi hành Bản án, quyết định của Tòa

án nước ngoài tại Việt Nam.

1 Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.1

Trang 2

c) Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành (Điều 423 BLTTDS)

2 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành (Điều 427 BLTTDS)

3 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập (khoản 1 Điều 431 BLTTDS)

4 Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam khi có đơn yêu cầu không công nhận

2 Phân tích điều kiện công nhân và cho thi hành Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.

Đối tượng đầu tiên có nhu cầu được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là bản

án, quyết định của Tòa án nước ngoài Tuy nhiên không phải bản án, quyết định nào của Tòa án nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Thực chất, đó phải là các bản án, quyết định dân sự (theo nghĩa rộng) của Tòa án nước ngoài như “Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” hay “quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài” (điểm a, điểm b khoản 1 Điều 423 BLTTDS) Bên cạnh đó, điểm

c khoản 1 Điều 423 BLTTDS còn ghi nhận khả năng công nhận và cho thi hành tại Việt

Nam: “Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam

quy định công nhận và cho thi hành”.

3 Trình bày nguyên tắc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

1 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

2

Trang 3

a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;

b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại (Điều 424 BLTTDS 2015)

2 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp luật (Điều 427 BLTTDS 2015)

4 Phân tích điều kiện công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 424 BLTTDS 2015, Toà án Việt Nam xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo 2 nguyên tắc cơ bản là dựa trên cơ sở điều ước quốc tế và trên nguyên tắc có đi có lại

- Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài: Là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành; Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoặc liên quan đến các quan hệ pháp luật thương mại; Địa điểm Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ của Việt Nam và trên lãnh thổ của một trong các nước thành viên Công ước New York năm

1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; Pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài là pháp luật của nước nơi Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp

- Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại: Ở đây nguyên tắc có đi có lại được áp dụng đối với phán quyết trọng tài không thuộc điểm a khoản 1 Điều 424, tức là đối với trường hợp không là phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ

3

Trang 4

nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài

5 Hãy nêu bản chất của hoạt động công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài.

Công nhận và cho thi hành quyết định của cơ quan nước ngoài tại Việt Nam là việc Việt Nam thừa nhận hiệu lực pháp luật của quyết định này và cho phép chúng được thi hành trên lãnh thổ Việt Nam Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài thể hiện ý chí của quốc gia công nhận và thi hành; được thực hiện thông qua cơ quan trong bộ máy nhà nước; là một quá trình của tố tụng dân sự quốc tế, thể hiện sự hợp tác giữa các quốc gia trong hoạt động tương trợ tư pháp; là thủ tục xem xét và quyết định trao hiệu lực tại nước sở tại cho bản án, quyết định được yêu cầu Đồng thời, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án, phán quyết Trọng tài nước ngoài còn có ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp lý Đây còn là một căn cứ pháp luật quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa

án đối với các yêu cầu giải quyết khi vụ việc có yếu tố nước ngoài Vậy bản chất của hoạt động công nhận là cho thi hành là quốc gia sở tại thừa nhận giá trị hiệu lực pháp lý của các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài và cho phép thi hành tại quốc gia mình

NHẬN ĐỊNH

1 Tất cả các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài chỉ được công nhận tại

Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận

Nhận định đúng

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành; Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải lý kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó

4

Trang 5

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành; Bản án, quyết định dân sự của Tòa

án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế Việt Nam

ký kết hoặc gia nhập

2 Theo pháp luật Việt Nam, phán quyết của trọng tài nước ngoài phải là phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam

Nhận định sai

Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn

3 Tất cả phán quyết của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.

Nhận định đúng Vì phán quyết của trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có “hiệu lực pháp luật” như quyết định của Tòa án của Việt Nam có hiệu lực pháp luật

Khi Tòa án được yêu cầu công nhận phán quyết trọng tài, Tòa án không chỉ được yêu cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán quyết, mà còn phải đảm bảo phán quyết đó được thi hành BLTTDS quy định rằng phán quyết được công nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật (Điều

427 BLTTDS 2015)

4 Trong việc xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án

nước ngoài, tòa án nước sở tại phải xét xử lại nội dung của vụ việc đó.

Trang 6

Tại khoản 4 Điều 438 BLTTDS 2015 quy định: "khi xem xét đơn yêu cầu công nhận

và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản

án, quyết định" Nội dung trên cho thấy BLTTDS đã ghi nhận nguyên tắc không xét xử lại

vụ án đã được cơ quan nước ngoài giải quyết khi xem xét yêu cầu về công nhận và cho thi hành Thực ra, nguyên tắc "không xét xử lại vụ án" là một nguyên tắc rất quan trọng được pháp luật nhiều nước trên thế giới cũng như nhiều điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định nước ngoài ghi nhận

5 Quyết định của trọng tài của nước Thành viên Công ước NY sẽ luôn được công nhận

và cho thi hành tại Việt Nam

Nhận định sai

Không phải mọi quyết định của trọng tài của nước thành viên Công ước Newyork sẽ luôn được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Việc công nhận và thi hành quyết định Trọng tài

có thể bị từ chối nếu như Tòa án Việt Nam cho rằng: Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo pháp luật của nước đó hoặc việc công nhận và thi hành quyết định sẽ trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

CSPL: Điều 5 Công ước New York 1958

6 Những đơn yêu cầu công nhận tại Việt Nam mà không cần thi hành thì sẽ được toà

án Việt Nam công nhận.

Nhận định sai

Để được Tòa án Việt Nam công nhận thì phải là những đơn: Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Yêu cầu không công nhận; Yêu cầu không công nhậ và không có yêu cầu về thi hành Chứ không bao gồm đơn yêu cầu công nhận mà không cần thi hành tại Việt Nam

7 Chỉ những bản án, quyết định của tòa án các quốc gia tham gia điều ước quốc

tế với Việt Nam mới được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.

Trang 7

Vì bản án, quyết định về HN&GĐ của Tòa án nước ngoài, mà nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam, thì vẫn đương nhiên được công nhận

CSPL: khoản 2 Điều 431 BLTTDS 2015

8 Theo pháp luật Việt Nam, bản án không có đơn yêu cầu không công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam.

Nhận định sai

Khi bản án không có đơn yêu cầu không công nhận, nhưng rơi vào các trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Điều 459 BLTTDS 2015, thì vẫn không được công nhận tại Việt Nam

CSPL: Điều 459 BLTTDS 2015

9 Mọi bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài chỉ được công nhận tại Việt Nam sau khi thực hiện thủ tục công nhận.

Nhận định sai

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam

mà không cần thực hiện thủ tục công nhận trong các trường hợp sau:

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam

mà không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

- Bản án, quyết định về HN&GĐ của Tòa án nước ngoài mà nước đó và chưa cùng là thành viên của Điều ước quốc tế không có yêu cầu thi thành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam

CSPL: Điều 431 BLTTDS 2015.7

Trang 8

10 Phán quyết trọng tài được tuyên tại nước là thành viên của Công ước New York thì đương nhiên được công nhận và thi hành tại các nước thành viên Công ước New York.

Nhận định sai

Điều 5 Công ước New York 1958 liệt kê các trường hợp mà theo đó, việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối Cụ thể như sau:

- Các bên của thỏa thuận trọng tài theo luật áp dụng đối với các bên không có đủ năng lực hoặc thỏa thuận trọng tài không có giá trị theo luật mà các bên chịu điều chỉnh, nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của quốc gia nơi ra quyết định; hoặc

- Nếu bên phải thi hành quyết định không được thông báo thích đáng về việc chỉ định trọng tài viên hay về tố tụng trọng tài hoặc do một nguyên nhân khác không thể trình bày vụ việc của mình; hoặc

- Quyết định giải quyết một tranh chấp không được dự liệu trong các điều khoản của đơn đưa ra trọng tài giải quyết hoặc nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc quyết định trọng tài gồm các quyết định về các vấn đề ngoài phạm vi của yêu cầu xét xử trọng tài, tuy nhiên nếu phần quyết định về các vấn đề không được yêu cầu, thì phần quyết định về các vấn đề được yêu cầu đưa ra trọng tài có thể được công nhận và thi hành; hoặc

- Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc với luật quốc gia nơi tiến hành trọng tài trong trường hợp không có thỏa thuận đó

- Phán quyết của trọng tài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên hoặc bị hủy bỏ hay đình chỉ hiệu lực bởi cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tuyên quyết định

Ngoài ra, việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài còn có thể bị từ chối nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu, cho rằng:

- Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật quốc gia đó; hoặc

8

Trang 9

- Việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài trái với trật tự công cộng của quốc gia.

Như vậy, nếu phán quyết trọng tài được tuyên tại nước là thành viên của Công ước New York, nhưng rơi vào các trường hợp mà việc công nhận và cho thi hành phán quyết này có thể bị

từ chối, thì không đương nhiên được công nhận và cho thi hành tại các nước thành viên Công ước New York

CSPL: Điều 5 Công ước New York 1958

11 Phán quyết của trọng tài của nước là thành viên Công ước New York không

vi phạm Điều 5 Công ước thì luôn được công nhận và thi hành tại Việt Nam.

Nhận định sai

Điều 431 BLTTDS quy định về bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam Cụ thể, những trường hợp đương nhiên được công nhận gồm:

"1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác

có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2 Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam."

Phán quyết của trọng tài của nước là thành viên Công ước New York không vi phạm Điều 5 Công ước không thuộc trường hợp luôn được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, mà chỉ là trường hợp được xem xét công nhận và cho thi hành, theo Điều 424

Trang 10

12 Chỉ người được thi hành, người đại diện hợp pháp của họ mới được nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

Nhận định đúng

Theo khoản 1 Điều 425 BLTTDS:

"1 Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa

án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa

án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu."

Với quy định trên, người yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ

10

Ngày đăng: 18/01/2020, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w