- Theo khoản 1 Điều 126 Luật HNGĐ 2014 quy định, trong quan hệ kết hôn giữa công dân VN và người nước ngoài, khi kết hôn tại VN, ngoài việc tuân thủ theo PL nước 2 bên đang mang quốc tịc
Trang 1THẢO LUẬN TƯ PHÁP QUỐC TẾ BÀI: HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG TPQT
NHẬN ĐỊNH
28 Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được xác định theo Điều 663 BLDS 2015.
Sai
CSPL: Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình còn
có thể được xác định theo quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình
2014 Như vậy, không phải lúc nào yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình cũng được xác định theo Điều 663 BLDS 2015
29 Quan hệ hôn nhân và gia đình được coi là có yếu tố nước ngoài khi vào chỉ khi có ít nhất một trong các bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sai
CSPL: Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên là công dân Việt Nam vẫn có thể là quan hệ hôn nhân và gia đình trong hai trường hợp sau đây Trường hợp thứ nhất là căn cứ để xác lập, thay đổi và chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài Trường hợp thứ hai là quan hệ hôn nhân và gia đình đó có tài sản liên quan đang ở nước ngoài
30 Theo quy định của PLVN, điều kiện kết hôn của người nước ngoài tại VN sẽ chỉ tuân theo PLVN.
Sai
- Theo khoản 1 Điều 126 Luật HNGĐ 2014 quy định, trong quan hệ kết hôn giữa công dân VN và người nước ngoài, khi kết hôn tại VN, ngoài việc tuân thủ theo PL nước 2 bên đang mang quốc tịch thì còn phải tuân theo các quy định của Luật HNGĐ VN về điều kiện kết hôn nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của VN
Trang 2- Nếu việc kết hôn là giữa 2 công dân nước ngoài tại VN thì ngoài việc phải tuân thủ Pl của nước mà họ đang mang quốc tịch còn phải tuân thủ điều kiện kết hôn theo PLVN
- Đối với người nước ngoài có nhiều quốc tịch và trong đó có quốc tịch VN thì sẽ áp dụng PLVN theo Điều 672 BLDS 2015
31 Theo PLVN, PL áp dụng điều chỉnh điều kiện kết hôn đối với người nước ngoài
có 2 quốc tịch trở lên luôn là PL của nước mà người đó mang quốc tịch đồng thời cư trú vào thời điểm kết hôn.
Sai
CSPL: Điều 672 BLDS 2015
Trong trường hợp nếu người có nhiều quốc tịch đã có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh QHDS có YTNN thì PL áp dụng là PL của nước mà người đó có quốc tịch và có mối quan hệ gắn bó nhất
Như vậy, không phải khi nào người có nhiều quốc tịch cũng luôn áp dụng PL của nước
mà người đó mang quốc tịch đồng thời cư trú vào thời điểm kết hôn
32 Khi Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì Tòa án luôn áp dụng pháp luật Việt Nam.
Sai
Khi Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì không phải lúc nào cũng áp dụng pháp luật Việt Nam
Chẳng hạn trong trường hợp bên là công dân VN không thường trú tại VN vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng, nếu họ không có nơi thường trú chung thì áp dụng luật VN
33 Tòa án Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn nếu có ít nhất một trong các bên là công dân Việt Nam.
Sai
Điều 469 BLTTDS 2015 quy định về thẩm quyền chung của tòa án VN đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thì tòa án VN vẫn có thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn khi cả hai bên trong quan hệ đều là người nước ngoài nhưng có tài sản chung chủ yếu trên lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án VN vẫn có thẩm quyền giải quyết
Trang 3Hay theo điểm c khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015 thì nếu vụ án ly hôn các bên được lựa chọn Tòa án VN để giải quyết theo pháp luật VN hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các bên lựa chọn Tòa án VN
Như vậy không nhất thiết có ít nhất một trong các bên là công dân VN trong vụ việc ly hôn thì tòa án VN mới có thẩm quyền
34 Theo PLVN, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài luôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của hai vợ chồng
Sai
CSPL: Khoản 2 Điều 127 LHN&GĐ 2014
GT: Theo LHN&GĐ 2014 thì ly hôn giữa công dân VN với người nước ngoài chỉ được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của hai vợ chồng trong trường hợp bên là công dân VN không thường trú ở VN vào thời điểm yêu cầu ly hôn chứ không đương nhiên luôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của hai
vợ chồng
35 Theo quy định của các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước, điều kiện kết hôn giữa công dân các nước ký kết chỉ được xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch.
Sai
CSPL: Khoản 1 Điều 24 HĐTTTP Việt – Nga
GT: Điều kiện kết hôn của chủ thể được xem xét ở hai khía cạnh là độ tuổi kết hôn và các điều kiện cấm kết hôn Theo quy định của các HĐTTTP giữa VN và các nước, cụ thể là với Nga thì ngoài điều kiện kết hôn của công dân hai nước được xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch thì đối với các trường hợp cấm kết hôn có những quy định bổ sung ghi nhận nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn sẽ được áp dụng để xác định
36 Hai công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài sẽ chịu sự điều chỉnh của Tư pháp quốc tế Việt Nam.
Sai
CSPL: Khoản 25 Điều 93 Luật HNGD 2014
2 công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài kết hôn ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao, do đó căn cứ để xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó không theo
Trang 4pháp luật nước ngoài dẫn đến quan hệ hôn nhân đó không chịu sự điều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam mà chịu sự điều chỉnh của Luật HNGD 2014
37 Người nước ngoài khi kết hôn tại Việt Nam luôn phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp kết hôn cũng như nghi thức kết hôn.
Sai
CSPL: Khoản 1 Điều 126 Luật hôn nhân gia đình 2014
Người nước ngoài có thường trú được phép kết hôn tại Việt Nam thì trước hết họ phải thảo mãn điều kiện kết hôn ở nước mà họ mang quốc tịch đã Nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài phải tuân theo quy định của luật hôn nhân gia đình Việt Nam về điều kiện kết hôn
38 Người nước ngoài luôn phải tuân thủ pháp luật mà họ mang quốc tịch khi họ đăng kí kết hôn tại Việt Nam.
Sai
CSPL: Khoản 2 Điều 126 Luật hôn nhân gia đình 2014
Việc kết hôn giữa các công dân nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam thì phải tuân thủ theo luật hôn nhân gia đình Việt Nam
39 Khi người không quốc tịch đăng kí kết hôn tại Việt Nam thì không làm nảy sinh hiện tượng xung đột pháp luật.
Sai
CSPL: Khoản 1 Điều 672 BLDS 2015
Đối với trường hợp cá nhân không có quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài Khi người không có quốc tịch đến Việt Nam du lịch và kết hôn thì pháp luật áp dụng là pháp luật nơi người không có quốc tịch cư trú trước khi đến Việt Nam du lịch Cho nên sẽ có xung đột pháp luật xảy ra trong trường này
40 Theo pháp luật Việt Nam, nếu các bên không cùng quốc tịch thì pháp luật áp dụng cho điều kiện ly hôn là pháp luật nơi họ thường trú chung.
Sai
CSPL: khoản 2 Điều 127 LHNGĐ 2014
Trang 5Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam (trong trường hợp không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn) với người nước ngoài được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam
BÀI TẬP
Bài tập 1:
a Năm 2015 Bà Lan kết hôn với ông Ngọc tại Hoa Kì Quan hệ trên có thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT không? Vì sao?
- Nếu tại thời điểm đó Bà Lan và ông Ngọc chưa làm ăn, sinh sống, định cư lâu dài tại Hoa Kì thì chưa được xem là người VN định cư ở nước ngoài và quan hệ đó không phải
là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT
b.1 Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn trên hay không?
Sau khi kết hôn thì bà Lan và ông Ngọc đã làm ăn, sinh sống, định cư lâu dài tại Hoa Kì trở thành người VN định cư ở nước ngoài thì quan hệ của họ là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Theo Điều 469 và Điều 470 BLTTDS 2015 thì tòa án VN có thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn này nếu họ có tài sản chung chủ yếu trên lãnh thổ VN hay cả hai bên lựa chọn tòa án VN để giải quyết trong trường hợp đủ điều kiện lựa chọn
b.2 Giả sử Tòa án Việt Nam có thẩm quyền, Pháp luật nước nào được áp dụng để giải quyết vụ việc ly hôn trên.
Vì đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên có hai hay nhiều hệ thống pháp luật có thể được áp dụng để điều chỉnh Trong vụ việc này liên quan đến HTPL VN và HTPL Hoa Kỳ
Căn cứ khoản 2 Điều 127 LHN&GĐ 2014 thì áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết vụ việc ly hôn giữa bà Lan và ông Ngọc khi thỏa điều kiện là các bên không có nơi thường trú chung và một bên cư trú tại quốc gia chưa ký kết HĐTTTP về hôn nhân & gia đình với VN Trong vụ việc trên, ta thấy hai vợ chồng sinh sống ổn định tại Hoa Kỳ, tức là thường trú chung tại Hoa Kỳ, như vậy không thỏa điều kiện các bên không có nơi thường trú chung nên pháp luật của VN sẽ không được áp dụng để giải quyết
Trang 6Căn cứ khoản 2 Điều 127 LHN&GĐ 2014 thì áp dụng pháp luật của Hoa Kỳ để giải quyết vụ việc ly hôn giữa bà Lan và ông Ngọc khi bên là công dân VN không thường trú tại VN tại thời điểm ly hôn và các bên chứng minh được rằng mình có nơi thường trú chung tại Hoa Kỳ thì pháp luật được áp dụng để giải quyết là pháp luật của Hoa Kỳ
b.3 Giả sử, trước khi ly hôn hai vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn pháp luật Hoa Kỳ để giải quyết tài sản khi ly hôn Pháp luật Hoa Kỳ có đương nhiên được Tòa án Việt Nam áp dụng trong trương hợp trên hay không? Vì sao?
Pháp luật Hoa Kỳ không đương nhiên được Tòa án VN áp dụng vì căn cứ khoản 2 Điều
664 BLDS 2015 và Điều 122 LHN&GĐ 2014 thì giữa VN và Hoa Kỳ không có ĐƯQT
và pháp luật VN cũng không có quy định các bên có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết tài sản khi ly hôn nên về nguyên tắc Tòa án VN sẽ áp dụng các quy định cụ thể của pháp luật VN, cụ thể là LHN&GĐ 2014
Bài tập 5:
a TA Việt Nam có thẩm quyền giải quyết quan hệ ly hôn trên không?
TA Việt Nam có thẩm quyền giải quyết quan hệ ly hôn trên bởi vì: theo quy định tại điểm
b, khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015 thì vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam
b Hãy xác định điều kiện kết hôn của Nam và Annie trong các trường hợp sau:
- Nam và Annie kết hôn tại cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự Việt Nam tại Pháp
Nam phải đủ điều kiện kết hôn theo luật HNGD Việt Nam, Annie phải đủ điều kiện kết hôn theo luật HNGD Pháp và cả luật HNGD Việt Nam (K1 Đ126 Luật HNGD 2014)
- Nam và Annie kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Pháp.
Nam phải đủ điều kiện kết hôn theo luật HNGD Việt Nam và nước Pháp, Annie phải đủ điều kiện kết hôn theo luật HNGD Pháp vì quan hệ hôn nhân này được xác lập ở Pháp nên phải tuân theo pháp luật Pháp
c Xác định luật áp dụng cho điều kiện ly hôn của Nam và Annie.
PL áp dụng cho điều kiện ly hôn là PLVN vì:
Theo quy định của L HNGĐ VN thì nguyên tắc áp dụng để giải quyết XĐPL về việc ly hôn là nguyên tắc luật noi thường trú chung của vợ chồng Dấu hiệu nơi thường trú chung được xác định tại thời điểm yêu cầu ly hôn Đồng thời, theo khoản 1 Điều 127 L HNGĐ
Trang 72014 quy định: đối với trường hợp ly hôn giữa công dân VN và người nước ngoài thì PL
áp dụng là PLVN
Như vậy, Nam và Annie đều sinh sống tại VN tại thời điểm yêu cầu ly hôn nên PLVN sẽ được áp dụng để giải quyết
d Giả sử Annie về Pháp và yêu cầu toà án Pháp giải quyết ly hôn giữa Annie và Nam thì toà án Pháp sẽ áp dụng pháp luật của nước nào?
Theo pháp luật của Pháp thì việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo Luật nơi cư trú chung của hai vợ chồng Theo đó, pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam vì nơi cư trú chung của vợ chồng Annie và Nam là Việt Nam
e Nếu Nam yêu cầu Tóa án VN giải quyết vụ việc ly hôn trên thì Tòa án VN sẽ giải quyết theo PL của nước nào?