Tìm hiều về các xu hướng vận động của đầu tư quốc tế là vô cùng cấp thiết trong bối cảnh các nước trên thế giới cả nước phát triển và đang phát triển đang nỗ lực hội nhập sâu vào nền kin
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế trên toàn cầu, những hoạt động kinh tế quốc tế đã khẳng định được tầm quan trọng của nó trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế Đầu tư quốc tế là một đặc trưng quan trọng của toàn cầu hóa, có vai trò quan trọng trong tạo ra các nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ cho nước đầu tư mà còn cho nước nhận đầu tư Vì thế đầu tư quốc tế trở thành quy luật tất yếu khách quan, là tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia Đầu tư quốc tế đã trải qua quá trình phát triển lâu dài, vận đông theo nhiều xu hướng cùng với những thăng trầm của nền kinh tế thế giới Tìm hiều về các xu hướng vận động của đầu tư quốc tế là vô cùng cấp thiết trong bối cảnh các nước trên thế giới cả nước phát triển và đang phát triển đang nỗ lực hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, từ đó mỗi nền kinh tế, mỗi quốc gia có thể tìm được hướng đi đúng đắn cho mình, phát huy được lợi thế so sánh của mỗi nước, xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh và hiệu quả
Từ những lý do trên, chúng em đã chọn chủ đề nghiên cứu: “Xu hướng đầu tư quốc tế”cho chuyên đề nghiên cứu của nhóm
2. Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề tập trung làm rõ những vấn đề như sau:
- Làm rõ những kiến thức lý luận về đầu tư quốc tế, phân loại các hình thức cũng nhưđặc điểm và vai trò của nó trong phát triển kinh tế mỗi quốc gia
- Phân tích cá xu hướng đầu tư quốc tế hiện nay, biểu hiện, tác động và nguyên nhân
hình thành xu hướng Đồng thời liên hệ với Việt nam trong xu hướng đầu tư quốc tế củathế giới, những phản ứng chính sách của chính phủ Việt nam trong nỗ lực khuyến khíchđầu tư nước ngoài
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Chuyên đề tập trung nghiên cứu quá trình vận động của các xu hướng đầu tư quốc tếtrên thế giới trong những năm gần đây, phân tích, đặc điểm cũng như nguyên nhân hìnhthành
4. Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG CHUNG CỦA ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Trang 3BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
1 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2 M&A Mergers And Acquisitions Sáp nhập và Mua lại
3 FPI Foreign Portfolio
United Nations Conference on Trade and Development
Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
World Trade Organization:
Tổ chức Thương mại thế giới
9 ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
10 TNCs Transportation Network Companies các công ty xuyên quốc gia
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 5Bảng 1 Các dự án FDI, 2004- 2013
DANH MỤC HÌNH
1 2.1 (a) Tỷ lệ tăng trưởng của GDP, GFCF, Thương mại, Việc làm
và FDI giai đoạn 2008-2014 và dự báo 2015-2016
2 2.1 (b) FDI vào các nhóm nước giai đoạn 1995-2013, dự báo
2014-2016
3 2.2 Đầu tư chứng khoán, xuất khẩu, GDP thế giới giai đoạn
1990-2005 Nguồn: UNCTAD, WIR 2006
4 2.2 (b) FDI vào các lĩnh vực giai đoạn 1990-2005
5 2.2 (c) FDI toàn cầu theo khu vực giai đoạn 2011-2013 (tỷ USD)
6 2.3 Top 20 quốc gia đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất năm
2014 (tỷ USD)
7 2.4 Tình hình M&A xuyên quốc gia của các hãng tư nhân,
giai đoạn 1996-2014
8 3.1 Vốn FDI vào Việt nam qua các năm (tỷ USD)
9 3.1 (c) Tỉ lệ thu hút FDI theo lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh
10 3.1 (d): Tỷ lệ thu hút vốn đầu tư FDI các nước vào Việt Nam
11 3.1 (e): Thành phố Hồ Chí Minh thu hút được 20,5% tổng vốn
FDI vào Việt Nam
12 3.2 Kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI tăng
nhanh.
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Trang 61.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm về đầu tư quốc tế
1.1.1. Khái niệm về đầu tư quốc tế
Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là
“Đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”
Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư Chủ đầu tư có thể
là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước
Theo sách giáo trình kinh tế quốc dân: “Đầu tư quốc tế là một hình thức của di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia”.
Thực chất, đầu tư quốc tế là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các quốc gia nhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất, tạo điều kiện cho các nền kinh tế các quốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu nói chung
Đầu tư quốc tế tạo nên dòng lưu chuyển vốn giữa các quốc gia, do vậy nó tác động mạnh đến nền kinhtees của nước đầu tư và nước nhận đầu tư Đối với những nước đang có như cầu phát triển kinh tế mà không đủ khả năng tạo ra nguồn vốn tích lũy đầu tư nội bộ đều rất cần đến nguồn vốn đầu tư quốc tế Tuy nhiên, rất nhiều quốc gia lớn, các nền kinh tế đã phát triển, trong đó có các cường quốc như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Trung Quốc cũng cần đến đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế trong những thời kỳ nhất định Cũng có quốc gia như Nhật Bản, trong một thời gian dài, hoàn toàn không cần đến vốn vay nước ngoài hoặc đầu tư tư nhân nước ngoài trong quá trình công nghiệp hóa Đầu tư quốc tế rõ rang là
có vai trog quan trọng đối với các quốc gia để phát triển kinh tế, nhưng không phải luôn luôn là yếu tố quyết định
1.1.2. Phân loại đầu tư quốc tế
1.1.3. Đặc điểm của đầu tư quốc tế
Tiêu chí xác định hoạt động đầu tư bao gồm:
Vốn ( dưới các hình thức khác nhau được đưa ra khỏi biên giới của một quốc gia và đưa vào sử dụng ở một số quốc gia khác Tiêu chí này giúp phân biệt hoạt động đầu
tư với hoạt động thương mại hàng hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế Khi đưa vốn
Trang 7từ nước này sang nước khác, quyền sở hữu vốn thường vẫn thuộc về các chủ thể của nước xuất vốn.
Vốn đầu tư có thể góp dưới các dạng sau:
• Các ngoại tệ mạnh và tiền nội địa
• Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, nhà xưởng, hàng hóa, mặt đất, mặt nước và tài nguyên thiên nhiên …
• Hàng hóa vô hình: sức lao động, công nghệ, bí quyết công nghệ, bằng phát minh, nhãn hiệu, biểu tượng, uy tín hàng hóa…
• Các phương tiện đầu tư đặc biệt khác: cổ phiếu, hồi phiếu, vàng bạc, đá quý
Hành vi đầu tư có thể mang tình dài hạn ( trên 2 năm), bao gồm cả một quá trình đưa vốn vào tổ chức xây dựng công trình, tổ chức sản xuất kinh doanh,… Đây cũng
là tiêu chí cơ ban giúp phân biệt đầu tư với thương mại hàng hóa và các hoạt động tín dụng quốc tế
Mục đích của đầu tư là bảo đảm thu lợi ích lớn hơn chí phí đầu tư.Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào
đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thể thuộc về khái niệm đầu tư
Hoạt động đầu tư phải phù hợp với pháp luật quốc gia của nước xuất vốn, nước nhận vốn và pháp luật quốc tế
Có ba đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là:
- Mang đặc điểm của đầu tư nói chung
Tính sinh lãi
Tính rủi ro
- Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài
- Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới
1.2. Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế bao gồm nhiều hình thức khác nhau, mỗi một hình thức đầu tư có bản chất, tác động kinh tế và nguyên nhân khác nhau, nhưng nhìn chung có những nguyên nhân cơ bản sau:
Do sự chêch lệch về trình độ phát triển và tốc độ phát triển giữa các nước, dẫn đến
sự chênh lệch về quan hệ cung – cầu vốn giữa các nước và khu vực Các nước công nghiệp phát triển hoặc các nước có thu nhập cao như các nước OECD, các nước OPEC thường thừa vốn đầu tư, còn các nước đang phát triển thường thiếu vốn Chính sự chênh lệch về cung- cầu này tạo áp lực di chuyển vốn từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển
Trang 8 Sự khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn giữa các khu vực tạo nên động cơ có lợi ích kích thích chủ sở hữu vốn chuyển vốn từ khu vực hiệu quả thấp sang sử dụng tại khu vực có hiệu quả cao.
Cạnh tranh quốc tế phát triển kích thích các công ty, các quốc gia đưa vốn đầu tư ra nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường, khẳng định vị trí của mình trên thế giới
Do xu thế bảo hộ ngày càng phát triển với những biện pháp kiểm soát tinh vi nên nhiều nhà sản xuất tìm cách đầu tư sản xuất sang thị trường cần chiếm lĩnh để trách thuế nhập khẩu
Thể chế pháp luật của các nước và các điều ước quốc tế ngày càng hoàn thiện theo hướng bảo đảm an toàn cho các hoat động đầu tư quốc tế
1.3. Hình thức của đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế có 4 hình thức cơ bản:
1.3.1. Viện trợ phát triển chính thức ( Official Development Assistance – ODA)
Nó còn được gọi là viện trợ nước ngoài, bao gồm vốn cho vay ưu đãi và cho không từ các Chính phủ và tổ chức quốc tế dành cho Chính phủ các nước cần nhận vốn, thông thường
là các nước đang phát triển
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc chính phủ của một nước với các chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia
+ ODA hỗn hợp: là ccas khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản cho vay ưu đãi được cung cấp đồng thời các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại, “ yếu tố không hoàn lại’ đạt không dưới 25% tổng giá trị các khoản đó
Ngoài ra, ODA còn bao gồm các khoản vay từ Tổ chúc Tài chính quốc tế có thành tố
hỗ trợ dưới 25% như: IBRD thuộc WB, Quỹ OCR thuộc ADB
-Các phương thức cung cấp ODA:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán và ngân sách: gồm các khoản ODA được cung cấp dưới dạng tiền mặt hoặc hàng hóa để hỗ trợ cán cân thanh toán hoặc ngân sách của Nhà nước
Trang 9- Hỗ trợ chương trình: gồm các khoản ODA được cung cấp để thực hiện một tập hợp các hoạt động, các dự án có liên quan nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu thực hiện trong một thời gian nhất định, tại một thời điểm cụ thể.
- Hỗ trợ dự án: là các khoản ODA cung cấp để thực hiện dự án xây dựng cơ bản, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị, dịch vụ tư vấn, đâò tạo cán bộ,…
- Các đối tác ODA:
+ Chính phủ các nước:
+ Các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, bao gồm:
* Các tổ chức phát triển của Liên hợp quốc như: UNDP, UNICEF, WFP, FAO, UNFPA, UNDCF, UNIDO, UNHCR, WHO, IAEA, UNESCO, IFAD, IMF, IDA và IBRD của WB
* Liên minh châu Âu(EU), tổ chức OECD, ASEAN
* Các Tổ chức tài chính quốc tế như: ADB, OPEC, NIB, NDF và Quỹ Kuwait
1.3.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment – FDI)
Là kênh đầu tư tư nhân bao gồm các hình thức đầu tư của các công ty ( chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia) trong đó nhà đầu tư tham gia trực tiếp quản lí hoạt động đầu tư
Theo IMF: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) “là hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi ích lâu dài của nhà đầu ttuw tại một doanh nghiệp ở nước khác với nước của nhà đầu tư, trong
đó nhà đầu tư phải có vai trong có ý nghĩa quyết định trong quản lý doanh nghiệp”
Theo pháp luật Việt Nam ( Luật Đầu tư 2005 và các văn bản pháp luật liên quan), đầu tư
trực tiếp nước ngoài(FDI) là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư và nhà đầu tư phải tham gia quản lí hoạt động đầu tư.
- Xét theo chiến lược đầu tư: FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới( greenfielad investment – GI) và mua lại & sáp nhập ( mergers and acquisitions – M&A)
+ Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xay dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước đang phát triển vào đầu tư ở các nước đang phát triển
+ Ngược lại, không giống như GI, kênh M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại & sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây
Trang 10* So sánh giữa các hình thức đầu tư GI và M & A:
Xét từ quan điểm của nước chủ nhà, mỗi hình thức đầu tư đều có một số ưu điểm
và hạn chế nhất định:
Bổ sung vốn đầu tư: Trong khi hình thức GI bổ sung ngay một lượng vốn đầu tư nhất định cho nước nhận đầu tư thì hình thức M & A lại chủ yếu là chuyển sở hữu từ các doanh nghiêp đang tồn tại ở các nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng sẽ thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên ngoài cho nước ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt động của họ
Tạo việc làm: Hình thức GI tạo ngay được việc làm cho nước chủ nhà, trong khi hình thức M &A không những tạo được việc làm ngay mà còn có thể tăng them tình trạng căng thẳng về việc làm ( tăng thất nghiệp) cho nước chủ nhà Tuy nhiên, về lâu dài, tình trạng này có thể được cải thiện
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: GI tác động trực tiếp đến thay đổi cơ cấu ngành kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới, trong đó M & A lại không tác động như vậy trong giai đoạn ngắn hạn
Cạnh tranh và an ninh quốc gia: Trong khi GI thúc đẩy cạnh tranh thì M&A lại không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt ngắn hạn, nhưng về dài hạn
có thể làm tăng cạnh tranh độc quyền Mặt khác, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức GI, bởi vì tài sản của nước chủ nhà rơi vào tay người nước ngoài
( Nguồn: Ozawo 1998, WIR 1998, p 212-214)
Bảng 1: Các dự án FDI, 2004- 2013
Trang 11- Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm các loại: đầu tư theo chiều ngang (horizontal integration – HI) và đầu tư theo chiều dọc ( vertical integration –VI).
+ HI là hình thức đầu tư với mục đích tránh rào cản thuế quan, tối thiểu chi phí sản xuất, chiếm lĩnh thị trường, kéo dài chu kì sống của sản phẩm Do đó, việc đầu tư được thực hiện giống nhau tại các nơi khác nhau
Hình thức HI là chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh ( công nghệ, kỹ năng quản lí, ) trong sản xuất một sản phẩm nào đó Với lợi thế này, họ có thể kiếm lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra nước ngoài Mục đích của hình thức này là mở rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài đối với cùng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, do đó thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình ở
Mỹ và được thực hiện chủ yếu giữa các nước phát triển
Ví dụ, IBM là công ty có lợi thế kỹ thuật trong sản xuất máy tính của Mỹ Công ty này không muốn xuất khẩu máy tính hoặc bán lại giấy phép sản xuất cho các nhà phân phối và ssanr xuất khác ở nước ngoài.Bởi vì nếu làm như vậy họ sẽ mất lợi thế đọc quyền và có thể bị đánh cắp bí mật công nghệ Do vậy, họ mở rộng quy mô sản xuất máy tính ra nước ngoài và kiểm soát trực tiếp các hoạt động sản xuất và phân phối để khai thác lợi thế đọc quyền Tình trạng tương tự đối với các công ty như Microsoft, Compaq, Xerox, Gillette,… + VI là hình thức đầu tư với mục đích chuyên môn hóa sản xuất trên quy mô quốc tế, mỗi quy trình sản xuất sẽ được thực hiện tại những nơi có lợi thế nhất.Khác với hình thức đầu tư HI, hình thức đầu tư VI là đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào giá rẻ ( lao động, đất đâi, )) Khi đầu
tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế Do đó, các sản phẩm thường được hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ở các nước nhân đầu tư Sau đó, các sản phẩm này có thể lại được nhập khẩu về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang các nước khác Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Nhật Bản ( theo kiểu mô hình đàn nhạn bay) và được thực hiện khá phổ biến ở các ước đang phát triển
- Xét về tính chất sở hữu (tỷ lệ sở hữu của nước ngoài trong các dự án đầu tư), hình thức FDI thường được thực hiện dưới các dạng như doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh,…
Hình thức doanh nghiệp liên doanh thường khá phổ biến, nhấ là trong giai đoạn tiếp nhận FDI ở các nước đang phát triển Nguyên nhân chính là: khác với các hình thức đầu tư khác, thông qua hình thức đầu tư này, nước tiếp nhận đầu tư sẽ kiểm soát và học được trực tiếp kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các nước chủ đầu tư nước ngoài Đồng thời, học còn được chia sẻ lợi nhuận với các chủ đầu tư nước ngoài Mặt khác, các chủ đầu tư nước ngoài cũng muốn bên nhận đầu tư có trách nhiệm cao hơn với họ bằng cách chia sẻ những
Trang 12rủi ro trong đầu tư Ngoài ra, thông qua liên doanh, học có nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận với thị trường và các nhà hoạch định chính sách của các nước nhận đầu tư Chính vì thế mà hình thức liên doanh chiếm tỷ trọng cao trong các hình thức đầu tư ở các nước chủ nhà, trong đó đặc biệt là ở nước ta.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, hình thức liên doanh không phải luôn có nhiều ưu điểm Trong một số trường hợp, nếu khả năng góp vốn của bên đối tác chủ nhà thấp, chủ yếu bằng tiền thuê đất, năng lực quản lý hạn chế, tình trạng tham nhũng ít được kiểm soát chặt chẽ thì hình thức liên doanh lại bộc lộ nhiều hạn chế, kém hiệu quả Đây là hiện tượng khá phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây Vì thế, cần phải xem xét kĩ lưỡng tính hiệu quả của dự án trước khi lựa chọn hoặc cho phép hình thức liên doanh
1.3.3. Đầu tư gián tiếp nước ngoài ( Foreign Portfolio Investment – FPI)
Là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài góp vốn bằng cách mua trái phiếu,
cổ phiếu của doanh nghiệp nước sở tại, mà không trực tiếp tổ chức và quản lý doanh
Trang 13Hình 2: Bảng số liệu Đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam thông qua thị trường chứng
khoán
1.3.4. Đầu tư theo hình thức vay thương mại:
Bao gồm 2 bộ phận Thứ nhất là các khoản tiền của các ngân hàng thương mại cho Chính phủ hoặc các công ty ở nước đang phát triển vay dài hạn theo lãi suất thương mại để thực hiện các mục đích đầu tư Thứ hai là các khoản chi vay của các thiết chế tài chính và công
ty kinh doanh cho vay dưới hình thức thuê mua tài chính, tín dụng thương mại
Trong bốn kênh đầu tư quốc tế nêu trên thig ba kênh đầu là quan trọng hơn trong quan hệ kinh tế quốc tế Kênh vay thương mại thực chất là hoạt động bảo đảm đầu tư tạo nên quan
hệ tài chính quốc tế, là đối tượng của môn học Tài chính tín dụng quốc tế
Ngoài ra, cần phải kể thêm các hoạt động chuyển tiền theo kênh kiều hối, tiền công lao động xuất khẩu, quà biếu, các khoản tiền tài trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) Đối với một số nước, ví dụ như Việt Nam, các hoạt động này chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu vốn nước ngoài và có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, các kênh này chiếm tỷ trọng nhỏ, thường được xếp vào các hoat động tài chính, thương mại dịch vụ hoặc viện trợ ODA
1.4. Tác động của đầu tư quốc tế
Thực tế cho thấy, đầu tư quốc tế có những tác động mang tính hai mặt ( tác động tích cực và tác động tiêu cực) cả đối với nước chủ đầu tư ( nước chủ nhà) và nước tiếp nhận đầu tư ( nước sở tại)
1.4.1. Đối với nước chủ đầu tư
Tác động tích cực: Tác động tiêu cực:
- Khắc phục được xu hướng giảm sút lợi
nhuân trong nước, có điều kiện thu được
lwoij nhuận cao hươn cho chủ đầu tư do
tìm được môi trường đầu thuận lợi hơn
- Là biện pháp để vượt qua hàng rào bảo hộ
mậu dịch nhằm mở rộng thị trường, tận
dụng triệt để những ưu ái của nước nhận
đầu tư
- Khếch trương được sản phẩm, danh
tiếng, tạo lập uy tin và tang cường vị thế
của họ trên thị trường thế giới
- Khai thác được nguồn yếu tiis đầu vào
sản xuất với chi phí thấp hơn so với chủ
đầu tư trong nước
- Nếu chiến lươc, chính sách không phù hợp thì các nhà kinh doanh không muốn kinh doanh trong nước, mà chỉ lao ra nước ngoài kinh doanh, do đó quốc gia có nguy
- Chủ đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không hiểu rõ về môi trường đầu tư…
Trang 141.4.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư
- Học tập kinh nghiệm quản lý, tác phong
làm việc tiên tiến, tiếp nhận công nghệ hiện
đại từ nước chủ đầu tư
- Tạo điều kiện để khai thác nguồn tài
nguyên một cách có hiệu quả
- Giúp cho việc xây dung các khu công
nghiệp, khu công nghệ cao nhằm hỗ trợ quá
trình công nghệ hóa, chuyển dịch cơ cấu
- Có thể làm tăng các vấn đề tệ nạn xã hội, bệnh tật
- Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầu tư
Chương 2: XU HƯỚNG CHUNG CỦA ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
2.1 Đầu tư quốc tế tiếp tục gia tăng và trở thành hình thức quan hệ kinh doanh quốc tế quan trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các quốc gia sẽ tiến tới tự do hóa thương mại và đầu tư, xóa bỏ sự phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài với các nhà đầu
tư trong nước, tiến tới xu hướng tìm kiếm thị trường đầu tư hấp dẫn bên ngoài
Nhìn chung trong hơn mộtthập kỷ qua, tăng trưởng đầu tư quốc tế có giảm so với GDP một vài năm, nhưng về tổng thể và trong những năm tới, đầu tư quốc tế vẫn có xu hướng phát triển mạnh mẽ
Trang 15Hình 2.1 (a): Tỷ lệ tăng trưởng của GDP, GFCF, Thương mại, Việc làm và FDI giai đoạn 2008-2014 và dự báo 2015-2016
Nguồn: WIR 2015
Sau khi giảm mạnh vào năm 2012, dòng vốn FDI đã tăng 9% trong năm 2013, đạt 1,45 nghìn tỷ USD Dòng vốn FDI ghi nhận được cho thấy sự tăng trưởng ở tất cả các nhóm nước: Các nền kinh tế phát triển, đang phát triển và đang chuyển đổi
Cụ thể, năm 2013, các nền kinh tế đang phát triển vẫn đứng đầu thế giới về lượng vốn FDI chảy vào với số vốn lên đến 778 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn FDI toàn cầu Trong khi
đó, FDI chảy vào các nước phát triển tăng 9% lên 566 tỷ USD, chiếm 39% tổng FDI của thế giới Các nền kinh tế chuyển đổi nhận được 108 tỷ USD vốn FDI trong năm 2013
Trang 16Hình 2.2 (b): FDI vào các nhóm nước giai đoạn 1995-2013, dự báo 2014-2016
Nguồn: UNCTAD, WIR 2014
Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng mạnh mẽ này là do:
+ Thứ nhất, xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư Quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới hình thành thị trường toàn cầu Quá trình phân công chuyên môn hóa trên quy mô quốc tế dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc Các nước phát triển kinh tế thị trường thực hiện chính sách mở cửa (phần lớn gia nhập WTO) và chấp nhận xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư Nguồn vốn đầu tư quốc tế - hàng hoá đặc biệt - sẽ tuân theo quy luật của thị trường chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn
+ Thứ hai, sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghệ và thông tin đã thúc đẩy việc đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước, tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia Cách mạng khoa học kỹ thuật rút ngắn thời gian từ khi nghiên cứu sản phẩm dẫn đến thời gian sản xuất, vòng đời sản phẩm ngắn, hàng hoá đa dạng và phong phú
Vấn đề nghiên cứu, phát triển, đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn, dẫn đến hai xu hướng chính:
Thứ nhất: Với những ngành khoa học, công nghệ có nhu cầu vốn lớn, một số ít các tập
đoàn tư bản lớn hơn liên kết, hợp tác đầu tư thay vì cạnh tranh để cùng chiếm lĩnh vị trí độc tôn trên thị trường
Trang 17Thứ hai: Chuyển dịch đầu tư sang nước khác đối với các sản phẩm đã lão hoá, cần nhiều
nhân lực lao động hoặc gây ô nhiễm môi trường Hai xu hướng trên diễn ra theo mô hình
"đàn sếu bay"
Cách mạng thông tin giúp các nhà đầu tư xử lý nhanh các tình huống, đưa ra các quyết định đầu tư kịp thời tạo điều kiện cho việc tăng quy mô luân chuyển vốn Sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên "lực đẩy" với các nhà đầu tư quốc tế Nguyên nhân là do trình độ phát triển kinh tế cao của công nghiệp phát triển dẫn đến hiện tượng "thừa tương đối" vốn Chi phí tiền lương tăng, tài nguyên giảm dẫn đến chi phí khai thác tăng
Đó chính là nguyên nhân cơ bản, tạo động lực thúc đẩy các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư - giảm chi phí sản xuất, kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm ở các thị trường tiềm năng mới Nhu cầu vốn để phát triển các nước công nghiệp hoá của các nước đang phát triển cũng tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tư Phía các nước tư bản phát triển coi các nước đang phát triển là thị trường tiềm năng để tiêu thụ sản phẩm Sự thịnh vượng của các nước đang phát triển tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
2.2. Xu hướng thay đổi về dòng di chuyển vốn đầu tư quốc tế
- Dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán nhanh nhất, dòng vốn ODA có xu hướng giảm
Hình 2.2 (a): Đầu tư chứng khoán, xuất khẩu, GDP thế giới giai đoạn 1990-2005
Nguồn: UNCTAD, WIR 2006
Nguyên nhân của xu hướng này là do:
Thị trường chứng khoán cung cấp môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội và lĩnh vực đầu tư phong phú, các nhà đầu tư có thể lựa chọn ngành đầu tư phù hợp với khả năng, mục tiêu của mình.Về tính thanh khoản: các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ
sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh