1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh Bệnh viện Trung ương Huế năm 2014

8 92 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 335,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc tìm hiểu các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng, vi khuẩn thường gặp và kháng sinh sử dụng trong nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh.

Trang 1

TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI BỆNH VIỆN

Ở TRẺ SƠ SINH BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ NĂM 2014

Lê Thị Công Hoa*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tìm hiểu các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng, vi khuẩn thường gặp và kháng sinh sử dụng trong

nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả cắt ngang trên 55 bệnh nhân sơ sinh được chẩn đoán nhiễm

khuẩn huyết tại Bệnh viện Trung Uơng Huế năm 2014

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh là 5,86%, tỷ lệ tử vong chiếm 16,4% Các dấu

hiệu lâm sàng thường gặp theo thứ tự: nổi vân tím, da tái, li bì, suy hô hấp chướng bụng, nôn và bú kém, sốc nhiễm khuẩn (p<0,0001) Các dấu hiệu cận lâm sàng thường gặp: tiểu cầu giảm <100.000/mm 3 chiếm 65,5%(p<0,05), bạch cầu giảm < 5.000/mm 3 chiếm 29,1% và BC tăng là 18,2% (p<0,0001), CRP tăng >10 mg/l chiếm tỷ lệ 79,2% Các vi khuẩn thường gặp: Klebsiella pneumoniae chiếm 52,9%, Pseudomonas aeruginosa , Enterobacter agglomerans, Enterobacter cloacae đều có tỷ lệ 11,8% E.coli và Staphylococus Aureus chỉ chiếm 5,9%.(p<0,0001) Kháng sinh được sử dụng: amikacin chiếm tỷ lệ 63,4%, meropenem và vancomycin chiếm 54,5%, nhóm quinolon chiếm 45,4%

Kết luận : Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp theo thứ tự: nổi vân tím, da tái, li bì, suy hô hấp chướng bụng,

nôn và bú kém, sốc nhiễm khuẩn (p<0,0001) Các dấu hiệu cận lâm sàng thường gặp: tiểu cầu giảm

<100.000/mm 3 chiếm 65,5%(p<0,05), bạch cầu giảm < 5.000/mm 3 chiếm 29,1% và BC tăng là 18,2% (p<0,0001), CRP tăng >10 mg/l chiếm tỷ lệ 79,2% Các vi khuẩn thường gặp: Klebsiella pneumoniae chiếm 52,9%, Pseudomonas aeruginosa , Enterobacter agglomerans, Enterobacter cloacae đều có tỷ lệ 11,8% E.coli và Staphylococus Aureus chỉ chiếm 5,9%.(p<0,0001) Kháng sinh được sử dụng: amikacin chiếm tỷ lệ 63,4%, meropenem và vancomycin chiếm 54,5%, nhóm quinolon chiếm 45,4% Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh là 5,86%, tỷ lệ tử vong chiếm 16,4%

Từ khóa : Sơ sinh, nhiễm khuẩn bệnh viên, vi khuẩn, kháng sinh

ABSTRACT

THE SITUATION OF HOSPITAL ACQUIRED SEPTICEMIA OF NEONATES

AT HUE CENTRAL HOSPITAL IN 2014

Le Thi Cong Hoa * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 77 - 84

Objective: To survey on the clinical and paraclinical, common bacteria and the use of antibiotic in hospital

acquired septicemia of neonates

Method: Perspective, descriptive cross-sectional

Subjects: The research on 55 neonates diagnosed hospital acquired sepsis at Hue Central Hospital in 2014 Results: The rate of hospital acquired septicemia of neonates was 5.86%, mortality accounted for

16.4% The common clinical signs were poor capillary refill (purple), pale skin, lethargy, respiratory distress, abdominal distention, vomiting and poor feeding, septic shock (p <0.0001) The common paraclinical signs were: thrombocytopenia <100.000 / mm 3 accounted for 65.5% (p <0.05), leukopenia

<5.000 / mm 3 accounted for 29.1% and leukocyte increase experienced 18.2% (p <0.0001) CRP increase >

* Bệnh viện Trung Ương Huế

Trang 2

10 mg/l accounted for 79.2% The common bacteria were: Klebsiella pneumoniae accounted for 52.9%, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter agglomerans, Enterobacter cloacae accounted for 11.8% E.coli and Staphylococcus Aureus accounted for 5.9% (P <0.0001) The antibiotics were used: amikacin took 63.4%, meropenem and vancomycin 54.5%, quinolones 45.4%

Conclusion: The common clinical signs were poor capillary refill (purple), pale skin, lethargy, respiratory

distress, abdominal distention, vomiting and poor feeding, septic shock (p <0.0001) The common paraclinical signs were: thrombocytopenia <100.000 / mm 3 accounted for 65.5% (p <0.05), leukopenia <5.000 / mm 3 accounted for 29.1% and leukocyte increase experienced 18.2% (p <0.0001) CRP increase > 10 mg/l accounted for 79.2% The common bacteria were: Klebsiella pneumoniae accounted for 52.9%, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter agglomerans, Enterobacter cloacae accounted for 11.8% E.coli and Staphylococcus Aureus accounted for 5.9% (P <0.0001) The antibiotics were used: amikacin took 63.4%, meropenem and vancomycin 54.5%, quinolones 45.4% The rate of hospital acquired septicemia of neonates was 5.86%, mortality accounted for 16.4%

Key words: Neonate, hospital acquired septicemia, bacteria and antibiotics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện, đặc

biệt tại các đơn vị hồi sức cấp cứu là vấn đề thời

sự và còn nan giải Ở các bệnh viện của nước ta

hiện nay, do tình hình bệnh nhân nặng ngày

càng nhiều, quá tải, nhân lực thiếu, trong khi vấn

đề vô khuẩn vẫn chưa thực sự đảm bảo, sử dụng

kháng sinh không hợp lý làm gia tăng vi khuẩn

đa kháng thuốc gây khó khăn cho việc điều trị

Tại các đơn vị hồi sức sơ sinh, tỷ lệ trẻ đẻ non

ngày càng tăng, các thủ thuật can thiệp trên trẻ

ngày càng nhiều giúp cứu sống trẻ nhiều hơn,

nhưng bên cạnh đó do trẻ phải nằm viện lâu dài

làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải tại

bệnh viện Theo y văn và một số nghiên cứu

trong nước và trên thế giới cho thấy tỷ lệ nhiễm

khuẩn tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh chiếm tỷ lệ giữa

9,3 và 25,6%(4,6,11).

Các vi khuẩn gây bệnh nhiễm khuẩn mắc

phải tại bệnh viện chủ yếu là các trực khuẩn

gram âm sinh men β lactamase phổ rộng đa

kháng thuốc(1,5) Do đó việc điều trị khó khăn, chi

phí tốn kém, trẻ phải nằm viện kéo dài và tỷ lệ tử

vong cao

Để góp phần chẩn đoán nhanh, điều trị kịp

thời và tăng cường phòng ngừa nhiễm khuẩn

mắc phải tại bệnh viện giúp cứu sống nhiều

bệnh nhân hơn, giảm chi phí cho điều trị

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng thường gặp ở trẻ sơ sinh trong nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện

Dịch tể học vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện và kháng sinh

sử dụng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Toàn bộ trẻ sơ sinh vào nằm viện tại Khoa HSCC Nhi-Sơ sinh, Bệnh viện Trung Ương Huế

từ tháng 1/1- 31/12 năm 2014 được chẩn đoán

nhiễm khuẩn mắc phải tại Bệnh viện

Phương pháp nghiên cứu Phương pháp tiến cứu mô tả cắt ngang

Tiêu chuẩn chẩn đoán: dựa trên tiêu chuẩn của CDC (Centers for Disease Control 2004)

Tiêu chuẩn chọn bệnh

+ Tất cả các bệnh nhân nằm viện tại đơn vị sơ sinh, sau 48 giờ xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng của nhiễm khuẩn sơ sinh

+ Các bệnh nhân nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện từ nơi khác chuyển tới

+ Bệnh nhân được làm các xét nghiệm trước khi sử dụng kháng sinh: CTM, CRP, cấy máu, các xét nghiệm khác tùy theo yêu cầu từng bệnh

Trang 3

+ Các hồ sơ được chọn để nghiên cứu khi đạt

một trong những tiêu chuẩn sau:

• Cấy máu dương tính: tiêu chuẩn vàng

• CRP tăng > 10 mg/l

• Biến đổi công thức bạch cầu: Bạch cầu

tăng > 20.000/mm3 hoặc giảm <5.000/mm3, BC

non > 10%

• Tiểu cầu giảm < 100.000/mm3

Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ được chẩn đoán và

điều trị theo hướng nhiễm khuẩn mắc phải tại

bệnh viện nhưng không đạt các tiêu chuẩn trên

Xử lý số liệu

Theo phần mềm thống kê MedCalc

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung

Phân bố bệnh nhân theo tuổi thai

Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi thai

Phân loại tuổi thai n % p

Đẻ non 42 76,4

< 0,0001

Đủ tháng 10 18,2

Già tháng 3 5,5

Nhận xét: Chủ yếu bệnh nhân trong nhóm

nghiên cứu là trẻ đẻ non chiếm tỷ lệ 76,4%

Phân bố bệnh nhân theo cân nặng

Bảng 2 Phân bố theo cân nặng

Cân nặng (g) n % p

< 1000 3 5,5

0,0003

1000 - < 1500 20 36,4

1500 - < 2500 23 41,8

≥ 2500 9 16,4

Nhận xét: Nhóm cân nặng cao nhất là nhóm

cân nặng <1500g chiếm 41,9%, từ 1500-< 2500g

chiếm 41,8% Trong đó trẻ có cân nặng thấp nhất

là 800g và cao nhất là 2800g, trung bình là

1671±568g (p=0,4506)

Phân bố bệnh nhân theo giới

Bảng 3 Phân bố theo giới

Giới n % p

0,5896

Giới n % p

Nhận xét: tỷ lệ trẻ nam cao hơn trẻ nữ nhưng không có ý nghĩa thống kê

Triệu chứng lâm sàng

Ngày xuất hiện triệu chứng lâm sàng của nhiễm khuẩn tính từ ngày năm viện: Ít nhất là 3 ngày, nhiều nhất là 39 ngày, trung bình 14,2 ± 8,6 ngày (p=0,0912)

Biểu hiện lâm sàng

Bảng 4 Các dấu hiệu lâm sàng

Triệu chứng n % p

Nhiệt độ Sốt ≥ 37,5

o

C 11 20,8

< 0,0001

Hạ thân nhiệt 1 1,8

Hô hấp

Cơn ngừng thở 33 60,6 Thở nhanh 8 14,6 Thở gắng sức 9 16,4 Tim mạch

Nhịp tim nhanh 5 9,1 Nhịp tim chậm 2 3,6

Màu da

Vàng 12 21,8 Tái 40 72,7 Nổi vân tím 51 92,7

Thần kinh

Li bì 37 63,3 Kích thích 2 3,6

Co giật 2 3,6 Tăng trương lực cơ 4 7,2 Giảm trương lực cơ 2 3,6

Tiêu hóa

Bú kém 13 23,6 Nôn 13 23,6 Chướng bụng 30 54,5 Tiêu chảy 3 5,5 Sữa không tiêu 9 16,4 Phân có máu 1 1,8 Gan lớn 8 14,5 Lách lớn 1 1,8 Ban xuất huyết dưới da 2 3,6 Nhận xét: Các biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất trong nhóm nghiên cứu theo thứ tự là nổi vân tím toàn thân chiếm 92,7%, da tái 72,7%, triệu chứng thần kinh với li bì 63,6% và hô hấp với cơn ngừng thở chiếm 60,6% Triệu chứng tiêu hóa cũng là dấu hiệu thường gặp với chướng bụng chiếm 54,5%, nôn và bú kém chiếm 23,6% Các triệu chứng ít gặp là sốc chiếm 4%, ban xuất huyết dưới da chỉ chiếm 3,6%

Trang 4

Cận lâm sàng

Biến đổi công thức máu: Bạch cầu (BC) và Tiểu

cầu (TC)

Bảng 5 Công thức BC và TC

CTM n % p

BC > 20.000/mm3 10 18,2 < 0,0001

BC < 5000/ mm3 16 29,1 < 0,0001

BC non > 10% 2 3,6 < 0,0001

TC < 100.000/mm3 36 65,5 0,0310

Nhận xét: TC giảm <100.000/mm3 chiếm tỷ lệ

cao 65,5% có ý nghĩa thống kê Số bệnh nhân có

BC giảm nặng < 5.000/mm3 chiếm tỷ lệ 29,1%, cao

hơn so với BC tăng >20.000/mm3 là 18,2%

Biến đổi của CRP

Giá trị CRP: Thấp nhất: 11 mg/l, cao nhất

177,19 mg/l, trung vị 35,00 mg/l (25-75% độ tin

cậy: 17,67-74,73 mg/l0) (p=0,01020)

Bảng 6 Thời gian tăng CRP

Thời gian tăng n % p

Sau 6 giờ 5 9,1

0,0107

Sau 12 giờ 13 23,6

Sau 24 giờ 15 27,3

Sau 48 giờ 10 18,2

Âm tính 12 21,8

Nhận xét: Thời gian CRP tăng sau 12 giờ là

23,6% và sau 24 giờ chiếm tỷ lệ 27,3% CRP

tăng chậm sau 48 giờ chiếm 18,2% Tỷ lệ CRP

âm tính trong lô nghiên cứu cũng chiếm tỷ lệ

cao là 21,8%

Vi khuẩn gây bệnh

Tỷ lệ bệnh nhân được cấy máu là 83,6%

(46/55) trong lô nghiên cứu Trong số 46 bệnh

nhân được cấy máu, có 17 bệnh nhân cấy máu

dương tính chiếm tỷ lệ 37% (p=0,1048)

Bảng 7 Các loại vi khuẩn gây bệnh tại môi trường

bệnh viện

Loại vi khuẩn n % p

0,0107

Enterobacter agglomerans 2 11,8

Nhận xét: Trong 17 trường hợp cấy máu dương tính, vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là gram

âm, trong đó đứng hàng đầu là Klebsiella pneumoniae chiếm 52,9%, còn lại là rải rác các loại

vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter agglomerans, Enterobacter cloacae chiếm 11,8%, vi khuẩn tụ cầu vàng và E.coli ít gặp hơn

Vi khuẩn gram âm sinh men β lactamase phổ rộng

Bảng 8 Vi khuẩn sinh men β lactamase phổ rộng

(ESBL)

Vi khuẩn sinh ESBL n % p

0,1213

Nhận xét: Trong 17 trường hợp cấy máu dương tính vi khuẩn gram âm có ESBL + chiếm

tỷ lệ cao với 73,3% nhưng không có ý nghĩa thống kê

Sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn huyết

Bảng 9 Các loại kháng sinh được sử dụng điều trị

Loại kháng sinh n % p

Imipenem 16 29,1

< 0,0001

Meropenem 30 54,5 Piperacilline and Tazobactam 4 7,3

Quinolone 25 45,4 Amikacin 35 63,4 Vancomycin 30 54,5 Nhận xét: Kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là amikacin chiếm tỷ lệ 63,4%, tiếp đến là meropenem và vancomycin chiếm 54,5%, nhóm quinolon cũng được sử dụng khá phổ biến với tỷ

lệ 45,4%

Kết quả điều trị

Bảng 10 Kết quả điều trị

Kết quả n % p

Sống 46 83,6

< 0,0001

Tử vong 9 16,4 Tổng 55 100 Nhận xét: Tỷ lệ cứu sống là 83,6% (46/55), tử vong 9 trường hợp chiếm 16,4%

Trang 5

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung

Trong năm 2014 đơn vị sơ sinh chúng tôi có

319 trường hợp được chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ

sinh thì có 55 trẻ được chẩn đoán nhiễm khuẩn

huyết do mắc phải tại bệnh viện với tỷ lệ là

5,86% Theo nghiên cứu của Xu Y(11) là 11,6%, Su

BH(7) là 11,4% và Phan Thị Hằng(6) là 15,7%

Nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ thấp hơn do

chúng tôi chỉ nghiên cứu trên bệnh nhân bị

nhiễm khuẩn huyết mà không tính nhiễm khuẩn

bệnh viện (NTBV) chung

Chủ yếu bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

là trẻ đẻ non chiếm tỷ lệ 76,4% (p < 0,001) Nhóm

cân nặng <1500 g chiếm tỷ lệ 41,9%, cân nặng

trung bình là 1671 ± 568 g (p = 0,4506), trẻ nam

chiếm tỷ lệ cao hơn so với trẻ nữ nhưng không

có ý nghĩa thống kê Đây là nhóm bệnh có nguy

cơ cao nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện do

khả năng miễn dịch còn kém, thời gian trẻ phải

nằm tại phòng hồi sức tích cực lâu, nuôi dưỡng

qua đường tĩnh mạch dài ngày, can thiệp nhiều

thủ thuật như hồi sức, thở máy xâm nhập,

catherter tĩnh mạch

Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng

Lâm sàng

Ngày xuất hiện triệu chứng lâm sàng của

nhiễm khuẩn tính từ ngày năm viện trung bình

14,2 ± 8,6 ngày (p = 0,0912) trong đó nhanh nhất

là 3 ngày và muộn nhất là 39 ngày

Các biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất

trong nhóm nghiên cứu là nổi vân tím toàn

thân chiếm 92,7%, da tái 72,7% Tiếp đến triệu

chứng thần kinh với li bì 63,6%, suy hô hấp

với cơn ngừng thở chiếm 60,6% Triệu chứng

tiêu hóa cũng là dấu hiệu thường gặp với

chướng bụng chiếm 54,5%, nôn và bú kém

chiếm 23,6% Triệu chứng sốc chỉ chiếm 4% vì

đây là dấu hiệu muộn trong nhiễm khuẩn

huyết và gây tỷ lệ tử vong cao

Nghiên cứu của chúng tôi tương tự theo y

văn và nghiên cứu của một số tác giả cho thấy

các triệu chứng lâm sàng báo động trẻ có nguy

cơ nhiễm khuẩn mắc phải khi đang nằm điều trị tại Bệnh viện là: chậm nhịp tim, thay đổi màu da (tím tái), rối loạn huyết động học, cơn ngừng thở, SpO2 giảm, chướng bụng, sữa không tiêu, ứ đọng dịch dạ dày và rối loạn thân nhiệt(3)

Theo nghiên cứu của Trương Thị Sương(10): triệu chứng lâm sàng thường gặp trong nhiễm khuẩn huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Quảng Nam là vàng da nặng 100%, ban xuất huyết 80,95%, li bì bỏ bú 80,95% và suy hô hấp là 71,43% Tương tự theo nghiên cứu của Trương Thị Loan(8) các dấu hiệu lâm sàng thường gặp trong nhiễm khuẩn bệnh viện ở đơn vị sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Bồng Sơn năm 2006-2007 là: li

bì 92%, vàng da 39,2%, sốt 33,3% và hạ thân nhiệt 29,4% Theo đánh giá của chúng tôi thì khi

có các dấu hiệu li bì, vàng da, xuất huyết, sốc thường là các dấu hiệu muộn của nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện

Cận lâm sàng

Qua phân tích công thức máu, trong lô nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số lượng TC giảm < 100.000/mm3 chiếm tỷ lệ cao 65,5% có ý nghĩa thống kê Số bệnh nhân có BC giảm nặng < 5.000/mm3 chiếm tỷ lệ 29,1%, cao hơn so với BC tăng là 18,2% Trong nhiễm khuẩn huyết sơ sinh hai dấu hiệu cận lâm sàng cho thấy tình trạng bệnh nặng và tiên lượng xấu là số lượng BC thấp

< 5.000 và TC giảm nặng nhất là khi tiểu cầu < 50.000 với nguy cơ gây xuất huyết não màng não

và xuất huyết nhiều cơ quan nếu không điều trị

hỗ trợ tốt và kịp thời Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương tự với nghiên cứu của Trương Thị Sương(10) về số lượng tiểu cầu giảm < 100.000 chiếm tỷ lệ cao 80,95% Tuy nhiên về biến đổi công thức bạch cầu thì nghiên cứu của chúng tôi khác với tác giả Lê Huy Thạch(3) là BC tăng > 20.000 chiếm 27,7%, cao hơn so với BC giảm <

5000 chiếm 8,8% và số lượng tiểu cầu <100.000 chiếm tỷ lệ thấp hơn là 30,5% Sự khác biệt này

có lẻ còn tùy thuộc vào loại vi khuẩn gây bệnh tại từng đơn vị

Trang 6

Về giá trị CRP: Theo nghiên cứu của chúng

tôi CRP tăng > 10 mg/l chiếm tỷ lệ 79,2% trong

đó thấp nhất là 11mg/l và cao nhất là 177,19 mg/l,

trung vị 35.00 mg/l (25 -75% độ tin cậy:

17,67-74,73 mg/l) (p=0,01020) So sánh với tác giả

Trương Thị Sương(10) thì CRP tăng chiếm 76,2%

trong nhiễm khuẩn huyết sơ sinh tại Bệnh viện

Quảng Nam, kết quả này gần giống với nghiên

cứu của chúng tôi Theo Trương Thị Loan(8) thì

kết quả CRP tăng trong nhiễm khuẩn huyết sơ

sinh tại bệnh viện chỉ chiếm 24,3%, thấp hơn

nhiều so với chúng tôi

Thời gian CRP tăng chậm sau 12 giờ là 23,6%

và cao nhất là sau 24 giờ chiếm tỷ lệ 27,3% và sau

48 giờ là 21,8% Do vậy đối với nhiễm khuẩn

huyết do mắc phải tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh cần

phải dựa vào nhiều yếu tố kết hợp đặc biệt là

dấu hiệu lâm sàng và công thức máu để quyết

định dùng kháng sinh kịp thời, nếu chỉ dựa vào

giá trị CRP để cho kháng sinh thì sẽ muộn và

nguy cơ tử vong sẽ cao

Dịch tể học các vi khuẩn thường gặp và

kháng sinh sử dụng

Tỷ lệ bệnh nhân được cấy máu là 83,6%

(46/55) trong lô nghiên cứu Trong số 46 bệnh

nhân được cấy máu, có 17 bệnh nhân cấy máu

dương tính chiếm tỷ lệ 37% (p=0,1048)

Tỷ lệ cấy máu dương tính của chúng tôi thấp

hơn nghiên cứu của Amita Jain(1) là 47,5% nhưng

lại cao hơn so với một số tác giả như Phan thị

Hằng(6) là 21,6%, Su BH(7) là 17,5% và Lê Huy

Thạch(3) là 11,1%

Trong 17 trường hợp cấy máu dương tính, vi

khuẩn gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn gram âm

mà đứng hàng đầu là Klebsiella pneumoniae chiếm

52,9%, còn lại là rải rác các loại vi khuẩn

Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter agglomerans,

Enterobacter cloacae đều chiếm tỷ lệ 11,8%

Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên

cứu của Trương Thị Sương(7), vi khuẩn gây bệnh

chủ yếu trong nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh

là vi khuẩn gram âm, trong đó Klebsiella

pneumoniae chiếm 66,66%, E.coli chiếm 19,05%

Theo Amita Jain(1) cũng cho kết quả tương tự với

vi khuẩn gram âm là 67,7% và thường gặp nhất

là Klebsiella spp

Trong 17 trường hợp cấy máu dương tính chủ yếu là trực khuẩn gram âm sinh men β lactamase phổ rộng (ESBL) chiếm tỷ lệ cao với 73,3% cho thấy tính chất đa kháng thuốc của các

vi khuẩn và sự điều trị khó khăn, cần phải phối hợp nhiều loại kháng sinh mạnh có phổ rộng Kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là amikacin chiếm tỷ lệ 63,4%, tiếp đến là meropenem và vancomycin chiếm 54,5%, nhóm quinolon cũng được sử dụng khá phổ biến với tỷ lệ 45,4% Dựa vào kháng sinh đồ của các loại vi khuẩn phân lập được, hai nhóm kháng sinh kinh nghiệm ban đầu chúng tôi thường kết hợp là nhóm aminoside và nhóm carbapenem Nếu không đáp ứng điều trị sau 48 giờ hoặc những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện từ các bệnh viện khác chuyển tới đã dùng hai nhóm trên, chúng tôi phối hợp thêm nhóm quinolone hoặc vancomycin Khi có kết quả cấy máu dương tính, kháng sinh sẽ dùng tiếp tục theo kháng sinh đồ

Thời gian sử dụng kháng sinh: trung bình 13,2 ngày (trung vị 14 ±4,98, p = 0,0142) Thời gian ngắn nhất là hai ngày do bệnh nhân đã tử vong Thời gian dài nhất là 29 ngày cho thấy điều trị khó khăn, chi phí tốn kém trong nhiễm trùng vi khuẩn đa kháng thuốc tại bệnh viện Tác giả Nguyễn Thị Nam Liên(5) nghiên cứu

về tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập tại Bệnh viện Trung ương Huế năm 2007-2008 cho thấy rằng: các vi khuẩn kháng kháng sinh có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ MRSA

41,2%, vi khuẩn sinh ESBL là 25,1% (E.coli), 34,6% (K.pneumonia) Vi khuẩn ESBL (+) có mức

độ kháng kháng sinh cao hơn so với vi khuẩn không sinh ESBL Nghiên cứu của Trương Thị Sương(10) cho thấy kháng sinh đồ của các vi khuẩn phân lập được chỉ đáp ứng với quinilon thế hệ mới

Trang 7

Một nghiên cứu gần đây của Tiskumara R(8)

về nhiễm khuẩn sơ sinh tại tám đơn vị sơ sinh ở

các nước Châu Á cho thấy tình trạng kháng

kháng sinh ngày càng trầm trọng, trên 50% trực

khuẩn gram âm đề kháng với kháng sinh, chỉ

44% nhạy cảm với 2 loại kháng sinh là

gentamycine và cephalosporine thế hệ ba

Một nghiên cứu khác của Amita Jain(1) cũng

cho thấy ESBL được phát hiện 87,2% ở vi khuẩn

Klebsiella spp, 72,5% ở vi khuẩn Enterobacter,

65,3% ở E.coli và 33,3% ở Acinetobacter 38% tử

vong do nhiễm khuẩn huyết, trong đó vi khuẩn

gram âm có ESBL tỷ lệ tử vong cao hơn

Tỷ lệ cứu sống là 83,6% (46/55), tử vong 9

trường hợp chiếm 16,4% Các bệnh nhân tử

vong chủ yếu là trẻ đẻ non cân nặng thấp, có

sốc nhiễm khuẩn và xuất huyết não màng não

do giảm tiều cầu nặng và bệnh nhân từ bệnh

viện khác chuyển đến muộn Tỷ lệ tử vong

trong nghiên cứu chúng tôi tương đương với

nghiên cứu của Couto RC(2) là 16%, thấp hơn

so với tác giả Trương Thị Sương(10) là 76,2% và

cao hơn so với các tác giả như Su BH(7) là 8%

và Xu Y(11) là 4,1%

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn

huyết ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện đa khoa Trung

ương Huế năm 2014, chúng tôi rút ra những kết

luận sau:

Tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở

trẻ sơ sinh là 5,86% trong đó tỷ lệ tử vong

chiếm 16,4%

Các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng

thường gặp trong nhiễm khuẩn huyết tại bệnh

viện ở trẻ sơ sinh

Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp trong

nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh là:

nổi vân tím toàn thân chiếm 92,7%, da tái 72,7%,

triệu chứng thần kinh với li bì 63,6%, suy hô hấp

với cơn ngừng thở chiếm 60,6%, chướng bụng

chiếm 54,5%, nôn và bú kém chiếm 23,6%, sốc

nhiễm khuẩn chỉ chiếm 4% (p<0,0001)

Các dấu hiệu cận lâm sàng thường gặp trong nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện ở trẻ sơ sinh: + Về công thức máu: tiểu cầu giảm

<100.000/mm3 chiếm tỷ lệ cao 65,5% có ý nghĩa thống kê (p<0,05), bạch cầu giảm nặng < 5.000/mm3 chiếm tỷ lệ 29,1%, cao hơn so với BC tăng là 18,2% (p<0,0001)

+ Về giá trị CRP: CRP tăng >10 mg/l chiếm tỷ

lệ 79,2% trong đó thấp nhất là 11 mg/l và cao nhất là 177,19 mg/l, trung vị 35.00 mg/l (25-75%

độ tin cậy: 17,67-74,73 mg/l) (p=0,01020) Thời gian CRP tăng chậm sau 12 giờ là 23,6%

và cao nhất là sau 24 giờ chiếm tỷ lệ 27,3% và sau

48 giờ là 21,8% (p<0,05)

Dịch tể học vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn tại bệnh viện và kháng sinh sử dụng

Các vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện ở trẻ sơ sinh:

+ Tỷ lệ bệnh nhân cấy máu dương tính là 37% (p=0,1048) Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là vi

khuẩn gram âm mà đứng hàng đầu là Klebsiella pneumoniae chiếm 52,9%, các vi khuẩn khác là Pseudomonas aeruginosa là 11,8, Enterobacter agglomerans, Enterobacter cloacae đều có tỷ lệ 11,8% E.coli và Staphylococus Aureus chỉ chiếm

5,9% (p<0,0001)

+ Trực khuẩn gram âm sinh men β lactamase phổ rộng chiếm tỷ lệ cao với 73,3%

Kháng sinh sử dụng:

+ Kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là amikacin chiếm tỷ lệ 63,4%, meropenem và vancomycin chiếm 54,5%, nhóm quinolon cũng được sử dụng khá phổ biến với tỷ lệ 45,4%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amita Jain, Indranil Joy, Mahendra KG, MalaKumar SK (2003) Prevalence of extended-spectrum β-lactamase-producing Gram-negative bacteria in septicaemic neonates in

a tertiary care hospital, Med Microbiol, 5, p.421-425

2 Couto RC, Pedrosa TM, Tofani Cde P, Pedroso ER (2006), Risk factors for nosocomial infection in a neonatal intensive care

unit, Infect Control Hosp Epidemiol; 27 (6) :p.571-5

3 Lê Huy Thạch (2009), Những yếu tố tiên lượng nhiễm khuẩn huyết sơ sinh Bệnh viện đa khoa Tỉnh Ninh Thuận 2007-2008,

Tạp chí y học Việt Nam tập 356, tháng 4-số 2/2009, tr.542-549

Trang 8

4 Marisa Marcia mussi-Pinhata (2001) Neonatal nosocomial

infections, J Pediatr (Rio J); 77 (Supl.l): p.S81-S96

5 Nguyễn Thị Nam Liên, Trương Diên Hải, Mai văn Tuấn, Lê

Thị Thanh Lan (2009), Tình hình kháng kháng sinh của các vi

khuẩn phân lập tại Bệnh viện Trung Ương Huế 2007-2008,

Tạp chí y học thực hành-số 690+691, tr 446-452

6 Phan Thị Hằng, Nguyễn Văn Trương (2010), Nhiễm khuẩn

bệnh viện tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Hùng Vương, Y học

thành phố Hồ Chí Minh 2010 Tập 14 Số 3, tr.157-162

7 Su BH, Hsieh HY, Chiu HY, Lin HC (2007), Nosocomial

infection in a neonatal intensive care unit: a prospective study

in Taiwan, Am J Infect Control; 35 (3):p.190-5

8 Tiskumara R, Fakharee SH, Liu CQ (2009), Neonatal infection

in Asia, Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed; 94 (2):p.144-8

9 Trương thị Loan (2009), Mô tả một số đặc điểm nhiễm khuẩn

sơ sinh của trẻ đẻ non tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng

Sơn năm 2006-2007, Y học Việt Nam tháng 4-số 2/2009,

tr.515-523

10 Trương Thị Sương (2007), Đặc điểm nhiễm khuẩn huyết sơ sinh điều trị tại Bệnh viện Nhi Quảng Nam, Y học Việt Nam

số đặc biệt-tháng 3/2007, tr 276-285

11 Xu Y, Zhang LJ, Ge HY, Wang DH (2007), Clinical analysis of

nosocomial infection in neonatal intensive care units, Chinese

Journal of Pediatrics.45 (6):p.437-441

Ngày nhận bài báo: 11/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/07/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/09/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w