1. Trang chủ
  2. » Tất cả

1.2-BTL.HÔN-NHÂN-ĐỀ-09-CỦA-THỨC.đã-sửa (1)

14 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 31,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn Quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật quy định và được đảm bảo thực hiện khi quan hệ hôn nhân không th

Trang 1

MỞ ĐẦU

Dưới góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận là một chế định độc lập của Luật Hôn nhân và gia đình, nó là cơ sở cho Toà án và các bên đương sự giải quyết vấn

đề ly hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phần giải quyết con người ra khỏi sự ràng buộc không cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn Hậu quả của việc ly hôn

là làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến con cái Nhằm hạn chế một cách thấp nhất những hậu quả xấu của việc ly hôn, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung các chế định mới Để hiểu rõ hơn về các chế định ly hôn

trong bộ luật này, em xin chọn đề số 09 : “ Đánh giá chế định ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014” để hoàn thành phần bài tập lớn của mình.

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ LY HÔN

1 Định nghĩa ly hôn

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan

hệ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi

ly hôn thì toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn

2 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật quy định và được đảm bảo thực hiện khi quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục được nữa trên cơ sở yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn của một bên vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng hoặc bố mẹ và những người thân thích khác của vợ chồng bị mất khả năng nhận thứuc, điều khiển hành vi đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra yêu cầu

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

Điều 51 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình

do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Trang 2

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn là quyền của mỗi người vợ (chồng) có yêu cầu ly hôn với chồng (vợ) của mình dựa trên ý chí tự nguyện hoặc là quyền của cha, mẹ, người thân thích với vợ (chồng) mà người vợ (chồng) đó đang bị bênh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng (vợ) của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ

Đối với quy định “chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”, nhiều người cho

rằng chỉ khi đứa con mà người vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi dưới 12 tháng tuổi là con của người chồng hiện tại đó thì người chồng mới không có quyền yêu cầu ly hôn còn nếu đứa con của người vợ là con của một người đàn ông khác người chồng hiện tại thì người chồng vẫn có quyền ly hôn Tuy nhiên theo quy định của pháp luật thì dù đứa trẻ đó là con của ai thì người chồng vẫn không có quyền yêu cầu ly hôn khi người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Quy định này nhằm bảo vệ bà mẹ, đặc biệt là bảo vệ thai nhi và trẻ nhỏ, tránh những tác động tiêu cực đến bà mẹ, gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ nhỏ Đây là một quy định mang tính nhân văn của pháp luật Mặt khác, nếu trong trường hợp đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà người vợ cảm thấy việc duy trì quan hệ kết hôn hiện tại gây tác động xấu đến mình, ảnh hưởng tiêu cực đến thai nhi hoặc đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi thì người mẹ vẫn có quyền yêu cầu ly hôn hoặc thuận tình ly hôn theo yêu cầu của người chồng

II CHẾ ĐỊNH VỀ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

1 Căn cứ ly hôn

Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì không có điều luật nào quy định về căn cứ ly hôn như trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Theo quy định của Luật ta có thể xem xét những căn cứ ly hôn trong các trường hợp

a Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng tự nguyện đồng ý ly hôn, cùng ký vào đơn xin ly hôn Đơn xin ly hôn phải có xác nhận của UBND cấp phường về nguyên nhân ly hôn, mâu thuẫn vợ chồng

“Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật

sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ

và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc

có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa

án giải quyết việc ly hôn.” (Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

Muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân một cách hợp pháp, các bên còn phải thỏa thuận được về các hậu quả của việc ly hôn, đặc biệt là về phần liên quan đến việc

Trang 3

phân chia tài sản chung và về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con Nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, thì Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận, nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con, thì Tòa án quyết định

Theo quy định của pháp luật, khi giải quyết ly hôn đồng thuận, tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ Nếu hòa giải đoàn tụ không thành, tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không thành

b Căn cứ áp dụng cho trường hợp ly hôn do yêu cầu của một bên

Theo khoản 1 điều 56 Luật HN & GĐ 2014 “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án phải tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành thì Tòa án cần xác định tình trạng của quan hệ hôn nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết Việc giải quyết ly hôn cần phải chính xác Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình Ngược lại, nếu việc giải quyết không chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh phúc gia đình, phá hủy một cuộc hôn nhân còn có thể cứu vãn được và gây hậu quả không đáng có Mặt khác, giải quyết ly hôn cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ thể

Luật mới đã quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giải quyết cho ly

hôn; còn đối với những vi phạm khác, những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng… trong đời sống vợ chồng, thì phải có cơ sở nhận định chung rằng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì mới giải quyết cho ly hôn

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật phòng chống bạo lực gia đình thì

“ Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.”Các hành vi bạo lực gia đình là:

“Điều 2 Các hành vi bạo lực gia đình

1 Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

Trang 4

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

2 Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn

mà chung sống với nhau như vợ chồng.” (Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia

đình)

Còn tình trạng vợ chồng trầm trọng được hiểu như sau: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào cũng chỉ biết người đó,

bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và

uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhờ, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình Đời sống chung của hai vợ chồng không thể kéo dài được phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng hay chưa? Nếu đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành

hạ, xúc phạm nhau

Mục đích hôn nhân không đạt được là không còn tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ chồng, không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồn, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của

vợ chồng, không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt

Như vậy, nếu tình trạng vợ chồng thỏa mãn các điều kiện trên tòa án sẽ quyết định cho vợ chồng được ly hôn, trong trường hợp ly hôn để trốn tránh nghĩa

vụ chăm sóc, nuôi dưỡng…sẽ không được được Tòa án chấp nhận

c Căn cứ ly hôn áp dụng trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn

Theo quy định tại Điều 78 Bộ luật dân sự 2005 thì Tòa án có thể tuyên bố cá nhân mất tích nếu có các điều kiện sau:

Trang 5

Từ ngày biết được tin tức cuối cùng của người đó, người có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó mất tích

Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm người vắng mặt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích Biệt tích đã 2 năm liền trở lên, không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết

Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.” (Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

2 Hậu quả pháp lý của ly hôn

a Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Sau khi bản án hoặc quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân của mỗi bên với tư cách là vợ, chồng chấm dứt (nghĩa vụ thương yêu, chung thủy; đại diện giữa vợ và chồng, ), hai bên vợ chồng không còn bị ràng buộc bởi mối quan hệ vợ chồng trong hôn nhân mà tự do kết hôn với người khác để xây dựng hạnh phúc gia đình riêng của mình Các quyền dân sự với tư cách là công dân được ghi nhận trong Luật HN&GĐ năm

2014 cũng như trong BLDS năm 2005; quyền đối với họ, tên; quốc tịch;… vẫn được giữ nguyên

Khi ly hôn nếu bên (vợ hoặc chồng) khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình (Điều 115 Luật HN&GĐ năm 2014) Đối với người có khả năng lao động mà không chịu lao động thì Tòa án không giải quyết cấp dưỡng Mức cấp dưỡng sẽ do vợ chồng thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người

có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi Đây là một quy định xuất phát từ đạo lý, tình nghĩa vợ chồng và là một biểu hiện tốt đẹp trong truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cuộc sống cho bên bị túng thiếu, khó khăn trong thời gian sau khi ly hôn

b Quan hệ tài sản của vợ chồng

Giải quyết việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề phức tạp được thể hiện qua nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử nhiều năm qua ở nước

ta Khi ly hôn, chế độ tài sản chung của vợ chồng chấm dứt, tài sản riêng của bên nào tiếp tục thuộc về bên đó Việc chia tài sản chung là điều kiện cần thiết để đảm bảo điều kiện sống của mỗi bên sau khi ly hôn Tài sản chung của vợ chồng được chia theo văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo luật định Khi hôn nhân chấm dứt, vợ chồng phải xác định phần nào là tài sản chung, phần nào là tài sản riêng của mỗi người dựa trên cơ sở nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp của

vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Nam, nữ

Trang 6

chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; nếu không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền Lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập (Điều 16 Luật HN&GĐ 2014) thông qua quá trình điều tra, xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng của Tòa án để đảm bảo công bằng và hợp lý

c Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là: Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, thể hiện tính tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa Sau khi ly hôn, cha mẹ có các quyền và nghĩa vụ đối với con như sau:

 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

- Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân

sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan

- Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con;

+ Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;

+ Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

- Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi

- Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở

Trang 7

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ sau:

+ Tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi

+ Có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

+ Yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình

- Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

- Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con

từ đủ 07 tuổi trở lên

- Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự

Trang 8

- Trong trường hợp có căn cứ theo quy định của pháp luật, trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ

Như vậy, khi ly hôn vợ, chồng ngoài việc phân chia tài sản trong thời kì hôn nhân còn phải “chia con cái” để chăm sóc.Trong cuộc chiến “chia con”,vợ chồng được thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi

ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định

d Giải quyết vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Nghĩa vụ cấp dưỡng là sự thể hiện tình đoàn kết giữa các thành viên trong cùng một gia đình, là nghĩa vụ mà luật áp đặt đối với một thành viên gia đình, theo

đó thành viên này phải giúp đỡ thành viên khác, về phương diện vật chất, trong điều kiện thành viên khác sống trong tình trạng túng quẫn và không thể tự mình giải quyết vấn đề ổn định điều kiện sống vật chất của mình Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Sau khi ly hôn, vợ chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau nếu người kia rơi vào diện được cấp dưỡng

Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định

24 thì Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để

đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng phát sinh từ mối quan hệ hôn nhân hợp pháp được xuất phát từ thời điểm kết hôn Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng là một trong các quyền và nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân của vợ chồng Pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo đảm thực hiện quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng kể cả trong trường hợp vợ chồng ly hôn

Điều 115 nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn quy định: “ khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì

Trang 9

bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình” Như vậy việc giải quyết

cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được đặt ra khi thỏa mãn hai điều kiện : có

sự túng thiếu của một bên và sự tồn tại khả năng hỗ trợ của bên kia Nếu cả hai người đều túng thiếu, thì mỗi người phải tự xoay sở, không ai có trách nhiệm cấp dưỡng cho ai

Ðể nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn được xác lập, cần có một bên sống trong cảnh túng thiếu và bên kia có đủ điều kiện để hỗ trợ Sự túng thiếu của một bên, trong suy nghĩ của người làm luật, có nguồn gốc từ tình trạng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Thế nào là không

có khả năng lao động tùy thuộc vào sự đánh giá của thẩm phán Người thất nghiệp chưa chắc là không có khả năng lao động; người khuyết tạt cũng có thể có khả năng lao động Bên vợ- chồng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu phải chứng minh

sự khó khăn, túng thiếu của mình Nói chung, được coi là có lý do chính đáng khi lâm vào tình trạng khó khăn túng thiếu là do những điều kiện ngoại cảnh mang lại,

ví dụ như ốm đau, bệnh tật hay gặp tai ương bất ngờ

Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn chấm dứt khi bên được cấp dưỡng kết hôn với người khác

Đây là một quy định của pháp luật thể hiện tính nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục và nâng cao giá trị đạo đức xã hội, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, thể hiện tình nghĩa vợ chồng ngay cả khi quan hệ vợ chồng đã không còn được pháp luật bảo hộ

Như vậy, sau khi ly hôn, nếu một bên rơi vào tình trạng túng quẫn thì có thể yêu cầu bên kia cấp dưỡng và bên kia chỉ thực hiện nghĩa vụ này khi có khả năng Tuy nhiên, trên thực tế, khi đã ly hôn, tâm lý chung của vợ hoặc chồng là hiếm khi muốn có sự “nhờ vả” đến người còn lại Chỉ đến khi lâm vào tình trạng quá quẫn bách, không còn biết bấu víu vào ai nữa thì họ mới phải tìm sự giúp đỡ của người kia

III MỘT SỐ VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ CHẾ ĐỊNH LY HÔN

1 Bất cập trong việc áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các vụ việc ly hôn

Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý và chỉ khi có các điều kiện đó thì Tòa án mới

có thể giải quyết ly hôn

Trang 10

Thứ nhất, bất cập trong việc đánh giá tình trạng trầm trọng của hôn nhân

trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của vợ hoặc chồng

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc

vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” Đây là một quy định mới, mang tính khái quát cao Tuy nhiên, việc quy định về căn cứ ly hôn thể hiện yếu tố tình cảm vẫn còn chung chung Khi giải quyết các trường hợp cụ thể, với sự đa dạng của cuộc sống, thì mỗi cặp vợ chồng, mỗi vụ án ly hôn thường có mâu thuẫn cũng như hoàn cảnh không giống nhau Trong khi đó, không có căn cứ rõ ràng để xác định thế nào là “làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”, thế nào là hành vi “vi phạm nghiêm trọng” nên việc xem xét, đánh giá căn cứ trên là rất khó khăn, vướng mắc

Chính vì vậy, thực tiễn có những trường hợp cùng một vụ việc nhưng có nhiều cách lý giải khác nhau khi áp dụng pháp luật Ví dụ:

- Vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Đàm Thị X

Ông Nguyễn Văn Đ và bà Đàm Thị X kết hôn năm 1974, hôn nhân do cả hai

tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 4, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre Thời gian đầu khi kết hôn, ông bà sống có hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do ông Đ đã nhiều lần có quan hệ với người phụ nữ khác, về nhà đối xử tệ bạc với bà X Nhưng nay bà X cũng không đồng ý ly hôn

Tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre cho ông Nguyễn Văn

Đ được ly hôn với bà Đàm Thị X Trong khi tại Bản án số 36/2007/HN-PT ngày 12/4/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã bác đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đàm Thị X

Ở đây, Ông Đ có quan hệ ngoại tình được Tòa án cấp sơ thẩm xác định là căn cứ cho ly hôn Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lập luận rằng, ông Đ có quan

hệ ngoại tình mà lại là người đứng đơn xin ly hôn, còn bà X thì không đồng ý ly hôn; ông Đ cho rằng bà X thường hay la cà, nói xấu chồng con nhưng cũng không chứng minh được điều đó, như vậy, nhận định không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn

- Vụ án ly hôn giữa anh Ngô Thanh B và chị Nguyễn Thị L

Anh Ngô Thanh B và chị Nguyễn Thị L kết hôn hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An vào ngày 05/9/2002 Sau khi cưới, hai vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng cách đây khoảng 04 năm thì xảy ra mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày là do anh B thường xuyên đánh chị, ngoài ra, anh B có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác Chị

L và anh B không còn sống chung từ tháng 9/2014 cho đến nay

Ngày đăng: 14/01/2020, 15:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w