1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kinh tế - Nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế [full]

190 849 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc và đầu tư với quy mô ngày càng lớn của Nhà nước, các hãng hàng không và của toàn xã h

Trang 1

PHẠM ANH

NgUåN nh©n lùc PHI C¤NG CñA Ngµnh hµng kh«ng ViÖt Nam

trong héi nhËp quèc tÕ

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

Mã số : 62 31 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS ĐOÀN XUÂN THỦY

2 TS MAI VĂN BẢO

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Phạm Anh

Trang 3

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

1.1 Khái quát về các công trình nghiên cứu của nước ngoài liên quan

1.2 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC PHI CÔNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG TRONG

gia, vùng lãnh thổ và bài học cho ngành hàng không Việt Nam 51

Chương 3: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC PHI CÔNG CỦA

3.1 Khái quát chung về ngành hàng không Việt Nam 59 3.2 Thực trạng nguồn nhân lực phi công trong ngành hàng không Việt

3.3 Đánh giá chung về nguồn nhân lực phi công của ngành hàng

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC PHI CÔNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 160

PHỤ LỤC

Trang 4

B777/A321 bay Boeing 777/ bay Airbus 321

CAAV Cục Hàng không dân dụng Việt Nam

CCLL Cao cấp lý luận

CDG Sân bay Charles de Gaulle - Pháp

CPL Bằng lái thương mại

CX Cathay Pacific

ETOPS Mở rộng tầm khai thác bay biển đối với bay 02 động cơ FAR-OPS Quy chế khai thác bay vận tải thương mại liên bang Mỹ FBS Buồng lái mô phỏng tĩnh

FFS Buồng lái mô phỏng động

FOM Tài liệu hướng dẫn khai thác

FTO Tổ chức huấn luyện bay

HAN Sân bay Nội Bài

IATA Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế

ICAO Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế

IFR Quy tắc bay bằng thiết bị

JAR-OPS1 Quy chế khai thác bay vận tải thương mại châu Âu LOMS Chương trình giám sát bay tự động

MCC Phối hợp tổ lái

MTCV Bản mô tả công việc

NOTAM Các cảnh báo đối với người lái

PCNN Phi công nước ngoài

PCVN Phi công Việt Nam

PPL Bằng lái bay sơ cấp

SCLL Sơ cấp lý luận

SGN Sân bay Tân Sơn Nhất

SIM Buồng lái giả - Simulator

SQ Singapore Airlines

TCCB-LĐTL Ban Tổ chức cán bộ - Lao động tiền lương

Trang 5

TOEIC/TOEFL Chứng chỉ tiếng Anh quốc tế

TRTO Tổ chức huấn luyện năng định loại máy bay

VALC Công ty cho thuê máy bay Việt Nam

VAR-OPS1 Quy chế khai thác bay vận tải thương mại Việt Nam VASCO Công ty Bay dịch vụ hàng không

VFR Quy tắc bay bằng mắt thường

VNA Tổng công ty Hàng không Việt Nam- Vietnam Airlines

Trang 6

Bảng 3.1 Số lượng phi công của Tổng Công ty hàng không Việt Nam

Bảng 3.2 Số lượng phi công Việt Nam của Tổng Công ty Hàng không

Việt Nam phân theo lái chính và lái phụ giai đoạn 2007-2014 73 Bảng 3.3 Số lượng phi công Việt Nam làm việc tại Tổng Công ty Hàng

không Việt Nam phân theo theo các loại hình máy bay giai

Bảng 3.4 Số lượng phi công Việt Nam làm việc tại Tổng Công ty Hàng

không Việt Nam phân theo theo các loại hình máy bay và phân theo lái chính, lái phụ giai đoạn 2007-2014 76 Bảng 3.5 Tỷ trọng phi công Việt Nam đang làm việc tại Tổng Công ty

Hàng không Việt Nam phân theo lái chính, lái phụ giai đoạn

Bảng 3.6 Tỷ trọng phi công Việt Nam trong tổng số phi công đang làm

việc tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam phân theo loại

Bảng 3.7 Cơ cấu đội ngũ phi công Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

về trình độ chuyên môn kỹ thuật giai đoạn 2011-2014 79 Bảng 3.8 Cơ cấu đội ngũ phi công Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

theo trình độ lý luận chính trị giai đoạn 2011-2014 80 Bảng 3.10 Các bước đào tạo phi công cơ bản của Tổng Công ty Hàng

Bảng 3.11 Hiệu quả sử dụng nguồn lực phi công của Tổng Công ty Hàng

không Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 94 Bảng 3.12 Khung tiền lương cơ bản của phi công Việt Nam áp dụng tại

Vietnam Airlines từ 1 tháng 1 năm 2015 100 Bảng 4.1 Loại bài trắc nghiệm để tuyển dụng phi công 124 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu phi công Tổng Công ty Hàng không Việt Nam phân

theo quốc tịch giai đoạn 2007-2013 77 Biểu đồ 3.2 Tỷ trọng các nhóm phi công Tổng Công ty Hàng không Việt

Nam phân theo độ tuổi giai đoạn 2011-2014 82

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt được mục tiêu đó Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương giải pháp; trong đó có giải pháp hết sức quan trọng là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ về giao thông vận tải Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ là một trong ba khâu đột phá chiến lược giai đoạn 2011 - 2020 Những quốc gia phát triển và có trình độ khoa học - công nghệ cao hơn nước ta đã chứng minh muốn làm giàu trước tiên phải làm đường Đường được hiểu là ngành giao thông vận tải nói chung với tất cả các phương thức vận tải, giao thông như: đường thủy, đường biển, dường sắt, đường bộ, đường không … Cùng với sự phát triển của những phương thức vận tải khác, đường hàng không với những ưu thế của mình đang ngày càng chiếm giữ vai trò, vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân cũng như quá trình mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư phát triển ngành hàng không với qui mô ngày càng lớn Nhờ đó, ngành hàng không dân dụng nước ta đã phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu to lớn Tính đến năm 2015 Việt Nam đã có 4 hãng hàng không là Vietnam Airlines, Jestar Pacific Airlines, VASCO, VietJet Air (Air Mekong và Indochine airlines đã dừng hoạt động) với đội máy bay trên 100 chiếc các loại, trong đó có nhiều chủng loại hiện đại nhất như Airbus A350, Boeing B787-9 Ngành hàng không đang khai thác 20 cảng hàng không 45 đường bay quốc tế, 40 đường bay nội địa Trong giai đoạn 2010-2014, ngành hàng không dân dụng Việt Nam đã vận chuyển được trên 105 triệu lượt khách, quốc tế và nội địa, 2,2 triệu tấn hàng hóa Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành đạt 15%/năm về vận chuyển hành khách và 12%/năm về vận tải hàng hóa [68]

Những thành tựu mà ngành hàng không Việt Nam đạt được kể trên đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy hội nhập khu vực

Trang 8

và quốc tế của đất nước Tuy nhiên, những yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn phát triển mới của đất nước trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hòa nhập ngày càng sâu rộng hơn vào các quan hệ kinh tế

- chính trị- xã hội thế giới, đang đòi hỏi ngành hàng không Việt Nam phải có những bước đi nhanh, mạnh và vững chắc hơn

Để phát triển ngành hàng không nước ta theo hướng hiện đại có khả năng cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách và vận tải hàng hóa an toàn thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả cần phải có những điều kiện cần thiết như hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ về sân bay, cảng hàng không, cung cấp dịch vụ không lưu, đội máy bay hiện đại… và đặc biệt là nguồn nhân lực nói chung và phi công nói riêng phù hợp Là một ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù, với nền tảng kỹ thuật công nghệ hiện đại và yêu cầu bảo đảm tuyệt đối an toàn, an ninh nên nguồn nhân lực phi công phù hợp trong ngành hàng không phải được xây dựng và phát triển cả về thể lực, trí lực, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao

Trong những năm qua, nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc và đầu tư với quy mô ngày càng lớn của Nhà nước, các hãng hàng không và của toàn xã hội đã không ngừng phát triển

cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; góp phần tích cực vào những thành tựu chung của toàn ngành hàng không Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, nhân lực của ngành vẫn còn nhiều bất cập như chưa đủ về số lượng, chất lượng và cơ cấu còn bất hợp lý, đặc biệt còn tới 43% phi công của các hãng hàng không quốc tịch Việt Nam vẫn đang phải thuê nước ngoài, trình độ nguồn nhân lực phi công còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng rộng và sâu

Với tốc độ tăng trưởng nhu cầu vận tải hàng không tăng nhanh trong giai đoạn tới, bên cạnh các hãng hàng không quen thuộc trên thị trường và sẽ

có nhiều hãng mới ra đời gấp rút tăng quy mô đầu tư đội máy bay và tương ứng với sự tăng trưởng cung ứng tải là nhu cầu về phi công Khu vực Đông

Trang 9

Nam Á, Đông Bắc Á, và tiểu vùng gồm bốn quốc gia: Campuchia, Laos, Myanmar và Việt Nam (KLMV) trong vài ba thập kỷ tới vẫn sẽ luôn trong trạng thái khan hiếm phi công, do vậy trên thị trường sức lao động người lái máy bay thường xuyên có tình trạng cầu > cung, và tất nhiên phi công có lợi thế hơn để gây sức ép đối với hãng hàng không Các quy luật kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật cung - cầu sẽ quy định và chi phối vị thế của mỗi bên trong quá trình đàm phán (phi công và hãng hàng không)

Nếu không đề cập đến các yếu tố phá hoại, bị kích động hoặc “kẻ giấu mặt” đưa thông tin sai lệch để gây rối, thì vấn đề chỉ còn là ở chỗ quan hệ lao động mà cụ thể là tiền công, tiền lương cùng các đòi hỏi vật chất khác (chủ yếu đối với phi công) chưa thật sự hợp lý

Thời gian gần đây xuất hiện tình trạng bộ phận phi công của hãng hàng không quốc gia - Vietnam Airlines đồng loạt báo ốm (đợt Tết Dương lịch năm

2015 có 117 phi công báo ốm, tăng đột ngột so với bình thường khoảng trên dưới 10 trường hợp) góp phần gây nên tình trạng chậm hủy chuyến qui mô khá lớn, làm ùn tắc nhất thời giao thông đường không, cản trở tốc độ lưu thông của nền kinh tế và khó khăn nhất định tới các hoạt động chính trị, xã hội Tuy sự kiện này đã được các cấp, các ngành và đặc biệt là lãnh đạo của Vietnam Airlines áp dụng nhiều giải pháp phù hợp, thỏa đáng do đó tình hình đã trở lại bình thường, nhưng đó cũng là tín hiệu phản ánh cơ chế và phương thức giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng lao động- hãng hàng không và người cung ứng lao động lái bay, tức là phi công có vấn đề Bản chất của hiện tượng là gì và như thế nào cần phải nghiên cứu để kết luận chính xác trên cơ sở

đó đề ra giải pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm thiết lập vững chắc sự bình

ổn và phát triển đúng định hướng thị trường người lái bay- phi công ở nước ta

Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp đối với nguồn nhân lực phi công phục vụ sự phát triển của ngành hàng không nước nhà trong thời gian tới đang là vấn đề vô cùng cấp thiết Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề

“Nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không trong hội nhập quốc tế, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam thời gian qua và đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đưa ngành hàng không trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, làm rõ đặc thù, vai trò của nguồn nhân lực phi công với tư cách là bộ phận của nguồn nhân lực chất lượng cao

- Nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia, vùng lãnh thổ về phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không và rút ra những bài học kinh nghiệm cho ngành hàng không Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam giai đoạn 2007 - 2014, trên cơ sở đó rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, cũng như hạn chế

- Trên cơ sở kết quả đánh giá, nhận xét về thực trạng đưa ra dự báo về xu thế phát triển ngành hàng không thế giới và Việt Nam thời gian tới cũng như dự báo nhu cầu nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam đồng thời

đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nguồn nhân lực phi công với tư cách

là bộ phận đặc thù của nguồn nhân lực chất lượng cao, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế

Trọng tâm của đề tài chủ yếu nghiên cứu đội ngũ phi công đang làm việc cho các hãng hàng không mang quốc tịch Việt Nam, không nghiên cứu sâu, tuy

Trang 11

nhiên có đề cập tới các mối quan hệ phái sinh, những phi công đã chuyền đổi, nghỉ, hoặc chuyển sang lái cho lĩnh vực khác (hàng không chung)

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực phi công trên các phương diện về đặc điểm, vai trò, số lượng, chất lượng, cơ cấu, khả năng cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế Khi nghiên cứu mối quan hệ cung cầu trên thị trường phi công, đề tài chủ yếu đề cập đội ngũ phi công đang lái cho các hãng hàng không vận chuyển công cộng hành khách, hàng hóa bưu kiện theo như định nghĩa về kinh doanh vận tải hàng không quy định trong luật Doanh nghiệp và luật Hàng không Thí dụ, phi công Nguyễn Thành Trung hợp đồng lái cho ông chủ Bầu Đức không nằm trong phạm vi nghiên của luận án, vì phi công đó rất khó tham gia vào thị trường sức lao động người lái bay, không phải là phi công lái bay vận tải công cộng theo luật định

- Về không gian: Luận án tập trung phân tích đánh giá nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam, bao gồm nguồn nhân lực phi công của các hãng hàng không Việt Nam, trong đó chủ yếu là nguồn nhân lực phi công của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu: Luận án phân tích đánh giá thực trạng nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam trong giai đoạn từ năm năm 2007 đến năm 2014, nhằm đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận của luận án

Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn của các nhà khoa học, các học giả đi trước về nhân lực, nhân lực ngành hàng không, nhân lực phi công đối với mỗi quốc gia và từng hãng hàng không

Trang 12

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong luận án phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng là phương pháp nghiên cứu chủ yếu; đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, logic kết hợp với lịch sử, thống kê, so sánh, khái quát hóa

Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích để đánh giá về

quan điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, từ đó rút ra những vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ và các vấn đề cần nghiên cứu

bổ sung và nghiên cứu mới

Chương 2: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra

những khái niệm cơ bản như nguồn nhân lực, nguồn nhân lực phi công và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về đặc điểm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không trong hội nhập quốc tế Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá thực tiễn đào tạo, thu hút, sử dụng thu hút, sử dụng nguồn nhân lực phi công tại một số quốc gia để rút ra bài học cho ngành Hàng không Việt Nam

Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp,

nhằm làm rõ thực trạng nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế, rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực và nguyên nhân

Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã

nghiên cứu ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối cảnh

và nhu cầu về nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam để rút ra những phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam trong thời gian tới

5 Những đóng góp về khoa học của luận án

- Làm rõ khái niệm nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không

là bộ phận đặc thù của nguồn nhân lực ngành hàng không; đặc thù của nguồn nhân lực phi công trong hội nhập quốc tế biểu hiện thông qua (1) trình

độ chuyên môn kỹ thuật cao theo chuẩn quốc tế, (2) là người lao động đa văn

Trang 13

hóa, đa sắc tộc, (3) thông thạo tiếng Anh và hiểu biết một số ngôn ngữ khác, (4) thể lực, trí lực của đội ngũ phi công tăng cao cùng quá trình hội nhập; nguồn nhân lực phi công có vai trò đặc biệt trong quá trình tái sản xuất và phát triển của ngành hàng không; luận giải cụ thể tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực phi công, đặc biệt là tác động của hội nhập quốc tế

- Một số hạn chế của nguồn nhân lực phi công Việt Nam: 1) chưa đủ về

số lượng, tỷ lệ phi công thuê từ nước ngoài còn cao; 2) Cơ cấu chưa hợp lý về chủng loại và độ tuổi; 3) Còn hạn chế về tính chuyên nghiệp và tác phong công nghiệp; 4) Chưa có cơ sở đào tạo phi công trong nước Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế là: i) Trình độ phát triển kinh tế - xã hội và kinh tế chưa cao nhưng nhu cầu phát triển vận tải hàng không trong hội nhập quốc tế tăng nhanh; ii) Công tác đánh giá, tuyển dụng, đào tạo bổi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ phi công còn hạn chế và chưa đồng nhất giữa các hãng hàng không; iii) nguồn vốn đầu tư cho nguồn nhân lực phi công còn hạn hẹp; iv) Hợp tác quốc

tế về đào tạo phi công và quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực phi công còn nhiều bất cập

- Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành Hàng không Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 bao gồm (1) Đánh giá lại về

số lượng, chất lượng và cơ cấu, (2) Hoàn thiện tiêu chí và quy trình tuyển dụng, (3) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyển dụng, (4) Nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại đối với phi công, (5) Hoàn thiện cơ chế sử dụng và luân chuyển phi công, (6) Hoàn thiện chế độ đãi ngộ, (7) Tăng cường huy động nguồn vốn để phát triển nguồn nhân lực phi công, (8) Tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm với các nước về đào tạo, bồi dưỡng phi công, (9) Tăng cường quản lý Nhà nước đối với đào tạo phi công ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Góp phần vào việc đưa ra những luận cứ khoa học về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong giai đoạn tới

Trang 14

- Những vấn đề mà luận án đề cập và giải quyết góp phần vào việc cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong giai đoạn tới

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, cho các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nguồn nhân lực phi công trong ngành hàng không Việt Nam

- Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến nguồn nhân lực phi công trong hội nhập quốc tế

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC PHI CÔNG

1.1.1 Khái quát về các công trình nghiên cứu nước ngoài về nguồn nhân lực phi công

Nguồn nhân lực phi công là bộ phận đặc thù của nguồn nhân lực Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài tiêu

biểu về nhân lực như: Tác phẩm "Truy tìm căn nguyên tăng trưởng" của

William Easterly [79], “Lập bản đồ tư duy” của Tony Buzan, "A model of Human Capital Production and Evidence from LDCs" của Kaufmann Daniel [84]; "International Differences in Growth Rates" của Mario Baldassarri [86];

"The rise of the creative class" của Richard Florida [98]…đều khẳng định rằng nếu như trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích lũy tư bản và các nguồn vốn vật thể khác, thì ngày nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hóa, trong đó vai trò hàng đầu thuộc về nhân lực có trình độ

Trong cuốn "International Differences in Growth Rates" [86] trong phần bàn về vai trò của vốn nhân lực đối với quá trình tăng trưởng của các quốc gia trong thời gian gần đây, tác giả đã dựa trên những công thức lượng

và dựa trên những khảo sát và tính toán từ thực tiễn để đưa ra kết luận về vai trò ngày càng quan trọng của vốn nhân lực, trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của nhân lực trình độ cao trong việc tiếp thu tri thức khoa học

công nghệ hiện đại để tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ cho mỗi quốc gia

Trong cuốn "Truy tìm căn nguyên tăng trưởng", tác giả đã thừa nhận rằng:

"Không có một công thức thần kỳ nào có thể biến một người nghèo trở nên giàu có Viện trợ, đầu tư, giáo dục, kiểm soát dân số, điều chỉnh chính sách cho vay hay xóa nợ đều không phải là liều thuốc tiên cho tăng trưởng" [80] và

Trang 16

chính tác giả luận giải rằng: "Nguyên nhân là do các công thức nêu trên đã không dựa trên nguyên tắc cơ bản của kinh tế học: đó là con người hành động

vì động cơ" [80] Con người mà tác giả nêu ở đây, diễn đạt theo một cách khác chính là NNL Trong đó lực lượng quan trọng nhất của NNL ở mỗi quốc gia, đó là đội ngũ quan chức cao cấp của Nhà nước và Chính phủ Nếu động

cơ của đội ngũ này trong sáng thì tăng trưởng sẽ hiện hữu, nếu động cơ không

trong sáng thì "các chính phủ cũng có thể bóp chết tăng trưởng" [80]

Các công trình nghiên cứu như: "Tư duy lại tương lai" của Rowan Gibson [26]; "Trí tuệ xúc cảm" của Daniel Goleman [27]; "Trí tuệ nổi trội" của Karen Nesbitt Shanor [43]; "Hy vọng táo bạo" của Barack Obama [49]; "Đón nhận thay đổi" của Tony Buzan [10]… đã nhấn mạnh về những yêu cầu đối với nhân lực như phải thay đổi tư duy để thích ứng và làm chủ những xu hướng phát triển rất mới và đầy bất ngờ trong thời đại ngày nay Hàng loạt những dẫn chứng và phân tích mà các học giả hàng đầu thế giới nêu ra trong các công trình của mình đều thể hiện rằng: trong xu hướng phát triển của các ngành kinh tế dựa vào khoa học - công nghệ hiện đại nhân lực cần phải thay đổi tư duy một cách tương ứng

Tác giả Daniel Goleman trong cuốn "Trí tuệ xúc cảm - ứng dụng trong công việc" [27] đã nêu ra một yêu cầu, đồng thời cũng là một chuẩn mực mới trong đánh giá con người Chuẩn mực này, theo tác giả là yếu tố quyết định sự thành công của mỗi cá nhân và tổ chức trong thời đại mới Chuẩn mực mới

được tác giả đặt tên là Trí tuệ xúc cảm (Emotional Intelligence) Vậy trí tuệ

xúc cảm là gì? Nó quan trọng như thế nào trong sự thành công của mỗi cá nhân? Theo tác giả D Goleman, các chuẩn mực trong công việc đang thay đổi Hiện nay, chúng ta đang được đánh giá bằng một chuẩn mực mới: không chỉ bằng việc chúng ta thông minh, được đào tạo và tinh thông nghề nghiệp như thế nào, mà còn bởi cách chúng ta ứng xử với nhau ra sao Cách chúng ta ứng xử với nhau ấy, được tác giả gọi là trí tuệ xúc cảm Như vậy, trí tuệ xúc cảm không quá chú trọng vào việc chúng ta có đủ năng lực trí tuệ cũng như những kiến thức chuyên môn phục vụ cho công việc, mà tập trung vào những

Trang 17

phẩm chất cá nhân như tính sáng tạo, sự đồng cảm, khả năng thích ứng và

thuyết phục Điều này quả là khá mới mẻ so với những gì vốn được cho là

quan trọng trong các trường học Những khả năng học thuật không liên quan nhiều đến trí tuệ xúc cảm và không liên quan nhiều tới sự thành công Thậm chí D Goleman còn cho rằng: "Trình độ chuyên môn và chỉ số IQ cao có thể gây ra một hậu quả mang tính nghịch lý, tức là khiến những người đầy tiềm năng thất bại" [27] Đặc biệt, đối với các nhà lãnh đạo, D Goleman cho rằng 90% các yếu tố quyết định sự nổi trội trong sự nghiệp của họ là trí tuệ xúc cảm Theo D Goleman, nó là thành phần thiết yếu để đạt được và giữ nguyên

vị trí đứng đầu trong bất cứ lĩnh vực nào Các cá nhân, tổ chức và cả những quốc gia đã vận hành theo những phương pháp trí tuệ xúc cảm sẽ luôn tồn tại

và phát triển năng động trong thị trường cạnh tranh hiện tại và trong tương lai

Trong số các công trình nghiên cứu về nhân lực, đã có các công trình đề cập tới nhân lực của ngành hàng không với tư cách là bộ phận nhân lực đặc thù trong nền kinh tế, tiêu biểu là:

Theo Báo cáo của Tổ chức Hàng không Dân dụng quốc tế (ICAO)

“Annual Report of the Council - 2010” [88], nguồn nhân lực phi công hàng không dân dụng của các quốc gia trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của hàng không dân dụng quốc tế không những cần phải nâng cao trình độ chuyên môn

kỹ thuật lái bay, mà còn phải không ngừng nâng cao trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh Từ đó ICAO yêu cầu các thành viên phải nghiêm chỉnh thực hiện Nghị quyết bổ sung A37 - 10 của ICAO về thành thạo ngoại ngữ đối với phi công để đảm bảo tiếp nhận chính xác thông tin liên lạc ICAO kêu gọi các thành viên cùng xây dựng và thực hiện kế hoạc đào tạo ngoại ngữ tiếng Anh cho đội ngũ phi công của mình nhằm đảm bảo an toàn cho các chuyến bay quốc tế Báo cáo cũng cho rằng, cần phải xây dựng chương trình đào tạo phi công không những đủ về số lượng, mà đặc biệt là đảm bảo về chất lượng để thực hiện tốt các chuyên bay quốc tế Theo sáng kiến của ICAO, phải thành lập nhóm nghiên cứu về hiện đại hóa công tác đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực phi công nói riêng, đồng thời tăng

Trang 18

cương thu hút, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành hàng không dân dụng tương lai

Báo cáo của ICAO “Annual Report of the Council - 2011” [89], cũng tập trung phân tích các yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực hàng không nói chung và nguồn nhân lực phi công nói riêng Theo đó, trong Báo cáo có nhấn mạnh việc thực hiện các quy định về tiêu chí đánh giá mức độ chuyên nghiệp của nhân lực ngành hàng không, đặc biệt đối với phi công hàng không dân dụng trên cơ sở những tri thức chuyên ngành và kinh nghiệm thực tiễn quan các chuyến bay ICAO cho rằng, trong đào tạo đội ngũ phi công hàng không dân dụng của các thành viên, cần phải xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá quốc tế không những đối với phi công hàng không dân dụng, mà cả đối với các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực này, đồng thời áp dụng các biện pháp đào tạo có tính chuyên nghiệp ngày càng cao Nội dung hệ thống đào tạo lại phi công và tổ lái cần được xây dựng dựa trên góp ý của các quốc gia thành viên Báo cáo cũng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đào tạo đội ngũ phi công hàng không dân dụng thế hệ tương lai nhắm đảm bảo an toàn cao nhất cho các chuyến bay, trong đó khẳng định sự phối hợp trong đào tạo có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong đào tạo phi công cho các chuyến bay quốc tế

Việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phi công cần được thực hiện và kiểm định theo yêu cầu của chương trình đào tạo mở rộng TRAINAIR PLUS Chương trình này đã trở thành cơ sở đáng tin cậy cho việc đổi mới, hoàn thiện các chương trình đào tạo phi công của các thành viên ICAO

Trong bản Báo cáo hàng năm của ICAO “Annual Report of the Council 2012” [90], đã khẳng định rằng, đề phát triển ngành hàng không dân dụng quốc tế theo hướng bền vững, an toàn trong tương lai cần phải đặc biệt chú trọng vấn đề đào tạo nhân lực cho ngành hàng không, trong đó có đào tạo phi công hàng không dân dụng Theo ICAO, cần phải đẩy mạnh thực hiện chương trình đào tạo mở rộng TRAINAIR PLUS và yêu cầu các thành viên của Hiệp hội tuân thủ chặt chẽ các quy định về tiêu chuẩn đánh giá và kiểm định đối với nhân lực hàng không nói chung và phi công nói riêng Đồng thời yêu cầu

Trang 19

Ban lãnh đạo chương trình tập trung tiếp tục hoàn thiện nội dung chương trình, khuyến khích các thành viên của Hiệp hội tham gia tích cực hơn vào xây dựng hệ thống đào tạo nhân lực chất lượng cao, trong đó có đào tạo từng phi công riêng lẻ và cả tổ lái, nhằm tăng cường đảm bảo an toàn cho các chuyến bay Theo ICAO, chương trình này là căn cứ đề điều chỉnh lại việc hoàn thiện đào tạo và đào tạo lại phi công tại các trung tâm đào tạo phi công hàng không dân dụng Điểm mới đáng kể của chương trình đào tạo này là thay thế những điểm không còn phù hợp trong hệ thống tiêu chí xác định những tình thế bất thường trong chuyến bay, đồng thời hướng tới đào sâu phân tích về các nguyên nhân của các hành vi không đúng của phi công trong khi điều khiển bay Từ đó đưa ra các khuyến cáo cụ thể đối với các trung tâm đào tạo phi công về các vấn đề có tác động tới nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không dân dụng trong tương lai

Theo Báo cáo của ICAO “Training Report” [92], những tiến bộ trong đào tạo và thiết kế bay đã thực hiện thương mại hàng không an toàn nhất, tuy nhiên vẫn cần phải có các biện pháp đảm bảo an toàn hơn thông qua hoàn thiện công tác đào tạo phi công Kể từ cuối những năm 1940, các tổ chức thương mại hàng không trên toàn thế giới đã đầu tư đáng kể trong các sáng kiến đào tạo phi công nhằm mục đích nâng cao sự an toàn Tuy nhiên hầu hết những cố gắng đó vẫn dừng lại ở phạm vi từng tổ chức, trong khi có thể hưởng lợi từ các hiệp lực thông qua một nỗ lực kết hợp và phối hợp Do đó,

sự thay đổi là cần thiết thông qua một nỗ lực hợp tác bền vững Trong những năm qua với sự hỗ trợ của ICAO các tiêu chuẩn, quy trình, hệ thống và các thiết bị sử dụng trong đào tạo phi công thương mại đã dần được thống nhất, cung cấp cho hàng không dân dụng các công cụ để phát triển hiệu quả hơn việc tuyển dụng, lựa chọn và quá trình đào tạo cho các phi công nhằm giảm

tỷ lệ tai nạn, đảm bảo đáp ứng nhu cầu về phi công cho tăng trưởng của ngành hàng không thương mại Tuy nhiên để thực hiện việc này cần phát triển thỏa thuận quốc tế về đào tạo phi công công cùng các tiêu chuẩn giảng dạy và đánh giá

Trang 20

Trong Báo cáo của ICAO, “Annual Report of the ICAO Council: 2013

The World of Air Transport” [91], trên cơ sở phân tích tình hình phát triển

thực tế của ngành hàng không dân dụng trên thế giới năm 2013 đã đưa ra dự báo rằng giao thông hàng không toàn cầu từ nay đến năm 2030 có thể tăng gấp đôi Với 3,1 tỷ hành khách hàng không thực hiện trong năm 2013 dự kiến

sẽ tăng đến khoảng sáu tỷ USD vào năm 2030, và số lượng các chuyến khởi hành được dự báo sẽ tăng từ 32 triệu USD trong năm 2013 đến khoảng 60 triệu vào năm 2030 Để phục vụ nhu cầu phát triển của ngành hàng không các nhà sản xuất lớn của thế giới bàn giao khoảng 1.500 bay thương mại mới trong năm 2013 và đã ghi nhận đơn đặt hàng cho hơn 3 000 bay mới Xu thế

đó có tác động đáng kể tới sự phát triển nguồn nhân lực hàng không của các quốc gia, trong đó có nguồn nhân lực phi công

Bản Tài liệu Hội nghị chuyên đề của ICAO “Loc-i symposium

addresses icao's no.1 safety priority icao journal - issue 3 2014” [93] với sự

tham gia của 70 diễn giả và chuyên gia đã đại diện cho phi công, các nhà khai thác, quản lý, các viện nghiên cứu và các tổ chức đào tạo phi công đã luận bàn

về các biện pháp đối phó, cũng như các phương pháp đào tạo và các công cụ ngăn chặn sự mất kiểm soát trên bay Hội nghị nhấn mạnh rằng, mặc dù tình trạng mất kiểm soát của phi công (LOC-I) chỉ chiếm 2% tổng số các vụ tai nạn hàng không, song lại chiếm tới 25% phần trăm của tất cả các trường hợp

tử vong, do đó trở thành vấn đề số một trong ngành hàng không hiện nay Để giải quyết vấn đề này cần có nỗ lực hợp tác toàn cầu, trong đó vai trò quan trọng thuộc về sứ mệnh của ICAO Hội nghị chỉ ra rằng, phòng ngừa là yếu tố tối quan trọng cần được nhấn mạnh Trong số những trường hợp phi công mất kiểm soát trong khi điều kiển bay, yếu tố căng thẳng, giật mình thường gây bất ngờ, làm cho phi công khó xử lý bằng các hành vi chính xác, do đó cần nghiên cứu làm rõ để hiểu được những gì đang xảy ra trong bộ não của một phi công và từ đó tìm biện pháp để giảm thiểu Theo Tiến sĩ Clint R 'Clutch' Balog, Embry-Riddle Aeronautical University, để đối phó với các sự kiện không mong đợi trong khi điều khiển chuyến bay cần tìm hiểu sâu về các yếu

Trang 21

tố sinh lý, tâm lý của phi công Cần xác định rõ, sự kiện bất ngờ đe dọa là bất

kỳ sự kiện nào trong chuyến bay mà phi công không thể lường trước được trong quá trình hoạt động bay bình thường Những sự kiện này phải được đánh giá là có tác động tiêu cực cao đối với bảo đảm an toàn của chuyến bay hiện tại Khi xuất hiện sự kiện bất ngờ đe dọa, phi công thường có phản xạ giật mình, đó là phản xạ ngắn hạn ban đầu, không tự nguyện thể hiện sự căng thẳng của con người Đó là phản ứng phản ánh trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và có thể chuyển từ dương sang âm và có thể gây tăng cường hoặc suy giảm hiệu suất nhận thức tại thời điểm đó Cảm giác bất ngờ là một cảm xúc thường do vi phạm của một kỳ vọng (một sự khác biệt giữa kỳ vọng và thực tế) Để giảm thiểu tác động tiêu cực của các sự kiện bất ngờ, trong đào tạo phi công cần có những biện pháp gắn kết giữa đào tạo lý thuyết với rèn luyện thực hành Cơ sở vật chất kỹ thuật và chương trình đạo tạo phi công trước đây nhìn chung chưa hoặc không có khả năng cung cấp đầy đủ cho phi công tiếp xúc với những tình huống có thể xảy ra để làm quen với nó, ồng nghĩa với việc ngăn ngừa hoặc phục hồi từ một sự kiện LOC-I Do đó, cần có sự đổi mới để ít nhất trên các bay dùng để đào tạo phi công có thể lấp đầy những khoảng trống, giúp cung cấp kinh nghiệm và sự tự tin trong tâm sinh lý của phi công, hạn chế sự rối loạn sinh lý như yếu tố giật mình… Việc cải thiện đào tạo mô phỏng theo mô hình này sẽ là một bước đi đúng hướng góp phần đưa ra những cảm giác thực sự cho các học viên, đặc biệt là những người đang có khả năng mất phương hướng Tuy nhiên, việc đào tạo phi công theo

mô hình này đòi hỏi chi phí rất lớn Ví dụ như, đào tạo phi công trong bay nhào lộn trên không, không những đòi hỏi chi phí lớn về sản xuất máy bay dùng cho đào tạo, mà còn cần cả các giảng viên, hướng dẫn viên có trình độ cao Cho đến nay, có tới 60% các nước thành viên ICAO không có các loại bay nhào lộn trên không

Trong bài viết “Vai trò của yếu tố con người trong việc cải thiện an toàn hàng không” [79] đã đề cập tới vai trò đặc biệt quan trọng của nhân lực trong đảm bảo an toàn, an ninh hàng không, trong đó đã nhấn mạnh rằng,

Trang 22

nguyên nhân chủ yếu của các tai nạn hàng không là do lỗi con người chứ không phải do kỹ thuật, do đó trong hàng không, người lao động, đặc biệt là đội ngũ phi công, cần có trình độ hiểu biết tốt về cách thức đảm bảo an toàn nhất, phải linh hoạt, chuyên nghiệp và họat động hiệu quả

Helen Muir trong bài viết “Sự xuất hiện của yếu tố con người” (The Emergence of Human Factors) [81] cho rằng, "Yếu tố con người" là một chủ

đề trung tâm an toàn chuyến bay Bài viết này đưa ra một giới thiệu rõ ràng và ngắn gọn về yêu cầu nâng cao nhận thức về vai trò của yếu tố con người trong các tai nạn bay Nhận thức về ảnh hưởng quan trọng yếu tố con người tới tỷ lệ tai nạn Tác giả cũng khẳng định rõ rằng, sự hiểu biết và nhận thức đầy đủ về mối quan hệ quan trọng giữa các yếu tố con người và an toàn sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ tai nạn

Trong tác phẩm “Quản lý tài nguyên con người trong công nghiệp Hàng không dân dụng toàn cầu: Một khảo sát và phân tích về tuyển dụng và lựa chọn, tổ chức phát triển, giáo dục, đào tạo và thực hành phát triển” (Human Resource Management In The Global Civil Aviation Industry: A Survey And Analysis Of Recruitment And Selection, Organization Development, And Education, Training And Development Practices) của S.H Appelbaum, B.M Fewster [97] cho rằng các khâu tuyển dụng, lựa chọn, giáo dục, đào tạo, phát triển nhân lực hàng không có mối liên hệ hữu cơ với nhau

Sự kết hợp đúng đắn hợp lý các khâu đó là yếu tố thành công quan trọng trong phát triển ngành hàng không của các quốc gia

Luận án tiến sĩ xã hội học của Морозов, Владислав Юрьевич

“Человеческий фактор развития отечественного авиапромышленного комплекса” [113] trên cơ sở đánh giá vai trò quan trọng của yếu tố con người trong phát triển nền công nghiệp hàng không của nước Nga trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa đã tập trung phân tích những điều kiện cơ bản của quá trình tái sản xuất và sử dụng yếu tố con người trong ngành công nghiệp hàng không xô viết trước đây và nước Nga ngày nay, làm

rõ tác động của yếu tố con người tới sự phát triển của ngành hành không quốc

Trang 23

gia Tác giả luận án đã phân tích những đặc thù của lao động trong ngành hành không, tác động của sự phát triển của ngành hàng không tới yếu tố con người trong ngành, từ đó đề xuất định hướng phát triển yếu tố con người cho quá trình tái cơ cấu ngành hành không nước Nga giai đoạn tới Theo luận án, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chủ động kết hợp các phương diện kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, xã hội của quá trình xã hội hóa sản xuất và phát huy vai trò sáng tạo của yếu tố con người trong ngành hàng không, đồng thời cần phải coi sự phát triển của ngành hàng không là kết quả của quá trình tái sản xuất có điều tiết nguồn lực con người Trong đào tạo phi công cần chú trọng rèn luyện thực hành khả năng tâm lý đối phó với những trường hợp bất thường và sự phối kết hợp của các thành viên phi hành đoàn trong những trường hợp đó, đồng thời cần nghiên cứu hoàn thiện các điều kiện kỹ thuật của bay trên cơ sở phân tích đánh giá về các hiện tượng bất thường và nguyên nhân của chúng

Trên cơ sở phân tích so sánh tình hình phát triển của ngành hành không

và nguồn nhân lực hàng không của nước Nga so với các nước Phương Tây, tác giả luận án cho rằng, sự lạc hậu của ngành hàng không nước Nga có nguyên nhân đáng kể từ trình độ phát triển của nguồn nhân lực hàng không, đặc biệt là nguồn nhân lực phi công, từ đó đề xuất định hướng phát triển nguồn nhân lực hàng không nói chung và nguồn nhân lực phi công nói riêng

Theo luận án tiến sĩ kinh tế của Иванькович, Евгений Евгеньевич

Trang 24

về tâm, sinh lý và luôn phải khắc phục những rào cản về tâm lý trong hoạt động lao động của mình Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, năng lực lao động nói chung và năng lực tâm lý nói riêng của phi công không ngừng được nâng cao Trong giai đoạn phát triển ngày nay của ngành hàng không đang tồn tại mâu thuẫn giữa sự hạn chế về năng lực của phi công và sự khả năng phát triển vô cùng nhanh chóng của kỹ thuật, công nghệ hàng không, do đó mức độ căng thẳng trong quá trình lao động của phi công có xu hướng tăng lên, đòi hỏi phải tạo ra những điều kiện mới đối với việc đảm bảo

an toàn cho các chuyến bay Từ đó, luận án đã tập trung phân tích vai trò của nhân lực trong phát triển ngành hàng không dân dụng, sự hình thành cơ cấu tổ chức của phi hành đoàn và chính sách nhân lực của hãng “Аэрофлот”, Đồng thời đi sâu phân tích tác động của quản lý chất lượng quản lý nhân lực của hãng hàng không Theo tác giả, nguồn nhân lực hàng không cần phải được phát triển theo hướng chuyên nghiệp, trong đó đào tạo trong nội bộ hãng mang tính quyết định, tuy nhiên cần phải thực hiện đào tạo nhân lực hàng không trên cơ sở các chuẩn mực chất lượng quốc tế Để nâng cao hiệu quả đào tạo nhân lực hàng không nói chung và đặc biệt là nhân lực phi công nói riêng cần dựa vào đặc thù về nội dung của lao động hàng không và phi công, các yếu tố đảm bảo sự tin cậy và cách thức xử lý vấn đề trong các trường hợp bất thường Theo tác giả, trong điều kiện nảy sinh các hiện tượng bất thường khi lái bay hàng không dân dụng, sự phối kết hợp giữa các thành viên của phi hành đoàn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, từ đó việc quản lý điều hành đối với nhân lực phi công nên thực hiện theo cơ chế mềm Bằng phân tích về thực trạng và cơ chế quản lý nhân lực phi công của hãng Аэрофлот, tác giả đã chỉ

ra những biện pháp cần thực hiện trong thuê mướn, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ đối với phi công của Hãng

Trong bài viết “ Подготовка пилотов для гражданской авиации в США” [102], trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết về các tai nạn và nguyên nhân của tai nạn hàng không, tại Mỹ đã xây dựng và triển khai thực hiện hệ thống đào tạo mới đối với phi công hàng không dân dụng Theo đó, để trở thành phi công

Trang 25

hàng không dân dụng trên các đường bay trong nước với các bay quy mô nhỏ, học viên phải nhận được chứng chỉ và ít nhất phải thực hiện được 1500 giờ bay, còn nếu muốn trở thành phi công trên các chuyến bay quốc tế tối thiểu phải đạt mức 3000 giờ bay Đào tạo phi công ở Mỹ rất tốn kém với mức chi phí khoảng 50.000USD/năm Các hãng hàng không lớn thường tuyển dụng phi công tốt nghiệp trường bay với thời gian học tập 4 năm, nhưng vẫn bổ sung thêm những khóa học đặc biệt để chọn được phi công có đủ sức khỏe về thể lực, tâm, sinh lý

Trong bài viết “Как стать пилотом гражданской авиации: европейский опыт” [102], đề cập tới khả năng chuyển đổi phi công hàng không dân dụng từ loại này sang loại khác thông qua đào tạo lại với thời gian trung bình từ 20 đến

25 tháng Những phi công không chuyên nghiệp với nền tảng kiến thức phi công sau đào tạo bổ sung có thể chuyển sang phi công chuyên nghiệp đối với từng loại bay Ngoài ra các hãng hàng không còn bổ sung thêm các khóa đào tạo đối với các phi công mới tuyển dụng Ví dụ như, đối với Hãng Boeing, các học viên phi công phải thực hành 87 giờ bay bằng mắt; 95 giờ bay bằng thiết bị, 5 giờ bay đêm bằng mắt, 13 giờ trên các chuyến bay máy bay có nhiều động cơ và khóa đào tạo tương tác với các thành viên của phi hành đoàn Nhưng để trở thành phi công thực sự, ứng viên vẫn phải trải qua 1500 giờ bay thật sự, trong đó có 500 giờ thực hiện chức năng chỉ huy hoặc giám sát bay

Tác giả Василий Ершов trong bài viết “Пути сохранения профессионализма пилотов” [103], cho rằng việc chuyển sang sử dụng các loại bay của nước ngoài làm cho nước Nga phải đối mặt với vấn đề về nguồn nhân lực phi công để đảm bảo an toàn cho các chuyến bay Từ đó, cần phải tạo lập hệ thống đào tạo phi công chất lượng cao dưới sự bảo trợ của Nhà nước Trước hết, đối với vấn đề đào tạo ban đầu ngoài các tiêu chí về thể lực, kiến thức, cần đặc biệt chú trọng đào tạo thực hành với cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp Bên cạnh đó cần có chính sách sử dụng, đãi ngộ và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ phi công, trong đó có cả đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ tiếng Anh

Trang 26

Ngành hàng không của Liên bang Nga thời hậu Xô Viết có sự thay đổi lớn về chất và toàn diện vào đầu thế kỷ XXI Trong đó có tình trạng đội ngũ phi công chưa hoàn toàn tương thích với việc áp dụng các loại bay mới của nước ngoài, dẫn tới sự thiếu hụt đáng kể nguồn nhân lực phi công chất lượng cao với nghĩa là: chưa thông thạo tiếng Anh và chưa được tiếp cận nhiều với công nghệ máy bay Bắc Mỹ và Tây Âu Đồng thời với nó là chế độ sử dụng phi công của nước Nga có nhiều bất cập không đủ sức ngăn chăn được xu hướng “chảy máu” phi công chất lượng cao sang các nước đang phát triển Tình trạng đó yêu cầu phải thay đổi quan điểm về sử dụng phi công, trước hết

là cơ sở pháp lý theo hướng mở rộng thu hút nguồn nhân lực phi công từ nước ngoài, kể cả từ các nước đang phát triển

1.1.2 Khái quát về các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến nguồn nhân lực phi công

Ở nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu

về nguồn nhân lực Trong hầu hết các công trình, bài viết, các tác giả đều nhấn mạnh vai trò quan trọng hàng đầu của nhân lực, đặc biệt là nhân lực có chất lượng đối với phát triển kinh tế đất nước, nêu ra tiêu chí phân loại, đánh giá nhân lực và các giải pháp phát triển nhân lực

Tác giả Nguyễn Hữu Dũng trong "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế" [20], đã nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đó là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất, có tính quyết định đối với quá trình CNH, HĐH

và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Tác giả Nguyễn Đắc Hưng trong "Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước" [37] cho rằng, việc lựa chọn và đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao của Việt Nam cần dựa trên những kinh nghiệm đào tạo tài năng cha ông

và của các quốc gia tiên tiến trên thế giới Trong công trình: "Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước", tác giả Nguyễn Đắc Hưng đã đề ra những yêu cầu về năng lực sáng tạo và thích nghi, đồng thời nhấn mạnh xu

Trang 27

hướng phát triển đa năng của người lao động trình độ cao, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa năng lực kỹ thuật, khả năng quản lý và tài năng kinh doanh

Theo các tác giả Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa [2], giáo dục đóng vai trò quan trọng không chỉ vì nó làm tăng vốn con người mà còn vì giáo dục làm cho con người có khả năng chấp nhận và thích ứng với các thay đổi Giáo dục tạo điều kiện cho các cá nhân có các phương pháp khoa học với các hình thức tư duy mới khác biệt sâu sắc với cách tư duy cũ, do đó để phát triển nguồn nhân lực thích ứng với yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới cần phải cải cách giáo dục, đào tạo ở Việt Nam theo hướng đổi mới tư duy phát triển giáo dục; đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa và phương pháp giáo dục; định hướng đổi mới chế độ tài chính đối với giáo dục; thực hiện chế độ

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ giáo dục

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Tú “Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” [74], đã hệ thống hóa những vấn đề

lý luận cơ bản về nguồn nhân lực chất lượng cao như khái niệm, vai trò, chỉ tiêu đánh giá, nhân tố ảnh hưởng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại về số lượng, chất lượng, cơ cấu, vai trò, nhân tố ảnh hưởng và khả năng cạnh tranh Phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm của một số nước điển hình ở châu Á về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam, chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu, nguyên nhân và đề xuất phương hướng phát triển và các giải pháp chiến lược có tính thực tiễn phù hợp với điều kiện Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập trước mắt và lâu dài

Trong luận án tiến sĩ của Đinh Văn Toàn “Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đến năm 2015” [66], trên cơ sở khái quát, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nguồn nhân lực đã làm sáng tỏ đặc thù của nguồn nhân lực ngành điện với tư cách là bộ phận nguồn nhân lực quốc gia dưới những đặc điểm đặc thù của ngành điện ở Việt Nam

Trang 28

Về nhân lực trong ngành hàng không nói chung và nguồn nhân lực phi công nói riêng cho đến nay ở nước ta mới chỉ có một số bài viết trên các trang Web Trong bài viết “Ngành hàng không Việt Nam đang tăng trưởng nóng 15-17%/ năm, từng bước hiện đại về mọi mặt” [52], đã nêu ra tình hình mua

và thuê những bay hiện đại của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), từ đó cần thiết phải có nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành hàng không

Trong bài viết “Ngành hàng không thế giới thiếu nhân sự” [62], đã viện dẫn kết quả nghiên cứu của ICAO về xu thế gia tăng về số lượng bay dân dụng hoạt động thương mại từ 61.883 bay năm 2010 lên 151.565 bay trong giai đoạn 2010-2030 và số chuyến bay sẽ tăng từ 26 triệu lên 52 triệu chuyến trong thời gian này Vì vậy, số phi công, nhân viên bảo dưỡng bay và nhân viên kiểm soát không lưu trên toàn cầu ít nhất phải tăng gấp đôi so với hiện nay Theo dự báo của ICAO, vào năm 2030, ngành hàng không dân dụng thế giới cần đào tạo ít nhất trên 2 triệu nhân viên hàng không chất lượng cao này, trong đó cần 980.799 phi công, 1.164.969 nhân viên bảo dưỡng và 139.796 nhân viên kiểm soát không lưu để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của ngành và bù vào số lượng lao động nghỉ hưu Do vậy, trung bình hằng năm ngành hàng không dân dụng thế giới cần đào tạo 52.506 phi công, 70.331 nhân viên bảo dưỡng và 8.718 nhân viên kiểm soát không lưu So với khả năng đào tạo hiện nay hằng năm, ngành còn thiếu 8.146 phi công, 36.000 nhân viên bảo dưỡng và 1.978 nhân viên kiểm soát không lưu Từ đó cần phải nhanh chóng tăng cường khả năng đào tạo, bù đắp tình trạng thiếu hụt nhân viên chất lượng cao của ngành hàng không dân dụng thế giới Để bảo đảm an toàn của hệ thống hàng không dân dụng toàn cầu, ICAO đang thúc đẩy mạnh mẽ những giải pháp hiệu quả nhất để tránh hậu quả của hiện trạng này, trong đó có chiến lược tuyển dụng, giáo dục, đào tạo và giữ chân các nhân viên hàng không chất lượng cao

Trong bài viết Trang Ami “Từ A đến Z về cuộc sống du học ngành phi công” [71] đã trình bày về khá cụ thể quá trình tuyển chọn học viên phi công ở nước ngoàivới bốn phần thi bao gồm Sức khỏe, IQ Toán Lí, Tiếng Anh, trong đó

Trang 29

phần kiểm tra sức khỏe vô cùng căng thẳng với tiêu chí rất cao về tiền đình và đặc biệt là về mắt để được tuyển chọn học phi công, ứng viên phải có mắt hoàn hảo, không dị tật Sau vòng tuyển chọn, các ứng viên còn phải chờ các trường quốc tế đến từ Pháp, Mỹ, Úc đến tuyển chọn sinh viên cho khóa học Thông thường, một khóa đào tạo phi công thương mại kéo dài khoảng 3 năm, chia làm hai giai đoạn: Phi công cơ bản ( bay 4 chỗ ngồi với yêu cầu khoảng 250 giờ bay) tại ESMA và chuyển loại trên các bay lớn (Airbus, Boeing) khi về nước Chi phí thuê bay được tính theo giờ (khoảng 150euros/giờ), vì thế riêng học phí cho giai đoạn học lái cơ bản đã tốn khoảng 70.000 euro Ngoài thực hành lái bay, học viên phi công còn bắt buộc học lý thuyết bay gồm 14 môn trong đó có Dẫn đường (Navigation), Khí tượng (Meteorology), Nguyên lý bay (Principes of flight), Liên lạc (Communication) hay môn Yếu tố con người (Human factors)

Bài viết “Nghề phi công ngày càng hấp dẫn đối với giới trẻ” [56] cho

rằng, phi công là một công việc thú vị, hấp dẫn và đáng mơ ước Với sự phát triển mạnh mẽ của Hàng không Việt Nam, nhu cầu cho ngành nghề này đang rất lớn Đây là một nghề danh giá trong xã hội vì môi trường làm việc và mức thu nhập được trả theo tiêu chuẩn quốc tế Hiện nay, ở nước ta, đội ngũ phi công của VietJetAir đang được điều hành bởi một cơ trưởng người Mỹ là các phi công đến từ 30 quốc gia khác nhau trên thế giới Và với xu thế hợp tác toàn cầu trong ngành hàng không như hiện nay, chỉ cần có chứng chỉ hành nghề tiêu chuẩn, bạn

có cơ hội làm việc tại tất cả các hãng hàng không danh giá trên thế giới

Bên cạnh đó còn có một số bài viết về ngành hàng không Việt Nam, trong đó có đề cập tới nhân lực hàng không như “Kinh nghiệm phát triển hàng không theo hướng “bầu trời mở” [14]; “Ngành hàng không Việt Nam: Một năm nhìn lại” [72] Những công trình này, khi phân tích về xu thế phát triển của ngành hàng không Việt Nam, đã chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của yếu tố nhân lực và bước đầu đã đề cập tới một số giải pháp phát triển nhân lực hàng không của Việt Nam trong những năm tới

Như trên đã trình bày, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước về nhân lực và nhân lực ngành hàng không, tuy nhiên, trên giác

Trang 30

độ kinh tế chính trị cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập toàn diện tới vấn đề nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng dưới tác động của sự phát triển khoa học công nghệ hàng không Do đó, vấn đề nghiên cứu sinh lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế chính trị không trùng lắp với các đề tài khoa học đã được công bố

1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC PHI CÔNG

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu lý luận đã được làm rõ và có thể

kế thừa trong nghiên cứu về nguồn nhân lực phi công

Từ kết quả nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố ở phần thứ nhất có thể khẳng định rằng, cho đến nay những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực đã được làm sáng tỏ bao gồm:

Thứ nhất, nguồn nhân lực là yếu tố đặc biệt quan trọng và nếu xem xét,

đánh giá một cách tổng thể trong một khoảng thời gian dài nó sẽ giữ vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và từng ngành kinh tế, trong đó có ngành hàng không dân dụng nói riêng

Thứ hai, đã làm sáng tỏ đặc thù của nguồn nhân lực so với các yếu tố

sản xuất khác thể hiện tính chủ động, sáng tạo của yếu tố con người trong quá trình lao động sản xuất Đặc biệt trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và việc nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả công nghệ mới phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực Chất lượng của nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp, ngành hàng và quốc gia dân tộc

Thứ ba, lao động của phi công là loại lao động đặc thù, phức tạp, không

chỉ là bội số của lao động giản đơn mà đòi hỏi phải có tri thức tổng hợp rộng, chuyên môn sâu và bản lĩnh chính trị, tính quyết đoán rất cao

Thứ tư, bước đầu chỉ ra tính quy luật của quá trình hình thành đội ngũ

lao động phi công cũng như sự vận động của thị trường lao động phi công với

tư cách là loại hình thị trường sức lao động đặc biệt Đối với nước ta, ngành

Trang 31

hàng không còn non trẻ, phi công thương mại cũng mới trở thành một nghề độc lập khoảng hai chục năm trở lại đây Là loại hình lao động đặc thù và thị trường sức lao động phi công mới ra đời nên sự phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam rất cần tới sự trợ giúp với vai trò là “bà đỡ” của Nhà nước

Thứ năm, quá trình đào tạo huấn luyện để có một phi công đòi hỏi thời

gian khá dài và chi phí rất tốn kém do đó nếu chỉ có sự quyết tâm, cố gắng của một chủ thể sẽ khó có thể thành công và hiệu quả kinh tế cao, cho dù đó

là Nhà nước, với tư cách, tư thế là chủ thể quản lý, phân bổ nhiều nguồn lực quan trọng của nền kinh tế cũng không thể tạo ra một thị trường phi công hoàn hảo Hiện nay, Tổng công ty Hàng không Việt Nam- Vietnam Airlines, với vị thế là Hãng hàng không quốc gia Việt Nam, hòa chung vào xu thế cổ phần hóa và cạnh tranh quyết liệt trên bầu trời quốc gia và quốc tế khi Nhà nước “mở cửa bầu trời” Trong xu thế đó ngân sách nhà nước, ngân sách của Hãng không thể “bao cấp” đào tạo, huấn luyện phi công làm xuất hiện phạm trù “xã hội hóa” đào tạo phi công Đó là quá trình Nhà nước, công ty và gia đình cùng lo, góp công, góp của để đào tạo phi công Quá trình đó mang tính quy luật khách quan Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu về hàng không, về phi công có đề cập với những cấp độ khác nhau về thị trường phi công, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào chỉ rõ được tính quy luật của nó, những cơ hội và thách thức khi tham gia thị trường vừa hấp dẫn, vừa rất khắc nghiệt này

1.2.2 Những khoảng trống về khoa học cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong luận án

Trong các công trình nghiên cứu đã được công bố, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề về nguồn nhân lực phi công nói chung và nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam nói riêng chưa được thật sự làm rõ, cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án Những vấn đề đó bao gồm:

Thứ nhất, tính đặc thù của nguồn nhân lực phi công trong mối quan hệ

so sánh với nguồn nhân lực ngành hàng không và các ngành khác của nền

Trang 32

kinh tế quốc dân, từ đó rút ra những yêu cầu chủ yếu về số lượng, chất lượng

và cơ cấu nhân lực để phát triển ngành hàng không theo hướng hiện đại phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, trong đó cần làm rõ mối quan hệ biện chứng nội tại trong tập thể phi công, đội bay, đoàn bay

Thứ hai, tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực phi

công của ngành hàng không trong hội nhập quốc tế, đặc biệt là sự phát triển của thị trường hàng không nói chung và thị trường phi công Một hãng hàng không mới ra đời không thể chờ đợi đào tạo phi công mới thuê, mua bay trái lại họ sẵn sàng bỏ tiền để thuê phi công, thuê máy bay để kinh doanh Nhiều hãng hàng không mới ra đời sẽ kích thích thị trường phi công phát triển, nhu cầu người lái ngày càn cao, thị trường càng khan hiếm

Thứ ba, cần đánh giá thực trạng nguồn nhân lực phi công của ngành

hàng không Việt Nam giai đoạn 2007- 2014, chỉ ra những thành tựu, hạn chế

và nguyên nhân, tạo căn cứ khoa học cho đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong tương lai

Thứ tư, đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực

phi công của ngành hàng không của Việt Nam thời gian tới Đối với một quốc gia như Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với địa hình trải dài hơn nghìn km thì việc hoạch định chiến lược phát triển ngành hàng không, cũng như chiến lược của từng hãng hàng không- doanh nghiêp kinh doanh vận tải hàng không phải tính toán tới nguồn nhân lực phi công là rất cần thiết, và rất cần tầm nhìn dài hạn với quan điểm đầu tư phát triển bền vững

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC PHI CÔNG CỦA NGÀNH HÀNG KHÔNG

TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGUỒN NHÂN LỰC PHI CÔNG

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực phi công

Để tiến hành hoạt động lao động sản xuất cần phải có các yếu tố cơ bản như sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động Trong đó, sức lao động

là yếu tố đặc biệt quan trọng nhất, bởi vì đó là yếu tố tích cực, năng động, sáng tạo, là nguồn lực có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất Theo C.Mác, “sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [42, tr.251]

Theo cách hiểu này, sức lao động không những là yếu tố cần có của sản xuất, mà còn phải phát triển phù hợp với trình độ của sản xuất Trong quá trình phát triển của sản xuất xã hội sức lao động không ngừng được hoàn thiện, phát triển Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường đã tạo ra những điều kiện mới cho sự phát triển của sức lao động So với những hàng hóa khác

là yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh, sức lao động ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn với tư cách là nguồn lực quan trọng - nguồn nhân lực (NNL) Nếu như trước đây, nguồn nhân lực chỉ đơn thuần được coi là phương tiện, là một trong số nguồn lực cho phát triển như các nguồn lực khác như tài lực, vật lực… thì ngày nay nguồn nhân lực còn được xác định là mục tiêu của sự phát triển Trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, trí tuệ con người ngày càng được đề cao, được đánh giá là nguồn lực vô tận, có tính quyết định đối với phát triển và tiến bộ xã hội Chính vì lẽ đó, nghiên cứu để xây dựng, phát triển NNL phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đã

và đang là vấn đề mà mọi quốc gia đều quan tâm đặc biệt

Cho đến nay, về nội hàm khái niệm NNL vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Thuyết lao động xã hội cho rằng, NNL theo nghĩa rộng là nguồn cung

Trang 34

cấp sức lao động cho sản xuất và cho sự phát triển xã hội, do đó bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (trừ những người bị dị tật) Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động thực tế của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động đang tham gia vào quá trình sản xuất xã hội

Theo thuyết về vốn con người, đầu tư hợp lý vào phát triển NNL sẽ mang lại nguồn lợi lớn hơn so với các nguồn lực khác như vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai

Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…do mọi cá nhân sở hữu Đầu

tư cho con người là cơ sở vững chắc cho phát triển bền vững Đầu tư vào giáo dục

có tỷ lệ thu hồi vốn cao so với các lĩnh vực khác: đối với tiểu học là 24%, trung học

là 17%, cao đẳng và đại học là 14%, các ngành sản xuất vật là 13% [44]

Theo Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, là nội lực xã hội của một quốc gia Việt Nam đang có NNL dồi dào, nếu biết khai thác hợp lý sẽ tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước…

Theo Nguyễn Ngọc Tú:

Khi nói tới nguồn nhân lực, trước hết cần phải hiểu đó là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ những người có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đó là yếu

tố chủ động của sản xuất, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng tới mục tiêu đã chọn Do vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng người lao động đã có và sẽ có, mà còn bao hàm tổng thể những năng lực lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc ) của những người lao động đó Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, theo nghĩa hẹp bao gồm những người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động Từ đó, nguồn nhân lực trước hết được phản ánh qua số lượng dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao

Trang 35

động cùng với cơ cấu và chất lượng của nó Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua nhiều tiêu chí như: thể lực, trí lực, phẩm chất, đạo đức, nhân cách, tác phong, truyền thống văn hóa của nguồn nhân lực; chỉ số phát triển con người (HDI); [74, tr.32]

Từ nghiên cứu, phân tích những quan điểm kể trên tác giả luận án cho rằng, khái niệm NNL phản ánh tổng thể sức lao động của xã hội, bao gồm

cả thể lực, trí lực thể hiện trình độ văn hoá, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc , có thể thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong từng điều kiện lịch sử cụ thể nhất định Về lượng, NNL tại từng thời điểm bao gồm toàn bộ những người đang hoặc sẽ có thể thu hút vào tham gia hoạt động lao động trong nền kinh

tế, trong đó thành phần quan trọng nhất là những người đang trong độ tuổi lao động và đang lao động

Theo sự phát triển của phân công lao động xã hội, các ngành kinh tế đã hình thành với tư cách là những lĩnh vực sản xuất được chuyên môn hóa Để phát triển từng ngành kinh tế rất cần có NNL phù hợp với tư cách là bộ phận đặc thù của NNL quốc gia Từ đó, có thể hiểu NNL của một ngành kinh tế là toàn bộ những người đang lao động và những người tương lai có khả năng thu hút vào tham gia lao động trong ngành đó, trong đó thành phần quan trọng nhất là những người làm việc

Ngành hàng không với tư cách là ngành kinh tế đặc thù cũng cần tới NNL đặc thù NNL ngành hàng không là bộ phận của NNL quốc gia có chức năng bảo đảm cung cấp sản phẩm dịch vụ về vận tải hàng không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội Với tư cách là yếu tố đầu vào của hoạt động của ngành hàng không, NNL ngành hàng không bao gồm tất cả những người đang tham gia và sẽ tham gia vào các hoạt động của ngành hàng không Ở Việt Nam, theo phương diện phân công lao động, NNL ngành hàng không bao gồm tất cả những người làm việc cho các cơ quan, tổ chức làm chức năng quản lý nhà nước

về hàng không và các doanh nghiệp thuộc ngành hàng không dân dụng được thành lập và hoạt động theo hệ thống pháp luật Việt Nam

Trang 36

Tiếp cận theo cơ cấu tổ chức trên cơ sở phân công lao động, NNL ngành hàng không Việt Nam bao gồm các NNL của cơ quan quản lý nhà nước về hàng không và NNL của các doanh nghiệp hàng không, cụ thể gồm:

- NNL của Cục Hàng không Việt Nam

- NNL của Các Cục, Vụ, Viện, Trường cơ quan trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, cán bộ, chuyên gia, chuyên viên thuộc Chính phủ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về hàng không

- Cán bộ, viên chức, người lao động của tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam

- Cán bộ, viên chức, người lao động của tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

- Cán bộ, viên chức và người lao động của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam - Vietnam Airlines và các hãng hàng không khác kể cả các đơn vị của quân đội nhưng làm nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hàng không dân dụng như Tổng công ty bay Miền Bắc thuộc bộ Quốc phòng, chuyên cung cấp dịch

vụ bay trực thăng cho Tập đoàn dầu khí quốc gia - PVN và các hoạt động khác có sử dụng máy bay theo luật Hàng không

Theo Đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực ngành Hàng không Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, được phê duyệt kèm theo Quyết định số 4375/QĐ-BGTVT ngày 27/12/2013 của Bộ trưởng Giao thông vận tải thì NNL ngành hàng không được hiểu và bao gồm những người được đào tạo một ngành, nghề hay một công việc để thực hiện nhiệm vụ công việc thuộc các lĩnh vực trong dây chuyền vận tải hàng không, bao gồm:

+ Cán bộ, công chức, viên chức thuộc Cục Hàng không Việt Nam, cảng vụ hàng không thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành hàng không

+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp hàng không

+ Đội ngũ nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ và tác nghiệp về hàng không

+ Đội ngũ nhân viên hàng không bao gồm những người hoạt động liên quan trực tiếp đến bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không, khai thác máy bay, vận chuyển hàng không, hoạt động bay, có giấy phép, chứng

chỉ chuyên môn phù hợp do Cục HKVN cấp hoặc công nhận

Trang 37

+ Đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo phục vụ trực tiếp cho yêu cầu phát triển của ngành hàng không Việt Nam

+ Các loại khác

Trong số nhân viên hàng không có đội ngũ lao động đặc thù, có chức năng, nhiệm vụ trực tiếp lái bay, đó là các phi công Phi công là những người trực tiếp chỉ huy, điều khiển bay trên các chuyến bay Ngày nay, người có thể trở thành phi công dân dụng phải có đầy đủ các loại loại chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận theo quy định của Luật Hàng không dân dụng

Từ những trình bày kể trên, có thể rút ra khái niệm nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không là bộ phận đặc thù của NNL ngành hàng không

có chức năng trực tiếp chỉ huy, điều khiển bay trên các chuyến bay dân dụng NNL phi công bao gồm không những toàn bộ những phi công dân dụng hiện

có, mà cả những phi công tiềm năng có thể thu hút, sử dụng vào quá trình phát triển ngành hàng không của một quốc gia dân tộc

2.1.2 Đặc điểm của nguồn nhân lực phi công trong hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế là quá trình, trong đó các nước tiến hành các hoạt

động tăng cường sự gắn kết lại với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Hội nhập quốc tế thực chất là hợp tác nhưng ở trình độ cao hơn, đáp ứng những đòi hỏi chặt chẽ hơn như gắn kết với nhau, chia sẻ với nhau lợi ích, nguồn lực, quyền lực; tuân thủ các quy tắc chung, luật chơi và chuẩn mực chung theo một quá trình phát triển liên tục từ thấp đến cao, với những hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực hoặc từng cơ chế hội nhập

Trong hội nhập quốc tế, với tư cách là bộ phận của NNL quốc gia và NNL ngành hàng không dân dụng, NNL phi công có đặc điểm chung là nguồn lực có tính chủ động sáng tạo nhất của hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời có những đặc điểm đặc thù xuất phát từ sự đặc thù của nghề phi công và yêu cầu đối với phi công theo chuẩn mực quốc tế Những đặc điểm đó bao gồm:

Trang 38

Thứ nhất, phi công là người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao theo chuẩn quốc tế Để thực hiện được chức năng nhiệm vụ của mình phi

công phải có tri thức tổng hợp về nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ Mỗi máy bay là một nhà phức tạp với hàng nghìn hệ thống và khoảng

43 triệu chi tiết, để làm chủ nó người lái phải có tri thức nhất định trên rất nhiều phương diện Có thể thống kê một số lĩnh vực:

+ Cân bằng tải và tài liệu chất xếp

+ Thời tiết, khí hậu, những vùng “hẫng”, những đám mây tích điện + Khí động học, động lực học, sức bền vật liệu

+ Tin học viễn thông

+ Luật Hàng không …

Ngày nay, việc thực hiện phân tích công việc người lái của các hãng hãng không những phải đáp ứng các quy định của Tổ chức Hàng không dân dụng thế giới, không chỉ là công cụ của công tác quản lý nguồn nhân lực mà còn hướng tới mục tiêu cao hơn là an toàn trong khai thác hàng không dân dụng Chức trách, nhiệm vụ và mối quan hệ cũng như các bản tiêu chuẩn thực hiện công việc, kỹ năng yêu cầu đối với người lái rất cụ thể, rõ ràng

Hoạt động phân tích công việc người lái của các hãng hàng không phải dựa trên các tài liệu của ICAO và quy chế JAR-OPS JAR-OPS là bộ tiêu chuẩn chung cho các nước khai thác vào châu Âu Tài liệu JAR-OPS được cơ quan hàng không dân dụng châu Âu với đội ngũ chuyên gia chuyên gia chuyên ngành hàng không nghiên cứu, tổng kết và cập nhật, điều chỉnh nên đảm bảo tính khoa học, hướng tới mục tiêu an toàn tuyệt đối trong khai thác hàng không Đây là bộ tiêu chuẩn cao, bắt buộc các nước bay vào châu Âu phải tuân thủ khi khai thác vào Châu Âu

Bên cạnh đó, phi công phải đạt chuẩn về kỹ thuật hàng không, có khả năng tiết kiệm nhiên liệu thông qua các biện pháp như hạn chế sử dụng động cơ phụ (APU saving); sử dụng cánh tà nhỏ khi cất cánh (Reduced Flap Takeoff); đảm bảo độ cao hợp lý khi tăng tốc cất cánh (Accelerration Altitute); tiếp cận ổn định

hạ cánh với tiếng ồn và lực cản nhỏ (Low Noice Low Drag Approach); áp dụng

Trang 39

vòng quay tối thiểu dùng để thổi ngược hạ cánh (Idle Reverse on Landing), cánh

tà nhỏ khi hạ cánh (Reduced Flap Landing), lăn vào bãi đậu bằng một động cơ (Single - Engine Taxi -in); kỹ năng lái và quản lý chuyến bay (Pilot Technique & Flight Management) Từng kỹ năng này đều phải được đào tạo, huấn luyện kỹ đối với người lái, hệ thống tài liệu được hoàn chỉnh từ chính sách đến quy trình thực hiện Khi chính thức đưa vào áp dụng là khi đã đủ các điều kiện đảm bảo an toàn tuyệt đối và đúng luật

Ngoài ra phi công phải thực hiện hành trình bay ngắn nhất để giảm chi phí nhiên liệu, giảm chi phí khấu hao (mỗi phút thuê bay A330 là 200 USD), giảm chi phí dịch vụ không lưu, dẫn đường, giảm chi tiền lương, tiền công, phụ cấp chi trả cho phi công, đặc biệt là phi công nước ngoài

Thứ hai, phi công trong hội nhập quốc tế là người lao động đa văn hóa, đa sắc tộc Trong quá trình làm việc, phi công là người thường được

được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán nhiều dân tộc trên thế giới Cho đến nay, tất cả phi công đều được đào tạo, huấn luyện tại ít nhất một trường nào đó trên thế giới, đều có mặt bằng kiến thức tối thiểu về hàng không và các lĩnh vực liên quan ngang nhau và cùng sử dụng chung ngôn ngữ tiếng Anh Mỗi chuyến bay, mỗi hành trình để hoàn thành mỗi nhiệm vụ cụ thể mỗi phi công sẽ được và phải tiếp cận nhiều nền văn hóa Đến với người Hồi giáo không được ăn thịt lợn, người Hinđu trân trọng bò, người châu Âu coi chó mèo là bạn

Trong đội ngũ phi công đang làm việc cho các hãng hàng không dân dụng trên thế giới, bên cạnh những phi công người bản xứ, có thể có phi công mang quốc tịch nước khác Một tổ lái có hai phi công mang hai quốc tịch là bình thường Sự tiếp xúc, trao đổi trong không gian buồng lái tạo điều kiện và đồng thời buộc mỗi thành viên phải bộc lộ nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau về văn hóa, tập quán Cùng lao động, cùng làm nhiệm vụ trên chuyến bay các phi công sẽ học hỏi lẫn nhau, tìm ra những nét tương đồng và bổ sung cho nhau những phần khiếm khuyết từ đó nâng cao trình độ chuyên môn và hội nhập sâu hơn vào nền văn minh nhân loại

Trang 40

Thứ ba, phi công trong hội nhập quốc tế phải thông thạo tiếng Anh và hiểu biết một số ngôn ngữ khác

Yêu cầu tối thiểu về ngoại ngữ đối với phi công hàng không dân dụng

nói chung là: Trình độ tiếng Anh đạt Level 4 trở lên, tương đương 600 Toeic;

nghe, nói, nhận thông tin, truyền đạt thông tin, khẩu lệnh đầy đủ rõ nghĩa, ít

có sự hiểu lầm; diễn đạt bằng tiếng Anh các thông số kỹ thuật, công nghệ chuyên sâu, chuyên ngành hàng không một cách đầy đủ, đúng quy định, quy trình của tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), Hiệp hội vận tải hàng không thế giới (IATA), Cục Hàng không Việt Nam (CAAV), liên minh hàng không SKY TEAM, Ngoài ra, tùy theo đường bay phi công còn phải hiểu biết thêm một số ngôn ngữ khác như Tiếng Trung quốc, Tiếng Nga, Tiếng Pháp…

Thứ tư, thể lực, trí lực của đội ngũ phi công tăng cao cùng quá trình hội nhập

Tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, yêu cầu về chiều cao, cân

nặng đối với phi công có thể khác nhau Tuy nhiên, theo sự phát triển của công nghệ hàng không, để đảm bảo điều khiển an toàn những bay với công nghệ ngày càng hiện đại, trí lực của phi công của mọi quốc gia phải ngày càng hoàn thiện theo hướng tốt hơn, thông minh hơn xét theo các chỉ số IQ; Chỉ số EQ; Chỉ số linh hoạt Khả năng xử trí các tình huống đúng đắn hơn trong các việc như quyết định tải trọng, số khách, số hàng hóa và hành trình bay, mực bay, các tình huống, sự cố khẩn nguy được quyết định này càng chính xác; thời gian ra các quyết định ngắn hơn (trước đây cần 10s, hiện nay chỉ cần 7s, để ra quyết định cùng loại 10 năm trước)

Để bảo đảm có đội ngũ phi công đủ tin cậy, đảm bảo an toàn cho các chuyến

bay, các hãng hàng không dân dụng đều có chế độ khám tuyển y tế chặt chẽ

2.1.3 Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực phi công trong hội nhập quốc tế

Với tư cách là nguồn nhân lực mang tính đặc thù cao so với các bộ phận khác của nguồn nhân lực quốc gia, để đánh giá về nguồn nhân lực phi công không những cần sử dụng những tiêu chí đánh giá chung về nguồn nhân lực, mà

Ngày đăng: 06/08/2015, 12:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2008), Giáo dục và Đào tạo - chìa khóa của sự phát triển, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Đào tạo - chìa khóa của sự phát triển
Tác giả: Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2008
3. Nguyễn Xuân Ba (2005), "Yêu cầu cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao khi Việt Nam gia nhập WTO", Tạp chí Lao động và Xã hội, (256+257) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao khi Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: Nguyễn Xuân Ba
Năm: 2005
4. C.Batal (2002), Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước
Tác giả: C.Batal
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
5. Thanh Bình (2015), CEO Vietjet Air: Chúng tôi tuyển phi công công khai, tại trang http://tintucvietnam.vn/ceo-vietjet-air-chung-toi-tuyen-phi-co ng-cong-khai.html, truy cập ngày 15/1/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CEO Vietjet Air: Chúng tôi tuyển phi công công khai
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 2015
6. Thanh Bình (2015), Phi công chê lương Vietnam Airlines thấp, tại trang http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/phi-cong-che-luong-vietnam-airlines-thap-3130212.html, truy cập ngày 12/1/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phi công chê lương Vietnam Airlines thấp
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 2015
7. Thanh Bình (2015), Tốn hàng tỷ đồng đào tạo một phi công, tại trang http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/ton-hang-ty-dong-dao-tao-mot-phi-cong-3133285.html, truy cập ngày 15/1/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tốn hàng tỷ đồng đào tạo một phi công
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 2015
8. Bushmarrin (2002), Trí tuệ hóa lao động ở các nước có nền kinh tế thị trường, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ hóa lao động ở các nước có nền kinh tế thị trường
Tác giả: Bushmarrin
Năm: 2002
11. Chu Văn Cấp (2006), Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 2006
12. Mai Quốc Chính (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Mai Quốc Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
13. Nguyễn Cúc (2005), 20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Cúc
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2005
14. Cục Hàng không Việt Nam (2012), Kinh nghiệm phát triển hàng không theo hướng “bầu trời mở”, tại trang http://www.caa.gov.vn/, truy cập ngày 7/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển hàng không theo hướng “bầu trời mở”
Tác giả: Cục Hàng không Việt Nam
Năm: 2012
15. Cục Hàng không Việt Nam (2013), Báo cáo về thực hiện nhiệm vụ các năm từ 2001 đến 2012 và phương hướng nhiệm vụ đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về thực hiện nhiệm vụ các năm từ 2001 đến 2012 và phương hướng nhiệm vụ đến năm 2030
Tác giả: Cục Hàng không Việt Nam
Năm: 2013
16. Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Minh Duyên (2008), Nhân lực dịch vụ hàng không: Vừa thiếu vừa yếu, tại trang http://pilot.vn, truy cập ngày 20/02/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân lực dịch vụ hàng không: Vừa thiếu vừa yếu
Tác giả: Minh Duyên
Năm: 2008
18. Phùng Lê Dung - Đỗ Hoàng Điệp (2009), "Phát triển nguồn lực dựa trên các chiến lược kinh tế", Tạp chí Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông, (2), tr.15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lực dựa trên các chiến lược kinh tế
Tác giả: Phùng Lê Dung - Đỗ Hoàng Điệp
Năm: 2009
19. Hồ Anh Dũng (2002), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (8), tr.21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Hồ Anh Dũng
Năm: 2002
20. Nguyễn Hữu Dũng (2002), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Lý luận chính trị, (8), tr.11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2002
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Số lượng phi công Việt Nam làm việc tại Tổng Công ty Hàng  không Việt Nam phân theo theo các loại hình máy bay giai đoạn - Luận án tiến sĩ kinh tế - Nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế [full]
Bảng 3.3. Số lượng phi công Việt Nam làm việc tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam phân theo theo các loại hình máy bay giai đoạn (Trang 80)
Bảng 3.5. Tỷ trọng phi công Việt Nam đang làm việc tại Tổng Công ty  Hàng không Việt Nam phân theo lái chính, lái phụ giai đoạn 2007 - 2013 - Luận án tiến sĩ kinh tế - Nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế [full]
Bảng 3.5. Tỷ trọng phi công Việt Nam đang làm việc tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam phân theo lái chính, lái phụ giai đoạn 2007 - 2013 (Trang 83)
Hình thức : mỗi thí sinh trả lời câu hỏi bốc thăm và phỏng vấn trực tiếp  trong vòng 15 - 20 phút - Luận án tiến sĩ kinh tế - Nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế [full]
Hình th ức : mỗi thí sinh trả lời câu hỏi bốc thăm và phỏng vấn trực tiếp trong vòng 15 - 20 phút (Trang 130)
BẢNG TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG PHI CÔNG CỦA VNA GIAI ĐOẠN 2007 -2013 - Luận án tiến sĩ kinh tế - Nguồn nhân lực phi công của ngành hàng không Việt Nam trong hội nhập quốc tế [full]
2007 2013 (Trang 178)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w