Luận án đánh giá thực trạng vai trò của tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước trên góc độ vi mô và vĩ mô của doanh nghiệp. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước.
Trang 4Tài chính, của tập thể lãnh đạo và các thầy cô Khoa Sau đại học, Khoa Tài chính DN, Bộ môn Tài chính DN - Học viện Tài chính, đặc biệt là công lao hướng dẫn tận tình, chu đáo của tập thể giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Tá và TS Trần Nguyên Nam Em xin được gửi tới các thầy, cô lời cảm ơn trân trọng nhất.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và những tư liệu quý báu được cung cấp từ các nhà quản lý DN, các cán bộ tại Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, ủng hộ và chia sẻ những khó khăn để tác giả hoàn thành tốt luận án.
Tác giả luận án
Trần Xuân Tú
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
Trang 8AFTA Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên
Thái Bình DươngSASAC Ủy ban giám sát và quản lý tài sản Nhà nước
Trung QuốcJICA Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
NFSC Ủy ban giám sát tài chính quốc gia
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư Nhà nước là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới trong lĩnh vực quản lý đối với DNNN, DN có vốn đầu tư Nhà nước, các Bộ, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố thực hiện đồng thời cả ba chức năng: quản lý Nhà nước về kinh tế, chủ quản cấp trên đối với DN và đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước đối với DN
Phương thức này dẫn tới những bất cập như: không tách bạch giữa chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng điều hành hoạt động kinh doanh của DN; đầu tư vốn vào DN dàn trải, manh mún, phần lớn DNNN, DN có vốn đầu tư Nhà nước có quy mô nhỏ, cơ cấu không hợp lý; quá trình sắp xếp DNNN, DN có vốn đầu tư Nhà nước chưa gắn với đổi mới cơ chế quản lý vốn, cổ phần hóa, sắp xếp DNNN chậm và chưa triệt để; chưa tập trung nguồn lực để xây dựng DNNN có tầm cỡ
Để khắc phục những bất cập trên, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã kết luận “Phải đẩy mạnh sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, kiên quyết chấm dứt tình trạng cơ quan hành chính Nhà nước can thiệt trực tiếp, cụ thể vào quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh của DN; phân định rõ quyền quản lý hành chính kinh tế của Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh của DN”
Qua nghiên cứu mô hình quản lý vốn Nhà nước tại mốt số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam; căn cứ vào các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, các các văn bản Luật do Quốc
Trang 10hội thông qua và thực tiễn quá trình đổi mới, sắp xếp DN ở Việt Nam, ngày 20/6/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg thành lập Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước và Quyết định 152/2005/QĐ-TTg ban hành Điều lệ và tổ chức hoạt động của Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước Sau một thời gian chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất và nhân sự, ngày 01/8/2006, Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) chính thức đi vào hoạt động Với tư cách là tổ chức kinh tế đặc biệt của Chính phủ, thực hiện hai chức năng chính: Một là tiếp nhận và đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, và hai là thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn vào các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động, mô hình quản lý vốn Nhà nước tập trung tại SCIC đã phát huy hiệu quả đối với các nguồn lực tài chính của Nhà nước đầu tư tại các DN, đồng thời góp phần quan trọng vào công tác sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN cũng như công tác tái cơ cấu
DN có vốn đầu tư Nhà nước Hiệu quả hoạt động của SCIC luôn đạt mức cao so với mức bình quân chung của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước
Không chỉ thực hiện tái cơ cấu phần vốn Nhà nước tại DN, SCIC còn đem lại các giá trị gia tăng cho DN trong danh mục quản lý thông qua việc giới thiệu các nhà đầu tư chiến lược, nâng cao năng lực quản trị, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, thông qua đó gia tăng giá trị của DN và phần vốn Nhà nước tại DN Trên thực tế, hầu hết các DN sau khi chuyển giao về SCIC đều đạt tốc độ tăng trưởng khá Chẳng hạn, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) lũy kế thu cổ tức về cho cổ đông Nhà nước đến nay đã đạt hơn 2.600 tỷ đồng (gấp hơn ba lần số vốn Nhà nước đầu tư ban đầu),
tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trung bình đạt hơn 40%/năm trong ba năm qua Công ty cổ phần Viễn thông FPT lũy kế đến nay đã thu
Trang 11cổ tức gần 500 tỷ đồng (gấp hơn 3 lần giá trị vốn Nhà nước đầu tư ban đầu), tỷ suất ROE trong ba năm qua trung bình đạt trên 70%/năm
Bên cạnh việc củng cố, tái cơ cấu các DN tiếp nhận, SCIC đã đẩy mạnh thoái vốn Nhà nước đang đầu tư ở những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ chi phối, tập trung nguồn vốn vào những lĩnh vực, ngành nghề quan trọng của nền kinh tế; Đánh giá về mô hình SCIC, Kết luận số 78-KL/TW ngày 26/7/2010, Bộ Chính trị đã chỉ đạo cần tiếp tục củng cố, phát huy mô hình này Nghị định số 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào DN đặt SCIC là Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ thành lập, là một trong 5 Tập đoàn, Tổng công ty đặc biệt có Điều lệ tổ chức và hoạt động do Chính phủ trực tiếp ban hành Tuy vậy, hiện nay nhiều vấn đề về cơ chế, chính sách liên quan đến
tổ chức, hoạt động, việc thực hiện ví trí, vai trò của SCIC còn nhiều vướng mắt Vấn đề đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao năng lực quản trị và tài chính để SCIC sớm trở thành một tổ chức đầu tư tài chính chuyên nghiệp của Chính phủ như mục tiêu ban đầu đặt ra; thực hiện tốt vai trò đại diện chủ sở hữu tại các DN nhận chuyển giao, đồng thời thực hiện tốt vai trò trong thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, tái cơ cấu tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước
Xuất phát từ những đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận
án tiến sỹ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu
về tái cấu trúc tài chính DN, tái cơ cấu DNNN, Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước Có thể khái quát các nghiên cứu đó như sau:
Trang 122.1 Các nghiên cứu về tái cấu trúc tài chính
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu đề xuất giải pháp tái cấu trúc tài chính được thể hiện trong các nghiên cứu:
- Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Tú (2006) "Đổi mới cơ
cấu vốn của các DNNN Việt Nam hiện nay"[12, nghiên cứu thực trạng cơ
cấu vốn của DN Nhà nước trong giai đoạn 2000 – 2005 trên cơ sở số liệu điều tra 375 DNNN tại Cục Tài chính DN, Bộ Tài chính Đánh giá những tồn tại trong cơ cấu vốn của các DN, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm cải thiện cơ cấu vốn của DNNN, trong đó, đưa ra ứng dụng xây dựng
cơ cấu vốn cho Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 1
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Hương Quỳnh (2009)[13]”Giải
pháp tái cơ cấu nguồn vốn của DNNN trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam"
đã thực hiện nghiên cứu về cơ cấu nguồn vốn của các DNNN trên 104 DNNN, thời gian nghiên cứu là 2005 – 2007 Trên cơ sở thực trạng những tồn tại trong cơ cấu nguồn vốn của các DN, tác giả đã đề xuất các quan điểm định hướng và giải pháp thiết thực để tái cơ cấu nguồn vốn các DNNN
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương (2009)[14]”Quản
lý vốn nhà nước tại DN sau cổ phần hóa" Luận án đã nghiên cứu những
vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế quản lý vấn nhà nước tại DN, thực trạng về
cổ phần hóa DNNN tại Việt Nam, trên cơ sở đó tái giả đề xuất giải pháp thực hiện quản lý vốn nhà nước tại DN sau cổ phần hóa
- Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thanh Hòa "Cơ chế quản lý vốn NN đầu tư tại DN ở Việt Nam" (2012)15], Mã LA.12.0474.3 đã hoàn
thiện cơ sở lý luận về cơ chế quản lý vốn NN tại DN Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng cơ chế quản lý vốn NN tại DN ở Việt Nam, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn NN tại DN ở Việt Nam
Trang 13- Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Ngọc Lan "Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam" (2014) [16] đã hoàn thiện cơ sở lý luận về
Tập đoàn và cấu trúc vốn của Tập đoàn Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng cấu trúc vốn tại Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, tác giả đã đề xuất những giải pháp cụ thể đặc biệt liên quan đến tái cấu trúc nợ và tái cấu trúc vốn chủ sở hữu tại Tập đoàn
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Thanh Thế, Viện Đại học Mở với đề
tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của SCIC” (2015)[17]
Tác giả trình bày những vấn đề cơ bản về lý luận về mô hình hoạt động của SCIC, đánh giá thực trạng hoạt động của SCIC trên các lĩnh vực quản lý, đầu tư kinh doanh vốn, tình hình tiếp nhận vốn, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hoạt động của SCIC trong thời gian tới
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Phương Mai “Giải pháp tái cấu trúc tài chính các DN trong ngành Thép ở Việt Nam” (2016) [18]đã hoàn thiện cơ
sở lý luận về cấu trúc tài chính, tái cấu trúc tài chính Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng cấu trúc tài chính các DN ngành Thép ở Việt Nam, tác giả đề xuất một hệ thống giải pháp cụ thể liên quan đến tái cấu trúc các khoản nợ của các DN ngành Thép ở Việt Nam
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Dương Thị Hồng Vân (Kinh tế quốc dân, năm 2014)[19] “Nghiên cứu các nhân tố tác động tới cơ cấu vốn của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố tác động cơ cấu vốn của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của PGS.TS Nguyễn Đăng Nam, Học viện tài chính (năm 2004) [20]về “Tái cơ cấu vốn nhằm tăng cường năng lực tài chính, làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của các DNNN”
- Đề tài nghiên cứu “Nguyên nhân chủ yếu phải tái cơ cấu nguồn vốn của DN”của TS Bạch Đức Hiển và TS Đoàn Hương Quỳnh (năm
2010)[21]
Trang 14- Đề tài nghiên cứu của PGS.TS Bùi Văn Vần và nhóm nghiên cứu
(2014) [22] về "Đổi mới cơ cấu tài chính của các DN may thuộc tập đoàn Dệt may Việt Nam" đã đánh giá thực trạng về cấu trúc tài chính và đưa ra
các giải pháp tái cấu trúc tài chính đối với các DN thuộc tập đoàn Dệt may Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu của PGS.TS Vũ Công Ty và nhóm nghiên cứu
(2012)[23] về "Tái cấu trúc tại các Tổng công ty xây dựng ở Việt Nam: bài học kinh nghiệm và giải pháp" đã luận giải khá kỹ càng về nội dung và các
chiến lược tái cấu trúc DN trong đó tái cấu trúc tài chính là một bộ phận quan trọng
- Đề tài nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Đăng Nam và nhóm nghiên
cứu (2014)[24] về "Các giải pháp xử lý nợ phải trả trong quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam" nghiên cứu sâu về khía cạnh tái cấu trúc các khoản
nợ phải trả- một bộ phận của tái cấu trúc tài chính từ đó đưa ra những đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý, tái cấu trúc các khoản nợ phải trả góp phần quan trọng trong thành công của quá trình tái cấu trúc các DNNN ở Việt Nam
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Các nghiên cứu về tái cấu trúc tài chính tại các nước phát triển thường gắn liền với những nghiên cứu về tái cấu trúc DN trong giai đoạn từ 1981-1989 và tiếp đến là giai đoạn 1999-2000 Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các làn sóng mua bán, sáp nhập trên thế giới Kết quả của những làn sóng mua bán sáp nhập DN, hình thành nên những tập đoàn lớn, các Công ty đa quốc gia kinh doanh đa ngành Tuy nhiên, một thực tế diễn ra tại Mỹ vào những năm 80 của thế kỷ 20 đó là rất nhiều các tập đoàn, các công ty đa ngành đã phải cắt giảm chiến lược đa dạng hóa của
họ để tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi với mục tiêu nâng cao khả năng sinh lời Các nghiên cứu của Lewis(1990) chỉ ra gần một nửa các công ty lớn của Mỹ đã thực hiện tái cấu trúc trong những năm 80 Kết luận
Trang 15này cũng trùng với công bố về tình hình tái cấu trúc được đăng tải trên tạp chí PhốWall (1985) có đến 398/850 (47%) các hãng lớn ở Bắc Mỹ tiến hành tái cấu trúc.
Các nghiên cứu về tái cấu trúc tài chính của Hoskisson, Johnson (2005) thống nhất quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu trước đó như Muller (1987), Markides 1995, Bowman and Singh (1993)[81] tái cấu trúc DN được cấu thành bởi ba bộ phận cơ bản là tái cấu trúc tài sản (asset restructuring), tái cấu trúc tài chính (financial restructuring) và tái cấu trúc hoạt động (operational restructuring) Các nghiên cứu đều khẳng định tái cấu trúc tài chính là một trong ba nội dung quan trọng thuộc về tái cấu trúc DN Bổ sung cho những quan điểm trên, Patrick A.Gaughan (2002) cho rằng tái cấu trúc tài chính không chỉ là một thành phần quan trọng gắn liền với các hoạt động tái cấu trúc DN Đây còn là một quyết định tài chính quan trọng, có thể thực hiện một cách độc lập khi xuất hiện những yếu kém trong cấu trúc tài chính
do ảnh hưởng bởi những nguyên nhân bên trong và bên ngoài DN
Phát triển trên những quan điểm về tái cấu trúc tài chính ở trên, tái cấu trúc tài chính của các DN trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế còn được tập trung làm rõ trong nghiên cứu của nhóm tác giả Michaecl Blatz, Karl-J.Kraus và Sascha Haghani (2006) Trong nghiên cứu này, tái cấu trúc tài chính được coi là một trong ba trụ cột cơ bản trong quá trình tái cấu trúc DN được thực hiện đồng thời với tái cấu trúc hoạt động và tái cấu trúc chiến lược Bằng việc nghiên cứu hoạt động tái cấu trúc của hơn 1.500 DN tại Đức sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế, các ông đã chỉ ra rằng tái cấu trúc tài chính là một trong những khâu then chốt, cùng với tái cấu trúc hoạt động và tái cấu trúc chiến lược có thể giúp các công ty vượt qua khủng hoảng và có khả năng tăng trưởng tốt hơn Cụ thể, sau tái cấu trúc tài chính các công ty
có khả năng đạt được mức tăng trưởng lợi nhuận vượt hơn 130% so với mức trung bình trên thị trường trong điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh
Trang 16Nghiên cứu của William P.Mako (2001), về tái cấu trúc tài chính các
DN tại Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, đã chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đòi hỏi phải tái cấu trúc khu vực DN của các nước này Một trong số đó là do cấu trúc tài chính của các DN kém bền vững trong điều kiện khủng hoảng, suy thoái vì
sử dụng nợ với mức độ cao Đây cũng là một đặc điểm khá tương đồng với điều kiện tái cấu trúc của các DN ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu cũng chỉ ra chiến lược tái cấu trúc trên ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Ngoài ra, nỗ lực từ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng,
sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính quốc tế là những yếu tố quyết định đến thành công của tái cấu trúc tài chính DN
* Những nghiên cứu trong nước và quốc tế của các tác giả nên trên
là đóng góp cần thiết để NCS bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận cũng như nghiên cứu bổ sung, đánh giá thực trạng của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước ở Việt Nam
2.2 Các nghiên cứu về Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
Việc xem xét các nghiên cứu có liên quan đến vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư Nhà nước cho thấy:
Thứ nhất, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến tái cấu trúc tài chính các DN, song các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở đối tượng các
DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hoặc một đối tượng DNNN cụ thể Chưa có nghiên cứu nào về vai trò SCIC trong tái cấu trúc tài chính các
DN có vốn đầu tư Nhà nước
Thứ hai, các nghiên cứu mới chỉ đề cập đến giải pháp tái cấu trúc tài chính cho một DN hay một nhóm ngành DN cụ thể Chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về tổng thể tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước trên góc độ vĩ mô
Trang 17Với những lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nâng cao vai trò của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam" có tính độc lập, không trùng lắp với bất kỳ công trình
nghiên cứu nào Những gợi ý về cơ sở lý luận và thực tiễn của các công trình nghiên cứu đã được đề cập được nghiên cứu sinh nghiên cứu, tiếp thu, thừa kế và phát triển trong luận án tiến sĩ của mình đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, phù hợp với các quy định hiện hành
3 Kết quả đạt được và những đóng góp mới của luận án
So sánh với những nghiên cứu trước đây, luận án đã có đóng góp nhất định về mặt khoa học và thực tiễn, đó là:
Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư Nhà nước
Thứ hai, nghiên cứu tái cấu trúc tài chính đặt trong mối quan hệ với
tái cấu trúc chiến lược và tái cấu trúc hoạt động của DN có vốn đầu tư Nhà nước Việc thực hiện đồng bộ ba mũi nhọn tái cấu trúc là điều kiện đảm bảo cho các DN có vốn đầu tư Nhà nước vượt qua những khó khăn đang phải đối mặt do ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng và suy thoái kinh tế cũng như áp lực về cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế, đồng thời nâng cao được vai trò của SCIC trong tái cấu trúc tài chính nói riêng và tái cấu trúc DN có vốn đầu tư Nhà nước nói chung
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng vai trò của SCIC trong hoạt động tái
cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước trên góc độ đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại DN và là nhà đầu tư chiến lược của Nhà nước Qua đó chỉ ra kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong việc phát huy vai trò của SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước
Trang 18Thứ tư, luận án đã đề xuất các giải pháp trực tiếp và các giải pháp
tạo tiền đề nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước Đề xuất các giải pháp điều kiện để đảm bảo thực hiện thành công vai trò của SCIC
Với các kết quả nghiên cứu đạt được, luận án đã góp thêm bằng chứng, bổ sung hoàn thiện lý thuyết vai trò của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu
tư Nhà nước Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra được thực trạng vai trò của SCIC trong tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư Nhà nước Điều này có ý nghĩa thiết thực đối với SCIC và Nhà nước trong việc nâng cao vai trò của SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước, thực hiện thành công chiến lược tái cấu trúc DNNN
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu tổng quát: Xây dựng cơ sở lý luận về vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước, trên cơ sở đó khảo sát, đánh giá thực trạng vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2006-2017 và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính đối với các DN
có vốn đầu tư nhà nước giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
- Thứ nhất, nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, những vấn đề lý luận cơ bản về tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước và vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư nhà nước
- Thứ hai, đánh giá thực trạng vai trò của SCIC trong hoạt động tái
cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước trên góc độ vi mô và vĩ
mô của DN
Trang 19- Thứ ba, đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Tổng quan về Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước? Những vấn đề cơ bản về tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư nhà nước? Vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư Nhà nước?
- Thực trạng vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước?
- Giải pháp nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Về không gian, luận án nghiên cứu vai trò và hoạt động của SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư Nhà nước mà SCIC đang nắm giữ
Về thời gian: luận án sử dụng số liệu dựa trên các báo cáo của SCIC
từ khi thành lập năm 2006 đến năm 2017 Đồng thời, luận án sử dụng số liệu báo cáo tài chính của các DN có vốn đầu tư Nhà nước mà SCIC đang nắm giữ trong giai đoạn nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu tình huống
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Luận án sử dụng tổng hợp các
phương pháp như diễn giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp, so sánh để mô tả
Trang 20số liệu thống kê về thực trạng của SCIC, các DN có vốn đầu tư nhà nước
do SCIC đang nắm giữ Nghiên cứu định tính được sử dụng để đánh giá các hoạt động của SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước do SCIC đang nắm giữ
-Phương pháp nghiên cứu tình huống: Luận án sử dụng phương
pháp nghiên cứu tình huống để thấy rõ vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước trên góc độ là Người đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại DN (Thông qua ví dụ SCIC tham gia tái cấu trúc tài chính Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex))
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
V m t khoa h c ề ặ ọ , luận án đã hệ thống hoá và làm rõ thêm cơ sở lý luận
về Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, những vấn đề cơ bản về tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nhà nước Luận
án cũng trình bày các quan điểm, nội dung, phương pháp, trình tự tiến hành
và các nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong quá trình tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước Đồng thời, luận án phân tích sâu, đánh giá vai trò của Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước Đây là tiền đề lý luận cần thiết để nghiên cứu thực trạng vai trò của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN
có vốn đầu tư nhà nước ở Việt Nam
V m t ề ặ th c ti n, ự ễ luận án đi sâu đánh giá thực trạng vai trò của SCIC
trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước trên hai góc độ vĩ mô và vi mô của DN Qua đó, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc phát huy vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước Đây là cơ sở thực tiễn để luận án đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước trong thời gian tới
Trang 218 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về vai trò của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng vai trò của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước ở Việt Nam.
Ngoài ra, luận án còn bao gồm hệ thống tài liệu tham khảo, danh mục các công trình đã công bố của tác giả, danh mục các bảng, biểu đồ, hình và phần phụ lục
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG TÁI CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NHÀ NƯỚC
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại DN
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại DN là một tổ chức tài chính do Nhà nước thành lập giúp Nhà nước thực hiện chức năng kinh
Trang 22doanh các nguồn vốn Nhà nước đầu tư vào DNNN và các DN thuộc các thành phần kinh tế khác.
Mục đích thành lập Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
Nhà nước với tư cách là chủ thể kinh tế - xã hội có quyền bỏ vốn đầu
tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Các phương thức đầu tư vốn có thể là tham gia cùng với các thành phần kinh tế khác thiết lập Công ty cổ phần hay Công ty TNHH để thực hiện kinh doanh theo pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu của mình Tùy theo mức độ đầu tư vốn mà chủ sở hữu Nhà nước có quyền chi phối hoặc không chi phối trong hoạt động quản trị Công ty Nếu Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn chủ sở hữu của DN thì Nhà nước có quyền kiểm soát đối với DN Nếu Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn chủ sở hữu của DN thì Nhà nước không có quyền kiểm soát đối với DN
Với tư cách là chủ sở hữu DN, Nhà nước là người tổ chức thực hiện chức năng của chủ sở hữu đối với vốn đầu tư của mình tại các DN Tuy nhiên, có một câu hỏi đặt ra “Ai là Nhà nước?” Đây là một vấn đề phức tạp
Về phương diện pháp luật, thông thường Chính phủ (Cơ quan hành pháp) thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư vào DN dưới sự giám sát của Quốc hội (Cơ quan lập pháp) Tuy nhiên, bản thân Chính phủ cũng không thể thực hiện chức năng này được, mà ủy quyền cho một đại diện chủ sở hữu để trực tiếp thực hiện các chức năng của chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư tại DN Do vậy, vì đặc điểm của chủ sở hữu Nhà nước khác với chủ sở hữu khác nên việc thực hiện các quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DN có vốn đầu tư Nhà nước luôn được thực hiện theo cơ chế
cử đại diện hoặc ủy quyền cho người đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước để thực hiện các quyền của chủ sở hữu Nhà nước trong quản lý, giám sát phần vốn Nhà nước đầu tư tại DN có vốn đầu tư Nhà nước Việc thành lập Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước nhằm mục đích:
Trang 23Một là: Chuyển đổi mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước và DNNN:
chuyển từ cơ chế bao cấp về vốn (cấp vốn không hoàn lại) sang hình thức đầu tư tài chính vào DN, cũng có nghĩa là công ty hoá quan hệ tài chính Nhà nước và DN, tách quyền sở hữu tài sản ra khỏi quyền sử dụng tài sản
ở DN có vốn đầu tư Nhà nước
Thứ hai: Chuyển việc quản lý DN có vốn của Nhà nước từ phương
thức hành chính hiện nay sang phương thức kinh doanh vốn phù hợp với
cơ chế thị trường, nhằm sử dụng có hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước đã đầu tư vào DN Đồng thời, việc thành lập loại Công ty này tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nhanh quá trình Công ty hoá DNNN Trên
cơ sở đó, bộ máy quản lý DN các cấp được tinh giảm, thực hiện mục tiêu xoá bỏ dần cơ chế Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản Theo mô hình
Bộ chủ quản, Chính phủ giao cho một Bộ trưởng đảm nhận trách nhiệm đứng tên phần vốn Nhà nước đầu tư tại DN Thông thường, Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan đến DN thực hiện chức năng này Hoặc Chính phủ cũng có thể giao cho hai Bộ trưởng cùng nắm vốn Nhà nước đầu tư tại DN, bao gồm Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng quản lý ngành Bộ trưởng sẽ trở thành người đứng tên cổ phần của Nhà nước Với
tư cách cổ đông của Công ty, Bộ trưởng tham gia vào hoạt động của Công
ty theo tỷ lệ số cổ phần Nhà nước tại Công ty Điểm mạnh của mô hình này
là phát huy được năng lực chuyên môn và thực hiện chính sách định hướng của Nhà nước một cách chủ động Tuy nhiên điểm yếu là mô hình này không tách rời được chức năng sở hữu ra khỏi chức năng quản lý Nhà nước Đồng thời, Bộ chủ quản thường can thiệp vào các công việc hàng ngày của DN Chính vì vậy, mô hình Công ty đầu tư và kinh doanh vốn sẽ giải quyết được hạn chế này
Thứ ba: Đảm bảo cho DN có vốn của Nhà nước thực sự có quyền
chủ động kinh doanh, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong cơ
Trang 24chế thị trường DN có vốn của Nhà nước có điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế.
Đặc điểm của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại DN.
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại DN có các đặc điểm
cơ bản sau:
- Chủ sở hữu Công ty là Nhà nước Là chủ sở hữu, Nhà nước có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều quan điểm khác nhau và chưa nhất quán về
sở hữu Nhà nước Khi bàn về vấn đề sở hữu Nhà nước, người ta thường
sử dụng nhiều tên gọi khác nhau nhưng có cùng một bản chất pháp lý: sở hữu toàn dân, sở hữu quốc gia, sở hữu hoàng gia, sở hữu chính phủ, sở hữu Nhà nước… Nhà nước là một hệ thống thể chế, trong đó, về mặt tổ chức hành chính, Nhà nước bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy khác nhau
Do đó, khi bàn tới Nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này rất khó xác định cụ thể như trường hợp của các chủ sở hữu là cá nhân và pháp nhân khác Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm và quy định cơ quan hành pháp (Chính phủ) thống nhất thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước trong kinh doanh, bao gồm vốn Nhà nước đầu tư tại DN Nhà nước giao quyền sử dụng vốn cho đại diện chủ
sở hữu Đại diện chủ sở hữu vốn thay mặt Nhà nước quản lý sử dụng số lượng vốn được giao
- Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước là DNNN Đây là DN
mà Nhà nước sở hữu 100% vốn Hoạt động đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại DN của Công ty sẽ phải tuân thủ theo pháp luật và sự định hướng của Nhà nước
- Công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, được Nhà nước giao vốn ban đầu và bổ sung trong quá trình hoạt động
- Chức năng của Công ty là kinh doanh vốn Nhà nước Điều này khẳng định mục đích đầu tư vốn vào DN của Nhà nước để đảm bảo đồng
Trang 25vốn không những được bảo toàn mà còn sinh lời, tạo thêm giá trị mới lớn hơn.
- Đối tượng hoạt động đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước của Công
ty là DN có vốn đầu tư Nhà nước, bao gồm:
+ DNNN: DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn chủ sở hữu
+ DN thuộc các thành phần kinh tế có phần vốn góp của Nhà nước như: Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh, DN có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.2 Mô hình Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
1.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước.
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước có chức năng thay mặt Nhà nước đầu tư và kinh doanh vốn mà Nhà nước đầu tư tại DN Để thực hiện chức năng này, Công ty có các nhiệm vụ sau:
- Công ty chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển số vốn được giao Trong quá trình hoạt động, Công ty được bổ sung vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn đã góp đối với Công ty và
DN mà Công ty đã đầu tư vốn
- Công ty lựa chọn và quyết định các lĩnh vực đầu tư, thực hiện giám sát và kiểm tra các hạng mục đầu tư quan trọng, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước Trên góc độ vĩ
mô, Nhà nước sẽ đưa ra các định hướng về lĩnh vực ngành nghề mà Nhà nước sẽ đầu tư 100% vốn Công ty sẽ phải căn cứ vào định hướng đầu tư của Nhà nước, đồng thời phải căn cứ vào thị trường để lựa chọn và quyết định đầu tư số vốn Nhà nước vào DN nào đảm bảo việc đầu tư đạt hiệu quả Đồng thời, dựa vào tỷ lệ sở hữu vốn của Công ty đang nắm giữ tại các
DN có vốn đầu tư Nhà nước, Công ty phải thực hiện giám sát và kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh của các Công ty này Việc giám sát hoạt
Trang 26động kinh doanh là một trong những chức năng của chủ sở hữu, nhằm đảm bảo việc đầu tư và sử dụng vốn của DN đạt hiệu quả cao
- Công ty thay mặt Nhà nước nắm giữ quyền chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư tại DN và các nguồn vốn khác của Nhà nước
- Thông qua việc thực hiện quyền sở hữu vốn để thực hiện việc điều chỉnh lại vốn Nhà nước một cách có hiệu quả, hợp lý, như rút bớt vốn ở những DN mà Nhà nước không cần đầu tư hoặc đầu tư không hiệu quả, đồng thời tăng thêm vốn Nhà nước đầu tư ở các ngành, lĩnh vực quan trọng, có khả năng sinh lời cao và phục vụ yêu cầu chung của quốc kế dân sinh
- Sử dụng các khoản thu nhập thu được từ việc đầu tư vốn của Nhà nước theo Điều lệ hoạt động và Quy chế tài chính của Công ty được Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Thông qua người đại diện được cử tới DN có vốn góp của Công ty
để quản lý vốn Nhà nước tại các DN, nhằm thực hiện bảo toàn vốn và phát triển vốn Nhà nước
1.1.2.2 Nguồn hình thành vốn của Công ty
Vốn của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước được hình thành từ 3 nguồn chính sau đây:
+ Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp ban đầu khi thành lập công ty
để đảm bảo cho Công ty có vốn hoạt động Trong quá trình hoạt động, khi cần thiết có thể được Nhà nước cấp bổ sung
+ Vốn Nhà nước giao cho các DNNN hiện đang hoạt động được chuyển sang cho Công ty đầu tư và kinh doanh vốn để thực hiện đầu tư, bao gồm các nguồn vốn sau:
- Vốn Nhà nước hiện có tại các DNNN độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương (không bao gồm vốn Nhà nước hiện có tại các DN công ích và
DN an ninh quốc phòng)
Trang 27- Vốn Nhà nước hiện có tại các Công ty đã được cổ phần hoá từ các DNNN độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương.
- Vốn Nhà nước tại các công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi từ DNNN độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương
+ Nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận mà công ty thu được (cổ tức được chia, lợi nhuận được chia, lợi tức khác ) từ hoạt động đầu tư vốn và các hoạt động kinh doanh khác của Công ty
Phạm vi hoạt động: Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước có
thể sử dụng các nguồn vốn nói trên để đầu tư vào các DN thuộc mọi thành phần kinh tế (trừ các DNNN hoạt động công ích và DNNN an ninh quốc phòng) Cụ thể:
+ Các DNNN có vốn Nhà nước đầu tư như: Công ty cổ phần được cổ phần hóa từ các DNNN độc lập thuộc các Bộ, ngành, địa phương (có vốn Nhà nước không chiếm cổ phần chi phối)
+ Công ty TNHH một thành viên (được chuyển đổi từ các DNNN độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương)
+ Các DNNN như: DNNN hoạt động độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương, kể cả các Công ty cổ phần từ các DNNN độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương có vốn Nhà nước chiếm cổ phần chi phối; các Tổng công ty Nhà nước và các DNNN thành viên Tổng công ty (trong trường hợp đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh)
+ Các DN khác (DN các thành phần kinh tế khác) chưa có vốn Nhà nước
1.1.2.3 Nội dung hoạt động của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước.
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước có nhiệm vụ quản lý
và đầu tư vốn Nhà nước một cách có hiệu quả vào các DN, quản lý vốn của Nhà nước đầu tư tại các DNNN sau khi thực hiện chuyển đổi sở hữu
và thực hiện các nhiệm vụ đầu tư khác mà Nhà nước giao cho
Trang 28Như vậy, Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước có chức năng thay mặt Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư tại
DN Công ty có quyền lựa chọn và quyết định các lĩnh vực đầu tư, thực hiện giám sát và kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có vốn đầu tư của Nhà nước thông qua người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước tại các DN Công ty sẽ thực hiện việc điều hoà (tăng, giảm) vốn Nhà nước đầu tư tại các DN một cách có hiệu quả, hợp lý Công ty còn có chức năng sử dụng các nguồn thu được từ việc đầu tư vốn của Nhà nước để hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ của mình Cụ thể nội dung hoạt động của Công ty như sau:
Hoạt động quản lý và đầu tư vốn
+ Quản lý vốn Nhà nước đang đầu tư tại các DN với mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý và sử dụng vốn Nhà nước tại DN, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN mà Nhà nước đang đầu tư vốn Nội dung quản lý vốn gồm quản lý kinh doanh (vốn lưu động, vốn cố định) và quản lý nguồn vốn kinh doanh của DN Để đạt được hiệu quả kinh doanh, trong từng thời kỳ hoạt động của Công ty, nhà quản lý thực hiện tái
cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước quản lý vốn Nhà nước hiện có tại các DNNN độc lập và DNNN
đã chuyển đổi thuộc các Bộ, Ngành, địa phương (bao gồm các DNNN độc lập thuộc các Bộ, Ngành, địa phương; các công ty đã được cổ phần hoá; công ty TNHH một thành viên đã được chuyển đổi) Với quyền đại diện chủ
sở hữu về vốn của mình, Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước được chủ động thực hiện việc quản lý vốn Nhà nước đang đầu tư tại DN Công ty thực hiện tái cơ cấu tài chính tại DN như tái cấu trúc tài sản, tái cấu trúc nguồn vốn của Công ty có vốn đầu tư Nhà nước Bên cạnh đó, công ty chủ động điều chỉnh lại vốn Nhà nước một cách có hiệu quả, hợp lý như rút bớt vốn ở những DNNN không cần đầu tư hoặc đầu tư không có hiệu quả, tăng thêm vốn Nhà nước đầu tư ở các ngành lĩnh vực quan trọng, có khả
Trang 29năng sinh lời Việc rút bớt hay thoái vốn Nhà nước đầu tư tại DN được thực hiện thông qua bán cổ phần Nhà nước cho các nhà đầu tư khác
+ Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để hình thành tài sản nhằm mục đích sinh lời Khi quyết định đầu tư Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước căn cứ vào mức độ sinh lời và rủi ro của khoản đầu tư Hình thức đầu tư vốn Nhà nước vào DN bao gồm: đầu tư vốn Nhà nước để thành lập DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đang hoạt động; đầu tư bổ sung vốn Nhà nước để tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; đầu tư vốn Nhà nước để mua lại một phần hoặc toàn bộ DN Bên cạnh quản lý số vốn Nhà nước đang đầu tư tại DN, Công ty đầu tư và
kinh doanh vốn Nhà nước được sử dụng số vốn hiện có của mình để đầu
tư thành lập các DN mới và đầu tư vào các DN khác (bao gồm DNNN độc
lập, DNNN thuộc các Tổng công ty và các DN thuộc các thành phần kinh
tế khác) và thực hiện các quyền về chủ sở hữu theo luật định
+ Thực hiện việc đầu tư vốn vào các lĩnh vực, ngành kinh tế quốc dân theo quyết định của Nhà nước: Trong trường hợp mà Nhà nước cần
đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực có tầm quan trọng chiến lược hoặc phục vụ mục đích công cộng thì Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước sẽ thực hiện việc đầu tư và quản lý vốn đầu tư đó theo chỉ định của Nhà nước
+ Ngoài ra, Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước còn có thể
tham gia thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động: Mua cổ phiếu
của các DN cổ phần hoá hay bán lại cổ phiếu ra thị trường chứng khoán; đối với các DN có quy mô nhỏ thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ
và không cổ phần hoá được thì tuỳ theo tình hình thực tế, công ty đầu tư
và kinh doanh vốn có thể tiến hành mua hoặc bán lại DN để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương án của Công ty
Trang 30Hoạt động đầu tư tài chính và kinh doanh khác
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước cũng có thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn về đầu tư tài chính, hợp tác lao động, liên kết hợp tác sản xuất kinh doanh với những DN khác theo luật định
Hoạt động thu chi và lợi nhuận
Nguồn thu của Công ty đầu tư tài chính Nhà nước từ các nguồn sau:
- Nguồn cổ tức được chia từ DN mà Công ty đầu tư vốn
- Nguồn thu từ các khoản đầu tư kinh doanh khác và các nguồn thu khác, như thanh lý nhượng bán tài sản
- Chi phí của Công ty bao gồm các khoản chi cho các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động kinh doanh khác của Công ty theo quy định của pháp luật
- Lợi nhuận của Công ty bao gồm:
+ Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính
+ Chênh lệch nguồn thu và chi phí của Công ty về hoạt động kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh bất thường, như thanh lý nhượng bán
- Lợi nhuận của Công ty dùng để đầu tư và phân phối các quỹ theo quy định của Nhà nước
- Công ty thực hiện các khoản thuế nộp ngân sách theo quy định của pháp luật
1.1.2.4 Tổ chức bộ máy của Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước.
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước là một pháp nhân đặc biệt được Chính phủ quyết định thành lập thông thường trực thuộc Chính phú hoặc trực thuộc Bộ Tài chính, đồng thời uỷ quyền cho Bộ Tài chính thực hiện quản lý và đầu tư trực tiếp, thực hiện quyền chủ sở hữu về số vốn Nhà nước đã đầu tư vào DN Tuỳ theo nhu cầu về vốn, Bộ trưởng Bộ
Trang 31Tài chính quyết định bộ máy tổ chức Công ty theo mô hình có Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát, Ban giám đốc và các Phòng, Ban chức năng.
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý DN, có toàn quyền nhân danh DN để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của DN không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông HĐQT bao gồm các thành viên HĐQT, Chủ tịch HĐQT Thành viên HĐQT là người được cổ đông bầu hoặc chỉ định
để thay mặt họ quản lý DN Theo thông lệ quốc tế, thành viên HĐQT được hiểu là một người có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến việc ra các quyết định HĐQT và Ban giám đốc thường tách biệt nhau về vai trò và chức năng
Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của các DN mà cơ cấu HĐQT có thể khác nhau Cơ cấu của HĐQT được đảm bảo sự cân đối giữa số lượng các thành viên tham gia điều hành DN và các thành viên không tham gia điều hành DN Trên thế giới, một số mô hình cấu trúc HĐQT thường được
áp dụng như sau: (i) HĐQT với phần lớn các thành viên tham gia điều hành; (ii) HĐQT với đa số các thành viên không tham gia điều hành; (iii) Hội đồng
cố vấn/HĐQT hai cấp
Một cơ cấu HĐQT phù hợp với DN này nhưng có thể lại không phù hợp với DN khác Do đó, hầu như không có một mô hình cấu trúc HĐQT hoàn hảo cho mọi DN
Ban Kiểm soát
Đây là bộ phận do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động của HĐQT, các thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Công ty nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông, những người
là chủ sở hữu của công ty Quyền lợi và trách nhiệm của Ban Kiểm soát được quy định cụ thể tại Luật DN và Điều lệ của công ty Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, các bảng tổng kết năm tài chính của Công ty và triệu tập đại hội cổ đông khi xét thấy cần thiết
Trang 32- Trình Đại hội đồng cổ đông khi báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính của Công ty.
- Báo cáo về những sự kiện tài chính bất thường xảy ra, về những
ưu, khuyết điểm trong quản lý tài chính của HĐQT, Ban Giám đốc (Tổng Giám đốc) và những người quản lý khác
- Kiểm soát viên được hưởng thù lao do đại hội đồng cổ đông quyết định và chịu trách nhiệm trước đại hội cổ đông về những sai phạm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ gây thiệt hại cho Công ty
Ban kiểm soát được hình thành nhằm bổ sung một cơ chế giám sát hoạt động của những người có trách nhiệm quản lý Công ty Ban Kiểm soát
do đó phải đảm bảo tính độc lập hoàn toàn với những cán bộ quản lý của Công ty
Giám đốc (Tổng giám đốc)
Ban Giám đốc của DN chịu trách nhiệm quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của Công ty Thành phần của Ban Giám đốc sẽ do các cổ đông sáng lập của Công ty lựa chọn HĐQT với vai trò đại diện cho các chủ sở hữu Công ty sẽ giám sát hoạt động quản lý của Ban Giám đốc
và lãnh đạo của nó (cụ thể là Tổng giám đốc/Giám đốc điều hành) Ban Giám đốc đóng vai trò quan trọng trong việc quản trị DN Trách nhiệm của Ban Giám đốc là thực hiện chiến lược tổ chức, xây dựng chính sách tổng thể, bổ nhiệm, giám sát và trả lương thưởng cho các cán bộ quản lý cấp cao và báo cáo hoạt động của DN cho các chủ sở hữu và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Tùy thuộc vào yêu cầu quản trị DN, các DN khác nhau có thể có Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Giám đốc/Tổng giám đốc điều hành DN theo quy định của pháp luật và theo điều lệ của DN, Nghị quyết của HĐQT và hợp đồng đã ký kết với DN
Nếu một cá nhân vừa là thành viên HĐQT, vừa là GĐ/TGĐ thì cần phải xác định rõ vị trí cụ thể của mình, từ đó xác định vai trò và trách nhiệm
cụ thể trên cả hai cương vị
Trang 33Nguyên tắc hoạt động của mô hình tổ chức
Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước thông thường được tổ chức theo mô hình và áp dụng các nguyên tắc quản trị theo thông lệ quốc
tế Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), các nguyên tắc quản trị DN bao gồm:
(1) Bảo đảm có cơ sở cho một khuôn khổ quản trị DN hiệu quả: khuôn khổ quản trị DN cần thúc đẩy một thị trường minh bạch và hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng khác nhau trong việc giám sát, quản lý và cưỡng chế thực hiện
(2) Bảo đảm các quyền của cổ đông: Cổ đông là người góp vốn tạo lập vốn điều lệ của Công ty, là chủ sở hữu Công ty, do đó quản trị DN phải bảo vệ trước hết quyền lợi của các cổ đông Các tổ chức phải tôn trọng các quyền của cổ đông và giúp cổ đông thực hiện các quyền đó Họ có thể giúp
cổ đông thực hiện quyền của mình bằng cách cung cấp các thông tin một cách dễ hiểu và dễ dàng tiếp cận và khuyến khích cổ đông tham gia các Đại hội cổ đông
(3) Bảo đảm đối xử công bằng giữa các cổ đông: khuôn khổ quản trị
DN phải đảm bảo tất cả các cổ đông được đối xử công bằng, kể cả cổ đông nắm giữ ít cổ phần và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại khi quyền của họ bị vi phạm
(4) Bảo đảm lợi ích của các bên liên quan khác: khuôn khổ quản trị
DN cần công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật quy định hoặc theo các thỏa thuận song phương; cần phải chỉ rõ các quyền của các bên liên quan theo quy định của pháp luật ngay khi DN thành lập
(5) Công khai và minh bạch thông tin: cần công bố công khai và chính xác các vấn đề liên quan đến DN, bao gồm tình trạng tài chính, sở hữu, tình hình điều hành DN Việc công khai các vấn đề tài sản của tổ chức
Trang 34cần được thực hiện kịp thời và công bằng để đảm bảo mọi nhà đầu tư được tiếp cận các thông tin thực tế và rõ ràng.
(6) Vai trò và trách nhiệm của HĐQT: khuôn khổ quản trị DN cần làm
rõ trách nhiệm của HĐQT đối với DN và các cổ đông trong việc đưa ra các định hướng chiến lược phát triển của DN và sự giám sát có hiệu quả của HĐQT.HĐQT cần có một loạt kỹ năng và hiểu biết để có thể giải quyết các vấn đề kinh doanh, có khả năng giám sát và thử thách hoạt động của Ban giám đốc HĐQT phải có quy mô thành viên hợp lý, phải cam kết hoàn thành các trách nhiệm và nhiệm vụ của mình
1.1.2.5 Mối quan hệ giữa Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước với Bộ Tài chính và với các cơ quan quản lý Nhà nước khác.
+ Với Bộ Tài chính: Bộ Tài chính thực hiện việc quản lý trực tiếp Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu vốn
đã đầu tư vốn vào Công ty Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch và các Uỷ viên của Hội đồng quản trị, trưởng Ban kiểm soát và Giám đốc của Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước Bộ Tài chính thông qua Điều
lệ hoạt động, giao vốn, cấp vốn ban đầu, bổ sung và hỗ trợ tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty Công ty chịu sự giám sát của
Bộ Tài chính; phải báo cáo với Bộ Tài chính chiến lược phát triển, kế hoạch hoạt động, các phương án đầu tư, báo cáo tài chính và kết quả kinh doanh đầu tư của Công ty
+ Với các cơ quan quản lý Nhà nước khác: Các cơ quan quản lý Nhà nước này thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với Công ty theo chuyên ngành và từng lĩnh vực như: xây dựng và ban hành chính sách chế độ chuyên ngành theo lĩnh vực quản lý; ban hành và quy định các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật; xây dựng chiến lược phát triển chung theo ngành kinh tế kỹ thuật; thanh tra kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật, chế
độ của Nhà nước đối với Công ty
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁI CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NHÀ NƯỚC.
Trang 351.2.1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước
Các quan niệm về doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu
ty cổ phần hay Công ty TNHH để thực hiện kinh doanh theo pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu của mình Trong nền kinh tế, do vị trí và vai trò của DN
có thể chịu ảnh hưởng bởi vị trí, vai trò và tính chất của chủ sở hữu, nên thông thường ở các nước có phân biệt DN có vốn đầu tư Nhà nước; DN tư
nhân; DN có vốn đầu tư nước ngoài
DN có vốn đầu tư Nhà nước là những cơ sở kinh tế do Nhà nước sở hữu một phần hoặc toàn bộ Quyền sở hữu thuộc về Nhà nước hay cơ bản thuộc về Nhà nước là đặc điểm quan trọng để phân biệt DN có vốn đầu tư Nhà nước với các loại hình DN khác trong nền kinh tế thị trường
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về DNNN ở các nước do cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, đa số các nước đều có điểm chung khi nói đến DNNN đó là vấn đề sở hữu Nhà nước
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO)
thì: DNNN là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước hoặc do Nhà nước kiểm soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch
vụ Theo quan niệm của UNIDO, DNNN bao hàm cả những DN mà Nhà
nước sở hữu 100% vốn và những DN mà Nhà nước chỉ sở hữu một bộ phận vốn, nhưng nắm quyền chi phối mọi hoạt động của DN
Nghiên cứu về DNNN cho thấy DNNN không chỉ là một bộ phận của kinh tế Nhà nước mà còn là một bộ phận của DN nói chung được hình thành và phát triển trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới Tuy
Trang 36nhiên, tiêu chí cụ thể để phân loại và nhận biết về DNNN của các nước lại rất khác nhau Ở mỗi nước trong các tiêu chí để phân biệt DNNN lại có sự nhấn mạnh khác nhau về tiêu chí này hoặc tiêu chí khác Theo định nghĩa
về DNNN của Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế thì DNNN phải có 3 tiêu chí sau:
- Chính phủ là cổ đông chính trong DN hoặc nếu không Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà DN theo đuổi và
bổ nhiệm hoặc cách chức Ban quản lý DN
- DN có nhiệm vụ sản xuất hàng hoá và dịch vụ cho công chúng, hoặc cho các DN tư nhân, DNNN khác
- DN phải tự chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Ở Việt Nam, quan niệm về DNNN đã được điều chỉnh nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu quản lý qua các giai đoạn phát triển của đất nước Có thể lược qua như sau:
Luật DN 2005: DNNN là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn
điều lệ.
Luật DN 2014 do Quốc hội khoá 13 ban hành ngày 26/11/2014 đã thu
hẹp phạm vi DNNN; theo đó: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu
100% vốn điều lệ”; đồng thời cũng chỉ rõ: DN có vốn đầu tư Nhà nước là
DN chỉ có một phần vốn đầu tư Nhà nước Như vậy, chỉ có các DN mà Nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ mới thuộc phạm trù DNNN; với các DN mà Nhà nước chỉ sở hữu một phần vốn điều lệ, không phân biệt là đa số hay thiểu số đều thuộc phạm trù DN có có vốn đầu tư Nhà nước Với các DN có vốn đầu tư Nhà nước, ngoài chủ sở hữu là Nhà nước còn có các chủ sở hữu khác – các đồng chủ sở hữu
Như vậy, có thể thấy mặc dù phương pháp diễn đạt có thể khác nhau, nhưng các quan niệm về DNNN, DN có vốn đầu tư Nhà nước có nội dung cơ bản là:
Trang 37- Là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập, hoạt động theo mục tiêu của chủ sở hữu Nhà nước Trong nền kinh tế, hình thức cụ thể của DN có vốn đầu tư Nhà nước được lập cũng giống như DN mọi thành phần kinh tế khác, gồm Công ty TNHH hay Công ty cổ phần
- DNNN có tư cách pháp nhân với đủ 4 yếu tố là: (i) là tổ chức được
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, đăng ký, công nhận một cách hợp pháp; (ii) có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (iii) có tài sản độc lập với Nhà nước và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của mình; (iv) có quyền nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Về mặt hình thức được biểu hiện: DN phải có tên gọi, địa chỉ, trụ sở chính; có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh phù hợp với giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp; có con dấu riêng và trong hoạt động kinh doanh có trách nhiệm nộp thuế cho Chính phủ
- Quy mô DNNN được lập có thể lớn hoặc nhỏ Ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới xác định DNNN gồm DN 100% vốn Nhà nước; và những DN có vốn Nhà nước góp có quyền chi phối (trên 50% vốn điều lệ DN)
- Chủ sở hữu của DNNN là Nhà nước Do Nhà nước là chủ sở hữu, nên Nhà nước có quyền kiểm soát, chế định các hoạt động của DNNN theo các mục tiêu của chủ sở hữu Tuy nhiên, kiểm soát và chế định của Nhà nước đến đâu là tuỳ thuộc vào tỷ lệ vốn của Nhà nước đầu tư vào DN Đối với DN 100% vốn Nhà nước, Nhà nước có toàn quyền về mọi mặt đối với
DN Đối với DN có vốn của Nhà nước và vốn nhiều chủ sở hữu khác, có 2 trường hợp xảy ra: Trường hợp tỷ lệ vốn Nhà nước thấp so với chủ sở hữu khác, Nhà nước không có quyền chi phối hoạt động của DN Trường hợp tỷ
lệ vốn Nhà nước chiếm tỷ trọng cao, tuy rằng có nhiều chủ sở hữu tham gia
để hình thành cơ chế quản lý chung, nhưng Nhà nước giữ quyền quyết định chi phối hoạt động của DN
Trang 38- Vốn Nhà nước đầu tư thành lập DN là vốn công, được lấy từ ngân sách Nhà nước Tài sản trong DNNN, DN có vốn đầu tư Nhà nước là một
bộ phận tài sản của Nhà nước Sau khi thành lập những DN này là một chủ thể kinh doanh Nhưng chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ có quyền quản lý và sử dụng trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nước, hay nói cách khác là có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sử dụng vốn và tài sản của danh nghiệp Đặc điểm này cho thấy DNNN phải có trách nhiệm trong việc bảo toàn và phát triển số vốn mà Nhà nước đầu tư vào
Đặc điểm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước
Về cơ bản DNNN và DN có vốn đầu tư Nhà nước có đầy đủ các đặc điểm như các DN khác trong nền kinh tế, như: có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh Điểm khác biệt giữa DNNN, DN có vốn đầu tư Nhà nước với các DN khác là chủ sở hữu vốn (một trong chủ sở hữu vốn) của DN là Nhà nước Chủ sở hữu Nhà nước có những đặc điểm khác biệt so với các chủ
sở hữu khác, thể hiện ở những điểm sau:
Một là, Nhà nước là một hệ thống phức tạp Nhà nước bao gồm nhiều cơ quan quản lý khác nhau, từ cấp Trung ương đến địa phương Rất khó có thể xác định cụ thể chủ thể sở hữu Nhà nước như các chủ sở hữu là
cá nhân hay pháp nhân khác Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm và quy định Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư tại DN Xét về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được Nhà nước uỷ quyền
Hai là, vấn đề thực hiện quyền của chủ sở hữu Nhà nước Do chủ thể sở hữu Nhà nước có nhiều cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương nên việc thực hiện quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn, tài sản Nhà nước, thu nhập từ tài sản Nhà nước thường được thực hiện thông qua các hình
Trang 39thức: bộ máy hành chính làm việc theo chế độ công chức, hoặc thông qua Công ty đầu tư kinh doanh vốn.
Ba là, tính chất đa mục tiêu trong đầu tư vốn vào DN của Nhà nước Hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu duy nhất trong việc đầu tư vốn vào
DN của Nhà nước Nhà nước đầu tư vốn vào các DN không chỉ có mục tiêu kinh tế mà còn nhằm các mục tiêu chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội Tính chất đa mục tiêu này đã dẫn tới sự phức tạp khi đánh giá hiệu quả của việc đầu tư, sử dụng vốn, tài sản của chủ sở hữu Nhà nước
1.2.2 Những vấn đề cơ bản về tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước
Mục tiêu hoạt động của các DN trong nền kinh tế là tối đa hóa giá trị
DN Để đạt được mục tiêu này, DN phải thực hiện nhiều biện pháp, trong đó lựa chọn một cấu trúc tài chính hợp lý là một biện pháp quan trọng Có nhiều quan niệm về tái cấu trúc tài chính DN
Trước hết ta xem xét các quan niệm về tái cấu trúc DN:
Ngô Trí Long 2011, cho rằng tái cấu trúc DN là quá trình tổ chức, sắp xếp lại DN nhằm tạo ra trạng thái tốt hơn cho DN để thực hiện những mục tiêu đề ra Mục tiêu chung của tái cấu trúc DN là đạt được một thể trạng tốt hơn cho DN để DN hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của DN Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, tái cấu trúc có thể chỉ nhằm mục tiêu đạt được sự cải thiện vận hành ở một mảng nào đó trong tổ chức DN
Một chương trình tái cấu trúc DN toàn diện sẽ bao trùm hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của DN Tái cấu trúc
DN cũng có thể được triển khai cục bộ tại một hay nhiều mảng của DN (tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất…) nhằm đạt mục tiêu là nâng cao thể trạng của bộ phận đó Một quá trình tái lập đúng nghĩa và trọn vẹn phải bao gồm ít nhất ba bước chính sau: Tư duy lại; Thiết kế lại; Xây dựng lại
Trang 40Như vậy, có thể nói tái cấu trúc là một phần của quá trình tái lập, chủ yếu chỉ đi vào mục tiêu nâng cao thể trạng của DN trên nền tảng hiện có, trong khi đầu ra của tái lập là giải pháp tốt nhất cho DN, bao gồm đích đúng, con đường đúng, phương tiện đúng dựa trên một nền tảng có thể hoàn toàn mới.
Hoàng Trần Hậu 2011, cho rằng tái cấu trúc DNNN chia ra làm 2 cấp độ: vĩ mô (khu vực DNNN) và cấp độ vi mô (từng DNNN)
Trên phương diện tái cấu trúc vĩ mô là tái cấu trúc cả hệ thống, được hiểu là quá trình điều chỉnh lại sở hữu, mô hình, cơ chế hoạt động, quản lý,
bố trí lại nguồn lực đối với DNNN cho từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế theo mục tiêu của Nhà nước Đó là quá trình làm mới để nâng cao hiệu quả kinh doanh, hiệu quả xã hội và sức mạnh cho DNNN Trên khía cạnh này, tái cấu trúc DNNN gồm: (i) tái cấu trúc sở hữu vốn bằng việc sáp nhập, mua bán vốn kể cả thành lập mới DNNN; (ii) quan hệ sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn: thống nhất quyền sở hữu, quản lý sử dụng vốn ở một đại diện sở hữu hay nhiều đại diện sở hữu của chủ sở hữu Nhà nước; (iii) tái cấu trúc đầu tư vốn của Nhà nước: Nhà nước có chiến lược đầu tư vào các lĩnh vực để tăng vốn Nhà nước khi cần thiết; (iv) tái cấu trúc mô hình hoạt động, quản trị: Nhà nước cần định ra mô hình quản trị DNNN bằng cách ban hành các bộ quy tắc quản trị cho DNNN; (v) tái cấu trúc quản lý Nhà nước trong đó đặc biệt là tái cấu trúc hệ thống giám sát DNNN
Trên phương diện vi mô, tái cấu trúc DNNN được tiến hành với những công việc điều chỉnh lại sở hữu, mô hình, cơ chế hoạt động, quản lý,
bố trí lại nguồn lực đối với từng DNNN Trên khía cạnh này, tái cấu trúc DNNN gồm: tái cấu trúc chiến lược, thể chế quản trị, mô hình, tái thiết lập chính sách quản trị tài chính, kế toán, quản trị sản xuất, kỹ thuật…
Các quan niệm về cấu trúc tài chính và tái cấu trúc tài chính:
Klayman 1994, cho rằng cấu trúc tài chính là sự kết hợp giữa vốn chủ
sở hữu và các khoản nợ phải trả Trong đó, nợ phải trả bao gồm nợ vay dài