Việc sử dụng những bài toán của chươngtrình đánh giá học sinh quốc tế Pisa thực sự là một phương pháp học tập, kiểm trađánh giá tiên tiến của thế giới, tiếp cận với mục tiêu đổi mới toàn
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN LINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2MỤC LỤC Trang
I Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 4
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 7
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 8
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 14
III Kết luận, kiến nghị 15
3.1 Kết luận 16
3.2 Kiến nghị 17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 3I.MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, trong sự phát triểnnhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệttrên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia trên thế giới Xu thế chung của thế giới khi bướcvào thế kỉ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ và cải cách giáo dục
Trước bối cảnh mà toàn nghành giáo dục nước ta đang chuẩn bị cho quá trìnhđổi mới toàn diện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015,
Bộ GD-ĐT chủ trương cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học vàkiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học.Qua thực tiễn dạy học môn Hóa học tại trường Trung học phổ thông và quá trìnhhọc tập, nghiên cứu sau đại học, là một giáo viên tôi rất quan tâm đến chủ trương đổimới toàn diện nền giáo dục của nước ta hiện nay Vì vậy, bản thân luôn tìm tòi, tra cứutài liệu, nghiên cứu, tìm hiểu xem đổi mới nền giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực
là như thế nào Và ngay lập tức, tôi đã bị cuốn hút, thích thú bởi các bài toán củachương trình đánh giá học sinh quốc tế Pisa (Programme for International StudentAssessment – Pisa)[3] Từ mục tiêu, cách tiếp cận đến giải quyết vấn đề của các bàitoán PISA rất mới mẻ, đặc biệt, hấp dẫn, đã dần hình thành trong tôi một câu trả lờithú vị về vấn đề mà bấy lâu mình quan tâm Việc sử dụng những bài toán của chươngtrình đánh giá học sinh quốc tế Pisa thực sự là một phương pháp học tập, kiểm trađánh giá tiên tiến của thế giới, tiếp cận với mục tiêu đổi mới toàn diện nền giáo dụctheo định hướng phát triển năng lực nước ta hiện nay Vậy, tại sao chúng ta khôngnghiên cứu, học tập xây dựng cho mình hệ thống bài tập tương tự chương trình Pisa để
sử dụng trong quá trình dạy và học hiện nay?
Từ những lý do đó, chúng tôi quyết tâm thực hiện hoàn thiện sáng kiến kinhnghiệm với nội dung “Thiết kế hệ thống bài tập hóa học theo hướng tiếp cận chương trình đánh giá học sinh quốc tế Pisa, cho chương halogen lớp 10 THPT”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Hiện nay đã có một số tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA như:
Trang 4- PGS.TS Cao Cự Giác: Đưa ra cách thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệmtrong dạy học Hóa học [4], [5] Xong mục đích đề tài này là tập trung thiết kế hệ thốngbài toán hóa học theo hướng tiếp cận chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Pisa)phù hợp với điều kiện giáo dục và định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở ViệtNam Góp phần cải tiến nội dung và công cụ kiểm tra đánh giá làm cho HS có hứngthú, say mê học tập môn Hóa học
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về xu thế đổi mới nền giáo dục theo định hướng phát triển năng lựchọc sinh, tìm hiểu chương trình đánh giá học sinh quốc tế Pisa Thiết kế hệ thống bàitập phần Halogen theo hướng tiếp cận PISA
- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần Halogen, theo hướngtiếp cận PISA để đánh giá học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT Lê VănLinh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra (phiếu điều tra)
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp xây dựng các bài toán theo mẫu
- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Đổi mới và đánh giá theo hướng tiếp cận với PISA
Việc đổi mới giáo dục trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ đạogiáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách và quanđiểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục trung học Việc đổi mới phương phápdạy học, kiểm tra đánh giá cần phù hợp với những định hướng đổi mới chung củachương trình giáo dục trung học phổ thông hiện nay
Mục tiêu của OECD là đánh giá năng lực học sinh , OECD quan niệm đánh giáphải vận dụng những kiến thức trong nhà trường để giải quyết các vấn đề liên quanđến thực tiễn Đề thi không hỏi theo kiểu 1+1=2 mà hỏi em có 5 nghìn đi chợ phải tínhtoán mua những gì để đủ được 5 nghìn đó[3]
Đó là hình thức đánh giá soi thấu toàn diện năng lực , động cơ, thái độ ngườihọc là hình thức đánh giá tiên tiến, và hết sức cần thiết cho mỗi quốc gia trên thế giới
2.1.2 Tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA
2.1.2.1 Lịch sử ra đời
Nhằm đáp ứng yêu cầu của các nước thành viên về thu thập và cung cấp các dữliệu có thể so sánh về kiến thức và kỹ năng của học sinh OECD (Tổ chức hợp tác vàphát triển kinh tế thế giới - Organization for Economic Cooperation and Development)
Trang 5đã bắt đầu chuẩn bị PISA vào khoảng giữa thập kỷ 90 Năm 1997 PISA đã chính thứcđược triển khai Cuộc khảo sát đầu tiên diễn ra trong năm 2000, các cuộc tiếp theo vàocác năm 2003; 2006; 2009 và kế hoạch sẽ là các cuộc điều tra trong các năm 2012,
2015 và những năm tiếp theo[3]
2.1.2.2 Khái niệm PISA
PISA là chữ viết tắt của "Programme for International Student Assessment Chương trình đánh giá học sinh quốc tế" do OECD khởi xướng và chỉ đạo
2.1.2.3 Đặc điểm của PISA
PISA nổi bật nhờ quy mô toàn cầu và tính chu kỳ Hiện đã có hơn 60 quốc giatham gia vào cuộc khảo sát có chu kỳ 3 năm 1 lần này để theo dõi tiến bộ của mìnhtrong phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản
Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá kiến thức và kỹ năngcủa học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia
2.1.2.4 Mục tiêu của PISA
Mục tiêu của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúcphần giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộcsống sau này ở mức độ nào Quy mô của PISA là rất lớn và có tính toàn cầu Mỗi chu
kì đánh giá tập trung vào một lĩnh vực chính Thời gian đánh giá dành cho lĩnh vựcchính chiếm khoảng 2/3 tổng thời gian của cả đề thi
Các lĩnh vực năng lực được đánh giá trong các kỳ PISA (mỗi kì có 1 lĩnh vực
được chọn là trọng tâm đánh giá)[3]
Năm 2000 Năm 2003 Năm 2006 Năm 2009 Năm 2012 Năm 2015 Đọc hiểu
Khoa học
Đọc hiểu
Làm toánKhoa học
Đọc hiểu
Làm toán
Khoa học
Đọc hiểuLàm toán
Khoa học
2.1.2.5 Đối tượng đánh giá của PISA
Học sinh trong độ tuổi 15 (được định nghĩa chính xác là từ 15 tuổi 3 tháng tới 16tuổi 2 tháng) đang theo học trong các nhà trường trung học
2.1.3.Đề thi và mã hóa trong PISA
Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sốngthực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của các em trong nhà trường,nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để học sinh thực hiện các thao tác về
tư duy, mà còn để học sinh ý thức về các vấn đề xã hội (như là sự nóng lên của Tráiđất, phân biệt giàu nghèo,…) Kiến thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồmcác câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu học sinh tự xây dựng nên đáp án củamình Chất liệu được sử dụng để xây dựng các câu hỏi này cũng đa dạng, ví dụ như:bài tập đọc hiểu của PISA có thể xây dựng trên bảng biểu, đồ thị, tranh, ảnh quảngcáo, văn bản, bài báo [3]
* Các kiểu câu hỏi được sử dụng:
Trang 6- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn (short response question).
- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài (khi chấm sẽ phải tách ra từng phần để chođiểm) (open- constructed response question)
Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời (dựa trên những trả lời có sẵn) (close constructed response question)
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (Multiple choice)
- Câu hỏi Có - Không, Đúng - Sai phức hợp (Yes - No, True - False)
* Các mức trả lời:
• Mức tối đa
• Mức chưa tối đa
• Mức không đạt
- Sử dụng các mức này thay cho khái niệm “Đúng” hay “không đúng”
- Một số câu hỏi không có câu trả lời “đúng” Hay nói đúng hơn, các câu trả lờiđược đánh giá dựa vào mức độ HS hiểu văn bản hoặc chủ đề trong câu hỏi
- “Mức tối đa” không nhất thiết chỉ là những câu trả lời hoàn hảo hoặc đúnghoàn toàn
- “Mức không đạt” không có nghĩa là hoàn toàn không đúng
Các câu trả lời còn lại sẽ được mã hoá bởi các chuyên gia Sau khi mã hoá xong
sẽ được nhập vào phần mềm OECD nhận dữ liệu và chuyển đổi thành điểm cho mỗiHS
Các nhãn thể hiện mức độ trả lời bao gồm: Mức đạt được tối đa cho mỗi câuhỏi và được quy ước gọi là “Mức đầy đủ”, mức “Mức không đạt” mô tả các câu trả lờikhông được chấp nhận và bỏ trống không trả lời Một số câu hỏi có thêm “Mức chưađầy đủ” cho những câu trả lời thỏa mãn một phần nào đó
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Những kết quả bước đầu của việc đổi mới phương pháp KT-ĐG theo hướng tiếp cận pisa.
*Đối với giáo viên:
- Đông đảo giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới PPDH Nhiềugiáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mớiđồng bộ PPDH và KT-ĐG
- Một số giáo viên đã vận dụng được các phương pháp KT-ĐG tích cựctrong dạy học, vận dụng được quy trình KT-ĐG mới nhất
Trang 72.2.2 Những mặt hạn chế của hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập theo hướng tiếp cận pisa ở trường THPT.
- Dù không hiểu nhiều về câu hỏi và bài tập trong kì thi PISA, song thực tếtrong quá trình dạy học đa số GV đều đã có sử dụng những dạng câu hỏi bài tập theo
tiếp cận PISA như đã nêu Tuy nhiên mức độ sử dụng còn ít, chưa đa dạng vàhiệu quả sử dụng chưa cao GV sử dụng phổ biến nhất vẫn là những câu hỏi giải thíchcác hiện tượng thực tiễn
- Những dạng bài tập liên quan đến những vấn đề thực tế của cá nhân và cộngđồng, những dạng bài tập phát huy năng lực, tư duy khoa học của HS đã được sử dụngnhưng còn rất hạn chế trong kiểm tra - đánh giá HS
- Chưa khai thác triệt để các ứng dụng của Hóa học trong thực tế và các vấn đềthực tiễn có liên quan đến kiến thức Hóa học vào nội dung bài tập nên tính thực tiễncủa môn học chưa cao
- GV ít để ý đến ý kiến cá nhân HS, HS lĩnh hội kiến thức còn bị động, phụthuộc nhiều vào giáo viên
2.3 Cơ sở và nguyên tắc thiết kế hệ thống bài tập tích hợp
Để thiết kế được một bài tập hay theo hướng tiếp Pisa, chúng ta phải thực hiệncác bước sau[3];[4]:
Bước 1 Xác định tên chủ đề bài tập: Tên chủ đề bài tập cho biết phần kiến thức
trọng tâm, xuyên suốt được đề cập đến trong bài tập
Bước 2 Xây dựng nội dung phần dẫn: Phần dẫn chứa đựng các nội dung, số
liệu (đáng tin cậy), hình ảnh có liên quan đến chủ đề của bài tập, liên quan đến các câuhỏi trong bài tập đó Phần dẫn phải được trình bày rõ ràng, mạch lạc, sinh động, dễhiểu và thực sự thiết thực cho việc trả lời các câu hỏi trong bài tập
Bước 3 Xây dựng các câu hỏi xoay quanh chủ đề bài tập, chủ yếu là các câu
hỏi liên quan thực tiễn, nhằm phát triển năng lực vận dụng của học sinh
Bước 4 Xây dựng hướng dẫn chấm Xây dựng hướng dẫn chấm theo 3 mức độ:
Mức đầy đủ; Mức chưa đầy đủ; Không đạt hoặc theo 2 mức độ: Mức đầy đủ; Khôngđạt Khác với bài tập trong kì thi Pisa, đáp án được mã hóa theo các mức độ, thì trongluận văn này, chúng tôi không mã hóa mà Việt hóa đáp án theo các mức độ để dễ dàng
áp dụng vào trong quá trình giảng dạy
Bước 5 Kiểm tra, chỉnh sửa bài tập về văn phong, nội dung, ngữ pháp…
2.3.1 Khái quát về chương Halogen
Bài 1: Khái quát về nhóm Halogen
Trang 8*Kiến thức Biết được.
- Vị trí nhóm halogen trong bảng tuần hoàn
- Sự biến đổi độ âm điện, bán kính nguyên tử và một số tính chất vật lí của cácnguyên tố trong nhóm
- Cấu hình lớp electron ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố halogen tương tựnhau Tính chất hoá học cơ bản của các nguyên tố halogen là tính oxi hoá mạnh
- Sự biến đổi tính chất hóa học của các đơn chất trong nhóm halogen
*Kĩ năng
- Viết được cấu hình lớp electron ngoài cùng của nguyên tử F, Cl, Br, I
- Dự đoán được tính chất hóa học cơ bản của halogen là tính oxi hóa mạnh dựavào cấu hình lớp electron ngoài cùng và một số tính chất khác của nguyên tử
- Viết được các PTHH chứng minh tính chất oxi hoá mạnh của các nguyên tốhalogen, quy luật biến đổi tính chất của các nguyên tố trong nhóm
- Tính thể tích hoặc khối lượng dung dịch chất tham gia hoặc tạo thành sau phảnứng
- Dự đoán, kiểm tra và kết luận được về tính chất hóa học cơ bản của clo
- Quan sát các thí nghiệm hoặc hình ảnh thí nghiệm rút ra nhận xét
- Viết các PTHH minh hoạ tính chất hoá học và điều chế clo
- Tính thể tích khí clo ở đktc tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
*Phát triển năng lực:
- Năng lực tính toán hóa học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học
Bài 3: Hiđro clorua - Axit clohiđric và muối clorua
Trang 9*Kĩ năng
- Dự đoán, kiểm tra dự đoán, kết luận được về tính chất của axit HCl
- Viết các PTHH chứng minh tính chất hoá học của axit HCl
- Phân biệt dung dịch HCl và muối clorua với dung dịch axit và muối khác
- Tính nồng độ hoặc thể tích của axit HCl tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
*Phát triển năng lực
- Năng lực tính toán hóa học
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học
- Năng lực thực hành hóa học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
Bài 4: Sơ lược về hợp chất có oxi của clo
*Kiến thức
Biết được: Thành phần hóa học, ứng dụng, nguyên tắc sản xuất.
Hiểu được: Tính oxi hóa mạnh của một số hợp chất có oxi của clo (nước Gia-ven,clorua vôi)
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học
- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
Bài 5: Flo, brom, iot.
- Dự đoán, kiểm tra và kết luận được tính chất hoá học cơ bản của flo, brom, iot
- Quan sát thí nghiệm, hình ảnh rút ra được nhận xét
- Viết được các PTHH chứng minh tính chất hoá học của flo, brom, iot và tính oxihóa giảm dần từ flo đến iot
- Tính khối lượng brom, iot và một số hợp chất tham gia hoặc tạo thành trongph.ứng
2.3.2 Một số ví dụ mẫu về cách xây dựng bài tập PISA
Dựa trên đặc điểm, hình thức những bài tập mà kì thi Pisa đã sử dụng, chúng tôi
đã tiến hành thiết kế hệ thống các bài tập tiếp cận Pisa nhằm phục vụ cho công tác dạyhọc theo định hướng phát triển năng lực học sinh
BÀI 1: NƯỚC MÁY
Trong các nhà máy cung cấp nước sinh hoạt thì khâu cuối cùng của việc xử línước là khử trùng nước Một trong các phương pháp khử trùng nước đang được dùng
Trang 10phổ biến ở nước ta là dùng khí Clo Lượng Clo được bơm vào nước trong bể tiếp xúctheo tỉ lệ 5 g/m3
Câu hỏi 1: Vì sao Clo trong nước có tính khử trùng, diệt khuẩn?
………
Câu hỏi 2: Clo là một khí độc Vì vậy, việc dùng nước máy chứa hàm lượng Clo vượt quá mức cho phép sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe Do đó, để dùng nước máy an toàn,
chúng ta cần phải
A Xả nước máy ra chậu, phơi 1 thời gian mới sử dụng
B Dùng ngay nước máy vừa mới ra khỏi vòi
C Xả nước máy vào xô, chậu và đậy kín
D Trộn nước máy với nước giếng rồi sử dụng
………
Câu hỏi 3: Nếu với dân số Hà Nội là 3 triệu, mỗi người dùng 200 lít nước/ngày,
thì các nhà máy cung cấp nước sinh hoạt cần dùng bao nhiêu kg Clo mỗi ngày cho việc
HClO sinh ra do phản ứng: Cl2 + H2O HCl + HClO
Mức chưa đầy đủ: Học sinh giải thích được do tính oxi hóa mạnh của nước Clo
mà chưa viết được quá trình sinh ra HClO
Không đạt: Giải thích sai hoặc không làm bài.
Mức đầy đủ: Tính toán đúng như sau:
Lượng nước cần dùng cho thành phố Hà Nội mỗi ngày là:
200 3.106 = 6.108 lít = 6.105 m3 Lượng khí Clo cần dùng là: 6.105 5 = 3.106 gam = 3.103 kg
Mức chưa đầy đủ: Công thức đúng nhưng kết quả sai do nhầm lẫn hoặc viết sai Không đạt: Lập công thức tính toán sai hoặc không làm bài.
* Nhận xét: Bài tập này hướng đến sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến
thức về khí Clo vào giải quyết các vấn đề cụ thể trong cuộc sống, năng lực quan sátcác vấn đề xung quanh, năng lực tìm kiếm thông tin , phát triển kĩ năng sống
BÀI 2: VŨ KHÍ HÓA HỌC
Tháng 4 năm 1915, vào một ngày trời râm mát, binh sĩ liên quân Anh- Pháp đang
đồn trú dưới chiến hào, chiến trường hoàn toàn yên tĩnh.Đột nhiên từ phía quân Đức,
Trang 11một vùng chất khí màu vàng lục như một màng yêu khí tràn tới theo gió bay về phíaquân Anh- Pháp Trong chiến hào vang lên tiếng ho, tiếng gào thét của các binh sĩ.
Đó là lần đầu tiên khí độc được sử dụng trong chiến tranh đại chiến, từ đó mở màn chocuộc chiến tranh hóa học.Thời gian gần đây từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 1 năm
2015 nhóm cực đoan Nhà nước Hồi giáo (IS) đã 3 lần sử dụng bom có chứa khí nàytrong các lần giao tranh tại Iraq
H
ình 1.1.Lính NATO đeo mặt nạ phòng độc Hình 1.2 Bom của phiến quân IS
Để đối phó với các loại vũ khí hóa học, các nhà khoa học phải tiến hành nghiên cứutrong thời gian dài và tìm ra được dụng cụ có khả năng phòng độc làm từ than hoạttính
Câu hỏi 1: Chất khí màu vàng lục đã tràn tới phía quân Anh- Pháp trong đoạn trích
mạng của con ngýời
2.Ðýợc liên hợp quốc cho phép các nýớc trên thế giới sử
dụng ðể bảo vệ ðộc lập tự do cho tổ quốc
3.Than hoạt tính dùng làm mặt nạ chống ðộc có tính oxi
hóa mạnh dễ phản ứng với tất cả các khí làm vũ khí hóa
học
Trang 12Câu hỏi 3: Hãy giải thích tác dụng của than hoạt tính trong khả năng chống độc Phân tích: - Bố cục của bài tập trên gồm 3 phần:
+ Tiêu đề( Vũ khí hóa học) tên của nó phải gắn liền với nội dung của đoạn trích, tên
nói lên một tình huống thực tiễn và gây chú ý cho người đọc
+ Phần dẫn: ‘‘Tháng 4 năm ….độc làm từ than hoạt tính’’, phần dẫn là một mẫu chuyện lịch sử mang tính thời sự chắc chắn sẽ làm cho học sinh hứng thú hơn trong học tập , kèm theo tranh ảnh lý thú đã kích thích lòng đam mê khám phá khoa học trong lòng học sinh Bằng việc tập trung trả lời các câu hỏi ngoài việc thu thập được kiến thức về còn giáo dục được tinh thần yêu chuộng hòa bình phản đối tội chiến tranh, tội ác khủng bố.
+ Câu hỏi:Tùy thuộc vào thời gian và kiến thức cần kiểm tra, GV có thể xây dựng phần câu hỏi là 1, 2,3… câu, và mức độ các câu hỏi nên xây dựng khó dần
- Câu trắc nghiệm khách quan trả lời ngắn tuy nhiên qua các phương án nhiễu học sinh cũng biết thêm các kiến thức khác.
- Kiến thức kiểm tra trong các câu hỏi trên là kiến thức mở, mức độ các câu hỏi từ dễ đến khó.Kiến thức kiểm tra không tính toán phức tạp , không kiểm tra sự thuộc bài, mà kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức Hs vào thực tiễn, đồng thời qua việc trả lời câu hỏi Gv có thể đánh giá được thái độ của học sinh.
- Câu hỏi có thể áp dụng để kiểm tra vấn đáp khi dạy bài Clo(Tiết 38-Hóa học 10), hoặc để kiểm tra bài cũ trong tiết 39 và sử dụng trong bài kiểm tra định kỳ chương Halogen.
HƯỚNG DẪN MÃ HÓA CHO BÀI 2
Phân tích:Xây dựng đáp án( Mã hóa cho một bài tập PISA) Giáo viên cần lưu ý một
số vấn đề sau:
-Thông thường câu trắc nghiệm khách quan chỉ có 2 mức: Mức đầy đủ (tương ứng mã 1) và mức không đạt(Mã 0: Trả lời sai, còn mã 9: không trả lời)
Trong quá trình cần đổi ra điểm thì mã 1 đúng bằng 1 lần số điểm của bài mà chúng
ta đem thay thế.Còn mã 0 và mã 9 đều không được điểm, tuy nhiên cả 2 mã này cho chúng ta đánh giá được vì sao học sinh trả lời sai hay vì sao học sinh lại không trả lời, qua đó chúng ta biết được thái độ người học để thay đổi phương pháp cho phù hợp.
- Các câu hỏi phức hợp đúng sai hay câu hỏi mở trả lời ngắn, trả lời dài thường có 3 mức.
Mức đầy đủ( Mã 2) Mức chưa đầy đủ(Mã 1) Mức không đạt( Mã 0 hoặc mã 9)
Khi đổi ra điểm: Mã bằng 1 lần số điểm của câu thay thế, mã 1 thường bằng 1 nữa số điểm của câu thay thế.(Mã 2 thường bằng 2 lần số điểm của câu trắc nghiệm , mã 1 bằng số điểm của câu trắc nghiệm trả lời đúng) Mã 0 và mã 9 đều không có điểm.
Có thể thay thế : “Mã 2”thành “1 điểm” , “mã 0, hay mã 9”thành “0 điểm”, tuy nhiên chúng ta nên giữ nguyên mã để trong tương lai học sinh quen dần với cách mã hóa theo chuẩn quốc tế.
Trang 13Câu hỏi 1: Câu hỏi trắc nghiệm khách quan kiểu đơn giản, mức độ 1.
Mức đầy đủ: Mã 1 Đáp án C
Mức không đạt: Mã 0: Câu trả lời sai ; Mã 9: không trả lời.
Câu hỏi 2: Câu hỏi Đúng/sai phức hợp, mức độ 2.
Mức đầy đủ: Mã 2 (1)Đ, (2)S, (3)S
Mức chưa đầy đủ: Mã 1: Trả lời đúng 2 ý
Mức không đạt: Mã 0: Câu trả lời 1 ý hoặc sai; Mã 9: không trả lời.
Câu hỏi 3: Câu hỏi mở trả lời ngắn, mức độ 3.
- Mức đầy đủ: Mã 2: HS trả lời đúng tác dụng của than hoạt tính:
Than hoạt tính được làm từ các vật liệu chứa nhiều các bon như gỗ vỏ dừa…đem đốt ởnhiệt độ cao trong điều kiện thiếu oxi để tạo thành than gỗ, qua quá trình xử lý than gỗtạo thành than hoạt tính
Than hoạt tính thường có dạng hạt nhỏ hoặc chất bột màu đen, có diện tích bềmặt rất lớn Khi than hoạt tính tiếp xúc với các các chất , do diện tích bề mặt lớn nênthan hoạt tính có thể hấp thụ trên bề mặt nhiều loại phân tử, hoặc có thể tác dụng vớichất độc ( thường là các chất oxi hóa mạnh ) để giảm thiểu hàm lượng chất độc
Mức chưa đầy đủ: Mã 1:Trả lời đúng một số ý nhưng chưa đầy đủ như ý trên.
Mức không đạt: Mã 0: Câu trả sai hoặc có cách hiểu lệch lạc; Mã 9: không trả lời
BÀI 3: IOT – NGUYÊN TỐ CẦN THIẾT CHO CUỘC SỐNG
Iot là một trong các nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự sống của nhiều sinh vật
Về mặt hóa học, iot ít hoạt động nhất và có
độ âm điện thấp nhất trong các halogen Iot được dùng nhiều trong y khoa, nhiếpảnh, thuốc nhuộm Giống như các halogen khác, iot thường tồn tại dưới dạng hợp chấttrong tự nhiên
Hình ảnh: Ứng dụng của Iot trong cuộc sống.
Câu hỏi 1 Iot có thể tác dụng với nhiều chất, tạo nên hợp chất có chứa iot Bên cạnh
đó, Iot cũng không phản ứng trực tiếp với một số chất Chất nào sau đây không phản
ứng trực tiếp với iot?
Trang 14A Hiđro B.Magie C Natri D oxi
………
Câu hỏi 2.Iot là nguyên tố vi lượng cần thiết cho con người Tại những vùng đất xabiển hoặc thiếu thức ăn có nguồn gốc từ đại dương, tình trạng thiếu iot có thể xảy ra vàgây nên những tác hại cho sức khỏe Hãy kể 2 bệnh do thiếu iot gây ra cho con
Muối iot là muối ăn có trộn thêm một lượng nhỏ
hợp chất của iot thường là KI hoặc KIO3 Đúng/Sai
Người già không nên dùng muối iot vì không tốt
Nên thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu
Về mùi vị, màu sắc muối iot không khác gì muối
………
Câu hỏi 4 Muối iot có thể dùng để ướp thịt cá, muối dưa cà, nêm thức ăn như muốithường Khi để ở không khí ẩm muối iot dễ bị hút ẩm, chảy rửa và mất hàm lượng iot.Vậy, nên bảo quản muối iot như thế nào là tốt nhất?
Câu hỏi 5 Trong thực tế, có nhiều loại muối thường (không chứa hoặc chứa rất ít
nguyên tố iot) nhưng vẫn dán nhãn là muối iot (thành phần chứa KI) để bán với giácao Để kiểm tra muối đang dùng có phải là muối iot không, bạn Phương đề xuất cáchlàm đơn giản như sau: hòa tan 1 lượng muối vào nước, vắt nước chanh (hoặc giấm,khế…) vào dung dịch muối đó Khuấy đều một thời gian, sau đó cho 1 ít hồ tinh bộtvào, nếu dung dịch có màu xanh thì kết luận trong muối đó có nguyên tố iot, cònkhông có hiện tượng gì thì kết luận đó không phải là muối iot
Em có đồng ý với cách làm mà bạn Phương đề xuất hay không? Vì sao?
Mức chưa đầy đủ: Nêu được 1 bệnh gây ra do thiếu iot.
Không đạt: Không nêu được đúng bệnh nào hoặc không làm bài.
Câu hỏi 3
Mức đầy đủ : Khoanh tròn đúng theo thứ tự : Đúng, Sai, Đúng, Đúng.
Trang 15Không đạt: Đáp án khác hoặc không làm bài.
Câu hỏi 4
Mức đầy đủ:
- Nên bỏ muối vào trong lọ có nắp đậy (hoặc túi nilong buộc kắn)
- Không để muối iot gần bếp lửa nóng hay nơi có ánh nắng chiếu vào vì hợpchất của iot kém bền ở nhiệt độ cao, phân hủy làm mất iot
Mức chưa đầy đủ: Nêu được 1 ý trong 2 ý trên.
Không đạt: Không nêu được ý nào hoặc không làm bài.
Câu hỏi 5
Mức đầy đủ:
- Đồng ý với phương pháp của bạn Phương
- Vì trong môi trường axit xảy ra phản ứng sau:
O2 + 4H+ + 4I- → 2I2 + 2H2OI2 sinh ra kết hợp với hồ tinh bột tạo hợp chất có màu xanh
Mức chưa đầy đủ: Đồng ý với bạn Phương nhưng chưa giải thắch được.
Không đạt: Không đồng ý với bạn và cho rằng cách làm của bạn Phương không
kiểm tra được muối iot hoặc không làm bài
* Nhận xét: Bài tập này hướng đến sự hình thành và phát triển năng lực vận dụng
kiến thức về iot vào thực tiễn, năng lực phê phán và phát triển kĩ năng sống cho học sinh
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trýờng
Sáng kiến kinh nghiệm là một phần kinh nghiệm của bản thân tôi đýợc rút ra trong
quá trình tự học, tự bồi và thông qua tài liệu tập huấn, Internet, và sự góp ý xây dựng
từ các đồng nghiệp đã tạo ra một đõn vị kiến thức nhỏ mặc dù chýa đýợc hoàn thiệnmột cách tốt nhất, nhýng cũng là tài liệu tham khảo dùng để kiểm tra, đánh giá họcsinh khối 10 trýờng THPT Lê Vãn Linh Huyện Thọ Xuân, và cũng là tý liệu để cácđồng nghiệp tham khảo một cách có hiệu quả
III KẾT LUẬN.
3.1 Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm đạt được
- Sáng kiến kinh nghiệm này tuy chỉ là một đề tài nhỏ bé của tôi nhưng đây cũng làphần nghiên cứu của tôi trong suốt học kì 1 năm học 2016 - 2017 và được áp dụng chomột số chương ở học kì 2 (cùng năm học)
- Đã xây dựng được 6 bài tập hóa học theo dạng mã hóa Ờ và phát triển năng lựccho HS
- Đã đưa dạng bài tập này sử dụng vào giảng dạy ở chương trình chắnh khóa lớp 10theo nội dung sách giáo khoa hóa học mới ban cơ bản và nâng cao
- Trong thời gian thử nghiệm năm học 2016 Ờ 2017 tôi đã thu được những kết quảnhất định, được thể hiện thông qua các Lớp 10A, 10B, 10E trường THPT Lê Văn Linhnhư sau: (Bài kiểm tra 15 phút - 10 câu trắc nghiệm và bài kiểm tra 45 phút với cả trắcnghiệm và tcar tự luận).Sau đây là số liệu ghi nhận lại từ các lần kiểm tra
* khi chưa sử dụng sáng kiến kinh nghiệm
Kiểm tra lần 1 ở học kì 1 (Bài 15 phút thứ nhất học kì 1)
Trang 16Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
Lớp Số bàiTổng 8.0 – 10.0SL % SL6,5 – 7,9% SL5.0 – 6.4% SL3.5 – 4.9% SL0.0 – 3.4%10A 40 6 15.0 8 20.0 11 27.5 10 25.0 5 12.5
10E 43 6 14.0 5 11.6 14 32.6 10 23.2 8 18.6Tổng 127 21 16.4 19 15.0 34 26.8 34 26.8 19 15.0
Kiểm tra lần 2 ở học kì 1 (Cột 15 phút thứ hai học kì 1)
Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
Tổng hợp sau 2 lần kiểm tra chưa áp dung sáng kiến kinh nghiệm
Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)
Kiểm tra lần 2 ở học kì 2 (Bài 15 phút thứ hai học kì 2)
Đối tượng Kết quả kiểm tra (điểm số bài kiểm tra)