Trong quá trình giảng dạy môn Toán, cùng với nhiệm vụ trang bị tri thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh thì giáo viên có thể phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh bằng nhiều cách khác
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học
ThS PHẠM HUYỀN TRANG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo: ThS Phạm Huyền
Trang - Người cô đã luôn tận tâm tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em
đưa ra cho em những lời khuyên bổ ích để em có thể hoàn thành được đề tài khóa luận này
Bên cạnh đó, em cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người cô, người thầy trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nói chung và trong Khoa Giáo dục Tiểu học nói riêng, những người lái đò đã luôn dốc hết nhiệt huyết của mình truyền cho chúng em những tri thức, kinh nghiệm, truyền cho chúng em tình yêu với nghề, những người luôn luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để giúp em có thể hoàn thành được khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, luôn bên cạnh làm điểm tựa, động viên em trong những lúc em gặp khó khăn
Và cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Tích Sơn đã giúp đỡ em để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Vũ Thị Luyện
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận: “Thiết kế hệ thống bài tập Toán học nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1” là kết quả mà tôi
trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của cô giáo – ThS
Phạm Huyền Trang
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có tham khảo một số tài liệu, sách báo, các công trình nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu của mình và những tài liệu đó đều được trích dẫn đầy đủ trong danh mục Tài liệu tham khảo
Tôi xin cam đoan khóa luận này là thành quả mà tôi nỗ lực làm việc, nghiên cứu trong một thời gian dài Nó là đề tài nghiên cứu của riêng tôi không giống với đề tài nghiên cứu của bất kì tác giả nào đã được công bố trước đó
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Vũ Thị Luyện
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Tư duy 4
1.1.1 Các quan điểm về tư duy 4
1.1.2 Đặc điểm của tư duy 5
1.1.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy 7
1.1.4 Các thao tác tư duy 9
1.2 Tư duy sáng tạo 10
1.2.1 Khái niệm tư duy sáng tạo 10
1.2.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo 13
1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 15
1.3.1 Nhận thức cảm tính 16
1.3.2 Nhận thức lý tính 16
1.4 Nội dung dạy học môn Toán lớp 1 19
1.5 Thực trạng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1 23
1.5.1 Mục đích khảo sát 23
1.5.2 Đối tượng khảo sát 23
1.5.3 Phương pháp khảo sát 23
Trang 71.5.4 Kết quả khảo sát 23
1.5.4.1 Nhận thức của GV về TDST và vấn đề dạy học phát triển TDST cho HS lớp 1 24
1.5.4.2 Nhận thức của HS lớp 1 về TDST 26
Kết luận chương 1 28
Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP 30
2.1 Nguyên tắc thiết kế 30
2.1.1 Thiết kế hệ thống các bài tập gắn với chương trình môn Toán 30
2.1.2 Thiết kế hệ thống các bài tập gắn với trình độ phát triển nhận thức của học sinh tiểu học 31
2.1.3 Thiết kế hệ thống các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp 31
2.1.4 Thiết kế hệ thống các bài tập gắn với nguyên tắc đồng tâm 32
2.2 Hệ thống bài tập 33
Kết luận chương 2 53
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, từ các bậc hiền triết cho đến các nhà giáo dục đều khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đất nước đang ngày càng phát triển đòi hỏi giáo dục phải đào tạo ra được nguồn nhân lực có trình độ, năng động, sáng tạo và không ngừng sáng tạo để phục vụ ngày càng tốt hơn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong tiến trình đổi mới ấy,
tư duy sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng Tư duy sáng tạo là phẩm chất trí tuệ quan trọng nhất của con người hiện đại, là điều kiện tiên quyết giúp cho việc học tập và tiếp thu tri thức của trẻ trở lên tốt hơn Nó giúp trẻ có
bộ óc thông minh, tỉnh táo để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết được những vấn đề khó khăn, phức tạp trong học tập và trong cuộc sống một cách dễ dàng hơn Chính vì vậy, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là việc làm hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và giúp các em hoàn thiện nhân cách sau này
Đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng thì nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong dạy học hiện nay là phát triển tư duy sáng tạo Và một trong những môn học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là môn Toán Trong quá trình giảng dạy môn Toán, cùng với nhiệm vụ trang bị tri thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh thì giáo viên có thể phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh bằng nhiều cách khác nhau thông qua hệ thống bài tập đa dạng, phong phú Với hệ thống bài tập ấy, học sinh sẽ tích cực suy nghĩ, tư duy để có được những cách giải hay và chính xác nhất Các em sẽ có cơ hội được bộc lộ năng lực toán học của bản thân thông qua việc giải các bài tập
Trên thực tế, phần lớn giáo viên Tiểu học cho rằng hệ thống các bài tập toán được xây dựng cho học sinh ở lớp 1 hiện nay chưa thực sự phát huy được
Trang 9tối đa tư duy sáng tạo của các em Các bài tập được xây dựng vẫn chú trọng đến việc giúp các em nắm được những kiến thức cơ bản, nền tảng hơn là phát triển tư duy sáng tạo Bên cạnh đó, có nhiều học sinh còn gặp khó khăn và bộc lộ những hạn chế về năng lực tư duy sáng tạo của mình khi thực hiện giải các bài tập Vì vậy, việc thiết kế hệ thống các bài tập nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là một yêu cầu cấp thiết Xuất phát từ những lí do trên,
chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Thiết kế hệ thống bài tập toán học nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập toán nhằm góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1 từ đó nâng cao chất lượng học tập
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Bài tập toán lớp 1 nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
– Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học toán ở lớp 1
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập toán theo định hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, đồng thời đảm bảo được các nguyên tắc thiết kế cơ bản thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả dạy học toán ở lớp 1 hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc thiết kế hệ thống bài tập toán nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1
– Khảo sát thực trạng dạy học môn Toán ở lớp 1 nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
– Thiết kế hệ thống các bài tập toán nhằm góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1
Trang 106 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu môn Toán lớp 1
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tôi đã tiến hành đọc sau đó phân tích và khái quát hóa một số tài liệu sau:
- SGK toán lớp 1, các sách toán tham khảo và các bài viết sáng kiến kinh nghiệm của thầy cô
- Các công trình nghiên cứu về toán nhằm phát triển tư duy sáng tạo có liên quan phục vụ cho đề tài
- Các tài liệu về giáo dục học, tâm lí học dạy học môn Toán
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động học của học sinh lớp 1 thông qua các tiết dự giờ môn Toán và thái độ học tập của các em
- Điều tra, khảo sát thực tế dạy học toán của giáo viên thông qua phỏng vấn,
dự giờ, xem giáo án nhằm đánh giá thực trạng về việc dạy học toán nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở lớp 1 hiện nay
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm 02 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Thiết kế hệ thống các bài tập
Trang 11Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tư duy
1.1.1 Các quan điểm về tư duy
Tư duy là một trong những vấn đề lớn luôn được mọi người quan tâm, chú ý đến và cho đến ngày nay khi hỏi: “Tư duy là gì?” thì có rất nhiều quan điểm khác nhau đã được nêu ra Chẳng hạn như:
Tâm lí học Tiểu học cho rằng: “Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó
ta chưa biết.”7, tr122
Mặt khác, A.Spiếckin lại cho rằng: “Tư duy của con người phản ánh hiện thực, về bản chất là quá trình truyền đạt gồm hai tính chất: Một mặt, con người hướng về vật chất, phản ánh những nét đặc trưng và những mối liên hệ của vật ấy với vật khác, và mặt khác con người hướng về xã hội để truyền đạt những kết quả của tư duy mình”1, tr 28
Tác giả Hoàng Phê nêu lên quan điểm của mình về tư duy trong cuốn
Từ điển Tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” 10
Art Costa - một trong số những tác giả đi đầu về nghiên cứu tư duy quan niệm: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khi chúng ta nhận được những dữ kiện, những thông tin diễn ra trong các mối quan hệ” hay hiểu theo cách đơn giản là: “Chúng ta suy nghĩ” 16
Theo Đặng Phương Kiệt: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo
ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn”8, tr 292
Trang 12Theo Từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được
tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận Tư duy xuât hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chung, việc đề xuất những giả thuyết, những ý niệm Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó.”
M.N Sacđacop cho rằng: “Tư duy là quá trình tâm lí mà nhờ đó không những con người tiếp thu được những tri thức khái quát mà còn tiếp tục nhận thức và sáng tạo ra những cái mới.”
Tóm lại, có thể hiểu 1 cách đơn giản nhất: Tư duy chính là khi chúng ta
tiến hành suy nghĩ Tư duy là kết quả của nhận thức, là kết quả hoạt động của não bộ khi chịu tác động, kích thích từ môi trường bên ngoài hay nói cách khác tư duy chính là sản phẩm cấp cao của bộ não người và kết quả của tư duy là một ý nghĩ, là những nhận thức mới dưới dạng các khái niệm, quy tắc, định lý,…
1.1.2 Đặc điểm của tư duy
Là một hiện tượng tâm lí xuất hiện dưới sự điều khiển của não bộ Là một quá trình không ngừng phát triển năng động và sáng tạo, tư duy tồn tại với 5 đặc điểm cơ bản sau:
a) Tính “có vấn đề” của tư duy:
Trang 13Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của tư duy là tính “có vấn đề”
Tư duy xuất hiện khi con người ta gặp phải những tình huống mà trong đó chứa đựng những vấn đề mới (đó là những tình huống xảy ra trong học tập hay trong cuộc sống mà họ cảm thấy bị vướng mắc và cần phải tháo gỡ nhưng bằng những hiểu biết, kinh nghiệm cũ của bản thân họ không đủ để có thể giải quyết được) khi đó đòi hỏi họ phải tư duy, phải vượt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để tìm ra giải pháp mới
b) Tính gián tiếp của tư duy:
Trong quá trình tư duy, khi con người không thể trực tiếp tri giác các sự vật, hiện tượng thì họ có thể sử dụng các công cụ, phương tiện hỗ trợ khác nhau để nhận thức các sự vật, hiện tượng đó và ngôn ngữ là một trong những công cụ biểu hiện tính gián tiếp của tư duy Các kết quả của tư duy như các khái niệm mới, các quy tắc, định luật, định lí, các mối liên hệ,…được thể hiện bằng ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể sử dụng được kho tàng tri thức nhân loại, sử dụng được các công cụ phương tiện cùng với kinh nghiệm vốn có của bản thân vào quá trình tư duy và từ đó tư duy giúp con người phát hiện ra những bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng trong thực
tế khách quan
c) Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:
Sau khi phát hiện ra các bản chất, quy luật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng tư duy sẽ tiến hành gạt bỏ khỏi những sự vật, hiện tượng đó những thuộc tính, những cái riêng lẻ, cá biệt và chỉ giữ lại những đặc điểm chung nhất Sau đó khái quát chúng thành một nhóm, một phạm trù để phản ánh cái bản chất chung có tính quy luật của loạt sự vật, hiện tượng đó
d) Tư duy của con người có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ:
Ý nghĩ là kết quả của quá trình tư duy và nó được cụ thể hóa, thể hiện
Trang 14kết quả của tư duy Ngôn ngữ và tư duy có quan hệ mật thiết, thống nhất với nhau tuy nhiên chúng lại không đồng nhất và có thể tách rời nhau
e) Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính:
Để sản phẩm tư duy của mình gắn liền với thực tiễn thì nhận thức cảm tính đóng một vai trò vô cùng quan trọng Qua tri giác của các giác quan, trên
cơ sở trực quan sinh động và dựa trên các tài liệu cảm tính tư duy của con người không ngừng được nâng cao Đồng thời, kết quả của tư duy cũng ảnh hưởng ngược lại đến quá trình nhận thức cảm tính Điều này cho thấy, tư duy
và nhận thức cảm tính có mối quan hệ hai chiều tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau
1.1.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy
Tư duy là một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau và nó diễn ra khi con người ta gặp phải những vấn đề khó khăn nảy sinh trong quá trình nhận thức hay trong cuộc sống hàng ngày Mỗi hành động của tư duy diễn ra theo một trình tự nhất định và gồm 5 giai đoạn hết sức cụ thể, đó là:
Giai đoạn 1: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề
Giai đoạn 2: Huy động các tri thức, kinh nghiệm
Giai đoạn 3: Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết
Giai đoạn 4: Kiểm tra giả thuyết
Giai đoạn 5: Giải quyết vấn dề
Trang 15Quan sát sơ đồ trên, ta có thể dễ dàng nhận thấy các giai đoạn của quá trình tư duy có sự gắn kết chặt chẽ với nhau Trước hết tư duy chỉ nảy sinh khi con người gặp phải những tình huống “có vấn đề” và họ nhận thức được mình cần phải giải quyết chúng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân Chủ thể tư duy sẽ tiến hành xác định vấn đề mà mình gặp phải là gì? phát hiện mâu thuẫn chứa đựng trong tình huống có vấn đề đó, sau đó đề ra nhiệm vụ tiếp theo cho quá trình tư duy Ở giai đoạn đầu tiên này, chủ thể cần tỉnh táo để tránh xác định chệch hướng vấn đề dẫn tới khó tìm ra được phương án giải quyết phù hợp Vì vậy, xác định vấn đề và biểu đạt được chính xác vấn đề cần giải quyết
là giai đoạn đầu tiên hết sức quan trọng có vai trò quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của quá trình tư duy sau này Khi đã xác định được vấn đề cần giải quyết đòi hỏi chủ thể phải tư duy để huy động vốn kiến thức, kinh nghiệm của bản thân hoặc tìm kiếm các nguồn tư liệu có liên quan đến vấn đề
để hình thành cho mình những liên tưởng xung quanh vấn đề cần giải quyết Sau đó, chủ thể sẽ tiến hành sàng lọc, gạt bỏ những liên tưởng chưa phù hợp, giữ lại những liên tưởng phù hợp, đáng tin cậy với nhiệm vụ để đưa vào hình thành một số giả thuyết (tức cách giải quyết có thể có đối với nhiệm vụ tư duy) Tuy nhiên, muốn tìm ra được giả thuyết có thể giải quyết được vấn đề một cách hiệu quả nhất, thì trước hết cần tiến hành kiểm tra các giả thuyết xem giả thuyết nào tương ứng với các điều kiện và vấn đề nào từ đó khẳng định, chính xác hóa hoặc phủ định nó Kết quả của việc kiểm tra này sẽ đưa ra kết quả cuối cùng đó là: nếu khi giả thuyết đã được kiểm tra và khẳng định là đúng thì nó sẽ được tiến hành hay nói cách khác là nó sẽ đưa ra câu trả lời hoặc đáp số cho vấn đề được đặt ra Nếu mọi giả thuyết đã có đều bị phủ định thì một quá trình tư duy mới lại được bắt đầu để tìm ra giả thuyết mới khác về cách giải quyết vấn đề
Trang 16Tóm lại, dù vấn đề bắt nguồn từ đâu, trong học tập hay trong cuộc sống thì quá trình tư duy nhất thiết phải được thực hiện theo đúng trình tự gồm 5 giai đoạn trên
1.1.4 Các thao tác tư duy
Được xem như là “hành động trí tuệ căn bản” hay “các quy luật bên trong của tư duy” - các thao tác tư duy chính là cơ sở nền tảng để quá trình tư duy có thể diễn ra Nó giúp mỗi cá nhân có thể nhìn nhận đối tượng hoặc đưa
ra cách giải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra một cách chính xác và toàn diện dưới dạng các phán đoán, suy luận, suy lý,… Thông thường, quá trình tư duy diễn ra với 5 thao tác cơ bản đó là:
- Phân tích và tổng hợp: Khi chủ thể tư duy gặp phải một vấn đề hay một đối tượng nào đó cần nhận thức mà được đặt trong các mối liên hệ phức tạp, muốn nhận thức được một cách toàn diện đối tượng đó yêu cầu chủ thể phải dùng khối óc để tiến hành bóc tách, phân chia vấn đề (đối tượng) thành từng bộ phận, từng thành phần riêng lẻ và xem xét chúng dưới nhiều góc độ khác nhau từ đó vạch ra được những đặc điểm, những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của đối tượng để nhận thức chúng sâu sắc hơn thì thao tác này người ta gọi là thao tác phân tích Sau đó, từ những đặc điểm, những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của đối tượng đã được phân tích, hoạt động tư duy dùng trí óc kết hợp, sắp xếp chúng thành một chỉnh thể mang những ý nghĩa
cụ thể để từ đó đối tượng được nhận thức một cách tổng thể, toàn diện và bao quát hơn người ta gọi đó là tổng hợp Thao tác phân tích và tổng hợp có tác động qua lại với nhau trong một quá trình thống nhất, chúng bổ sung cho nhau và có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau
- So sánh: là cơ sở cho mọi sự hiểu biết của tư duy và là thao tác trí tuệ dùng trí óc để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng khi chúng được đặt cạnh nhau So sánh cho chúng ta thấy được sự đồng nhất hay
Trang 17không đồng nhất, thấy được những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng để từ đó giúp cho ta hiểu sâu sắc hơn, có hệ thống hơn, biết được mối liên hệ, sự giống nhau và khác nhau căn bản về các đối tượng cần nhận thức
- Trừu tượng hóa và khái quát hóa: Những thuộc tính, những bộ phận, những mối liên hệ không cần thiết, thứ yếu ở mặt nào đó sẽ bị não bộ trừu xuất, gạt bỏ và chỉ giữ lại những yếu tố bản chất cần thiết để tư duy đó chính
là trừu tượng hóa Sau khi tiến hành gạt bỏ những quan hệ thứ yếu, hoạt động
tư duy sẽ dùng trí óc để khái quát, tổng hợp lại những thuộc tính chung giống nhau về bản chất của các đối tượng thành một loại, một nhóm quá trình này người ta gọi là khái quát hóa
Qua đây có thể thấy các thao tác tư duy có mối liên hệ mật thiết, bền chặt với nhau Tuy nhiên trong thực tế, không phải quá trình tư duy nào cũng đều thực hiện tuân theo trình tự 5 thao tác trên mà nó có thể bỏ qua một vài thao tác hoặc các thao tác đó đan chéo vào nhau tùy theo từng nhiệm vụ tư duy cụ thể
Ngoài ra, nếu hoạt động tư duy của con người chỉ dừng lại ở 5 thao tác
cơ bản trên thì con người mới chỉ lĩnh hội được những khái niệm, định luật, quy luật,… mang tính chung chung, trừu tượng mà chưa thể đưa chúng trở thành chân lý trong thực tiễn Muốn các tri thức trừu tượng, khái quát đã lĩnh hội được trở thành chân lý thì chủ thể cần vận dụng chúng vào cuộc sống để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể hay còn gọi là thao tác cụ thể hóa
1.2 Tư duy sáng tạo
1.2.1 Khái niệm tư duy sáng tạo
Hiện nay, tư duy sáng tạo là cụm từ mà chúng ta không ngừng được nghe thấy, được nhắc đến ở rất nhiều nơi Vậy tư duy sáng tạo là gì?
Trang 18Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ
những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới” Có cùng quan điểm với ông,
tác giả Chu Quang Tiềm cho rằng: “Sáng tạo, căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại để thành một hình tượng mới”12, tr 295
Mặt khác, theo Nguyễn Đức Uy ông lại quan niệm: “Sáng tạo là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân và những tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời người ấy”15, 9tr Ta có thể nhận ra trong quan điểm này, tác giả cho rằng đã là sáng tạo thì không có khác biệt dù sáng tạo nhiều hay ít
Willson M – Nhà tâm lý học người Mỹ cũng đưa ra quan điểm của mình về sáng tạo, ông cho rằng: “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba các yếu tố nêu ra”14, 18tr
Torrance P.E lại cho rằng: “Sáng tạo là quá trình trở nên nhạy cảm hay nhận biết nhiều vấn đề, sự thiếu hụt hay lỗ hổng trong kiến thức, sự thiếu hụt các yếu tố hay sự thiếu hòa hợp,…cùng nhau đưa đến các mối quan hệ mới với những thông tin hiện đại có giá trị từ đó dẫn đến tìm kiếm những phương
án giải quyết, những phỏng đoán, công thức hóa về vấn đề”18, tr102
X L Rubinstêin một nhà tâm lý học người Nga nhận định "sự sáng tạo
là hoạt động của con người tạo ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần” 19
Theo Trần Hiệp và Đỗ Long: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc” 5
Trang 19Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có” 13
Nguyễn Bá Kim cho rằng: “Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác nhau của tư duy sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy thể hiện
rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ” 9
Tôn Thân quan niệm: “Tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập tạo
ra ý tưởng mới, độc đáo, và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao Tư duy sáng tạo không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có Tính độc lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp Mỗi sản phẩm của tư duy sáng tạo đều mang rất đậm dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó” 11
J.DanTon cho rằng: “Tư duy sáng tạo đó là những năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mối quan hệ, là một chức năng của kiến thức, trí tưởng tượng và sự đánh giá, là một quá trình, một cách dạy và học bao gồm những chuỗi phiêu lưu, chứa đựng những điều như: sự khám phá, sự phát sinh, sự đổi mới, trí tưởng tượng, sự thí nghiệm, sự thám hiểm” 17
Các nhận định khác nhau về tư duy sáng tạo cho thấy ở từng góc nhìn khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau Các khái niệm về tư duy sáng tạo tuy thể hiện sự không đồng nhất trong quan niệm của mỗi người nhưng
đều cho rằng: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò
bó phụ thuộc vào cái đã có” Và trong đề tài khóa luận này, chúng tôi có
chung quan niệm với Tôn Thân cho rằng: “TDST là một dạng tư duy độc lập
tạo ra ý tưởng mới, độc đáo, và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao Tư duy sáng tạo không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có Tính độc lập của nó bộc lộ
Trang 20vừa trong việc đặt mục đích vừa trong việc tìm giải pháp Mỗi sản phẩm của
tư duy sáng tạo đều mang rất đậm dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó”
1.2.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo
Khi nghiên cứu về tư duy sáng tạo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về những đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo Tuy nhiên, điểm chung của các quan điểm này đó là: họ đều cho rằng tư duy sáng tạo mang những đặc trưng cơ bản bao gồm tính mềm dẻo, tính độc đáo, tính độc lập, tính nhuần nhuyễn, tính hoàn thiện, tính linh hoạt, tính phê phán, tính nhạy cảm vấn đề,…
Không phải ngày nay tư duy sáng tạo mới được đề cập đến như một đối tượng nghiên cứu mà bằng chứng cụ thể cho thấy từ xa xưa ông cha ta đã đúc kết những kinh nghiệm về sáng tạo trong suy nghĩ, tư duy và hành động thành các thành ngữ, tục ngữ để truyền lại cho con cháu đời sau như: “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” hay “tùy cơ ứng biến”,
Nổi bật nhất trong nghiên cứu về tư duy sáng tạo có lẽ phải nhắc đến nhà nghiên cứu tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Guilford J.P, ông cho rằng:
“TDST là sự tìm kiếm và thể hiện những phương pháp logic trong tình huống
có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ” 20 Trong quan điểm của mình, Guilford J.P đã nhìn nhận tư duy sáng tạo với các đặc trưng đó là việc tiến hành suy nghĩ, tìm kiếm các phương pháp mới, các phương pháp khác nhau có sự logic nhằm giải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra một cách sáng tạo và chính xác nhất Ông coi sáng tạo là một thuộc tính và là một phẩm chất của tư duy nên gọi đó là tư duy sáng tạo
Thống nhất quan điểm với các nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới, cũng như đồng quan điểm với Guilford J.P, Loowenfeld (1962),… trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi cũng cho rằng có 5 yếu tố chính thể hiện đặc trưng
Trang 21của tư duy sáng tạo đó là: tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiện và tính nhạy cảm vấn đề
a) Tính mềm dẻo (flexibility)
Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển đổi từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác hay nhanh chóng định nghĩa lại các đối tượng nhận thức (sự vật, hiện tượng) mà chủ thể đang quan tâm nếu như quá trình suy nghĩ, tư duy gặp phải trở ngại Tính mềm dẻo của TDST thể hiện ở việc dễ dàng điều chỉnh hệ thống tri thức có trật tự sắp xếp đã cũ bên cạnh đó không bị chi phối, không áp đặt những kiến thức, kinh nghiệm cũ của bản thân vào môi trường mới từ đó xây dựng được những phương pháp tư duy mới, nhận ra được bản chất của các đối tượng cần nhận thức và hình thành sự vật mới trong các mối quan hệ mới, Đặc biệt tính mềm dẻo còn thể hiện ở khả năng dễ dàng chuyển đổi những thái độ đã lâu bền, đã ăn sâu ở trong hoạt động trí tuệ của con người
b) Tính nhuần nhuyễn (fluency)
Tính nhuần nhuyễn (thuần thục) của TD là năng lực làm chủ tư duy, nhận thức của bản thân chủ thể Đặc trưng của tính nhuần nhuyễn là khả năng tạo ra các giả thiết về các ý tưởng mới một cách nhanh chóng bằng cách kết hợp các yếu tố riêng lẻ của các tình huống hay các đối tượng cần tri giác Khi gặp phải vấn đề mới, người có tư duy nhuần nhuyễn (thuần thục) có khả năng nhìn nhận vấn đề trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau từ đó đề xuất ra được nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết được vấn đề đó một cách tối ưu nhất Ngoài ra, việc nhớ được nhanh và tái hiện nhanh các từ, các thành ngữ hay những liên tưởng liên quan đến các ý tưởng đã được lưu trữ trong trí óc
cũng là biểu hiện cho tính nhuần nhuyễn
c) Tính độc đáo (originality)
Trang 22Tính độc đáo cho phép con người đánh giá, nhận diện các sự vật, hiện tượng, các vấn đề một cách mới lạ, đồng thời hướng đến giải quyết vấn đề mang tính độc lập Tính độc đáo cho thấy khả năng tìm kiếm và giải quyết vấn đề bằng việc sử dụng phương thức lạ hay phương thức duy nhất
d) Tính hoàn thiện (elaboration)
Tính hoàn thiện của TDST là khả năng xây dựng kế hoạch, phối hợp nhuần nhuyễn giữa hoạt động tư duy với hành động thực tiễn, cụ thể hóa các ý tưởng bằng cách tiến hành kiểm tra và chứng minh ý tưởng đó Tính hoàn thiện khiến cho tư duy trở thành một quá trình có mở đầu là xác định vấn đề cần giải quyết, sau đó chủ thể sẽ vận dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có liên quan đến vấn đề để đưa ra các cách giải quyết và cuối cùng kết thúc quá trình là xem xét, kiểm tra lại kết quả của việc giải quyết vấn đề Kết quả của
sự sáng tạo đó phải là sản phẩm có khả năng quan sát được
Các đặc trưng của tư duy sáng tạo gắn bó mật thiết với nhau, chúng tác động qua lại và bổ trợ cho nhau Trong tư duy sáng tạo, tính độc đáo làm nên
sự sáng tạo trong tư duy, tính nhạy cảm là cơ sở cho sự xuất hiện của sáng tạo còn tính nhuần nhuyễn, tính hoàn thiện và mềm dẻo lại là nền tảng để có được những thuộc tính còn lại của TDST
1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1
Trong đời sống tâm lí của mỗi con người thì nhận thức là một trong những mặt cơ bản và quan trọng Bậc học Tiểu học là bậc học mà ở đó nhận
Trang 23thức của học sinh phát triển một cách nhanh chóng, các em hay tò mò về thế giới xung quanh và luôn muốn tìm hiểu, khám phá chúng Tuy nhiên, nhận thức của học sinh lớp 1 thường thiên về nhận thức cảm tính hơn là nhận thức
lý tính
1.3.1 Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác Ở lớp 1, các cơ quan cảm giác của trẻ như: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác đang ngày càng hoàn thiện hơn Các em bắt đầu biết cảm nhận các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng phối hợp hoạt động của các giác quan
Bên cạnh đó, học sinh lớp 1 tri giác đối tượng thường gắn liền với một
số hành động, hình ảnh trực quan Các em tri giác sự vật, hiện tượng thường chỉ dừng ở mức độ nhận biết và gọi tên được chúng thông qua quan sát, cầm nắm, sờ mó,…chứ không đi sâu vào tìm hiểu chi tiết Tri giác của học sinh lớp 1 mang tính đại thể và các em chỉ tri giác khi được giáo viên hướng dẫn
Ở lớp 1, việc tri giác các vật có kích thước quá to hay quá nhỏ là rất khó khăn với các em Các em tri giác thường mang tính không chủ định và thường chỉ tri giác được một phần, một bộ phận nổi bật nào đó của đối tượng
1.3.2 Nhận thức lý tính
1) Tư duy
Là hạt nhân của hoạt động trí não, tư duy của trẻ ở bậc tiểu học đang ngày càng phát triển và điều đó thể hiện qua việc học sinh chuyển từ tư duy mang tính trực quan, cụ thể sang tư duy mang tính trừu tượng, khái quát
Chuyển từ hoạt động chủ đạo chính là vui chơi sang hoạt động chủ đạo chính là học tập tư duy trực quan, cụ thể chiếm ưu thế ở HS lớp 1 Các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa kiến thức ở hầu hết HS lớp 1 vẫn còn sơ đẳng Các em chủ yếu thường lĩnh hội kiến thức
Trang 24(qua các hoạt động như phân tích - trực quan - hành động) một cách cục bộ và một chiều
Trong quá trình học tập, HS lớp 1 thường lấy các đối tượng cụ thể hay liệt kê tất cả những gì thấy được ở đối tượng thay cho định nghĩa của chúng
HS lớp 1 thường bị nhầm lẫn so sánh với kể lại một cách đơn giản các đối tượng cần so sánh
3) Trí nhớ
Trí nhớ hay còn gọi là ghi nhớ, là hoạt động con người ghi lại, giữ gìn
và tái hiện lại những kí ức, những gì mà họ đã trải qua trong cuộc sống ở não
bộ Trí nhớ có vai trò vô cùng quan trọng, nó là công cụ giúp cho trẻ học tập
và phát triển trí tuệ của mình tốt hơn
HS tiểu học đặc biệt là HS lớp 1 thì trí nhớ trực quan hình tượng chiếm
ưu thế Các bài học gây được ấn tượng, giàu hình ảnh sẽ khiến trẻ dễ ghi nhớ hơn Các em chủ yếu ghi nhớ một cách máy móc, rập khuôn bằng cách học thuộc lòng tài liệu theo đúng từng câu chữ mà không học theo ý hiểu của mình vì HS lớp 1 vẫn còn hạn chế về ngôn ngữ các em ghi nhớ máy móc dễ dàng hơn ghi nhớ ý nghĩa Các em chưa hiểu hết được nội dung, ý nghĩa của
Trang 25tài liệu học tập nên việc dựa vào các ý chính để ghi nhớ hay ghi nhớ tài liệu theo dàn ý là rất khó khăn Hay nói cách khác, trí nhớ của học sinh lớp 1 vẫn mang tính chất hình ảnh, cụ thể và trực tiếp
4) Chú ý
Chú ý là sự tập trung tinh thần của người học vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng nào đó nhằm mục đích tìm hiểu, nhận biết các đối tượng một cách rõ ràng, đầy đủ nhất
Ở giai đoạn đầu Tiểu học chú ý của các em bắt đầu phát triển, trẻ hứng thú tiếp nhận những kiến thức, những cái mới tuy nhiên khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý vẫn còn nhiều hạn chế Chú ý có chủ định của HS không diến ra được lâu do quá trình ức chế của não bộ còn yếu cho nên hầu hết HS lớp 1 có chú ý không chủ định Các em dễ dàng bị thu hút bởi tất cả những gì mới mẻ: dễ bị thu hút bởi các trò chơi học tập, các đồ dùng, phương tiện dạy học trực quan sinh động, hấp dẫn, Tuy nhiên, bên cạnh đó trẻ cũng dễ bị mất tập trung, hay bị phân tán trong quá trình học tập bởi các sự việc bất ngờ xảy
ra xung quanh lớp học Điều này cho thấy chú ý của học sinh lớp 1 còn thiếu
sự bền vững Vì vậy, trong quá trình giáo dục để rèn luyện sự chú ý cho trẻ, giáo viên nên yêu cầu học sinh thực hiện những hoạt động đòi hỏi sự tập trung chú ý cao độ, nên sử dụng các đồ dùng phương tiện hợp lí và hạn định khoảng thời gian để trẻ tập trung hoàn thành nhiệm vụ được giao
5) Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện con người sử dụng để giao tiếp với nhau Từ khi nằm trong bụng mẹ trẻ đã được tiếp xúc với ngôn ngữ thông qua giai điệu của các bài hát, qua các câu chuyện mẹ hay kể,… Khi trẻ dược sinh ra thì sự tiếp xúc với ngôn ngữ ngày càng nhiều hơn và trẻ cũng dần dần sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, để tiếp cận thế giới xung quanh
Trang 26Lớp 1 là bước ngoặt lớn trong cuộc đời của trẻ Bước vào lớp 1, trẻ đã nói được trôi chảy và bắt đầu tiếp xúc với một thứ ngôn ngữ mới là ngôn ngữ viết Vốn từ của trẻ cũng tăng lên một cách đáng kể qua quá trình học tập Nhờ có ngôn ngữ, trẻ có thể tìm hiểu thế giới xung quanh một cách chủ động qua việc tự đọc, tự học và tự tìm tòi khám phá Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là
cơ sở, là phương tiện mà trẻ sử dụng để thể hiện cảm giác, tri giác, ý nghĩ tư duy và tưởng tượng của mình Có thể nói, ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình nhận thức của trẻ và ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ thông qua ngôn ngữ
1.4 Nội dung dạy học môn Toán lớp 1
Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018) 2 nói chung và Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán (2018) nói riêng thì nội dung chương trình môn Toán lớp 1 hiện nay gồm các mạch kiến thức cơ bản sau:
So sánh các
số trong phạm vi 100
Nhận biết được cách so sánh, xếp thứ tự các số trong phạm vi 100 (ở các nhóm có không quá 4 số)
Các phép Phép cộng, - Nhận biết được ý nghĩa của phép cộng,
Trang 27Nội dung Yêu cầu cần đạt
tính với số
tự nhiên
phép trừ phép trừ
- Thực hiện được phép cộng, phép trừ (không nhớ) các số trong phạm vi 100
- Làm quen với việc thực hiện tính toán trong trường hợp có hai dấu phép tính cộng, trừ (theo thứ tự từ trái sang phải)
- Nhận biết được ý nghĩa thực tiễn của phép tính (cộng, trừ) thông qua tranh ảnh, hình vẽ hoặc tình huống thực tiễn
- Nhận biết và viết được phép tính (cộng, trừ) phù hợp với câu trả lời của bài toán
có lời văn và tính được kết quả đúng
- Nhận biết được vị trí, định hướng trong không gian: trên – dưới, phải – trái, trước – sau, ở giữa
- Nhận dạng được hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật thông qua
Trang 28Nội dung Yêu cầu cần đạt
đơn giản hoặc vật thật
- Nhận dạng được khối lập phương, khối hộp chữ nhật thông qua việc sử dụng bộ
đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật
Thực hành lắp ghép, xếp hình gắn với một số hình phẳng
và hình khối đơn giản
- Nhận biết và thực hiện được việc lắp ghép, xếp hình gắn với sử dụng bộ đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật
Đo lường
Đo lường Biểu tượng
về đại lượng
và đơn vị đo đại lượng
- Nhận biết được về “dài hơn”, “ngắn hơn”
- Nhận biết được đơn vị đo độ dài: cm
(xăng- ti- mét), đọc và viết được số đo độ dài trong phạm vi 100cm
- Nhận biết được mỗi tuần lễ có 7 ngày và tên gọi, thứ tự các ngày trong tuần lễ
- Nhận biết được giờ đúng trên đồng hồ
Thực hành
đo đại lượng
- Thực hiện được việc đo và ước lượng độ dài theo đơn vị đo tự quy ước (gang tay, bước chân,…)
- Thực hiện được việc đo độ dài bằng
thước thẳng với đơn vị đo là cm
- Thực hiện được việc dọc giờ đúng trên
Trang 29Nội dung Yêu cầu cần đạt
- Nhà trường tổ chức cho học sinh một số hoạt động sau và có thể bổ sung các hoạt động khác tùy vào điều kiện cụ thể
Hoạt động 1: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực
tiễn, chẳng hạn:
- Thực hành đếm, nhận biết số, thực hiện phép tính trong một số tình huống thực tiễn hằng ngày (ví dụ: đếm số bàn học và cửa sổ trong lớp học, )
- Thực hành các hoạt động liên quan đến vị trí, định hướng không gian (ví dụ: xác định được một vật ở trên hoặc dưới mặt bàn, một vật cao hơn hoặc thấp hơn vật khác,…)
- Thực hành đo và ước lượng độ dài một số đồ vật trong thực tế gắn
với đơn vị đo cm; thực hành đọc giờ đúng trên đồng hồ, xem lịch loại
lịch tờ hằng ngày
Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khóa (ví dụ: các
trò chơi học toán,…) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản”
Từ bảng trên ta thấy được, nội dung chương trình môn Toán lớp 1 được
Trang 30học và Đo lường Ngoài ra còn có Hoạt động thực hành và trải nghiệm Nội dung chương trình môn toán đa dạng, phong phú cung cấp cho HS có một nền tảng kiến thức toán học vững chắc để giúp HS có thể tiếp tục phát triển ở các cấp học sau này Bên cạnh đó nội dung chương trình môn toán hiện nay còn chú trọng đến việc giúp HS vận dụng kiến thức toán học vào các tình huống trong thực tiễn thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành trải nghiệm hay các hoạt động ngoài giờ lên lớp,
1.5 Thực trạng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1
1.5.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu thực trạng phát triển TDST cho HS lớp 1 hiện nay thông qua việc:
- Tìm hiểu nhận thức của GV về TDST và vấn đề dạy học phát triển TDST cho HS lớp 1
- Tìm hiểu nhận thức của HS lớp 1 về TDST cũng như sự cần thiết của TDST đối với các em
1.5.2 Đối tượng khảo sát
Các GV đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 1 tại trường tiểu học Tích Sơn và toàn bộ HS khối lớp 1 tại trường
1.5.3 Phương pháp khảo sát
Tôi đã tiến hành trò chuyện, phỏng vấn trực tiếp một số GV và HS khối lớp 1 tại trường tiểu học Tích Sơn Tham gia dự giờ một số tiết học, tham khảo giáo án, kế hoạch dạy học của các GV cũng như nghiên cứu một số tài liệu có liên quan để tìm hiểu thực trạng về việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học hiện nay
1.5.4 Kết quả khảo sát
Qua việc tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng dạy và học của GV và HS trường tiểu học Tích Sơn chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
Trang 311.5.4.1 Nhận thức của GV về TDST và vấn đề dạy học phát triển TDST cho
HS lớp 1
Qua quá trình thực tập tại trường Tiểu học Tích Sơn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, tôi nhận thấy rằng hiện nay phần lớn GV đang giảng dạy lớp 1 tại trường đã có những hiểu biết nhất định về TDST điều đó thể hiện ở việc khi được đặt câu hỏi: “Theo quan điểm của thầy/cô, thế nào là TDST?” thì hầu
hết GV đều cho rằng: TDST là quá trình não bộ tiến hành suy nghĩ, tư duy để
tìm ra được những giải pháp, phương pháp hay những ý tưởng mới lạ và độc đáo nhằm giải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra một cách hiệu quả Điều
này cho thấy quan niệm của GV về TDST đã có sự nhất quán và rõ nét Tuy nhiên khi được hỏi “Làm thế nào để có thể giúp HS phát triển TDST trong quá trình học tập” thì có GV không đưa ra được câu trả lời, có GV đưa ra câu trả lời nhưng vẫn còn chưa rõ ràng, còn mơ hồ, mang tính kinh nghiệm, cảm tính như: GV nói rằng dạy học phát triển TDST cho HS là luôn luôn đặt ra cho HS những câu hỏi nhằm kích thích HS suy nghĩ, tư duy; khuyến khích HS tích cực hoạt động, giải quyết vẫn đề bằng nhiều cách; cho HS làm thật nhiều bài tập và hướng dẫn HS nhanh chóng phát hiện sai lầm trong giải toán,…Tuy nhiên, khi đặt ra câu hỏi cho các thầy cô “Những câu hỏi như thế nào mới kích thích được TDST cho HS” hay “Hệ thống bài tập như thế nào mới giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo” thì phần lớn GV không trả lời được hay trả lời một cách đại khái, chung chung Các thầy cô không nêu ra được biện pháp dạy học cụ thể nào nhằm giúp HS phát triển TDST
Tuy chưa thực sự chú ý đến vấn đề dạy học phát triển TDST cho HS trong quá trình dạy học nhưng GV lại rất chú ý đến những hoạt động (biểu hiện) thể hiện khả năng TDST của HS điều này cho thấy khi chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Theo Thầy/Cô, HS có những hoạt động nào thể hiện khả năng
Trang 32HS tích cực, chủ động trong quá trình học tập (ham học hỏi, hay tò mò thắc mắc và luôn đặt ra những câu hỏi phức tạp cho vấn đề cần giải quyết); HS luôn nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ, dưới cái nhìn đa chiều để tìm ra được nhiều cách giải quyết hay để tìm ra được cách giải quyết hay và độc đáo nhất cho vấn đề; HS đưa ra một cách nhanh chóng rất nhiều câu trả lời cho một vấn đề cần giải quyết và chúng được diễn đạt bằng những lập luận logic, sắc sảo, những từ ngữ vô cùng ngắn gọn, xúc tích và chính xác,…
Khi tiến hành trò chuyện, phỏng vấn các GV thì mọi người đưa ra rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức dạy học phát triển TDST cho HS.Tiến hành nghiên cứu giáo án của GV cũng như được tham gia dự giờ một số tiết học, tôi nhận thấy do thời gian tiết học còn hạn chế nên trong giáo án của GV chủ yếu là các hoạt động nhằm giúp học sinh nắm được nội dung kiến thức trọng tâm của bài học mà chưa có các hoạt động cụ thể hay hoạt động lồng ghép nhằm phát triển TDST cho HS Thực tế, hiện nay chúng ta chưa thể tìm thấy một văn bản, một chương trình hay một kế hoạch cụ thể nào hướng dẫn GV
về việc phát triển TDST cho HS mà giáo án của GV chủ yếu được soạn dựa trên các mẫu trong sách thiết kế bài giảng Điều này cho thấy việc phát triển TDST cho HS hiện nay vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mực, chưa thực
sự trở thành vấn đề bắt buộc trong việc dạy học của GV
Khi được hỏi về khả năng phát triển TDST cho HS thông qua hệ thống bài tập trong SGK Toán lớp 1, đa phần các thầy cô đều cho rằng SGK Toán lớp 1 có hệ thống bài tập phong phú giúp các em củng cố kiến thức, luyện tập,
ôn tập khá đầy đủ tuy nhiên chúng đều là những bài tập chủ yếu giúp các em nhận biết mà chưa có nhiều bài tập giúp học sinh phát triển TDST Bên cạnh
đó, nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh nhưng GV chưa có một hệ thông bài tập, chưa có một phương pháp